Thứ Năm, 24 tháng 5, 2018


DI SẢN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ HỘI NHẬP
VÀ HỢP TÁC QUỐC TẾ
1. Nhu cầu tất yếu khách quan hội nhập và hợp tác quốc tế
Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 mở ra một thời đại mới cho các dân tộc, hướng đến mục tiêu chung của nhân loại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Hồ Chí Minh với tư duy và tầm nhìn chiến lược, nhận diện chính xác thời đại mới, trên cơ sở thấm nhuần sâu sắc và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, ngay từ sớm, đã nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của hội nhập quốc tế để góp phần vào công cuộc giải phóng dân tộc và phát triển, chấn hưng đất nước. Hội nhập quốc tế thể hiện sự tham gia của quốc gia, dân tộc vào quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa với tính cách là một xu thế lịch sử của thế giới hiện đại. Quan sát sự biến động của thế giới, Hồ Chí Minh đã có một nhận xét mang hàm nghĩa triết lý: “Xét về nguyên tắc, tiến bộ chung phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế; và văn minh chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế được mở rộng và tăng cường”(1) và “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới”(2).
Đối với Việt Nam, theo Hồ Chí Minh, hội nhập, trước hết, là để tranh thủ mọi nguồn lực từ bên ngoài giúp đỡ dân tộc mình trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trên hành trình tìm đường cứu nước, Người đã sớm nhận thức, chủ nghĩa đế quốc là một hệ thống thế giới, chúng vừa tranh giành, xâu xé thuộc địa, vừa vào hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ yếu trong hệ thống thuộc địa của mình, cho nên để đánh thắng chủ nghĩa đế quốc thì phải liên kết các dân tộc thuộc địa, các đảng cách mệnh trên thế giới: “An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ. Và nếu công nông Pháp cách mệnh thành công, thì dân tộc An Nam sẽ được tự do”(3). Trong mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, Người nhìn nhận đó là mối quan hệ biện chứng, hai chiều tương tác với nhau: Việt Nam không chỉ tiếp nhận sự ủng hộ, giúp đỡ của cách mạng thế giới mà Việt Nam cũng có nghĩa vụ quốc tế - giúp bạn là tự giúp mình: “Nhân dân ta chiến đấu hy sinh chẳng những vì tự do, độc lập riêng của mình, mà còn vì tự do, độc lập chung của các dân tộc và hòa bình trên thế giới”(4).
Thứ hai, hội nhập là để tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật mới nhất của các nước để phục vụ cho công cuộc chấn hưng đất nước và xây dựng CNXH: “Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình”(5). Việc đầu tiên Hồ Chí Minh xúc tiến để hội nhập cho nền khoa học Việt Nam đó là cử một nhóm thanh niên Việt Nam sang Mỹ học tập khoa học - kỹ thuật. Trong Thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, ngày 1-11-1945, Người đề nghị Hoa Kỳ tiếp nhận 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ với mong muốn một mặt, thiết lập những mối quan hệ văn hóa thân thiết với thanh niên Mỹ, và mặt khác, xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác: “và tha thiết mong muốn tạo được mối quan hệ với nhân dân Mỹ là những người mà lập trường cao quý đối với những ý tưởng cao thượng về công lý và nhân bản quốc tế, và những thành tựu kỹ thuật hiện đại của họ đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với giới trí thức Việt Nam”(6).
2. Về nội dung hội nhập quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh
Chính sách hội nhập và hợp tác quốc tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ trong bức thư gửi Liên Hợp quốc năm 1946: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.
b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.
c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên Hợp quốc.
d) Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân”(7).
Hội nhập quốc tế theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh có một số nội dung chính sau đây:
- Hội nhập quốc tế để giữ vững nền độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hồ Chí Minh lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản, gắn cách mạng Việt Nam vào cùng quỹ đạo với cách mạng thế giới nhằm hướng đến giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Trả lời câu hỏi của phóng viên hãng thông tấn Nam Dương Antara, ngày 14-5-1954: “Mục đích chiến đấu của nhân dân Việt Nam là gì?”, Hồ Chí Minh trả lời: “Nhân dân Việt Nam anh dũng chiến đấu mục đích là thực hiện một nước hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do”(8); với câu hỏi: “Điều kiện gì là điều kiện căn bản thương thuyết với Pháp?”, Người trả lời: “Lập trường của chúng tôi để thương thuyết với Pháp đặng ngừng bắn, đình chiến và lập lại hòa bình ở Đông Dương là: thật sự độc lập, thống nhất và dân chủ tự do”(9). Theo Hồ Chí Minh, Việt Nam hội nhập với thế giới là thực hiện chính sách mở cửa về kinh tế, hợp tác kinh tế quốc tế là trọng tâm, mang lại lợi ích cho đất nước, không phân biệt chế độ chính trị “các nước dù chế độ xã hội khác nhau và hình thái ý thức khác nhau cũng đều có thể chung sống hòa bình được”(10). Năm 1959, khi trả lời báo chí về quan hệ của Việt Nam với các nước tư bản, trong đó có Nhật Bản, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cần mở rộng công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp để nâng cao sức sản xuất và cải thiện đời sống của nhân dân. Chúng tôi cần nhiều dụng cụ, máy móc và hàng hóa của các nước, trong đó tất nhiên kể cả nước Nhật Bản. Và chúng tôi có thể cung cấp cho những nước ấy lương thực, cây công nghiệp và khoáng sản. Quan hệ buôn bán giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Nhật Bản, nếu được cải thiện, có nhiều triển vọng tốt đẹp, có lợi cho nhân dân cả hai nước”(11).
Ở Hồ Chí Minh, mở cửa, hội nhập không chỉ để phát triển về phương diện kinh tế, mà còn để ngăn ngừa chiến tranh, tránh hy sinh đổ máu cho nhân dân Việt Nam cũng như cho nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ, để giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc.
- Hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa sức mạnh dân tộc kết hợp với việc phát huy sức mạnh quốc tế, sức mạnh thời đại. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, sức mạnh dân tộc là nguồn lực nội sinh giữ vai trò quyết định; còn sức mạnh quốc tế, sức mạnh thời đại là nguồn lực bên ngoài, nó sẽ làm cho sức mạnh dân tộc được tăng lên và nó cũng chỉ phát huy tác dụng thông qua nhân tố bên trong, đó là sức mạnh dân tộc. Người nhấn mạnh quan điểm tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(12), phải kết hợp chặt chẽ mục tiêu đấu tranh cho độc lập dân tộc mình với các mục tiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH.
- Hội nhập kinh tế quốc tế để thu hút ngoại lực, mang ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển và thịnh vượng của quốc gia, dân tộc. Mục tiêu nhất quán về hợp tác kinh tế quốc tế theo Hồ Chí Minh là để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân. Quan điểm này rất gần gũi với khái niệm tăng trưởng bao trùm của quốc tế hiện nay, khi Người hướng mục tiêu phát triển và hợp tác kinh tế quốc tế cuối cùng là để mang lại lợi ích cho tất cả mọi người dân trong xã hội. Mấy tháng sau khi giành độc lập, Hồ Chí Minh trả lời các nhà báo về vấn đề mở cửa hợp tác kinh tế của nước Việt Nam mới: “Có thể rằng: chúng ta hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác. Có thể rằng: chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia”(13). Năm 1955, sau chuyến thăm Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ, trong những điều kiện mới, Hồ Chí Minh lại nói rõ thêm: “Các nước bạn giúp ta để hàn gắn mau chóng những vết thương chiến tranh; để tăng gia sản xuất về nông nghiệp, công nghiệp và để phát triển thương nghiệp; để khôi phục và phát triển kinh tế và văn hóa; để ta dần dần nâng cao đời sống của nhân dân ta”(14).
Quan điểm cơ bản, nhất quán của Hồ Chí Minh trong hội nhập kinh tế quốc tế là để có điều kiện phát huy những tiềm năng của Việt Nam, thu hút ngoại lực để phát huy nội lực; nội lực là cái quyết định, ngoại lực là yếu tố quan trọng và phải trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi.
Hội nhập văn hóa quốc tế để làm giàu cho văn hóa dân tộc, phát huy sức mạnh mềm của đất nước trong giao lưu quốc tế. Ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài cùng với nhiều chuyến thăm chính thức các nước trên thế giới với cương vị nguyên thủ quốc gia(15), đã tạo cơ hội cho Hồ Chí Minh có tầm nhìn thực tiễn về giao lưu và hội nhập quốc tế về văn hóa. Người cho rằng: “Văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại”(16). Cho nên, “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ”(17). Quan điểm của Người là tiếp thu toàn diện tất cả cái hay, cái tốt của văn hóa nhân loại trên nền tảng văn hóa dân tộc, cốt cách văn hóa dân tộc, thông qua “màng lọc” chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Hồ Chí Minh được UNESCO tôn vinh là nhà văn hóa kiệt xuất, vì những đóng góp to lớn của Người vào kho tàng văn hóa nhân loại: “Sự nghiệp văn hóa của Hồ Chí Minh đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt văn hóa, giáo dục, nghệ thuật kết tinh truyền thống hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam và tư tưởng của Người là hiện thân cho khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc văn hóa của dân tộc mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”(18). Chính Người cũng là tấm gương sáng cho tình đoàn kết và hội nhập quốc tế, kết tinh thành: “một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”(19).
- Sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước với tinh thần trách nhiệm cao. Tháng 1-1950, trong Tuyên bố khi đi thăm nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ thế giới”(20). Dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam đã sớm gia nhập Liên Hợp quốc và đóng góp tích cực vào việc giữ gìn hòa bình quốc tế.
3. Nguyên tắc, phương pháp hội nhập theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Một là, luôn đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết; tranh thủ các điều kiện thuận lợi để gia tăng nguồn lực phục vụ cho sự phát triển của đất nước và làm giàu bản sắc dân tộc. Đảng ta khẳng định rõ hơn mục tiêu của hội nhập và hợp tác là “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”(21).
Hai là, hội nhập trên cơ sở tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau. Phải luôn chủ động, không trông chờ ỷ lại, không phụ thuộc, phải căn cứ vào tình hình trong nước và quốc tế để quyết định mức độ, lộ trình hội nhập. Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh, ngoại lực là quan trọng, nhưng nội lực mang tính quyết định. Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “phát huy vai trò quyết định của nội lực”(22); nội lực ở đây bao gồm thực lực kinh tế và quốc phòng, về kinh tế là tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới một cách cơ bản thể chế kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài; phát triển nhanh đi đôi với việc nâng cao hiệu quả, chất lượng và tính bền vững, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Ba là, các nước trên thế giới tăng cường trao đổi, cùng theo đuổi chính sách chung sống hòa bình, giải quyết các vấn đề mâu thuẫn, tranh chấp thông qua đối thoại, đàm phán, không dùng vũ lực. Đại hội XII của Đảng xác định, trong bối cảnh cục diện khu vực và quốc tế diễn biến hết sức phức tạp, công cuộc hội nhập cần được tiến hành trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và điều kiện hòa bình để phát triển, giữa yêu cầu giữ vững độc lập, tự chủ với chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế.
Bốn là, thiết lập mối quan hệ hữu nghị bền chặt với các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Campuchia, các nước trong khu vực Đông Nam Á và châu Á. Quan điểm của Hồ Chí Minh là đoàn kết và tin cậy, giúp đỡ lẫn nhau: “Thái độ nước Việt Nam đối với những nước Á châu là một thái độ anh em, đối với ngũ cường là một thái độ bạn bè”(23).
Năm là, phải xây dựng chính sách mềm dẻo, linh hoạt, đặc biệt là với các nước lớn. Đồng thời phải kiên trì đấu tranh, không để các nước lớn thỏa hiệp về lợi ích của quốc gia - dân tộc mình, luôn giữ vững lập trường, nguyên tắc theo mục tiêu chiến lược của cách mạng, giữ vững độc lập, tự chủ, không dao động trước bất cứ thế lực nào với phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”.
4. Giá trị và ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế trong công cuộc đổi mới của Việt Nam hiện nay
Di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, là sự kế thừa và phát triển truyền thống văn hóa Việt Nam về hội nhập quốc tế; kế thừa, vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin về hội nhập cho phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam; là cơ sở nền tảng, kim chỉ nam cho hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước ta trong các giai đoạn cách mạng. Nhờ vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước ta đã tranh thủ được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế; góp phần quan trọng vào những thắng lợi vẻ vang của dân tộc trong thế kỷ XX; góp phần hoạch định đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế có hiệu quả trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Đại hội VI của Đảng mở ra con đường đổi mới và phát triển, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ quốc tế đã giúp Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào các tổ chức, các diễn đàn đa phương, tham gia hội nhập quốc tế và liên kết kinh tế ngày càng sâu sắc. Đảng và Nhà nước ta đã đánh giá đúng đắn tình hình trong nước và xu thế phát triển của thế giới, điều chỉnh chính sách, tập trung vào giải quyết những vấn đề trọng yếu trong hợp tác quốc tế của Việt Nam bằng việc đổi mới tư duy, nhận thức nhằm tạo thế ổn định và tận dụng điều kiện quốc tế thuận lợi phục vụ quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển của Việt Nam.
Từ tổng kết thực tiễn, Đại hội XI (2011) của Đảng đã sửa đổi, bổ sung Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, rút ra những bài học kinh nghiệm lớn, trong đó có bài học: “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại”(24). Đại hội XII nhấn mạnh nhiệm vụ: “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”(25). Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược tổng thể về hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đây là bước cụ thể hóa Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10-4-2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế.
Đây cũng chính là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập và hợp tác quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam, mang lại cuộc sống hạnh phúc về vật chất và tinh thần cho nhân dân và hội nhập để đất nước sánh vai cùng với các cường quốc năm châu.
_________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2017
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.14.
(2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Sđd, tr.329, 287.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.14, Sđd, tr.533.
(5), (6), (7), (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Sđd, tr.523, 91-92, 523, 86.
(8), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Sđd, tr.474, 475.
(10), (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Sđd, tr.12, 56.
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, Sđd, tr.293. 
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Sđd, tr.445.
(15) Theo thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh, trong cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã đến 56 nước trên thế giới.
(16), (17) Hồ Chí Minh: Về công tác văn hóa văn nghệ, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1971, tr.71, 71.
(18) Nghị quyết của UNESCO kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam. Xem: unesdoc.unesco.org.
(19) Lời của nhà thơ Liên Xô Ôxíp Manđenxtam trong bài báo nhan đề: “Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản - Nguyễn Ái Quốc”, đăng trên báo Ngọn lửa nhỏ (Liên Xô) số 39, ngày 23-12-1924, Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Sđd, tr.462.
(20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Sđd, tr.8.
(21), (22), (25) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.153, 87, 79.
(23) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Sđd, tr.163.
(24) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.66.

PGS, TS Phạm Ngọc Anh
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nguyen-cuu-ly-luan/item/2505-di-san-tu-tuong-ho-chi-minh-ve-hoi-nhap-va-hop-tac-quoc-te.html


Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2018


NHÌN NHẬN LỊCH SỬ MỘT CÁCH KHÁCH QUAN
HÃY LÀ ĐỘC GIẢ THÔNG THÁI
                                                                                  Mạnh Trần
Độc lập, tự do là khát vọng ngàn đời của dân tộc ta, nhân dân ta. Nó bắt nguồn từ truyền thống yêu nước truyền thống Việt Nam, lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo. Khát vọng độc lập, tự do của dân tộc đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút trong câu nói nổi tiếng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Chính vì lẽ đó, cả dân tộc Việt Nam đã đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Nhật, đế quốc Mỹ, giành lại độc lập cho dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Tuy vậy, các thế lực thù địch không ngừng xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng mà cha ông ta đã đổ bao xương máu để giành lấy. Chúng xuyên tạc rằng: miền Bắc xâm lược miền Nam, nếu không cuộc sống nhân dân miền Nam sẽ được như Hàn Quốc bây giờ. Đáng buồn thay, nhiều bạn trẻ không hiểu sâu về lịch sử đã bị những luận điểm đó mê hoặc.
Thực ra không khó để nhìn rõ ra mưu đồ của chúng nếu chúng ta nhìn lại quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam và đặc thù của hai miền Triều Tiên.
Trước hết, ta hãy nói về sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta: Ngày 01/9/1858, tại bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), liên quân Pháp -  Tây Ban Nha, nổ súng mở đầu cuộc xâm lược nước ta và đến 1896, thực dân Pháp cơ bản đặt xong bộ máy cai trị ở nước ta. Nhân dân ta kiên quyết chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp cũng như phản đối việc đầu hàng nhục nhã của triều đình phong kiến.
Thực dân Pháp dùng chính sách “chia để trị”, “dùng người Việt trị người Việt”… tạo nên mâu thuẫn tôn giáo, chia rẽ dân tộc, chia rẽ vùng miền. Với chính sách đó, chúng đã làm suy yếu sức mạnh của dân tộc ta, đàn áp dã man các phong trào yêu nước. Bên cạnh đó, chúng bồi dưỡng bè lũ tay sai làm “chó săn” cho chúng và khống chế chặt chẽ triều đình Huế.
Như vậy, thực tế đã khẳng định: thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Nhưng buồn cười thay một số bạn trẻ cho rằng Pháp không sang thì Việt Nam không có ô tô để đi, tàu hỏa để chạy…, như thế ta phải cảm ơn Pháp – bộ phận này cho rằng Pháp khai phá văn minh cho Việt Nam?
Còn đế quốc Nhật có xâm lược Việt Nam không? Chúng vơ vét tài nguyên ở Việt Nam, cùng với thực dân Pháp là thủ phạm cướp đi hơn 2 triệu sinh mạng nhân dân ta trong nạn đói Ất Dậu (1945).
Cách mạng Tháng Tám là một chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta chống lại các thế lực ngoại xâm. Ta phải nhận thức đúng đắn về ý nghĩa lịch sử của nó, tránh bị các thế lực thù địch xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận thành quả cách mạng của nhân dân ta. Thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, một nước có chủ quyền (chúng đã 2 lần bán nước ta cho quân Nhật). Chúng lập ra chính quyền bù nhìn và tay sai. Để rồi khi chúng thất bại lần thứ hai, phải rút quân về nước thì đế quốc Mỹ đã lợi dụng bọn tay sai đó để can thiệp vào Việt Nam.
Bây giờ, ta sẽ nêu sự khác nhau giữa Việt Nam và hai nước trên bán đảo Triều Tiên. Triều Tiên và Việt Nam hoàn toàn khác nhau.
1. Năm 1945, Triều Tiên chưa độc lập khi quân đồng minh vào, không có chính phủ hợp pháp, nên bị chia làm 2 miền theo thỏa thuận của các nước Đồng Minh. Do vậy “danh không chính” nên “ngôn không thuận”.
2. Uy tín của Kim Nhật Thành (Kim Il-Sung) không cao ở Nam Triều Tiên, nhân dân Nam Triều Tiên nhiều người còn không biết tới Kim Nhật Thành.
3. Chính phủ Nam Triều Tiên do những người kháng Nhật lập nên, nên được nhân dân Nam Triều Tiên ủng hộ (Chính phủ tự lập của Diệm - Nhu là tay sai của thực dân Pháp, có tội ác với nhân dân).
4. Chính quyền Nam Triều Tiên đề nghị tổng tuyển cử thống nhất 2 miền, nhưng Bắc Triều Tiên không đồng ý. Ngược lại, Chính quyền dân bầu do Chủ tịch Hồ Chí Minh đại diện đề nghị thống nhất 2 miền bằng Tổng tuyển cử (theo Hiệp định Genève) thì chính phủ tự lập miền Nam không đồng ý.
5. Chính quyền VNDCCH do nhân dân cả nước bầu ra, khác hoàn toàn với chính phủ Nam, Bắc Triều Tiên.
Do vậy, Bắc Triều Tiên thống nhất 2 miền bằng vũ lực, nên không được nhân dân miền Nam ủng hộ.
Còn Việt Nam thì khác: Năm 1956 theo hiệp định Giơnever thì thống nhất 2 miền Nam – Bắc bằng Tổng tuyển cử, nhưng Mỹ - Diệm phủ nhận và đàn áp đòi thực hiện hiệp định Genève. Chúng ta đấu tranh bằng chính trị nhưng không có hiệu quả, bị chính quyền Mỹ - Diệm đàn áp dã man, nhân dân miền Nam phải tiến hành "Đồng khởi", sau đó, chúng ta mới chuyển hướng sang đấu tranh quân sự kết hợp chính trị và ngoại giao để thống nhất 2 miền.
6. Chính quyền 2 miền Nam, Bắc Triều Tiên đều công nhận nhau với tư cách là quốc gia, và đều mong muốn thống nhất 2 miền. Chính quyền Mỹ - Diệm (chính quyền Sài Gòn nói chung) đều nằm dưới sự điều khiển của quan thầy Mỹ, chia rẽ lãnh thổ của dân tộc Việt Nam.
Chính vì vậy, điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam và Triều tiên hoàn toàn khác nhau về bản chất. Những luận điểm so sánh giữa Việt Nam và Triều Tiên là thiếu cơ sở và mang đậm mục tiêu chính trị đen tối. Chúng ta cần nhận thức đúng đắn và trả lại sự thật cho lịch sử cũng như ghi nhớ công ơn mà các thế hệ tiền bối đã đổ xương máu giành và giữ nền độc lập cho dân tộc Việt Nam. Các bạn hãy là độc giả thông thái, đừng vô tình biến mình thành công cụ để kẻ xấu lợi dụng vào những mưu đồ mờ ám, bất lợi cho quốc gia, dân tộc./.


CNH GIÁC VI TÀ ĐO MI XUT HIN
“HI THÁNH ĐC CHÚA TRI”
                                                                                           Long Bùi
Những ngày gần đây, xuất hiện thông tin về nhóm người len lỏi vào các trường đại học, vùng nông thôn ở miền Tây như Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang để tuyên truyền về 'Hội thánh Đức chúa trời'…  Trên địa bàn Cần Thơ, cũng có thông tin nhóm người này xuất hiện ở quận Thốt Nốt để tuyên truyền về 'Hội thánh Đức chúa trời'. Phương thức của nhóm này là không thờ cúng ông bà, bỏ gia đình đi theo nhóm để tuyên truyền và trùm đầu kín. Còn đối tượng mà họ tiếp cận, lôi kéo là sinh viên, nữ sinh ở các trường đại học, cao đẳng hay người ngoài xã hội.
Chỉ cần bước chân vào đây, họ đều thay đổi tính cách, trở thành những người thần kinh không còn bình thường, xa lánh gia đình, đề nghị hoặc trực tiếp đập bỏ nơi thờ cúng tổ tiên, ông bà; mang tiền đi cho hội thánh; sinh viên thì bỏ học, người đi làm thì bê trễ công việc.
Thứ tà đạo kinh khủng kia khiến vợ chồng bỏ nhau sau nhiều năm vun vén hạnh phúc. Con trẻ chưa kịp lớn bỗng phải sống trong cảnh gia đình không nguyên vẹn, nhìn cha mẹ ly tán mỗi người một nơi. Những đứa con đang độ tuổi xuân xanh, sôi nổi nhất vì sự lôi kéo của bạn bè mà gia nhập tà đạo sẵn sàng từ bỏ cha mẹ, anh em ruột thịt vì nhiều lý do hết sức vô lý. Thứ tà đạo này cho rằng cuộc sống trần gian là cõi tạm, tất cả là con của Chúa Trời, cha mẹ chỉ là “công cụ” Chúa Trời tạo ra để họ chịu tội ở thế giới trần tục. Rồi tất cả họ từ bỏ nguồn cội, ông bà tổ tiên. Họ quên hết đạo lý làm người, cho rằng việc thờ cúng ông bà, cha mẹ đã khuất là thờ ma quỷ. Những kẻ tuyên truyền tà đạo đã đưa ra những luận điệu xuyên tạc hết sức phi lý, phản khoa học, tiêm nhiễm vào đầu nạn nhân những thứ triết lý vô thức để chiếm đoạt tinh thần của những thành viên, rồi điều khiển hành động của họ, sai khiến họ làm những việc thất đức với cha mẹ và người thân.
Một trong những điều rất nguy hiểm là tà đạo này tiêm nhiễm vào đầu nạn nhân ý thức không thiết đến cuộc sống hiện tại, chỉ mong chờ được về với Chúa.
Họ bị tẩy não rằng cuộc sống trần gian chính là ngục tù, hình hài do cha mẹ ban cho thật ra là lớp áo tù, nên nhất định phải sớm cởi bỏ được nó để về với Chúa. Về một nơi có sự sống mãi mãi, vĩnh hằng do Chúa Trời tạo ra.
Để có được điều đó, họ phải uống thứ nước màu đỏ và ăn miếng bánh được cho là máu và thịt của Chúa. Chỉ cần thực hiện xong nghi thức này, thì họ đã chính thức là con của Chúa, sẽ được ban tặng cuộc sống vĩnh hằng ở nơi “Nước Thiên Đàng”. Sau đó, chúng kêu gọi tông đồ đóng góp 10% thu nhập để sớm được về với Chúa.
Các nạn nhân thoát khỏi tà đạo "Hội Thánh Đức Chúa Trời" cho biết, chỉ cần uống thứ nước màu đỏ người sẽ mụ mị nghe theo, trở thành những người thần kinh không bình thường. Nó khiến nạn nhân bị điều khiển, nhớ những gì cần nhớ, quên những gì chúng muốn họ quên.
Rất nhiều nạn nhân kịp thoát ra khỏi tà đạo này trước khi quá trễ đều cho biết, chỉ cần uống thứ nước này người ta sẽ mụ mị nghe theo, trở thành những người thần kinh không bình thường.
Thật khủng khiếp, sự thật là những người đã uống nước màu đỏ đều lần lượt từ bỏ gia đình, từ bỏ đạo lý để sống bầy đàn với những kẻ cùng tin theo tà đạo này. Chúng ta hãy cảnh giác, trách xa và kịp thông báo cho cơ quan chức năng khi phát hiện ra những hiện tượng đó./.




























“NGƯỜI ĐỐT LÒ VĨ ĐẠI” VÀ CUỘC CHIẾN CHỐNG THAM NHŨNG
                                                                           Hùng Trần
Chúng ta đều biết, tham nhũng và lộng hành quyền lực là những căn bệnh rất nguy hiểm của một đảng cầm quyền. Căn bệnh ấy đã và đang hủy hoại vai trò tiên phong của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự liêm chính của bộ máy Nhà nước, làm tha hóa phẩm hạnh của không ít cán bộ, đảng viên giữ vai trò trụ cột và làm xói mòn nghiêm trọng niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Chưa bao giờ cuộc chiến chống tham nhũng, chống lộng hành quyền lực trở nên quyết liệt, với cường độ, quyết tâm cao và cũng chưa bao giờ lòng Dân - ý Đảng - vận Nước lại hòa quyện vào nhau như thế này, ý Đảng hợp với lòng Dân và lòng Dân thuận theo ý Đảng một cách tuyệt đối.
Ấy vậy mà, các thế lực thù địch, trong đó có cả những người viết báo, lợi dụng cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam mà đứng đầu là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, đã bẻ cong ngòi bút, chống phá, xuyên tạc với những ngôn từ kích động, bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo, làm trầm trọng hóa căn bệnh tham nhũng và xoáy vào lòng tin của những người còn tỏ ra nghi ngờ về cuộc chiến chống tham nhũng.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “cái lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy. Củi khô, củi vừa vừa cháy trước, rồi cả lò nóng lên, tất cả các cơ quan vào cuộc, có ai đứng ngoài đâu và không thể đứng ngoài được”; “Chống tham nhũng, ai nhụt chí thì dẹp sang bên để người khác làm”. Điều đó khẳng định thái độ không do dự, không e ngại với tham nhũng của người đứng đầu trong Đảng. Nhiều người đã gọi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với những cái tên trìu mến, rất đỗi gần gũi, như “Bác Cả” “Cụ Tổng” hay “Người đốt lò vĩ đại”.
Với quan điểm chống tham nhũng “không có vùng cấm”, những ông tướng công an một thời quyền lực như Phan Văn Vĩnh, Nguyễn Thanh Hóa, gần đây là Phan Hữu Tuấn hay cán bộ công an bình thường như Nguyễn Hữu Bách; những cựu quan chức đứng đầu thành phố trực thuộc Trung ương như Trần Văn Minh, Văn Hữu Chiến hay như Nguyễn Điểu, Trần Văn Toán, Lê Cảnh Dương, bất kể ai, đã là cán bộ công chức, những người công bộc của Nhân dân nhưng đã nhúng chàm vào tham nhũng, tha hóa quyền lực dù là đương chức hay đã về hưu đều phải chịu trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân và trước Pháp luật.
Ai cũng biết đấu tranh chống tham nhũng là khó khăn, phức tạp, nhưng “chặt một vài cành để cứu một cây” thì chúng ta vẫn phải làm và thực tế vừa qua đã chứng tỏ nếu thực sự quyết tâm và khôn khéo thì không có trở ngại nào là không vượt qua. Chính “Người đốt lò vĩ đại” đã mang tới một thông điệp rất rõ ràng, pháp luật phải được thượng tôn. Điều đó đã lấy lại niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, tin tưởng vào thắng lợi của cuộc chiến chống tham nhũng mà Đảng ta đang tiến hành./.
                                                                            
                                                                            


NHẬN RÕ TÍNH CUỒNG GIÁO CỦA MỘT TÀ ĐẠO
Vũ Đảng
"Hội thánh Ðức Chúa Trời" thời gian gần đây, hoạt động bất thường tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước Việt Nam đang khiến dư luận hết sức lo ngại. Vì thế, trong khi tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân, chúng ta cần tuyên truyền sâu rộng cho mọi người nhận rõ tính cuồng giáo của tà đạo này nhằm ngăn chặn, xử lý nghiêm hoạt động lợi dụng danh nghĩa tôn giáo để vi phạm pháp luật Việt Nam.
Khác với các tôn giáo chính thống, đã được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận, cái gọi là giáo lý của "Hội thánh Ðức Chúa Trời" có nội dung mang tính chất tà giáo, nặng về mê tín dị đoan, hoàn toàn xa lạ và đi ngược lại với chuẩn mực đạo đức, phong tục tập quán của người Việt Nam. Cụ thể: "Hội thánh Ðức Chúa Trời"  tuyên truyền về ngày tận thế, lừa mị về "sự cứu rỗi của đấng linh thiêng", cho rằng cha mẹ chỉ là "công cụ do Chúa Trời tạo ra" để họ phải gánh chịu tội lỗi ở thế giới trần tục. "Hội thánh Ðức Chúa Trời" yêu cầu người tham gia phải đập bỏ bàn thờ, không được thờ cúng, thắp hương tổ tiên; gọi bố mẹ đẻ là anh chị vì cho rằng chỉ có Ðức Chúa Trời mới là cha mẹ của cả nhân loại; kiêng tắm rửa; không được quan hệ vợ chồng...
Người tự nhận là "nhà truyền giáo" của "Hội thánh Ðức Chúa Trời"  thường tiếp cận phụ nữ, người già, học sinh, sinh viên, những người có hoàn cảnh khó khăn như đang bị nợ nần, bệnh tật, bế tắc trong cuộc sống, lợi dụng sự thiếu hiểu biết về tôn giáo hoặc hoàn cảnh riêng của họ để có những tác động về tâm lý, gieo rắc luận điệu rằng cứ tham gia "Hội thánh Ðức Chúa Trời" sẽ có tương lai tốt đẹp, không ốm đau bệnh tật, được hưởng cuộc sống giàu sang, phú quý... nhằm lôi kéo họ đi theo tổ chức tà đạo này. "Hội thánh Ðức Chúa Trời"  còn lợi dụng danh nghĩa mở các văn phòng công ty buôn bán hàng đa cấp..., thậm chí tổ chức các hoạt động từ thiện trá hình để tuyên truyền, tuyển mộ thành viên. Ở Việt Nam, không ít người sau khi gia nhập "Hội thánh Ðức Chúa Trời"  đã bỏ vợ, bỏ chồng, khước từ cha mẹ, chối bỏ trách nhiệm nuôi dạy con cái; công chức bỏ công việc, sinh viên bỏ học, chỉ mong sớm được về "nước Chúa" của "Hội thánh Ðức Chúa Trời". Ðáng chú ý, nhiều đối tượng trong tổ chức tà đạo này đã lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, dùng những thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm để lôi kéo người tham gia, trục lợi cá nhân. Mặc dù tuyên truyền thành viên không phải đóng hội phí song trên thực tế, "Hội thánh Ðức Chúa Trời" kêu gọi thành viên đóng lệ phí từ vài chục đến vài trăm nghìn đồng cho mỗi buổi truyền đạo, kêu gọi người đang đi làm tự nguyện đóng góp 10% thu nhập để sớm giành được vé về "nước thiên đàng", rao giảng ai giới thiệu được càng nhiều người tham gia thì càng được Chúa Trời ưu tiên, đón nhận sớm. Thậm chí có thông tin cho biết thành viên "Hội thánh Ðức Chúa Trời" lôi kéo thành viên mới cũng được trả tiền. Ðặc biệt, muốn trở thành "con của Chúa", người tham gia phải uống một thứ nước mầu đỏ và ăn một miếng bánh được cho là "máu và thịt của Chúa", song sau khi uống thứ "nước thánh" này, một số người đã phải vào bệnh viện để cấp cứu vì có biểu hiện bất thường về tâm, sinh lý. Qua trực tiếp cấp cứu những người như vậy, các bác sĩ tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 (Thường Tín, Hà Nội) cho biết, thứ nước mầu đỏ mà nạn nhân đã uống có thể là một dạng thuốc hướng thần, khiến thần kinh bị tê liệt và làm theo điều người khác sai khiến.
Theo đánh giá của R.Ross (R.Rốt), chuyên gia nghiên cứu về các nhóm cuồng tín, thì "Hội thánh Ðức Chúa Trời" mang đầy đủ đặc điểm của nhóm cuồng giáo và đang thống trị cuộc sống của thành viên để họ phải làm theo sự điều khiển của tổ chức này. Từ sự việc "Hội thánh Ðức Chúa Trời" cho thấy xã hội và người dân cần hết sức tỉnh táo trước các tổ chức, hội nhóm mượn danh tôn giáo để truyền bá tà đạo, ép buộc người theo có hành vi trái thuần phong mỹ tục, đi ngược truyền thống văn hóa dân tộc. Cùng với sự vào cuộc của các cơ quan chức năng, mỗi cá nhân cần đề cao cảnh giác, thực hiện lối sống lành mạnh, tuân thủ pháp luật, tỉnh táo trước những thủ đoạn lôi kéo của tà đạo để không gửi gắm niềm tin vào chốn hư vô,… rồi tự đẩy mình tới hành vi tiêu cực, đi ngược lợi ích chính đáng của bản thân và lợi ích cộng đồng. Chỉ có như vậy, các loại tà đạo, dị giáo mới không thể phá hoại, không có chỗ để tồn tại trong cuộc sống./.

Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2018


HỒ CHÍ MINH - TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC SÁNG NGỜI
Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng mác-xít sáng tạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Tư tưởng của Người không chỉ là sự vận dụng mà còn phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam, phản ánh tinh thần thời đại, xu thế vận động và phát triển của thế giới hiện đại và đương đại.
1. Tấm gương đạo đức trong chỉnh thể tư tưởng - đạo đức và phong cách của Hồ Chí Minh. Tư tưởng của Người hợp thành một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc và phương pháp ở tầm chiến lược và sách lược về cách mạng và con đường cách mạng Việt Nam. Đó là cách mạng giải phóng dân tộc, chống đế quốc thực dân và phong kiến, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột và nô dịch của chúng, giành lại độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho đồng bào mình và cho các dân tộc đang bị đế quốc thực dân thống trị. Khát vọng tự do và quyền làm chủ của nhân dân trong một xã hội công bằng, bình đẳng, dân chủ với thể chế pháp quyền là một trong những điểm nổi bật, nhất quán của tư tưởng Hồ Chí Minh. Động cơ thúc đẩy Người hành động không mệt mỏi để thực hiện, là: lòng yêu nước, thương dân vô hạn. Suốt đời, Người phấn đấu và theo đuổi hệ giá trị Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Đó là những giá trị cốt yếu của phát triển. Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Cách mạng Tháng Mười Nga và thời đại được Người giác ngộ, đem lại cho Người niềm tin khoa học và lập trường cách mạng kiên định, đó cũng là nguồn sáng chiếu rọi cuộc hành trình tư tưởng - lý luận và tranh đấu trong thực tiễn của Người trên “Đường cách mệnh”1. Bởi thế, với Hồ Chí Minh: giải phóng là điều kiện, tiền đề của phát triển, giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đặt giải phóng dân tộc lên hàng đầu, trên lập trường của giai cấp công nhân; đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng kiểu mới - cách mạng vô sản, do Đảng kiểu mới - Đảng Cộng sản cách mạng chân chính lãnh đạo; xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, từng bước quá độ tới chủ nghĩa xã hội, đó là sự lựa chọn của Hồ Chí Minh và là chủ kiến, chủ thuyết phát triển của Người2.
Với Hồ Chí Minh, cách mệnh là phá cái cũ lỗi thời, lạc hậu đổi ra cái mới tiến bộ, phát triển. Cách mệnh trước hết phải có Đảng. Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt. Đảng không có chủ nghĩa giống như người không có trí khôn. Chủ nghĩa chân chính nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lê-nin (Mác – Lê-nin). Người cách mệnh, Đảng cách mệnh phải giác ngộ, phải theo đuổi chủ nghĩa đó đến cùng. Cách mệnh do Đảng lãnh đạo phải có lực lượng, Công - Nông là gốc của cách mệnh, phải đoàn kết toàn dân thành lực lượng to lớn thì cách mệnh mới thành công. Đoàn kết là một tư tưởng chiến lược, nổi bật, xuyên suốt đường lối và phương pháp cách mạng của Hồ Chí Minh. Theo Người, thắng lợi của cách mạng không chỉ dựa vào thiên thời, địa lợi mà quan trọng, quyết định nhất là nhân hòa, cho nên mọi quyết sách, việc làm và hành động phải thuận lòng dân, hợp với ý nguyện của dân, không làm điều gì trái ý dân. “Vì dân” là mục đích của cách mạng, là lẽ sống của người cách mạng. Việc gì có lợi cho dân thì quyết làm cho bằng được. Việc gì có hại tới dân phải quyết tránh cho bằng được. Phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý cao nhất. Suốt đời làm công bộc tận tụy, làm đầy tớ trung thành của nhân dân là lựa chọn lẽ sống cao thượng nhất.
Là một điển hình mẫu mực của sự nhất quán giữa nhận thức và hành động, giữa nói và làm, đã nói là làm và sống theo phương châm: nói ít làm nhiều, chủ yếu là hành động, Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng kiệt xuất về một lãnh tụ của dân, suốt đời vì dân, gắn bó máu thịt với dân, dấn thân và dâng hiến cả đời mình trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và hạnh phúc của dân tộc và nhân dân. Tận trung với Nước, tận hiếu với Dân để tận hiến, dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp cho dân tộc, cho cả nhân loại. Đó là sự cao thượng, vĩ đại của Hồ Chí Minh. Bởi thế, Người sống mãi trong lòng dân và trong trái tim nhân loại. Không một chút riêng tư, Người suốt đời đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, kẻ thù nguy hiểm nhất; thứ “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, làm hư hỏng không ít người cách mạng, làm suy yếu Đảng như thực tế đã xảy ra, làm cho dân mất niềm tin, kết cục là thất bại và đổ vỡ. Bài học đau đớn, phải trả giá đắt ở Liên Xô, Đông Âu cách đây 1/4 thế kỷ vẫn còn nguyên tính thời sự và ý nghĩa cảnh báo. Điều đó cho thấy đạo đức cách mạng của người cách mạng, của Đảng cách mạng, nhất là khi Đảng đã cầm quyền quan trọng biết nhường nào. Qua đó, thấy được sự mẫn cảm đặc biệt, tầm nhìn xa trông rộng của Hồ Chí Minh về vấn đề hệ trọng này.
Năm 1927, khi viết tác phẩm “Đường cách mệnh” - đặt nền móng tư tưởng lý luận, đồng thời chuẩn bị về chính trị và tổ chức cho việc thành lập Đảng, Người đã đặt lên hàng đầu vấn đề “Tư cách của người cách mệnh”, trong đó nổi bật yêu cầu “phải giữ chủ nghĩa cho vững”, “phải ít lòng tham muốn về vật chất”. Di chúc để lại cho đồng bào, đồng chí trước lúc đi xa, Người căn dặn “Trước hết nói về Đảng”, phải: giữ gìn đoàn kết thống nhất như giữ gìn con ngươi của mắt mình; ra sức thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng; thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, thật sự xứng đáng là người lãnh đạo và người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Người còn căn dặn “đầu tiên là công việc với con người”, Đảng và Chính phủ phải có kế hoạch và chính sách thật cụ thể, đúng đắn để chăm lo đời sống của dân, miễn thuế nông nghiệp cho bà con nông dân, giáo dục truyền thống dân tộc và cách mạng, chăm lo cuộc sống cho các gia đình chính sách, những người có công với nước, quan tâm tới sự tiến bộ, trưởng thành của phụ nữ, thanh niên, v.v. Tình thương yêu của Người dành cho tất cả mọi người, mọi cảnh đời, mọi số phận, không sót một ai. Nhân ái - Vị tha - Bao dung là những đặc trưng nổi bật của đạo đức, nhân cách Hồ Chí Minh, hiện thân sinh động và cảm động nhất về một “Con Người lý tưởng”, hài hòa Chân - Thiện - Mỹ, kết tinh và thăng hoa những phẩm chất tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam hòa quyện với tinh hoa văn hóa nhân loại và tinh thần thời đại.
2. Tấm gương đạo đức sáng ngời trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Trong cuộc hành trình 30 năm tìm đườngnhận đường và chọn đường đi cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã giác ngộ chủ nghĩa Mác, đã đến với nguồn sáng Lê-nin, tìm thấy trong “Luận cương về quyền tự quyết của các dân tộc” do V.I. Lê-nin khởi thảo con đường mà bấy lâu nay Người vẫn hằng mong mỏi tìm kiếm. Người đã nhận thấy chân lý, nhận ra “con đường giải phóng” - “con đường cứu sống chúng ta”, “cái cẩm nang chỉ dẫn hành động”. Ánh sáng từ Mác – Lê-nin đến Cách mạng Tháng Mười Nga và thời đại mới đã tạo nên bước ngoặt trong cuộc hành trình lịch sử của Người. Từ một người yêu nước, thương dân vô hạn, với tinh thần dân tộc sâu sắc, Nguyễn Ái Quốc trở thành một người cộng sản, thấm nhuần lý tưởng cộng sản và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, suốt đời tranh đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp vĩ đại ấy thúc đẩy Người dấn thân và hy sinh, một lòng một dạ vì sự nghiệp cách mạng, mà sâu xa là vì Độc lập - Tự do - Hạnh phúc của nhân dân, từ dân tộc mà đến với thế giới nhân loại, từ yêu nước mà đến với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, tranh đấu quên mình, hy sinh cả cuộc sống riêng tư vì sự nghiệp mà Người tự nhủ và căn dặn những người cách mạng - những học trò xuất sắc của Người thuộc thế hệ đầu tiên lập Đảng. Cả cuộc đời và sự nghiệp, Hồ Chí Minh đã làm tất cả vì Dân, vì Nước; trong gian lao khó nhọc, cả lúc hiểm nguy thử thách khi bị giam cầm, đọa đầy trong lao tù của chế độ Tưởng Giới Thạch, mất liên lạc với Đảng, với dân, Người vẫn một lòng kiên trinh với lý tưởng, giữ trọn niềm tin với nghị lực phi thường vượt lên hoàn cảnh. Trước sau như một: “Cả đời tôi chỉ có mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân”3. Đồng thời, Người không ngừng phấn đấu với một ham muốn tột bậc làm cho Tổ quốc được độc lập, dân tộc được tự do, đồng bào có hạnh phúc - hạnh phúc bình dị mà vĩ đại: có cơm ăn, áo mặc, được học hành. Tấm gương đạo đức ấy không gì có thể mờ phai.
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, là đạo đức chiến đấu và hy sinh, từ dấn thân đến dâng hiến, suốt một đời gần dân, vì dân, thấu hiểu cuộc sống của dân và thấu cảm lòng dân. Trả lời nhà báo Cộng sản Cu Ba, Người nói: “Tôi tự nguyện dâng hiến đời tôi cho dân tộc” và “Mỗi người có một nỗi đau riêng, mỗi gia đình có một nỗi khổ riêng. Gộp tất cả nỗi đau khổ đó lại thành ra nỗi đau khổ của bản thân tôi!”. Lời nói chân thành tự trái tim Người có sức lay động muôn triệu trái tim.
Người luôn căn dặn cán bộ, đảng viên và công chức “dân là chủ và dân làm chủ”. Phải dân chủ chứ không được “quan” chủ, là đầy tớ công bộc của dân chứ không lên mặt “quan” cách mạng. Theo Người, đối với nhân dân của mình, họ là những người chủ đích thực chứ không phải thần dân, và Người “không phải là vua”4 mà là đầy tớ, công bộc của dân, “kính trọng lễ phép với dân”, “gần dân, học dân, hỏi dân, hiểu dân, tin dân để thương dân và suốt đời chỉ vì dân mà sống mà tranh đấu”. Bày tỏ lòng biết ơn, lời cảm ơn trước tình cảm thương mến của mọi tầng lớp nhân dân dành cho mình, Người nói: “Từ trước đến giờ tôi đã là người của đồng bào thì từ giờ về sau, tôi mãi mãi thuộc về đồng bào”. Đó là điển hình cho tình yêu, sự thủy chung của lãnh tụ vì dân.
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ ở chỗ Người nêu gương đạo đức trong tranh đấu, từ chống giặc ngoại xâm đến chống “giặc nội xâm” mà Người còn nêu gương suốt đời trong thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Là Chủ tịch Nước, ở cương vị nguyên thủ quốc gia, đồng thời là Chủ tịch Đảng5, Người là tấm gương sáng ngời về cần, kiệm, liêm, chính, tuyệt đối không màng danh lợi, đứng ngoài vòng danh lợi, chỉ luôn coi mình là một người lính vâng lệnh quốc dân đồng bào, làm tròn nhiệm vụ do dân ủy thác. Khi chủ trì phiên họp đầu tiên của Chính phủ (ngày 03-9-1945), Người đưa ra sáu vấn đề cấp bách phải làm ngay để lo cuộc sống cho dân6. Đặc biệt, Người chủ trương: “mở cuộc vận động kêu gọi các thành viên chính phủ” nhịn ăn để lấy gạo nuôi dân, cứ 10 ngày nhịn một bữa không chết đâu nhưng dân thì có bữa cơm bữa cháo, mỗi bữa là một bơ gạo, góp chung lại cứu dân nghèo và tôi xin làm trước tiên”. Người còn cẩn thận đến mức nếu đến ngày quy định nhịn ăn mà Người có việc phải tiếp khách thì Người sẽ nhịn bù vào hôm sau. Đã nói là làm, từ việc nhỏ đến việc lớn, lời nói đi đôi với việc làm, làm gương và nêu gương cho mọi người. Tấm gương ấy của Người làm cảm động muôn người; là tấm gương sống, quý hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền. Bởi thế, Chính phủ do Người đứng đầu thực sự là Chính phủ, là Nhà nước của dân, vì dân, hành động vì dân bởi rất mực thương dân.
Đạo đức Hồ Chí Minh có sức lay động, cảm hóa muôn triệu đồng bào trong nước và thu hút sự ngưỡng mộ, kính trọng của bạn bè quốc tế. Ngày đầu tiên trong hoạt động của Nhà nước (03-9-1945), Người đã có thư gửi quốc dân đồng bào, công bố lịch tiếp dân, tiếp đại biểu các giới đồng bào và các đoàn thể, “từ văn hóa giới, công giáo, công hội, thương giới, thanh niên, phụ nữ, công chức, Phật giáo, cho đến nông hội, Hoa kiều và các cháu nhi đồng”7. Trong đó, nêu rõ: “Xin gửi thư nói trước để tôi sắp xếp thời giờ rồi trả lời bà con, khỏi mất thời giờ chờ đợi mất công”. Người nêu yêu cầu “mỗi đoàn không quá mười vị, mỗi lần không quá một tiếng đồng hồ”8. Tôn trọng dân chủ, thiết tha lắng nghe tiếng nói của người dân như vậy, đó thực sự là đạo đức, là văn hóa đạo đức trong chính trị của Hồ Chí Minh.
Hiếm có vị chủ tịch nước nào như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sống đạm bạc, đến mức khắc khổ trong cái ăn, cái mặc hằng ngày; bởi thương dân mà tiết kiệm, bởi lãng phí là không thương dân, bởi mỗi đồng tiền bát gạo mà ta tiêu dùng đều do mồ hôi, nước mắt của dân làm ra. Người lên án gay gắt và nghiêm trị theo luật pháp những hành vi tham ô, tham nhũng, coi đó là bất liêm, bất chính, bất nghĩa, phải trừng trị như trừng trị một tội ác. Người nói cho cán bộ, công chức rõ, đồng bào đem mồ hôi nước mắt để làm ra tiền của, để trả lương cho ta. Nếu lười biếng và vô trách nhiệm trong công việc hàng ngày là lừa gạt dân chúng. Người lấy mình làm gương, chú trọng giáo dục đạo đức cho cán bộ đảng viên, công chức và rèn luyện kỷ luật công vụ, xiết chặt kỷ cương, nề nếp hành chính, sớm thành lập thanh tra chính phủ để kiểm soát hoạt động của bộ máy và hành vi công chức. Những biện pháp ấy đều chỉ vì mục đích “phục vụ dân” và “bảo vệ dân”.
Tấm gương Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở đức trung thực, khiêm tốn, vị tha, nhân ái, khoan dung, thấm nhuần chất nhân văn trong tham chính và cầm quyền, trong ứng xử với người, với việc, mà cao hơn tất cả là tình thương yêu dành cho dân chúng mãi không bao giờ thay đổi. Khi gửi thư chúc mừng thượng thọ một cụ già 80 tuổi (lúc đó Người đã 60 tuổi) mà Người xưng hô là cháu: “Cháu xin thay mặt Chính phủ chúc thọ Cụ. Chúc Cụ sống lâu muôn tuổi để cùng con cháu kháng chiến kiến quốc tới ngày thắng lợi”. Người lấy tiền tiết kiệm của mình để mua nước ngọt gửi ra trận địa cho bộ đội đang trực chiến giữa những trưa hè nóng nực. Người viết thư loan báo cho đồng bào rõ: để tỏ lòng biết ơn các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc và những gia đình có công với nước, Người sẽ nhận tất cả con liệt sĩ là con mình, v.v. Mỗi một chiến sĩ ngã xuống trên chiến trường, Người như đứt từng khúc ruột. Người rộng lòng bao dung khoan thứ, kiềm chế ngay cả những lúc Người không hài lòng trước những việc làm sai, những người làm hỏng. Người căn dặn “phê bình việc chứ không phê bình (với ý xúc phạm) người”. Trong Di chúc, Người căn dặn “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, phê bình có lý có tình, ứng xử có tình có nghĩa,... Người để lại muôn vàn tình thương yêu cho đồng bào, đồng chí và không quên gửi lời chào bạn bè quốc tế và nhân dân thế giới, v.v.
Một con người, một nhân cách, với tấm gương đạo đức sáng ngời như thế mà lại tự thấy mình chưa xứng đáng, từ chối nhận huân chương. Người đã trở về với thế giới người Hiền gần nửa thế kỷ, nhưng không lúc nào ta cảm thấy Người đi xa, Người vẫn ở bên ta như động viên, nhắn nhủ, thúc giục để ở đời thì phải thân dân, làm người thì phải chính tâm, xứng đáng là đầy tớ trung thành, công bộc tận tụy của dân. Tấm gương đạo đức ngời sáng Hồ Chí Minh còn sáng mãi trong cuộc đời, trong dân tộc và thế giới, còn sống mãi với thời gian.
Như thế, nhà tư tưởng Hồ Chí Minh còn đồng thời là nhà đạo đức học Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, người chiến sĩ kiên cường đấu tranh cho tự do, cho phẩm giá con người, người bạn lớn của nhân dân các dân tộc trên thế giới, nhà văn hóa kiệt xuất. Thực hành biền bỉ và nêu gương mẫu mực về đạo đức ở đời và làm người, đó là tư tưởng mà cũng là đạo đức, đó là phương pháp mà cũng là phong cách Hồ Chí Minh mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức học tập và làm theo.
Tấm gương đạo đức sáng ngời của Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc, của Đảng ta, là niềm tự hào của mọi thế hệ người Việt Nam, là sức mạnh tinh thần, trở thành động lực thúc đẩy chúng ta trong đổi mới, hội nhập để phát triển. Tấm gương đó tỏa sáng trong tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người, trở thành giá trị chuẩn mực và định hướng giá trị trong giáo dục và thực hành đạo đức cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau. Đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh còn có ảnh hưởng và hiệu ứng rộng rãi trong đời sống tinh thần của nhân dân các dân tộc trên thế giới, bởi những người bạn bè, anh em của Việt Nam với tất cả tấm lòng chân thành, tin cậy đều dành cho Người sự khâm phục, ngưỡng mộ và kính trọng. “Việt Nam - Hồ Chí Minh”, “Việt Nam - Bác Hồ”, từ lâu đã được các bạn bè quốc tế của chúng ta cất lên tiếng nói, tiếng gọi trìu mến, thân thương khi đến Việt Nam - Tổ quốc của Người, khi đến thăm nơi ở và làm việc của Người tại Thủ đô Hà Nội, “ngôi nhà sàn đơn sơ giản dị, ngát hương thơm cây cỏ hoa vườn nhưng tâm hồn lộng gió bốn phương thời đại” (Phạm Văn Đồng). “Hồ Chí Minh” và “Bác Hồ” đã từ lâu trở thành từ vựng quen thuộc, không chỉ là biểu tượng của nhà chính trị lỗi lạc mà sâu xa, rộng lớn hơn là nhà văn hóa lớn, biểu trưng cho văn hóa đạo đức, cho văn hóa nhân cách Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Sự thật ấy của lịch sử, tự nó đã bác bỏ tất cả những gì mà những kẻ thù địch đang ra sức xuyên tạc, chống phá cách mạng Việt Nam, mưu toan hạ thấp giá trị Hồ Chí Minh, gieo rắc những giả tượng xuyên tạc bản chất, cố tình ngụy tạo, với ác ý thâm độc gây ra những hoài nghi về đạo đức và tấm gương đạo đức của Người, nhất là đối với những người trẻ tuổi sinh ra và lớn lên trong thời hiện tại, không có những trải nghiệm thực tiễn trong quá khứ như các lớp cha anh của họ. Cũng có những kẻ cơ hội, xu thời, đã từng thụ hưởng những ân huệ đầy tình nghĩa của chế độ dân chủ cộng hòa do Hồ Chí Minh sáng lập, chỉ vì lòng dạ không còn trong sáng nữa, mang nặng những thiên kiến chủ quan, chủ nghĩa cá nhân, hám danh, vụ lợi và vị kỷ mà cố tình xuyên tạc sự thật hoặc đồng lõa với những kẻ xuyên tạc. Họ chẳng thể vấy bẩn được ai mà tự vấy bẩn chính mình, tự hạ thấp mình mà thôi.
Lịch sử vốn công minh, khách quan. Trí tuệ của nhân dân là sáng suốt. Dư luận thế giới là rộng lớn. Những ai có lương tri và trọng phẩm giá con người đều nói tiếng nói trung thực, có cốt cách của học thức và văn hóa trong cảm nhận, đánh giá về Hồ Chí Minh. Và đây là dòng chủ đạo, tự nó đã có sức mạnh phủ định và phê phán những giọng điệu lạc lõng xuyên tạc về Việt Nam, về Đảng và Bác Hồ.
GS, TS. HOÀNG CHÍ BẢO
________________
1 - Đây là một trong năm tác phẩm của Người được xếp hạng Bảo vật quốc gia.
2 - Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo (chủ biên) - Chủ thuyết phát triển của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H. 2017.
3 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 272.
4 - Người nói với những người giúp việc trong mỗi buổi sáng đi tập thể dục, khi nhìn thấy Người đều xuống xe đạp để chào: “Bác có phải là vua đâu mà các cô các chú cứ “hạ mã” thế!”.
5 - Đại hội II (1951), Đại hội III (1960) đều bầu Người là Chủ tịch Đảng.
6 - Chống giặc đói, giặc dốt, như chống giặc ngoại xâm; ra sắc lệnh bãi bỏ tất cả các thứ thuế phi lý và phi nhân là tàn tích của chế độ thực dân để lại; khẩn trương soạn thảo Hiến pháp dân chủ để xác lập quyền làm chủ của người dân; xây dựng nền văn hóa mới, tuyên bố tự do tín ngưỡng, cải tạo phong tục tập quán lạc hậu là tàn tích của chế độ thực dân phong kiến để lại và thực hành đại đoàn kết.
7 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 9.
8 - Sđd, Tập 4, Nxb CTQG. H. 2011, tr. 9
http://tapchiqptd.vn/vi/lam-that-bai-chien-luoc-dbhb/ho-chi-minh-tam-guong-dao-duc-sang-ngoi/11358.html

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...