Chủ Nhật, 15 tháng 7, 2018


VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ “GẮN LÝ LUẬN VỚI THỰC TIỄN, HỌC ĐI ĐÔI VỚI HÀNH” TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ NGHIÊN CỨU, GIẢNG DẠY LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập lý luận chính trị hiện nay là yêu cầu cấp bách đã được Đảng ta khẳng định trong Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018 của Ban Bí thư. Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quan trọng này, cần quán triệt và vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về “Gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành” trong nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị hiện nay.
1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người muốn cải tạo được thế giới cần phải có những hiểu biết về nó, nhưng những hiểu biết ấy không có sẵn trong con người. Muốn có hiểu biết (tri thức), con người phải tác động vào thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn. Trên cơ sở đó con người tích lũy được những tri thức kinh nghiệm. Tuy nhiên, những tri thức kinh nghiệm đó mới chỉ đem lại sự hiểu biết về từng mặt riêng lẻ, bề ngoài của sự vật. Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu”(1). Do đó, để hiểu được tính tất yếu, bản chất của sự vật, con người phải khái quát những tri thức, kinh nghiệm thành lý luận. Thực tiễn là cơ sở góp phần rèn luyện giác quan của con người, làm cho chúng phát triển tinh tế, hoàn thiện hơn. Trên cơ sở đó giúp con người nhận thức hiệu quả hơn, khái quát lý luận đúng đắn hơn. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người cũng cải biến chính bản thân, phát triển năng lực, trí tuệ của mình. Ph.Ăngghen viết: “…chính việc người ta biến đổi tự nhiên chứ không phải một mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên”(2).
Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh cho rằng: “Lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá tình lịch sử”(3). Lý luận được hình thành trên cơ sở khái quát kinh nghiệm thực tiễn, nhưng không phải cứ có kinh nghiệm thực tiễn là có được lý luận. Vì vậy, lý luận không thể ra đời một cách tự phát và luôn luôn phải được bổ sung, hoàn thiện, phát triển bằng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn mới, phong phú.
Để tránh tình trạng lý luận không phản ánh đời sống thực tiễn, thiếu tính  khoa học và cách mạng, Hồ Chí Minh đặc biệt nhắc nhở cán bộ đảng viên tránh tình trạng rất dễ mắc phải là lý luận suông, lý luận thuần túy sách vở, xa rời cuộc sống, không có căn cứ, giáo điều, kinh viện. Người chỉ rõ: “Lý luận mà không có liên hệ thực tiễn là lý luận suông”(4).
Về hoạt động thực tiễn và vai trò của lý luận với thực tiễn, Hồ Chí Minh cho rằng, thực tiễn đúng đắn phải được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi một lý luận khoa học, đúng đắn, nếu không thực tiễn sẽ là thực tiễn mù quáng, mò mẫm, mất phương hướng. Người nhắc nhở: “Thực tiễn không có lý luận dẫn đường thì thành thực tiễn mù quáng”(5).
V.I.Lênin đã chỉ rõ: người ta có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí tuệ của mình bằng cách không ngừng học tập để thâu thái vào đầu óc của mình toàn bộ kho tàng tri thức của nhân loại và hiểu biết đó phải dẫn tới cuộc sống và hành động. Hồ Chí Minh cho rằng, học để hiểu biết, để làm việc, học để phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, học để làm người. Muốn vậy phải có thói quen đem lý luận liên hệ với thực tiễn, đem những lý luận đã tiếp thu được cùng với những kinh nghiệm đã tích lũy được trong đời sống hàng ngày mà áp dụng vào các công việc thực tế.
Với tinh thần đó, Hồ Chí Minh luôn chú trọng đến tính thực tế, bất cứ việc gì cũng phải xuất phát từ yêu cầu thực tế, phải thiết thực. Muốn đạt được kết quả đó thì việc học phải xuất phát từ yêu cầu của công việc và phải học cặn kẽ, thấu đáo. Người mong muốn việc học -  hành, tức là nhận thức - hành động phải đạt tới chỗ thấy cho hết, nhìn cho thấu. Vì vậy theo Người, học tập ở trong nhà trường, trong sách vở chưa đủ, phải học cả trong cuộc sống, học ở người khác…Nội dung học tập cũng phải toàn diện: chương trình học vấn phổ thông, đại học, chuyên môn nghiệp vụ, học tập lý luận Mác - Lênin, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… Trong đó, việc học tập lý luận Mác - Lênin, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là nội dung quan trọng.
Đề cập đến học tập chủ nghĩaMác- Lênin,Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là những giáo điều, không phải là kinh thánh mà là kim chỉ nam cho hành động. Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là thuộc câu, thuộc chữ mà nắm lấy tinh thần và toàn bộ phương pháp để ứng xử với con người và thực hành trong công tác thực tế. Do đó, trong nhà trường,các hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động dạy và học từ truyền thụ tri thức, tự nghiên cứu, thảo luận, xêmina, các hoạt động ngoại khóa, thâm nhập thực tế…không phải để cho người học nhận thức được cái hình thức lôgíc của nó là các khái niệm, phạm trù và cái kết luận lôgíc của nó là các nguyên lý, quy luật…, không phải chỉ giúp cho người học có tri thức mà quan trọng,quyết định hơn là làm sao cho người học nắm được phương pháp luận, giúp người học biết dùng phương pháp một cách sáng tạo để tự mình chiếm lĩnh những tri thức vàcó thể “sản xuất” ra những tri thức mới; biết vận dụng lý luận để giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra.
Như vậy, học tập tư duy Hồ Chí Minh về phương châm học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, chúng ta càng thấy được vai trò to lớn của lý luận khoa học, trên cơ sở đó mỗi cán bộ, đảng viênphảikhông ngừng học tập, nâng cao trình độ lý luận,thấm nhuần lời dạy của V.I.Lênin “Học, học nữa, học mãi”. Tuy nhiên, khi học tập lý luận không được tuyệt đối hóa lý luận mà phải liên hệ với thực tiễn đất nước và thời đại; phải thấm nhuần lời dạy của Hồ Chí Minh: “Lý luận rất cần thiết nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không có kết quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận chúng ta cần nhấn mạnh: lý luận phải liên hệ với thực tiễn”(6).
Đối với người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, học tập tư duy Hồ Chí Minh về học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn là phải tự xây dựng cho mình phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả, trong công tác nghiên cứu cần làm giàu lý luận bằng cách tổng kết thực tiễn và vận dụng lý luận phù hợp để giải quyết được các vấn đề cụ thể của thực tiễn.
2. Thực trạng công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị hiện nay
Trong thời gian qua, công tác giáo dục lý luận chính trị đã đạt được những kết quả quan trọng. Nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, vai trò và các giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được nâng lên. Ðội ngũ cán bộ, đảng viên có bước phát triển về nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị và năng lực tư duy. Công tác học tập, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, vận dụng và phát triển lý luận đã và đang giải đáp nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra. Song nhìn chung, chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa cao; tri thức kinh điển chưa được coi trọng đúng mức; một số quan điểm, học thuyết của các nhà kinh điển chậm được nghiên cứu, nhận thức một cách đầy đủ và chậm được bổ sung, phát triển để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Chưa kịp thời phát hiện, nghiên cứu thấu đáo những vấn đề mới về lý luận và thực tiễn trong nước và thế giới. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ chưa bị đẩy lùi. Ðấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" chưa sắc bén, hiệu quả chưa cao(7).
Nguyên nhân của những hạn chế trên chủ yếu là do chủ thể tham gia quá trình nghiên cứu, giảng dạy, học tập nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa, vị trí, tầm quan trọng của việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy chưa sâu sát, còn có sự chồng chéo, trùng lặp và chậm đổi mới trong nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, học tập trong đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên. Căn nguyên của tình trạng trên là do sự bất cập, hạn chế trong việc gắn lý luận với thực tiễn, giữa học tập lý luận chính trị với tổ chức thực hiện trong hoạt động thực tiễn. Trong giảng dạy lý luận chính trị và một số hệ đào tạo, bồi dưỡng, cả người dạy và người học chưa gắn chặt lý luận với thực tiễn, còn giảng lý luận chung chung hoặc lựa chọn, xác định vấn đề thực tiễn để liên hệ, minh chứng và diễn giải lý luận chưa điển hình, chưa thực sự phù hợp với nội dung bài giảng và đối tượng học nên chưa cung cấp được những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tế cho học viên.
Một bộ phận cán bộ, đảng viên không thường xuyên cập nhật những thông tin, hiểu biết mới; chưa có sự trăn trở và sáng tạo trong quá trình học tập mà chỉ học tập lý luận chính trị một cách thụ động nên chưa hiểu thấu đáo các vấn đề nghiên cứu. Tình trạng lý luận xa rời thực tiễn đang diễn ra khá phổ biến ở không ít cán bộ, đảng viên. Trên thực tế, đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay có người am hiểu lý luận, nhưng ít hiểu biết thực tiễn; số khác có hiểu biết thực tiễn, nhưng yếu về lý luận; hoặc là vừa không am hiểu lý luận, vừa xa rời thực tiễn. Số cán bộ, đảng viên vừa am hiểu lý luận, vừa sâu sát thực tiễn không nhiều. Điều đó dẫn đến một số chủ trương, nghị quyết của Đảng được xây dựng chưa phù hợp với thực tiễn, hoặc phù hợp nhưng triển khai vào thực tế chậm và kém hiệu quả, thậm chí xảy ra những sai phạm nghiêm trọng. Tình trạng này gây những hệ lụy không nhỏ cho Đảng, cho Nhà nước và xã hội, làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. 
3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, giảng dạyvà học tập  lý luận chính trị
Một là, tiếp tục đổi mới phương pháp tiếp cận các vấn đề nghiên cứu, phương thức triển khai thực hiện trong công tác lý luận. Khẳng định mạnh mẽ và cụ thể hóa những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tiễn nước ta. Trên nền tảng đó, nghiên cứu, xây dựng và phát triển hệ thống lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH của Việt Nam trong thời kỳ mới; làm rõ những vấn đề cần bổ sung, phát triển; tập trung nghiên cứu để giải quyết tốt các mối quan hệ lớn phản ánh quy luật đổi mới và phát triển ở nước ta đã được Ðại hội XII của Ðảng chỉ ra. Làm rõ một số vấn đề nảy sinh trong thực tiễn đổi mới đất nước, từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Hai là, phát huy dân chủ trong công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tôn trọng tính sáng tạo và nâng cao ý thức trách nhiệm của nhà khoa học, tăng cường trao đổi, đối thoại trong nghiên cứu lý luận. Hạn chế tình trạng hành chính hóa, cơ chế xin cho, phân bổ chỉ tiêu trong hoạt đông nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học lý luận chính trị. Ðổi mới cơ chế và tăng cường đầu tư cho tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. Rà soát, bổ sung, sửa đổi chức năng, nhiệm vụ các cơ quan, đơn vị nghiên cứu, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Trong đó, đặc biệt là phát huy vai trò, vị trí của hệ thống trường Đảng; xây dựng các trường Đảng (trường Chính trị) trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, góp phần bổ sung, phát triển đường lối lý luận chính trị cho Đảng.
Ba là, đổi mới mạnh mẽ về nội dung, phương pháp học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng phù hợp với từng đối tượng, phát huy tính tự giác, tinh thần trách nhiệm, thường xuyên tự học tập, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị và phương pháp công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là thế hệ trẻ. Tiếp tục đổi mới nội dung giáo trình theo hướng giảng dạy, truyền thụ đầy đủ những nội dung cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cập nhật những học thuyết đương đại, vận dụng sáng tạo, tăng cường liên hệ thực tiễn. Bảo đảm  cho người học vận dụng tốt lý luận vào hoạt động thực tiễn. Cán bộ, đảng viên sau khi học lý luận chính trị phải là những người cán bộ thấm nhuần lý luận và năng động, sáng tạo trong mọi hoạt động thực tiễn.
Bốn là,  từ việc gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành, trong thực tế hiện nay cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh phản bác có hiệu quả, kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch. Ða dạng hóa hình thức đấu tranh bảo vệ nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin, chủ động nắm bắt âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch, đối tượng cơ hội chính trị; chú trọng xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc, thù địch. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nhân cách trong sáng, tinh thần cách mạng triệt để tiến hành thành công sự nghiệp cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
____________________
(1), (2) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t. 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.781, 720.
(3, (4), (5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996,  tr.497, 496, 497, 496.
(7) Xem: ĐCSVN: Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.

ThS Nguyễn Văn Điều
                                                        Trường Chính trị Nghệ An



TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ ĐỒNG CHÍ CAY XỎN PHÔM VI HẢN VỀ VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN Ở CÁC NƯỚC THUỘC ĐỊA (THAM CHIẾU QUA CÁCH MẠNG VIỆT NAM VÀ LÀO)

     
Sự thống nhất về tư tưởng của lãnh tụ Hồ Chí Minh và đồng chí Cay xỏn Phôm vi hản về vai trò của Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa như Việt Nam và Lào, chính là cội nguồn cho sự đoàn kết giữa hai Đảng, hai dân tộc trên con đường thực hiện mục tiêu Độc lập-Tự do-Hạnh phúc cho dân tộc và nhân dân hai nước. Cội nguồn tư tưởng đó cần phải được giữ gìn và phát triển trong hiện tại và tương lai trong quan hệ hai nước.   
Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh và Cayxỏn Phômvihản về vai trò của Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa trên cơ sở tham chiếu với lịch sử Việt Nam và Lào, chúng tôi xuất phát từ hai góc độ sau đây:
1. Từ lịch sử của hai Đảng
Nghiên cứu “Tư tưởng Hồ Chí Minh và Cayxỏn Phômvihản về vai trò của Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa Việt Nam và Lào”, chúng tôi thấy cần thiết phải bắt đầu từ việc đặt tư tưởng Hồ Chí Minh và Cay xỏn Phômvihản vào trong tiến trình lịch sử với mối quan hệ đặc biệt của sự hình thành, phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.   
Đặt vấn đề như vậy vì đặc điểm nổi bật của tiến trình lịch sử hình thành và phát triển của hai Đảng. Đó là tiến trình lịch sử Hồ Chí Minh tiến hành thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930, sau đó, theo yêu cầu của Quốc tế Cộng sản, tháng 10-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ đây, phong trào cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Cho đến năm 1951, Đại hội II của Đảng Cộng sản Đông Dương đã quyết định tổ chức ở mỗi nước một Đảng đại diện cho giai cấp vô sản và dân tộc để lãnh đạo cách mạng cho phù hợp với hoàn cảnh thế giới và điều kiện lịch sử của mỗi nước.
Tiến trình trên chính là một nguồn cội lịch sử hàng đầu để chung đúc và tạo nên những quan điểm chung về vai trò của Đảng Cộng sản ở Việt Nam và Lào của hai lãnh tụ - Hồ Chí Minh và Cayxỏn Phômvihản- trong xây dựng Đảng Cộng sản ở mỗi nước để lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới vì sự nghiệp giải phóng toàn diện con người ở mỗi nước. Cội nguồn đó được minh chứng qua các hoạt động rất nỗ lực của Hồ Chí Minh trong những năm 1928 và 1929, khi Người từ Thái Lan sang Lào để phát triển cơ sở cách mạng và sau khi Người về nước (1941) đã từng bước xây dựng đội ngũ những người cộng sản ở Lào để những người cộng sản Lào trong đội ngũ Đảng Cộng sản Đông Dương thành công trong lãnh đạo Cách mạng năm 1945. Và sau đó, năm 1951, với tư cách là lãnh tụ của Đảng Cộng sản Đông Dương, thông qua Đại hội II của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chủ trương tổ chức ở mỗi nước một Đảng Cộng sản và đồng chí Cayxỏn Phômvihản đã xác nhận những quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng Cộng sản trong giải phóng dân tộc ở mỗi nước và đã thành công trong việc tổ chức đội ngũ tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc mang tên Đảng Nhân dân cách mạng Lào.             
Tiến trình lịch sử trên cho thấy, nguồn cội sâu xa của tư tưởng về vai trò của Đảng Cộng sản trong lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc của hai lãnh tụ trong thời đại mới cũng như sự ra đời của hai Đảng, dù có tên gọi và sự hiện diện trong lãnh đạo cách mạng của mỗi Đảng ở từng nước ở những thời điểm lịch sử có khác nhau nhưng đều có một xuất phát điểm. Điểm xuất phát đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng Cộng sản trong cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa được phát hiện từ những năm 20 của thế kỷ XX và sau này được kế tục, phát triển bởi đồng chí Cayxỏn Phômvihản, với tư cách là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương (1949), trong việc thành lập và trở thành người đứng đầu Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vào năm 1955.
2. Từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến tư tưởng Cayxỏn Phômvihản.
Có hai sự kiện lịch sử liên quan đến những quan điểm đầu tiên của Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng Cộng sản trong công cuộc giải phóng dân tộc: Một là, đó là nhận thức được tính chất của thời đại mới sau Cách mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh đã đứng trong hàng ngũ của những người cộng sản vào năm 1920 để thực hiện mục đích giành độc lập dân tộc và tự do cho con người Việt Nam; Hai là, chính trên cơ sở nhìn nhận được xu hướng phát triển của nhân loại trong thời đại mới, đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, Người đã xác định cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa muốn thắng lợi triệt để phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
Việc Hồ Chí Minh trở thành người cộng sản và sự định hướng của Người cho cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa theo con đường cách mạng vô sản có ý nghĩa cực kỳ sâu sắc: giải phóng dân tộc, giành được độc lập mới chỉ là bước thứ nhất của nhiệm vụ giải phóng con người và nó mới chỉ là giải phóng về chính trị nhằm thoát khỏi ách đô hộ, áp bức của chủ nghĩa đế quốc, thực dân; phải tiến tới giải phóng triệt để cho con người trên phương diện xã hội bằng bước tiếp theo là xây dựng xã hội mới tạo ra các điều kiện để thực hiện sự giải phóng toàn diện cho con người bằng xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN.   
Với ý nghĩa to lớn đó, những sự kiện cơ bản trên chính là tiền đề về tư tưởng để Hồ Chí Minh xác định cách mạng giải phóng ở Việt Nam muốn thắng lợi triệt để với mục tiêu giải phóng hoàn toàn đối với con người, phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Theo đó, mối quan hệ biện chứng mà Hồ Chí Minh chỉ ra là: công cuộc giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đồng thời cũng xác định những nét khái quát, nhưng đặc trưng nhất về vai trò của Đảng Cộng sản trong nhiệm vụ giải phóng con người ở các nước thuộc địa.    
Chính vì vậy, sau khi tìm được con đường giải phóng dân tộc và xác định rõ vai trò của Đảng Cộng sản, thì những nỗ lực hàng đầu trong hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh là tiến hành cuộc vận động xây dựng Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa nói chung và đặc biệt là cho cách mạng Việt Nam nói riêng. Trong quá trình hoạt động đó, cũng như trong tiến trình xây dựng, phát triển Đảng sau khi thành lập, Người luôn nhấn mạnh tới sự cần thiết phải có Đảng Cộng sản để lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới, giải phóng toàn diện con người ở các nước thuộc địa.
Có thể thấy, những quan điểm đó của Hồ Chí Minh trong các bài giảng của Người tại các lớp chính trị đào tạo những chiến sĩ cách mạng đầu tiên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, từ năm 1925 đến năm 1927, mà sau đó được in thành sách Đường Cách mệnh (xuất bản năm 1927), xuất phát từ tình hình thực tế của nhân dân Việt Nam, Người đã bước đầu chỉ ra vai trò cụ thể của Đảng:
Một là, trước tình hình “tư bản và đế quốc chủ nghĩa nó lấy tôn giáo và văn hóa làm cho dân ngu, lấy phép luật buộc dân lại, lấy sức mạnh làm cho dân sợ, lấy phú quý làm cho dân tham. Nó làm cho dân nghe đến hai chữ cách mệnh thì sợ rùng mình”, nên vai trò hàng đầu của Đảng cách mệnh là “phải làm cho dân giác ngộ”(1).
Hai là, các cuộc bạo động của nhân dân ta Trung Kỳ kháng thuế, Hà thành đầu độc, Nam Kỳ phá khám; không có chủ nghĩa, không có kế hoạch, đến nỗi thất bại, nên phải có Đảng để “giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu”(2).
Ba là, “Dân vì không hiểu tình thế trong thế giới, không biết so sánh, không có mưu chước, chớ nên làm thì lại làm, khi nên làm lại không làm”. Vì vậy, phải Đảng “phải bày sách lược cho dân”(3).
Bốn là, “Dân thường chia rẽ phái này bọn kia, như dân ta người Nam thì nghi người Trung, người Trung thì  khinh người Bắc, nên sức yếu đi, như đũa mỗi chiếc mỗi nơi”.
Vậy nên sức cách mệnh phải tập trung, muốn tập trung phải có đảng cách mệnh”(4).
Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò trọng yếu của Đảng là:
1) “trong thì vận động và tổ chức dân chúng”
2) “ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản mọi nơi”(5).
Điều đặc biệt là, Hồ Chí Minh xác định vai trò của Đảng như “người cầm lái”, người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”(6)
Trong“Sách lược vắn tắt của Đảng”do Hồ Chí Minh soạn thảo và được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, Người xác định vai trò “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp” nên trong công cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng phải(7): (1) Thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng; (2) Phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia; (3) Phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản tri thức, trung nông, thanh niên Tân việt...để  kéo họ đi vào phe giai cấp vô sản; (4) Trong khi liên lạc với các giai cấp... phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
Năm 1953, trong sách Chính trị thường thức, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Có Đảng lãnh đạo, cách mạng và kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công. Vì sao?”. Người đã giải thích: “Kinh nghiệm thế giới và trong nước chứng tỏ rằng: những cuộc đấu tranh tự phát của nhân dân, thường không có mục đích rõ ràng, kế hoạch đầy đủ, tổ chức chắc chắn. Vì vậy mà lực lượng  rời rạc, nơi này lên thì nơi khác xẹp. Kết quả là thất bại. Muốn thắng lợi, thì cách mạng phải có đảng lãnh đạo”(8). Do vậy, vai trò của Đảng được Người chỉ ra một cách tổng quát là:
 “Đảng phải làm cho quần chúng giác ngộ vì đâu mà họ bị áp bức bóc lột; phải dạy cho quần chúng  hiểu các quy luật phát triển của xã hội, để họ nhận rõ  vì mục đích gì mà đấu tranh; chỉ rõ con đường  giải phóng cho quần chúng, cổ động cho quần chúng kiên quyết cách mạng; làm cho quần chúng  tin chắc cách mạng nhất định thắng  lợi.
Trên một khía cạnh khác, Người giải thích rõ rằng: 
1)“Cách mạng là cuộc đấu tranh rất phức tạp. Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường  lối và định phương châm cho đúng.
2) Cách mạng là cuộc đấu tranh rất gian khổ. Lực lượng kẻ địch rất mạnh. Muốn thắng lợi thì quần chúng  phảitổ chức rất chặt chẽ; chí khí phải kiên quyết. Vì vậy, phải có Đảng để tổ chức và giáo dục nhân dân thành  một đội quân thật mạnh, để đánh đổ kẻ địch, giành lấy chính quyền”(9).
Người còn xác định, “Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có đảng lãnh đạo, vì:
- Dù nhân dân đã nắm chính quyền, nhưng giai cấp đấu tranh trong nước và mưu mô của đế quốc xâm lược vẫn còn.
- Vì phải xây dựng kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội cho nên Đảng vẫn phải tổ chức, lãnh đạo và giáo dục quần chúng, để đưa nhân dân lao động đến thắng lợi hoàn toàn”(10).
Như thế, cùng với việc xác định vai trò lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản trong thời đại mới, của “người cầm lái” con thuyền cách mạng ở thuộc địa, trên ý nghĩa với tính chất “là tổ chức cao nhất của giai cấp cần lao và đại diện cho lợi ích của dân tộc”(11), Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ những vai trò cụ thể của Đảng trong hai nội dung chủ yếu: xây dựng đường lối chiến lược, sách lược, phương pháp cách mạng; trong tổ chức và giáo dục nhân dân; trong liên hệ với cách mạng thế giới.  
Tất cả những quan điểm của Hồ Chí Minh trên đây về vai trò lãnh đạo và những vai trò cụ thể của Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa được đồng chí Cayxỏn Phômvihản kế tục, phát triển trong thực tiễn cách mạng Lào. Sự kế tục, phát triển đó được thực hiện một cách sáng tạo mà đồng chí Cayxỏn Phômvihản luôn coi tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là “ngọn đuốc soi đường”, để “dẫn đường, chỉ lối”(12) mà còn là những “chỉ dẫn” của Người cho cách mạng Lào, như cách nói rất kính trọng của đồng chí Cay xỏn Phômvihản đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thực hiện chỉ dẫn của đồng chí (Hồ Chí Minh), trước tình hình hết sức gay go, Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương ở Lào đã ra sức vận động cách mạng, đưa lại kết quả là lãnh đạo nhân dân Lào đứng lên làm cách mạng Tháng Tám, cướp chính quyền thắng lợi, tiếp đó trong cuộc đấu tranh cứu nước của Lào, đồng chí Hồ Chí Minh đã luôn luôn giúp đỡ nhiệt tình”(13).
Đồng chí Cayxỏn Phômvihản khẳng định: “Khi cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương lớn mạnh, cách mạng ba nước đã trưởng thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tầm nhìn xa trông rộng, tư tưởng chỉ đạo sáng suốt đã đề nghị Đại hội II của Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 2-1951) quyết định thành lập từng Đảng ở mỗi nước. Quyết định lịch sử hết sức  đúng đắn đó đã phát huy cao độ tinh thần độc lập tự chủ và ý thức trách nhiệm của những người  cách mạng ở mỗi nước đối với vận mệnh của dân tộc mình và thúc đẩy cuộc đấu tranh cứu nước của 3 nước Đông Dương phát triển vượt bậc”(14).
Đồng chí khẳng định: “Bác Hồ luôn giáo dục chúng tôi phải nắm vững sự nghiệp cách mạng Lào là của nhân dân Lào, phải đi vào dân, đi xuống cơ sở, bám chắc lấy dân, lấy việc giáo dục tổ chức nhân dân làm cách mạng là mục tiêu phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng; chăm lo đoàn kết nhân dân các bộ tộc Lào”; nhắc nhở nhân dân ba nước Việt Nam - Lào -Campuchia phải đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau và sự “chỉ bảo chúng tôi nắm vững chiến lược, có sách lược đấu tranh sáng tạo”(15)...        
Trong Điếu văn tại lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Cayxỏn Phômvihản đặc biệt nhấn mạnh tới tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Lào. Đồng chí viết: “Thực hiện lời chỉ dẫn của đồng chí (Hồ Chí Minh), trước tình hình hết sức gay go, Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương  ở Lào đã ra sức vận dộng cách mạng, đưa lại kết quả là lãnh đạo nhân dân lào đứng lên làm cách mạng Tháng Tám”(16) và “Cuối năm 1950, căn cứ vào sự lớn mạnh của cách mạng Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn cho chúng ta là phải tổ chức một Đảng Mác-Lênin chân chính  của Lào để lãnh đạo cách mạng lào. Đảng phải có sự đoàn kết thống nhất về tư tưởng và hành động  phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc vô điều kiện, tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc tập thể, có kỷ luật  sắt và tự giác. Đảng phải có đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức cách mạng và có đầy đủ khả năng, cán bộ phải là đầy tớ của dân. Thực hiện  nguyên tắc trên đây chúng ta đã thành lập Đảng Nhân dân cách mạng Lào đạt được thắng lợi ngày càng to lớn, đội ngũ cán bộ của Đảng ta ngày càng phát triển  và được tôi luyện trong lò lửa đấu tranh ác liệt. Chúng ta sẽ ra sức phát triển củng cố Đảng và đội ngũ của Đảng ngày càng vững mạnh, nhất là ra sức bảo vệ và tăng cường đoàn kết nội bộ thật chặt chẽ hơn nữa để Đảng ta đủ khả năng làm tròn sứ mệnh lịch sử mà Tổ quốc và giai cấp đã giao phó”(17).
Cần phải thấy rõ sự sáng tạo của tư tưởng Cayxỏn Phômvihản trong việc xác định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cũng như những vai trò cụ thể trong nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng ở một nước chậm phát triển như ở Lào mà sự hình thành và phát triển của giai cấp công nhân ở đây chậm hơn các nước thuộc địa khác cũng như ở Việt Nam. Sự sáng tạo đó thể hiện trong tiến trình thành lập Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Trên cơ sở đội ngũ những người cộng sản trong Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương Lào, đồng chí Cayxỏn Phômvihản đã bắt đầu lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang yêu nước (1948) và tiến hành vận động xây dựng mặt trận đoàn kết dân tộc ở Lào (1950). Từ đó, trên cơ sở lực lượng chính trị của khối đại đoàn kết nhân dân các bộ tộc Lào, với việc lựa chọn những chiến sĩ tiên phong của giai cấp vô sản và nhân dân các bộ tộc Lào, đồng chí Cay xỏn Phôm vi hản lãnh đạo tiến tới tổ chức thành Đảng Nhân dân cách mạng Lào (1955). Đó là sự phát triển sáng tạo của đồng chí Cay xỏn Phôm vi hản đối với việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng trong tiến trình thành lập Đảng Cộng sản ở Lào.
_________________
(1), (2), (3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.288, 288, 288 -289, 289, 289.
(7) Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.3
(8), (9), (10), (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 273-274, 273, 274, 275.
(12), (14), (15) Phát biểu của đồng chí Cayxỏn Phômvihản tại lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. In trong sách: Đảng Nhân dân Cách mạng Lào- Đảng Cộng sản Việt Nam: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam 1930-2007 (Hồi ký), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tập II, tr. 3, 4, 4- 5.
(13) Điếu văn của đồng chí Cayxỏn Phômvihản trong buổi lẽ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh (Sầm Nưa, ngày 5-9-1969). In trong sách:Đảng Nhân dân Cách mạng Lào- Đảng Cộng sản Việt Nam: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam 1930-2007 (Hồi ký), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tập II, tr. 7 .
(16), (17) Điếu văn của đồng chí Cay xỏn Phôm vi hản trong buổi lẽ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh (Sầm Nưa, ngày 5-9-1969). In trong sách:Đảng Nhân dân Cách mạng Lào- Đảng Cộng sản Việt Nam: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam 1930-2007 (Hồi ký), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tập II, tr.9, 11.

        PGS, TS Phạm Hồng Chương
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh



TÔN GIÁO LÀ ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI LÀNH
 HAY LÀ CÔNG CỤ CỦA KẺ ÁC?
Khi những hậu quả nặng nề từ cuộc biểu tình bạo loạn vừa diễn ra ở Bình Thuận vẫn còn chưa khắc phục xong, người dân cả nước vẫn còn bàng hoàng trước hình ảnh những người “biểu tình ôn hòa” cầm gậy gộc, gạch đá, bom xăng ném vào lực lượng chức năng, đốt phá trụ sở UBND, sở PCCC, tấn công bộ chỉ huy biên phòng…
Thì sáng ngày hôm nay tại Hà Tĩnh và Nghệ An, hàng loạt giáo xứ – dưới sự chỉ đạo của những linh mục như Nguyễn Đình Thục – quản xứ Song Ngọc, xã Quỳnh Ngọc, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An và các linh mục thuộc 14 giáo xứ trong giáo hạt Văn Hạnh đóng trên địa bàn xã Thạch Trung, thành phố Hà Tĩnh đã tổ chức biểu tình để phản đối luật đặc khu và luật an ninh mạng. Hàng nghìn giáo dân, già có, trẻ có, trẻ em cũng có, dưới sự chỉ đạo các linh mục đã tuần hành khắp đường ngang ngõ dọc trong địa bàn giáo phận để phản đối những dự luật mà tôi chắc chắn rằng gần như chưa một ai từng đọc qua một dòng nào.
Qua vụ việc ở Bình Thuận, an ninh đã được thắt chặt trên toàn quốc, có lẽ bởi vậy mà linh mục Nguyễn Đình Thục đã không dám chỉ đạo giáo dân ra chặn đường quốc lộ 1A như thường thấy. Tuy nhiên việc các linh mục huy động hàng nghìn người tuần hành chật cứng các con đường mà không hề thấy bóng dáng của lực lượng chức năng cho thấy dường như những giáo phận này là một tiểu vương quốc bất khả xâm phạm – nơi những linh mục hành xử như một ông vua, luật pháp không có tác dụng và người của chính quyền có thể bị bắt giữ làm con tin bất cứ lúc nào.
Tuy nhiên cần khẳng định rằng, tất cả các hoạt động trên đây của tín đồ công giáo đều do một số chức sắc suy thoái tư tưởng, đạo đức, đội lốt “đức cha” để lừa bịp, dụ dỗ, ép buộc, kích động giáo dân thực hiện những hành vi sai trái gây rối trật tự an ninh, an toàn xã hội, vi phạm pháp luật, ảnh hưởng tới cuộc sống và sự bình yên của người dân xung quanh. Dường như các linh mục cực đoan đang cố tình chia rẽ lương – giáo, phá bỏ sự đoàn kết giữa tín đồ với chính quyền sở tại.
Những hành đông ngông cuồng của giáo dân Song Ngọc dưới sự chỉ đạo của linh mục Nguyễn Đình Thục đã khiến nhân dân xã Quỳnh Ngọc vô cùng bức xúc, đến mức lương dân phải tuyên bố nếu giáo dân còn tiếp tục làm loạn thì lương dân sẽ không buôn bán với giáo dân nữa.
Còn tại giáo xứ Trung Nghĩa, huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh. Linh mục quản xứ Nguyễn Công Bình cùng Hội đồng mục vụ nhiều lần tổ chức cho giáo dân lên trụ sở UBND xã gây rối dưới danh nghĩa “đòi tiền bồi thường từ Formosa” nhưng rồi khi bà con giáo dân nhận được tiền bồi thường thì vị linh mục này ngang nhiên rao giảng trong nhà thờ về dự định xây dựng các hạng mục mới như: nhà đa chức năng, nhà thờ, khuôn viên, khán đài… và ép buộc bà con giáo dân phải nộp lại 1/3 số tiền bồi thường mà họ nhận được. Không dừng lại ở đó, vị chủ chăn này còn thẳng thừng nói với tất cả mọi người: “Ai cãi lời cha, không chịu nộp lại sẽ không được hưởng các quyền lợi, đặc ân từ các công trình của Chúa, cha cũng sẽ không dâng lễ, ban phúc cho các hộ dân này…”.
Những linh mục này thường xuyên tổ chức thánh lễ cầu nguyện “Hoà bình và công lý” nhưng lại kích động giáo dân đi biểu tình, đập phá, bao vây trụ sở chính quyền, cầu nguyện cho những kẻ vi phạm pháp luật. Vậy hoà bình ở đâu? Công lý ở đâu?
Thử hỏi những con người người được tôn vinh là cha tinh thần liệu có xứng đáng với điều đó hay không.
Nhân danh đức Chúa nhưng thực tế những vị chủ chăn ở các giáo xứ trên đây đã lợi dụng thánh lễ, lợi dung đức tin để tuyên truyền lừa bịp, kích động bà con giáo dân chống đối chính quyền.
Chúa chẳng bao giờ răn dạy các con chiên của mình làm điều ác. Đức Jesus luôn thừa nhận vai trò của chính quyền và răn dạy những người con của Chúa phải phân biệt rạch ròi giữa chính trị và tôn giáo. Tập 27, chương X trong Giáo luật “Cách riêng về Giáo hội” ghi: “Không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo hội”. Đáng tiếc là một số linh mục, giáo dân vì lợi ích riêng mà làm trái lời Chúa dạy. Họ hy vọng rằng qua những cuộc biểu tình như thế này, “tiếng vang” mà họ tạo ra qua mạng xã hội và truyền thông nước ngoài sẽ đến tai các tổ chức nhân quyền, tôn giáo quốc tế. Và từ đó phương Tây sẽ có cớ can thiệp, tác động vào Việt Nam. Dường như đối với họ “Tổ quốc” là một khái niệm không hề tồn tại.
Hình ảnh từ cuộc biểu tình vừa diễn ra ở Bình Thuận cho thấy giữa “ôn hòa” và “bạo động” chỉ cách nhau một tích tắc. Trong bối cảnh an ninh phức tạp như hiện nay, chỉ trong một ngày hôm qua, lực lượng chức năng đã bắt giữ hàng chục đối tượng mặc quân phục cải trang làm công an, thu giữ nhiều vũ khí gây sát thương như súng tự chế, dao găm, lưỡi lê; mục đích của những đối tượng này là trà trộn vào đám đông, tấn công những người biểu tình để vu vạ cho lực lượng chức năng – một kịch bản tương tư như cuộc biểu tình Maidan đã phá nát đất nước Ukraina xinh đẹp năm 2014.
Vì vậy bà con giáo dân cần hết sức cảnh giác trước nhưng lời kích động biểu tình. Bởi bản chất đằng sau các hoạt động xuống đường tuần hành, biểu tình thực chất đều xuất phát từ ý đồ của giám mục, linh mục cực đoan câu kết với bọn phản động lưu vong cùng ngoại bang. Họ muốn tập hợp, phô trương lực lượng, càng đông càng tốt, như là bước chuẩn bị, tập dượt cho “cách mạng dân chủ” “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” . Tham gia tuần hành, biểu tình dưới bất kỳ hình thức nào, trước là bước vào nguy hiểm khi có thể bị các đối tượng phản động sát hại để châm ngòi cho bạo động, sau là phải đối mặt với sự trừng phạt của pháp luật, tình huống xấu hơn nữa là gây ra bạo loạn trên khắp cả nước như người dân Ukraina đã làm với đất nước mình năm 2014.
TYLLVTNDVN
http://ngheanthoibao.com/ton-giao-la-duc-tin-cua-nguoi-lanh-hay-la-cong-cu-cua-ke-ac/


THÔNG TIN VỀ VIỆC LOA TRUYỀN THANH TẠI NHA TRANG
“CHỈ PHÁT TIẾNG TRUNG QUỐC” LÀ BỊA ĐẶT
NHẰM KÍCH ĐỘNG THÙ ĐỊCH

Trong hai ngày qua, một số trang mạng xã hội đã đăng tải, chia sẻ một video clip về hệ thống loa truyền thanh tại các công viên bờ biển thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa phát tiếng Trung Quốc, kèm theo những bình luận bịa đặt, xuyên tạc.
Thông tấn xã Việt Nam khẳng định nội dung video clip nói trên hoàn toàn không chính xác và người thực hiện có mục đích xấu.
Ngày 27/6, ông Đinh Văn Cường, Trưởng Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố Nha Trang, đơn vị chủ quản hệ thống loa nói trên cho biết đơn vị này đã hợp đồng với Đài Phát thanh và Truyền hình Khánh Hòa thu âm tuyên truyền nội quy công viên bờ biển Nha Trang bằng 4 thứ tiếng Việt, Anh, Nga và Trung Quốc, hàng ngày lần lượt phát trên hệ thống loa truyền thanh không dây tại công viên bờ biển dọc tuyến đường Trần Phú, nhằm hướng dẫn du khách tuân thủ các quy định của địa phương về bảo vệ môi trường, cảnh quan, thông báo tình hình an ninh trật tự, diễn biến thời tiết biển… khi đến du lịch tại đây.
Việc này được triển khai từ tháng 5, nhằm ngày càng phục vụ tốt hơn nhu cầu của du khách xa gần.
Tuy nhiên, gần đây có một số đối tượng chỉ quay video clip đoạn phát thanh bằng tiếng Trung Quốc, phát tán trên các trang mạng xã hội, nhằm kích động người dân và du khách hiểu sai về về ý nghĩa và nội dung tuyên truyền.
Trên trang fanpage “Nha Trang ngày mới” nơi kết nối chính thức của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Khánh Hòa với cộng đồng mạng, chiều 27/6 đã phát đi thông tin nhấn mạnh: “Một số người sử dụng video clip đã bị cắt xén chỉ còn nội dung thông tin bằng tiếng Trung Quốc để cho rằng loa truyền thanh của Nha Trang chỉ phát tiếng Trung Quốc là không đúng sự thật, làm ảnh hưởng đến hoạt động du lịch của thành phố Nha Trang và của tỉnh Khánh Hòa nói chung.”
Trong những năm gần đây, tỉnh Khánh Hòa nói chung và thành phố Nha Trang nói riêng đã trở thành điểm đến lý tưởng cho du khách trong nước và quốc tế nhờ phong cảnh biển, đảo tuyệt đẹp; khí hậu trong lành, mát mẻ quanh năm; thức ăn ngon, giá cả phù hợp và môi trường du lịch thân thiện, văn minh.
Theo thống kê của Sở Du lịch Khánh Hòa, chỉ tính 6 tháng đầu năm 2018, địa phương này đã đón hơn 3 triệu lượt du khách đến lưu trú, tăng hơn 18% so với cùng kỳ năm 2017.
Trong đó số du khách quốc tế đạt gần 1,4 triệu lượt và phần lớn ở Nha Trang.
Nhóm du khách quốc tế đến Khánh Hòa nhiều nhất gồm Trung Quốc với ước tính gần 900 nghìn lượt, Nga hơn 235 nghìn lượt, Hàn Quốc gần 30 nghìn lượt; các nước tiếp theo là Australia, Mỹ, Malaysia lần lượt có từ 13-24 nghìn lượt du khách mỗi nước./.
TTXVN
http://ngheanthoibao.com/thong-tin-ve-viec-loa-truyen-thanh-tai-nha-trang-phat-tieng-trung-quoc-la-bia-dat-nham-kich-dong-thu-dich/


Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2018


NÂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM
TRONG PHÒNG CHỐNG TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA
Hồng Ngọc
Ban Chấp hành Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống với 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Việc đưa ra hệ thống những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là để làm “tấm gương chung” giúp mỗi cán bộ, đảng viên tự soi mình; làm cơ sở để đóng góp ý kiến cho người khác và làm căn cứ để xử lý đối với những tập thể, cá nhân vi phạm. Hệ thống những biểu hiện này cũng là căn cứ để góp phần xây dựng tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ, đảng viên về phẩm chất chính trị, phẩm chất về đạo đức, lối sống phù hợp với yêu cầu cao của sự nghiệp cách mạng đang đòi hỏi. Đây là vấn đề khó, mà lâu nay chưa cụ thể hóa được nên còn lúng túng khi xem xét, đánh giá cán bộ. Bởi, Nghị quyết lần này có một số giải pháp mới, mạnh mẽ, quyết liệt như đổi mới và bắt buộc học tập lý luận chính trị; cam kết rèn luyện giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cơ chế kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước, công khai kết quả xử lý vi phạm; sự thống nhất về chính sách và kỷ luật giữa Đảng và Nhà nước; hợp đồng có thời hạn với viên chức; tăng thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu để xử lý cán bộ thuộc quyền; tăng cường sự giám sát của nhân dân trong xây dựng Đảng.
Biểu hiện trước hết của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là sự hoang mang, dao động về tư tưởng chính trị, sự hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta. Tiếp đến là chủ động hơn trong tiếp nhận những thông tin trái chiều, thu thập tin tức nội bộ, công khai luận điệu chống đối, phản động và những tiêu cực trong đời sống xã hội; đồng thời, câu kết, tiếp tay cho các phần tử thù địch từ bên ngoài để chống phá cách mạng Việt Nam. Ở mức cao hơn, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bộc lộ rõ tư tưởng phản động, chống đối, thách thức với pháp luật và hệ thống chính trị; xây dựng và phát tán những “thư ngỏ”, “tâm thư”, “kiến nghị”; tập hợp, thành lập những “hội”, “đoàn” độc lập, tổ chức chính trị đối lập với Đảng và hệ thống chính trị trong xã hội Việt Nam.
Như chúng ta đã biết “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường xuất hiện khi cách mạng có những “bước ngoặt”, tình hình thế giới, trong nước diễn biến phức tạp, nhiều khó khăn, thách thức; tình trạng mất dân chủ, tệ quan liêu, nạn tham nhũng, lãng phí, sự phân hóa giàu nghèo… dẫn tới sự bất mãn, bất bình trong xã hội; sự kích động, chia rẽ, lôi kéo, mua chuộc, “hà hơi tiếp sức” của các thế lực thù địch, phản động v.v. Song, trước hết và chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan từ chính bản thân những cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng chính trị không vững vàng; thiếu tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống, có biểu hiện chạy chức, chạy quyền, tranh giành, kèn cựa địa vị, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân, vi phạm pháp luật, kỷ luật của quân đội v.v.
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, Đảng ta đã cảnh báo về sự hiện hữu của những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đang diễn biến hết sức phức tạp và nguy hiểm, nguy cơ lớn đối với sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ. Bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, mà nguyên nhân chủ yếu là do “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ vẫn còn dư âm. Đảng ta đã sớm cảnh báo và có nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, kiên quyết đấu tranh, phòng, chống với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng đối với thứ “giặc nội xâm”. Để đấu tranh, phòng, chống hiệu quả cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhât, cần làm tốt công tác giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và quần chúng mức độ nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và đề cao trách nhiệm trong đấu tranh. Như chúng ta đều biết hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn còn mơ hồ, chưa nhận thức đúng về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và mức độ nguy hiểm của nó đối với sự tồn vong của Đảng, chế độ. Bởi vậy, việc giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là giải pháp hết sức quan trọng. Trước mắt, cần làm cho mọi người nhận thức được những biểu hiện của nó được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra; tình hình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành; thấy được việc phòng, chống sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cuộc đấu tranh hết sức cam go, phức tạp diễn ra ngay trong nội bộ, giữa ta với ta, v.v. Việc giáo dục nâng cao nhận thức phải đi đôi với khắc phục những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, xem nhẹ, không thể hiện rõ lập trường, quan điểm trước những hành vi tiêu cực, hoặc thờ ơ, không dám đấu tranh với sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Hai là, phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc, đầy đủ Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII). Việc ban hành Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) cho thấy quyết tâm rất lớn của Đảng trong ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đặc biệt, Nghị quyết lần này đã thẳng thắn chỉ rõ những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm cơ sở để đấu tranh, khắc phục một cách triệt để. Nghị quyết xác định 4 nhóm giải pháp mang tính cơ bản, toàn diện, khoa học và có mối quan hệ biện chứng với nhau. Từ đó, các cấp ủy, tổ chức đảng cần nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và kịp thời đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; gắn thực hiện nghị quyết Trung ương 4 với Chỉ thị 05 - CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Quy định về những điều đảng viên không được làm, tạo sức mạnh tổng hợp để ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trên cơ sở nhận thức đúng, nắm vững nội dung và hệ thống các nhóm nhiệm vụ giải pháp, cấp ủy các cấp nghiên cứu xây dựng kế hoạch, chương trình hành động phù hợp, đánh giá đúng thực tế, nhận diện và chỉ ra những biểu hiện cụ thể ở từng cán bộ, đảng viên, bảo đảm rõ từng nội dung, hình thức, bước đi, biết lựa chọn vấn đề trọng tâm, trọng điểm tránh dàn trải, làm qua loa đại khái.
Ba là, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, đề cao vai trò tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu. Tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng ta. Thông qua việc làm này, cơ thể Đảng, từng đảng viên như được gột sạch những vết nhơ; cán bộ, đảng viên nhận rõ ưu, khuyết điểm của mình để phấn đấu và rèn luyện tiến bộ hơn; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ được nhận diện và khắc phục đúng lúc có quan điểm đúng đắn. Do đó, cần đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong hoạt động và sinh hoạt Đảng với tinh thần xây dựng, trung thực, chỉ rõ những biểu hiện của sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh. Cùng với đó, cần đề cao vai trò gương mẫu của người đứng đầu trong rèn luyện tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đổi mới tác phong, phong cách làm việc, sâu sát cụ thể tỉ mỉ ở cơ sở. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường “sức đề kháng” nhằm vô hiệu hóa mọi âm mưu, hoạt động chống phá, phá hoại tư tưởng, thâm nhập, chuyển hóa, lũng đoạn nội bộ, tha hóa cán bộ Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch. Vận dụng linh hoạt các biện pháp xử lý đối với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; “xây” đi liền với “chống”, nói đi đôi với làm, tạo môi trường thuận lợi phòng, chống có hiểu quả những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Bốn là, phát huy vai trò và nêu cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trước mắt, cần tăng cường quản lý giáo dục, duy trì các hoạt động thông tin tuyên truyền, việc sử dụng mạng in-tơ-nét và các trang mạng xã hội; chủ động định hướng, cung cấp thông tin kịp thời với cấp trên. Từ đó chú trọng tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những thành quả trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhân rộng điển hình tiên tiến, nêu gương “người tốt, việc tốt”, tập thể tốt; đồng thời, có những bài viết sắc sảo, ý thức chính trị cao nhằm phê phán, lên án những thói hư tật xấu, tệ nạn xã hội và những biểu hiện của sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong chính nội bộ.
Với các biện pháp như đã nêu ở trên, cần nhận diện đúng, để đấu tranh, khắc phục kịp thời những biểu hiện của sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là biện pháp hết sức quan trọng để khắc phục những hiểm họa khôn lường mà do nó gây ra đối với Đảng, chế độ và đất nước ta. Làm tốt các vấn đề đã trình bày ở trên, sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ và làm thất bại mọi mưu đồ lợi dụng vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch và bọn phản động./.



NÂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM
TRONG PHÒNG CHỐNG TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA
Hồng Ngọc
Ban Chấp hành Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống với 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Việc đưa ra hệ thống những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là để làm “tấm gương chung” giúp mỗi cán bộ, đảng viên tự soi mình; làm cơ sở để đóng góp ý kiến cho người khác và làm căn cứ để xử lý đối với những tập thể, cá nhân vi phạm. Hệ thống những biểu hiện này cũng là căn cứ để góp phần xây dựng tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ, đảng viên về phẩm chất chính trị, phẩm chất về đạo đức, lối sống phù hợp với yêu cầu cao của sự nghiệp cách mạng đang đòi hỏi. Đây là vấn đề khó, mà lâu nay chưa cụ thể hóa được nên còn lúng túng khi xem xét, đánh giá cán bộ. Bởi, Nghị quyết lần này có một số giải pháp mới, mạnh mẽ, quyết liệt như đổi mới và bắt buộc học tập lý luận chính trị; cam kết rèn luyện giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cơ chế kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước, công khai kết quả xử lý vi phạm; sự thống nhất về chính sách và kỷ luật giữa Đảng và Nhà nước; hợp đồng có thời hạn với viên chức; tăng thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu để xử lý cán bộ thuộc quyền; tăng cường sự giám sát của nhân dân trong xây dựng Đảng.
Biểu hiện trước hết của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là sự hoang mang, dao động về tư tưởng chính trị, sự hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta. Tiếp đến là chủ động hơn trong tiếp nhận những thông tin trái chiều, thu thập tin tức nội bộ, công khai luận điệu chống đối, phản động và những tiêu cực trong đời sống xã hội; đồng thời, câu kết, tiếp tay cho các phần tử thù địch từ bên ngoài để chống phá cách mạng Việt Nam. Ở mức cao hơn, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bộc lộ rõ tư tưởng phản động, chống đối, thách thức với pháp luật và hệ thống chính trị; xây dựng và phát tán những “thư ngỏ”, “tâm thư”, “kiến nghị”; tập hợp, thành lập những “hội”, “đoàn” độc lập, tổ chức chính trị đối lập với Đảng và hệ thống chính trị trong xã hội Việt Nam.
Như chúng ta đã biết “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường xuất hiện khi cách mạng có những “bước ngoặt”, tình hình thế giới, trong nước diễn biến phức tạp, nhiều khó khăn, thách thức; tình trạng mất dân chủ, tệ quan liêu, nạn tham nhũng, lãng phí, sự phân hóa giàu nghèo… dẫn tới sự bất mãn, bất bình trong xã hội; sự kích động, chia rẽ, lôi kéo, mua chuộc, “hà hơi tiếp sức” của các thế lực thù địch, phản động v.v. Song, trước hết và chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan từ chính bản thân những cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng chính trị không vững vàng; thiếu tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống, có biểu hiện chạy chức, chạy quyền, tranh giành, kèn cựa địa vị, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân, vi phạm pháp luật, kỷ luật của quân đội v.v.
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, Đảng ta đã cảnh báo về sự hiện hữu của những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đang diễn biến hết sức phức tạp và nguy hiểm, nguy cơ lớn đối với sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ. Bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, mà nguyên nhân chủ yếu là do “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ vẫn còn dư âm. Đảng ta đã sớm cảnh báo và có nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, kiên quyết đấu tranh, phòng, chống với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng đối với thứ “giặc nội xâm”. Để đấu tranh, phòng, chống hiệu quả cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhât, cần làm tốt công tác giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và quần chúng mức độ nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và đề cao trách nhiệm trong đấu tranh. Như chúng ta đều biết hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn còn mơ hồ, chưa nhận thức đúng về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và mức độ nguy hiểm của nó đối với sự tồn vong của Đảng, chế độ. Bởi vậy, việc giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là giải pháp hết sức quan trọng. Trước mắt, cần làm cho mọi người nhận thức được những biểu hiện của nó được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra; tình hình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành; thấy được việc phòng, chống sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cuộc đấu tranh hết sức cam go, phức tạp diễn ra ngay trong nội bộ, giữa ta với ta, v.v. Việc giáo dục nâng cao nhận thức phải đi đôi với khắc phục những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, xem nhẹ, không thể hiện rõ lập trường, quan điểm trước những hành vi tiêu cực, hoặc thờ ơ, không dám đấu tranh với sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Hai là, phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc, đầy đủ Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII). Việc ban hành Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) cho thấy quyết tâm rất lớn của Đảng trong ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đặc biệt, Nghị quyết lần này đã thẳng thắn chỉ rõ những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm cơ sở để đấu tranh, khắc phục một cách triệt để. Nghị quyết xác định 4 nhóm giải pháp mang tính cơ bản, toàn diện, khoa học và có mối quan hệ biện chứng với nhau. Từ đó, các cấp ủy, tổ chức đảng cần nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và kịp thời đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; gắn thực hiện nghị quyết Trung ương 4 với Chỉ thị 05 - CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Quy định về những điều đảng viên không được làm, tạo sức mạnh tổng hợp để ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trên cơ sở nhận thức đúng, nắm vững nội dung và hệ thống các nhóm nhiệm vụ giải pháp, cấp ủy các cấp nghiên cứu xây dựng kế hoạch, chương trình hành động phù hợp, đánh giá đúng thực tế, nhận diện và chỉ ra những biểu hiện cụ thể ở từng cán bộ, đảng viên, bảo đảm rõ từng nội dung, hình thức, bước đi, biết lựa chọn vấn đề trọng tâm, trọng điểm tránh dàn trải, làm qua loa đại khái.
Ba là, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, đề cao vai trò tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu. Tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng ta. Thông qua việc làm này, cơ thể Đảng, từng đảng viên như được gột sạch những vết nhơ; cán bộ, đảng viên nhận rõ ưu, khuyết điểm của mình để phấn đấu và rèn luyện tiến bộ hơn; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ được nhận diện và khắc phục đúng lúc có quan điểm đúng đắn. Do đó, cần đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong hoạt động và sinh hoạt Đảng với tinh thần xây dựng, trung thực, chỉ rõ những biểu hiện của sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh. Cùng với đó, cần đề cao vai trò gương mẫu của người đứng đầu trong rèn luyện tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đổi mới tác phong, phong cách làm việc, sâu sát cụ thể tỉ mỉ ở cơ sở. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường “sức đề kháng” nhằm vô hiệu hóa mọi âm mưu, hoạt động chống phá, phá hoại tư tưởng, thâm nhập, chuyển hóa, lũng đoạn nội bộ, tha hóa cán bộ Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch. Vận dụng linh hoạt các biện pháp xử lý đối với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; “xây” đi liền với “chống”, nói đi đôi với làm, tạo môi trường thuận lợi phòng, chống có hiểu quả những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Bốn là, phát huy vai trò và nêu cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trước mắt, cần tăng cường quản lý giáo dục, duy trì các hoạt động thông tin tuyên truyền, việc sử dụng mạng in-tơ-nét và các trang mạng xã hội; chủ động định hướng, cung cấp thông tin kịp thời với cấp trên. Từ đó chú trọng tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những thành quả trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhân rộng điển hình tiên tiến, nêu gương “người tốt, việc tốt”, tập thể tốt; đồng thời, có những bài viết sắc sảo, ý thức chính trị cao nhằm phê phán, lên án những thói hư tật xấu, tệ nạn xã hội và những biểu hiện của sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong chính nội bộ.
Với các biện pháp như đã nêu ở trên, cần nhận diện đúng, để đấu tranh, khắc phục kịp thời những biểu hiện của sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là biện pháp hết sức quan trọng để khắc phục những hiểm họa khôn lường mà do nó gây ra đối với Đảng, chế độ và đất nước ta. Làm tốt các vấn đề đã trình bày ở trên, sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ và làm thất bại mọi mưu đồ lợi dụng vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch và bọn phản động./.



MỘT SỐ GIẢI PHÁP LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU
CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG TÔN GIÁO
CHIA RẼ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở VIỆT NAM
Giáp Huy
Xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, tôn giáo là một vấn đề lớn đối với các quốc gia, nhưng cũng hết sức nhạy cảm. Bởi nó liên quan đến đời sống tâm linh, thế giới quan, ý thức xã hội của nhiều nhóm người khác nhau và có quan hệ chặt chẽ với chính trị - pháp lý trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó có thể bị chính trị hóa và dễ bị các thế lực lợi dụng, biến thành công cụ đấu tranh chống đối nhau trong chính sách đối nội và đối ngoại của các quốc gia. Chính vì thế, ngay từ khi đặt chân vào Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc đã tính toán đến âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta. Chúng nhìn nhận tôn giáo ở Việt Nam như một lực lượng chính trị có thể “đối trọng” với Đảng Cộng sản Việt Nam và đang hậu thuẫn cho số đối tượng chống đối trong các tôn giáo cả về tinh thần và vật chất, phục vụ cho âm mưu sử dụng tôn giáo làm lực lượng thúc đẩy nhanh tiến trình “dân chủ hoá” nhằm làm thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Chính sự hậu thuẫn này là nhân tố kích động số phần tử quá khích trong tôn giáo có thái độ thách đố với chính quyền, như việc chúng có ý đồ thành lập “Ủy ban liên tôn chống cộng”, tìm cách mua chuộc, lôi kéo các giáo sĩ, tín đồ các tôn giáo, tụ tập đông người, xúi giục biểu tình, gây rối dẫn tới bạo loạn để thực hiện mục đích chính trị phản động.
Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch luôn xác định vấn đề “tự do tôn giáo” là hướng ưu tiên chính trong chính sách đối với Việt Nam, chúng tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước ta bằng việc tìm cách ủng hộ và thông qua các đạo luật mang tính pháp lý nhằm lợi dụng vấn đề tôn giáo để hoạt động can thiệp, chống phá; tạo được sự dung túng, giúp đỡ lực lượng phản động trong tôn giáo người Việt ở nước ngoài nằm trong các tổ chức hoạt động chống Việt Nam; đồng thời, hỗ trợ, kích động và chỉ đạo các đối tượng cực đoan, phản động trong tôn giáo ở trong nước tổ chức các hoạt động chống phá. Các công cụ, phương tiện tiến hành hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc của Việt Nam rất đa dạng. Nhiều hội nhóm được lập ra cả ở trong và ngoài nước, như: Việt Tân, Cao trào Nhân bản, Đảng Dân chủ Việt Nam, Hội anh em dân chủ, Hội Cựu tù nhân lương tâm, Hội Phụ nữ nhân quyền,… Dù tên gọi khác nhau, song vẫn kiểu “bình mới rượu cũ”, quanh quẩn vài ba kẻ giật dây, điều hành, cùng mục đích chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hoạt động chủ yếu được thực hiện trên internet thông qua website và các trang mạng xã hội như facebook, WhatApp, Twitter,… để đăng tải các bài viết, hình ảnh, clip xuyên tạc với cường độ cao, tính chất “đánh lận con đen” tung tin thất thiệt, sai lệch về đường lối, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta nhằm gây chia rẽ nội bộ. Từ đó, các thế lực thù địch tiếp tục khoét sâu tâm lý ly khai, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết vùng miền, đoàn kết lương giáo, đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài với quê hương, đoàn kết quân - dân, đoàn kết Đảng với Nhân dân.
Như vậy, có thể thấy, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là rất tinh vi, thâm độc; hành động quyết liệt, trắng trợn; đối tượng đa dạng, phức tạp; mục đích không thay đổi; hậu quả khó lường. Với tinh thần cảnh giác của người dân, cùng với các biện pháp nghiệp vụ kiên quyết của lực lượng chức năng, chúng ta đã phát hiện và đấu tranh ngăn chặn kịp thời âm mưu, hành động nguy hiểm đó, nhưng các thế lực thù địch không dễ từ bỏ, chúng vẫn luôn tìm mọi cách phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Để đấu tranh với mưu đồ đen tối đó, chúng ta cần thực hiện tốt và đồng bộ một số giải pháp cơ bản, quan trọng sau:
Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, quán triệt quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước nâng cao nhận thức cho các tầng lớp nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào theo đạo. Trong đó “Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật. Đoàn kết đồng bào theo tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Đấu tranh ngăn chặn các hành vi lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước” mà Đảng ta đã xác định. Đồng thời, phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong đấu tranh, nhận diện, vạch mặt những kẻ có mưu đồ đen tối nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên cơ sở đó, đề cao truyền thống đoàn kết, yêu nước, tinh thần cảnh giác, trách nhiệm công dân, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, sự đồng thuận xã hội, ý thức, trách nhiệm cộng đồng, tự lực tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chống mọi biểu hiện tư tưởng hẹp hòi, cục bộ, ly khai,… coi đó là yếu tố quan trọng để củng cố và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hai là, không ngừng xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Đây là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tăng nội lực, tạo sức đề kháng trước mọi âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của kẻ thù. Trong đó, tuân thủ nghiêm túc những vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc theo quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải dựa trên nền tảng khối liên minh công - nông - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; thực hiện đại đoàn kết phải rộng rãi, lâu dài; mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; kiên quyết đấu tranh loại trừ nguy cơ phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tôn giáo; chống kì thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, tự ti hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo. Chủ động giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở các vùng dân tộc, tôn giáo, bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia. Thực hiện nghiêm túc quan điểm mà Đại hội XII của Đảng đã nêu: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam,… tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc”.
Ba là, đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân vùng dân tộc và miền núi. Theo đó, rà soát, điều chỉnh, bổ sung để hoàn thiện những chính sách đã có và nghiên cứu ban hành những chính sách mới để đáp ứng yêu cầu phát triển các vùng dân tộc và công tác dân tộc trong giai đoạn mới. Công tác dân vận cần đổi mới, tìm ra những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả hơn nữa trong tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia giúp địa phương xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng nông thôn mới, phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, xóa mù chữ, nâng cao dân trí, phòng, chống dịch bệnh, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn. Thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh, xây dựng nông thôn mới, định canh, định cư, tạo việc làm cho lao động tại chỗ là người dân tộc thiểu số; hướng dẫn đồng bào phát triển kinh tế, nâng cao đời sống. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tôn trọng tín ngưỡng truyền thống của đồng bào các dân tộc và đồng bào theo đạo… Qua đó, tăng cường sự đồng thuận giữa những người theo tín ngưỡng, tôn giáo và những người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau.
Bốn là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc. Đẩy mạnh thực hiện các phong trào, cuộc vận động, biểu dương kịp thời những tấm gương điển hình tiên tiến, “gương người tốt, việc tốt”; động viên và phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc, chức sắc tôn giáo trong việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Đồng thời, phát huy vai trò của cấp ủy, chính quyền cơ sở, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân, phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh những hành vi chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây bất ổn về chính trị - xã hội. Kiên trì thuyết phục, vận động những người nhẹ dạ, cả tin nghe theo kẻ xấu quay về với cộng đồng; đối xử khoan hồng, độ lượng, bình đẳng với những người lầm lỗi đã ăn năn, hối cải, phục thiện. Thực hiện tốt công tác quản lý xã hội, nắm chắc tình hình, phối hợp với các lực lượng, tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng, gần gũi, sát dân, nắm tâm tư, nguyện vọng của đồng bào và những vấn đề xảy ra trên địa bàn để có biện pháp giải quyết phù hợp, hiệu quả, ngăn chặn kẻ xấu lợi dụng. Kịp thời phát hiện, giải quyết dứt điểm các “điểm nóng” liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo, không để kẻ xấu lợi dụng xuyên tạc, kích động, chống phá.
Hiện nay và trong thời gian tới, chủ nghĩa đế quốc  và các thế lực thù địch đã, đang và sẽ tăng cường chỉ đạo, giúp đỡ mọi mặt để phát triển đạo trong các vùng dân tộc ít người, bao gồm cả phát triển các đạo giáo mới và cả số người theo đạo, biến các tổ chức và hoạt động tôn giáo thành các tổ chức và hoạt động chính trị chống lại cách mạng Việt Nam. Chúng ta phải thường xuyên nêu cao cảnh giác, thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp trên sẽ là “bức tường” vững chắc để ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.



Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...