Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018
PHÚC TRÌNH NHÂN QUYỀN
2016 CỦA TỔ CHỨC THEO DÕI NHÂN QUYỀN (HRW) VỀ VIỆT NAM HOÀN TOÀN VÔ GIÁ TRỊ
(LLCT) -
Vẫn như hằng năm, ngày 19-6-2017, tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW) có trụ sở ở
Hoa Kỳ đã ra “Phúc trình thường niên” về tình trạng nhân quyền thế giới, trong
đó có Việt Nam. Phúc trình năm nay dài 65 trang... Trong phần về Việt Nam được
Hãng BBC rút “tít”: “Không chốn dung thân cho các nhà hoạt động vì nhân quyền”
ở Việt Nam! Vậy Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW) là gì? Nội dung, bản chất của
“Phúc trình” năm nay như thế nào? Cơ sở dữ liệu của văn bản có đáng tin cậy
không?
Tổ chức
theo dõi nhân quyền (tiếng Anh: Human Rights Watch - HRW) là một tổ chức phi
chính phủ (NGOs), có trụ sở tại Hoa Kỳ và văn phòng đại diện ở một số quốc gia.
Tiền thân của HRW là tổ chức Helsinki Watch, thành lập năm 1978 ( trong thời kỳ
chiến tranh lạnh) với mục đích “giám sát” Liên Xô (trước đây) bằng cách thu
thập tư liệu liên quan tới việc thực hiện hiệp ước của Tổ chức an ninh và hợp
tác châu Âu (OSCE) và “hỗ trợ” các nhóm bảo vệ nhân quyền tại nước này nhằm
chống đối chế độ hiện hữu. Năm 1988, Helsinki Watch hợp nhất với một số tổ chức
quốc tế khác đổi tên thành Human Rights Watch (HRW).
Hoạt
động chính của HRW là: (a) Sưu tầm/ lượm lặt tài liệu, soạn thảo Phúc trình
thường niên, đồng thời cung cấp thông tin và “gợi ý chính trị” cho Bộ Ngoại
giao Hoa Kỳ soạn thảo “Phúc trình Nhân quyền thế giới” và “Phúc trình Tôn giáo
thế giới” hằng năm; (b) Cổ vũ cho cá nhân “đấu tranh cho nhân quyền” bằng hình
thức trao giải thưởng nhân quyền. Và (c) mục tiêu của HRW là dùng vấn đề nhân
quyền, dân chủ để kích động người dân chống lại chế độ xã hội do các Đảng Cộng
sản lãnh đạo và các chế độ xã hội khác mà họ gọi là “độc tài”, các nhà nước
“cứng đầu” (không theo “cái gậy chỉ huy” của Hoa Kỳ) chuyển sang chế độ dân chủ
“ đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” và thể chế “tam quyền phân lập” theo
mô hình “cổ điển” của phương Tây.
Với
Việt Nam HRW luôn luôn đặt ở vị trí đặc biệt. Có thể nói, dung lượng của các
Phúc trình thường niên thế giới phần về Việt Nam bao giờ cũng chiếm nhiều trang
nhất. Năm nay, ngoài công bố Phúc trình, tổ chức này còn công bố dự liệu của
Phúc trình trên web của mình. Phúc trình của HRW (về tình hình nhân quyền năm
2016), công bố ngày 19-6-2017 thực chất không có gì mới. Đó vẫn là những cáo
buộc vô căn cứ về tình hình nhân quyền Việt Nam với “chứng cớ”: “Các nhà vận động
dân chủ, những blogger hoạt động vì nhân quyền” bị bắt bớ, bỏ tù, bị côn đồ
đánh đập “chỉ vì họ thực thi các quyền cơ bản của mình”. Đó vẫn là hành vi bao
che, chạy tội cho những kẻ lợi dụng quyền tự do ngôn luận, báo chí, đặc biệt là
tự do internet để xuyên tạc sự thật, bôi nhọ chế độ, vu cáo cơ quan chức năng,
đặc biệt là công an. HRW viết “công an không chỉ bắt bớ, mà còn dung túng cho
côn đồ đánh đập những người “bất đồng chính kiến”, những người đấu tranh “ôn
hòa”, “bất bạo động”!
Phúc
trình năm nay có một vài điểm mới. Đó là việc HRW tập trung, bao che, chạy tội
cho hai nhóm đối tượng: Đó là (1) những kẻ lợi dụng quyền tự do ngôn luận, báo
chí, nhất là blogger, sử dụng internet - Facebook xâm phạm lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, công dân. Và (2) những kẻ lợi
dụng vấn đề bảo vệ môi trường để phá hoại an ninh quốc gia, trật tự công cộng.
Chẳng hạn, HRW viết: Việt Nam “kiểm duyệt báo chí, internet gắt gao”, bắt nhiều
người “bất đồng chính kiến”, các cựu “tù nhân lương tâm”, blogger, trong đó có
Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm) ở Nha Trang, Khánh Hòa, (tháng 10-2016). Hoặc
bắt Hoàng Đức Bình - người “đấu tranh bảo vệ môi trường”, đòi Formosa bồi
thường cho người dân ở Diễn Châu, Nghệ An, tháng 5-2017(!) Ở phần cuối của Phúc
trình “kiến nghị”:
“Yêu
cầu Chính phủ Việt Nam phải ra lệnh chấm dứt tình trạng được gọi là “hành hung
những người đấu tranh cho nhân quyền”;
“Quốc
hội Việt Nam cần hủy bỏ, sửa đổi các điều khoản trong Bộ luật Hình sự Việt Nam
có nội dung “mơ hồ”, hình sự hóa hành vi “bất đồng chính kiến ôn hòa” với các
tội danh về an ninh quốc gia được định nghĩa không chính xác”.
Và “kêu
gọi (Đảng Cộng sản) Việt Nam chấm dứt chế độ độc đảng”(!).
Về quan
điểm chính trị và quan niệm về nhân quyền, có thể nói Phúc trình của HRW năm
nay vẫn giữ quan điểm trong thời kỳ Chiến tranh lạnh - kỳ thị với chế độ xã hội
và nhà nước CHXHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo - cầm quyền. Với quan
điểm đó, HRW nhìn nhận vấn đề nhân quyền trong xã hội Việt Nam một cách phiến
diện, lệch lạc. Đồng thời, HRW nhìn nhận quyền con người chỉ là quyền cá nhân.
Trong khi quyền con người còn bao gồm quyền của tập thể (quyền của nhóm xã
hội), đặc biệt là quyền của quốc gia - dân tộc. Và trong những quyền của cá
nhân dường như họ chỉ quan tâm đến quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do
internet của một số kẻ vi phạm pháp luật. Mặt khác, HRW dường như cố tình
“quên” hoặc “không biết” đến hạn chế quyền. Luật quốc tế về quyền con người đã
quy định có một số quyền bị hạn chế, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo; quyền tự do ngôn luận báo chí (ngày nay còn là quyền tự do internet),
quyền lập hội và quyền hội họp hòa bình...
Về
trường hợp Nguyễn Ngọc Như Quỳnh phạm pháp, ông Phil Robertson, Phó Giám đốc
Ban Á Châu của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, nói trong thông cáo báo chí hôm
27-6-2017 trước khi công bố Phúc trình năm 2016 rằng: “Đưa Nguyễn Ngọc Như
Quỳnh ra xử, chỉ vì đơn thuần thực hiện quyền tự do ngôn luận và kêu gọi chính
quyền cải tổ và có tinh thần trách nhiệm, thật là quá đáng”. Ông này thậm chí
còn ca ngợi Nguyễn Ngọc Như Quỳnh rằng: “Trong 10 năm qua Nguyễn Ngọc Như Quỳnh
đã làm việc không mệt mỏi để thúc đẩy nhân quyền và tự do dân chủ ở Việt
Nam”(!)
Thực tế
thì ngược lại. Tại phiên tòa xét xử công khai Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, các cơ
quan chức năng đã cung cấp đầy đủ bằng chứng về các hành vi phạm tội của “Mẹ
Nấm” (Nguyễn Ngọc Như Quỳnh). Đó là việc Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã soạn thảo,
đăng tải, “chia sẻ” trên Facebook của mình nhiều bài viết, video có nội dung
chống đối đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; bôi nhọ nhiều cá nhân...
đặc biệt có tập tài liệu “Stop police killing civilians” (Phải chấm dứt việc
cảnh sát giết dân thường). Đây là tài liệu do Nguyễn Ngọc Như Quỳnh lập ra theo
quan điểm của mình và không được kiểm chứng. Trên thực tế, đó là sự vu cáo
trắng trợn cơ quan chức năng với mục đích để người đọc hiểu sai bản chất vấn
đề, phá hoại mối quan hệ giữa nhân dân với lực lượng công an. Đặc biệt, Nguyễn
Ngọc Như Quỳnh đã có hành vi phát tán một số nội dung xuyên tạc đường lối đối ngoại
của Đảng và Nhà nước ta, thậm chí bôi nhọ lãnh tụ Hồ Chí Minh(1).
Về
trường hợp Hoàng Đức Bình phạm tội, bị bắt vào tháng 5-2017 cũng do y đã vi
phạm pháp luật. Những ai quan tâm đến vụ việc này đều có thể tìm thấy thông tin
trên mạng về vụ Formosa Hà Tĩnh gây ra ô nhiễm trên diện rộng ở nhiều tỉnh miền
Trung, tháng 4, tháng 5-2016. Nguyễn Đình Thục, Hoàng Đức Bình và một số phần
tử khác đã kích động người dân tụ tập đông người gây rối trật tự công cộng.
Nguyễn Đình Thục dùng loa phát thanh và Hoàng Đức Bình dùng điện thoại quay
phim, phát trực tiếp trên mạng, vu cáo công an khủng bố, bắt bớ người dân và
đòi Formosa “bồi thường cho người dân” đòi “đuổi Formosa” khỏi Việt Nam.
Nhằm
gây tiếng vang trên cả nước và quốc tế, Nguyễn Đình Thục và Hoàng Đức Bình còn
tụ tập, lôi kéo một số Giáo dân ra ở quốc lộ 1, cố tình gây ách tắc giao thông
(đoạn qua Diễn Châu, Nghệ An). Thế nhưng với Phúc trình 2016 của HRW thì việc
bắt Hoàng Đức Bình là “vi phạm nhân quyền, là “đàn áp” những người đấu tranh
“bất bạo động”, ôn hòa”, “người yêu nước, đấu tranh bảo vệ môi trường”.
Về quan
niệm nhân quyền, sai lầm cố hữu của HRW nói chung và trong Phúc trình 2016 nói
riêng là họ chỉ xem quyền con người là quyền của cá nhân, quyền
của những kẻ phạm pháp mà bỏ qua nhiều quyền khác, như quyền của các
nhóm xã hội, đặc biệt là quyền của quốc gia, dân tộc.
Điều 1
(Phần I), Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị (1966) quy định: “Mọi
dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết
định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn
hóa”... Quy định này có nghĩa, việc các quốc gia lựa chọn chế độ xã hội nào -
TBCN hay XHCN; chế độ đa đảng hay một đảng lãng đạo, thể chế tam quyền phân lập
hay phân công phối hợp... cũng như xây dựng hệ thống pháp luật như thế nào là
quyền của mỗi quốc gia, dân tộc, mà không có bất cứ cơ quan tổ chức nào, kể cả
Liên Hợp quốc có quyền can thiệp.
Cũng
cần phải nói thêm rằng, HRW cố tình không hiểu rằng, nhiều quyền con người có
thể bị hạn chế, theo quy định của pháp luật quốc gia. Điều này cũng được quy
định trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị (1966). Chẳng hạn về
quyền tự do ngôn luận, báo chí, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hội họp...
Điều 19, (Về quyền tự do ngôn luận) quy định: “Việc thực hiện những quyền quy
định tại khoản 2... kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó,
việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định,... để: a) Tôn trọng các
quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công
cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội.
Những
quyền nói trên trong Hiến pháp 2013 cũng quy định những hạn chế tương tự. Những
trường hợp lợi dụng quyền tự do ngôn luận, báo chí, internet vừa qua, bị cơ
quan chức năng bắt giữ, xét xử cầm tù mà Phúc trình của HRW đưa ra như Nguyễn
Ngọc Như Quỳnh, Hoàng Đức Bình là vì họ đã vi phạm pháp luật Việt Nam.
Về lập
luận, những hoạt động “ bất bạo động”, “ôn hòa” mà theo HRW cho là vô tội... có
thể nói, đây lại thêm một sai lầm, ấu trĩ về pháp luật. Thiết nghĩ pháp luật
Việt Nam cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới không lấy khái niệm
hoạt động “ôn hòa” hay bạo lực làm tiêu chí để xác định tội phạm, mà căn cứ vào
tất cả các hành vi (kể cả “ôn hòa”, “bất bạo động” và bạo lực) có liên quan đến
lợi ích của quốc gia dân tộc và các chủ thể khác làm tiêu chí. Bộ luật Hình sự
hiện hành của Việt Nam quy định: Tội phạm “Là hành vi nguy hiểm cho xã hội được
quy định trong Bộ luật hình sự (Điều 8 Bộ luật Hình sự). Hành vi nguy hiểm ở
đây có thể là “bạo động”, cũng có thể là “ôn hòa”, “bất bạo động”.
Nhân
đây xin được cung cấp thông tin - Đạo luật Phản loạn của Mỹ quy định: “Việc
viết, in, phát biểu hay phổ biến... mọi văn bản sai sự thực, có tính chất xúc
phạm hay ác ý chống chính quyền đều là hành vi tội phạm”. Cũng theo Hiến pháp
Hoa Kỳ, Tòa án tối cao được phép đưa ra những trừng phạt pháp lý khi phát hiện
báo chí có hành vi phá hoại, lăng nhục, vu khống, xúc xiểm nhà nước, xã hội và
cá nhân”.
Thứ hai, về mặt chứng cứ, dữ
liệu của Phúc trình.
Như
chính trang web của HRW và phát biểu Người phát ngôn của HRW khi công bố Phúc
trình vừa qua: Phúc trình dựa trên “Tin tức trên báo chí nước ngoài, như Đài Á
châu Tự do (RFA), Đài Tiếng nói Hoa kỳ (VOA), Đài BBC, Mạng lưới Truyền hình
Sài Gòn (SBTN), các mạng xã hội như Facebook và YouTube, các trang mạng độc lập
về chính trị, như Dân làm báo, Dân luận, Việt Nam Thời báo, Tin mừng cho người
nghèo, Defend the Defenders, và các blog cá nhân”.
Như vậy
là Phúc trình hoàn toàn không dựa vào các nguồn tin chính thức của Nhà nước
Việt Nam cũng không dựa trên bất cứ nguồn tin nào của các tổ chức của Liên Hợp
quốc, như UNDP, UNESCO,... HRW chỉ dựa trên những nguồn tin mạng của những cá
nhân, tổ chức vốn có hận thù với cách mạng. Về nội dung, đó là những thông tin
thất thiệt, không được kiểm chứng, từ các trang mạng có máy chủ ở nước ngoài.
Tôn
trọng và bảo đảm quyền con người là quan điểm, đường lối, chính sách nhất quán
của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Điều này đã được thể hiện đầy đủ nhất quán trong
Cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong Hiến pháp 2013 và trong
những thành quả lớn lao trên thực tế, nhất là trong thời kỳ đổi mới. Cương lĩnh
2011 của Đảng ta khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển.
Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích
của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”. Hiến pháp 2013 đã dành cả
một chương (Chương II) quy định về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ công
dân”. Trong chương này, các quyền con người được quy định đầy đủ và hoàn toàn
tương thích với các công ước quốc tế về quyền con người.
Cho đến
nay, Việt Nam đã là thành viên của hầu hết các công ước quốc tế cơ bản về quyền
con người, trong đó có “Công ước chống tra tấn” (CAT).
Như các
phương tiện thông tin đại chúng cung cấp, trong nhiều thập kỷ qua, Việt Nam đã
có nhiều nỗ lực bảo đảm quyền con người trên thực tế trên tất cả các nhóm
quyền. Về quyền kinh tế, xã hội, từ một nước nghèo, thiếu ăn, cho đến nay
(2016) thu nhập bình quân đầu người của người Việt Nam đã tăng từ 1.900 USD năm
2013 lên 2.215 USD năm 2016. Số người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng và
cấp thẻ bảo hiểm y tế tăng, 25,05% xã đạt chuẩn nông thôn mới. Công tác an sinh
xã hội, phúc lợi xã hội được quan tâm, kịp thời thực hiện các chính sách hỗ
trợ, giải quyết khó khăn cho người dân tại các vùng bị thiên tai, hạn hán, xâm
nhập mặn, 4 tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng do sự cố môi trường biển,...
Về các
quyền dân sự, chính trị, trong đó có quyền tự do ngôn luận báo chí, tự do
internet đã được Nhà nước ta bảo đảm cả về mặt pháp lý cũng như trên thực tế.
Sự phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt Nam thời gian qua là một minh chứng cho
điều đó. Luật Báo chí 2016 (chính thức có hiệu lực từ ngày 1-1-2017) đã có quy
định mới về “quyền tác nghiệp của báo chí”. Quyền này được quy định cụ thể về
“trách nhiệm cung cấp thông tin cho báo chí của cơ quan, tổ chức, người có
trách nhiệm”; Cơ quan báo chí, nhà báo được giữ bí mật nguồn tin của mình và
“chỉ phải tiết lộ người cung cấp thông tin khi có yêu cầu bằng văn bản của Viện
trưởng Viện Kiểm sát nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tương đương
trở lên cần thiết cho việc điều tra, xét xử tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt
nghiêm trọng”...
Quyền
tự do ngôn luận, báo chí, còn được thể hiện ở sự phát triển “như vũ bão của
internet” ở Việt Nam. Việt Nam hiện nay nằm trong nhóm 20 quốc gia có số người
dùng internet nhiều nhất thế giới, đứng thứ 8 ở khu vực châu Á và đứng thứ 2
trong ASEAN. Hiện có khoảng 50 triệu người Việt Nam sử dụng internet, chiếm 52%
dân số. Riêng số người sở hữu tài khoản Facebook cũng lên tới 35 triệu người,
bằng 1/3 dân số, trong đó 21 triệu người truy cập hằng ngày thông qua thiết bị
di động.
Ở Việt
Nam, không chỉ người dân Việt Nam mà cư dân nước ngoài sinh sống, làm việc có
điều kiện tiếp cận đầy đủ thông tin từ những hãng thông tấn báo chí lớn. Cho
đến nay ở Việt Nam có tới 75 kênh truyền hình, sóng radio nước ngoài “online”,
trong đó có các hãng nổi tiếng, như: CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia
Network, KBS, Bloomberg,... Có tới 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam, nhiều báo, tạp chí in bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài được phát hành rộng rãi. Qua
internet, người dân Việt Nam có thể tiếp cận tin tức, bài viết ở các cơ quan thông tấn, báo chí lớn trên thế giới, như: AFP, AP, BBC, VOA, Reuters, Kyodo, Economist, Financial Times, v.v..
Network, KBS, Bloomberg,... Có tới 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam, nhiều báo, tạp chí in bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài được phát hành rộng rãi. Qua
internet, người dân Việt Nam có thể tiếp cận tin tức, bài viết ở các cơ quan thông tấn, báo chí lớn trên thế giới, như: AFP, AP, BBC, VOA, Reuters, Kyodo, Economist, Financial Times, v.v..
Với
quan điểm cầu thị, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối thoại về nhân quyền với
nhiều quốc gia, tổ chức như Hoa Kỳ, EU, Australia... Uy tín quốc tế của Việt
Nam trên trường quốc tế về nhân quyền ngày càng được nâng cao. Việt Nam đã được
bầu vào Hội đồng Nhân quyền của Liên Hợp quốc khóa 2014 - 2016.
Có thể
nói, với quan điểm kỳ thị với chế độ xã hội, Nhà nước CHXHCN Việt Nam từ thời
kỳ chiến tranh lạnh; với cách nhìn nhận nhân quyền phiến diện, phản khoa học,
chứng cứ giả tạo, thất thiệt,... Phúc trình thường niên 2016 của HRW là hoàn
toàn vô giá trị, hơn nữa nó còn làm tổn hại đến lợi ích của Việt Nam và Hoa Kỳ
- nơi “đứng chân” HRW.
_____________________
Bài
đăng trên Tạp chí Lý luận chính tri số 8-2017
(1) Như
lưu trữ, phát tán “thơ” dung tục, phản động của Bùi Chát.
TS Cao
Đức Thái
http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/dien-dan/item/2397-phuc-trinh-nhan-quyen-2016-cua-to-chuc-theo-doi-nhan-quyen-hrw-ve-viet-nam-hoan-toan-vo-gia-tri.html
QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ "CÁCH LÃNH ĐẠO" VÀ VẬN DỤNG TRONG LÃNH ĐẠO HIỆN NAY
Tác phẩm “Sửa đổi lối làm
việc” (1947) của Chủ tịch Hồ Chí Minh chứa đựng hệ thống những luận điểm, chỉ
dẫn sâu sắc về thái độ và phương pháp làm việc, nhất là về cách thức lãnh đạo.
Dựa vào việc phân tích một khuynh hướng nghiên cứu mới của khoa học lãnh đạo
hiện đại - Kiến tạo tri thức như chức năng của lãnh đạo, bài viết làm sáng tỏ
hơn và khẳng định giá trị khoa học mang tính thời đại trong những luận điểm về
“Cách lãnh đạo”. Qua đó gợi mở hướng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong nghiên
cứu, đào tạo và thực hành lãnh đạo trong bối cảnh thế giới “phẳng” ngày nay.
1. Những chỉ dẫn của Chủ
tịch Hồ Chí Minh về cách lãnh đạo
Ngay từ năm 1947, trong
tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh đã có những chỉ dẫn sâu sắc về cách
lãnh đạo huy động trí tuệ quần chúng, học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi
quần chúng, chủ động dẫn dắt quá trình kiến tạo tri thức của tập thể, cộng đồng
để tạo nên những quyết định lãnh đạo sáng suốt.
Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu. Sự hiểu thấu và kinh
nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh
nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của
dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình... Nghĩa là phải lắng tai nghe ý
kiến của đảng viên, của nhân dân, của “những người không quan trọng”(1).
Người đã lập luận hết sức
thuyết phục rằng: “Những người lãnh đạo chỉ trông thấy một mặt của công việc,
của sự thay đổi của mọi người: trông từ trên xuống. Vì vậy sự trông thấy có
hạn. Trái lại, dân chúng trông thấy công việc, sự thay đổi của mọi người, một
mặt khác: họ trông thấy từ dưới lên. Nên sự trông thấy cũng có hạn. Vì vậy,
muốn giải quyết vấn đề cho đúng, ắt phải họp kinh nghiệm cả hai bên lại. Muốn
như thế, người lãnh đạo ắt phải có mối liên hệ chặt chẽ giữa mình với các tầng
lớp người, với dân chúng”(2).
Là một người có trí tuệ
uyên bác, nhưng trong lãnh đạo, Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin tuyệt đối vào trí
tuệ của nhân dân, luôn tin rằng họ là người hiểu nhất vấn đề của chính họ, cái
mấu chốt là cán bộ lãnh đạo phải làm sao để khơi dậy nguồn lực trí tuệ đó.
Người chỉ rõ: “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau
chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không
ra”(3).
Theo Hồ Chí Minh, muốn
huy động được trí tuệ quần chúng nhân dân, phải từ bỏ cách lãnh đạo quan liêu,
mệnh lệnh, áp đặt từ trên xuống rồi bắt quần chúng theo; thay vào đó là cách
lãnh đạo “Làm theo cách quần chúng”.Khi đề cập cách thức lãnh đạo Làm theo cách
quần chúng, Người chỉ rõ: “Việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng
bàn bạc. Giải thích cho dân chúng hiểu rõ. Được dân chúng đồng ý. Do dân chúng
vui lòng ra sức làm”(4).
Để thực hiện cách thức
lãnh đạo này một cách có hiệu quả, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những chỉ dẫn rất
cụ thể:
Thứ nhất,cán bộ cần phải
hiểu rõ đặc điểm tâm lý, trình độ của quần chúng nhân dân, xem đó như một phần
tất yếu của bối cảnh lãnh đạo. Người đã chỉ ra thuộc tính tĩnh của dân chúng:
có lớp tiền tiến, có lớp lừng chừng, có lớp lạc hậu.Vì lý do đó, như một lẽ tất
nhiên, ý kiến của mọi người sẽ rất khác nhau. Người nhấn mạnh ưu thế động của
dân chúng, là sự cảm nhận, so sánh theo thời gian, so sánh theo bối cảnh không
gian cụ thể. Cùng với đó là năng lực tổng quát của dân chúng trong việc phát
hiện ra mâu thuẫn và đề ra cách giải quyết.
Thứ hai,khi đã hiểu rõ
đặc điểm tâm lý, trí tuệ của quần chúng thì cán bộ nên sử dụng phương pháp gợi
mở vấn đề và kích thích tư duy phản biện trong chính những người dân để cùng
nhau giải quyết vấn đề. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “khi đem vấn đề ra bàn trước dân
chúng, họ đem các ý kiến khác nhau so sánh. So đi sánh lại, sẽ lòi ra một ý
kiến mà mọi người đều tán thành, hoặc số đông người tán thành. Ý kiến đó, lại
bị họ so sánh tỷ mỷ từng đoạn, họ thêm điểm hay vào, bỏ điểm dở đi. Ý kiến đó
trở thành ý kiến đầy đủ, thiết thực. Sau khi bàn bạc, so sánh, thêm thắt, thành
một ý kiến đầy đủ, ý kiến đó tức là cái kích thước nó tỏ rõ sự phát triển trình
độ của dân chúng trong nơi đó, trong lúc đó. Theo ý kiến đó mà làm, nhất định
thành công. Làm không kịp ý kiến đó, là đầu cơ, nhút nhát. Làm quá ý kiến đó là
mạo hiểm, hẹp hòi, “tả””(5).
Hồ Chí Minh hết sức phê
phán những cán bộ có thái độ coi thường trí tuệ của nhân dân. Người viết: “Có
người thường cho dân là dốt, không biết gì, mình là thông thái tài giỏi. Vì
vậy, họ không thèm học hỏi dân chúng, không thèm bàn bạc với dân chúng. Đó là
một sai lầm nguy hiểm lắm. Ai có sai lầm đó, phải mau sửa đổi. Nếu không sẽ
luôn luôn thất bại”(6).
Thứ ba, tin vào trí tuệ
của nhân dân, nhưng người lãnh đạo không được “theo đuôi quần chúng” mà phải
chịu trách nhiệm trước nhân dân, phải đóng vai trò chủ động, tích cực, năng
động, sáng tạo trong dẫn dắt quá trình kiến tạo tri thức tập thể để đưa ra các
quyết định hợp lý. Vai trò của lãnh đạo trong quá trình ra quyết định thể hiện
ở chỗ biết phát huy những kiến thức, phương pháp lý luận khoa học đã được học
để so sánh, tổng hợp các ý kiến của nhân dân, làm sâu sắc hơn, lý giải cơ sở
khoa học của nó và tiếp tục đưa sản phẩm tư duy, sáng tạo của mình cho nhân dân
phản biện. Về luận điểm này, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cố nhiên, không phải dân
chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo. Người cán bộ cũng phải dùng cách so
sánh của dân chúng mà tự mình so sánh. Nghĩa là đem các ý kiến khác nhau để so
sánh kỹ, phân tích kỹ các nội dung của các tầng lớp xã hội có cái ý kiến đó.
Tìm ra mối mâu thuẫn trong những ý kiến khác nhau đó. Xem rõ cái nào đúng, cái
nào sai. Chọn lấy ý kiến đúng, đưa ra cho dân chúng bàn bạc, lựa chọn lại, để
nâng cao dần dần sự giác ngộ của dân chúng”(7). “Gom góp ý kiến và
kinh nghiệm trong sự chỉ đạo từng bộ phận, đem làm ý kiến chung. Rồi lại đem ý
kiến chung đó để thí nghiệm trong từng bộ phận. Rồi lại đem kinh nghiệm chung
và mới, đúc thành chỉ thị mới. Cứ như thế mãi. Biết làm như vậy mới thật là
biết lãnh đạo”(8).
Như vậy, trong chu trình
vận động và phát triển tri thức của tập thể, của cộng đồng, Hồ Chí Minh vừa coi
trọng vai trò của quần chúng nhân dân, vừa nhấn mạnh đến vai trò, sứ mệnh của
người lãnh đạo trong việc tổ chức, dẫn dắt quá trình kiến tạo tri thức - tổ
chức đối thoại, tranh luận nhằm tìm ra chân lý và tổ chức thực hành để kiểm
nghiệm chân lý trong thực tiễn, rồi lại nâng kinh nghiệm thực tiễn (cũ và mới)
thành lý luận mới, chính sách mới.
2. Vận dụng trong lãnh
đạo phù hợp thời đại cách mạng công nghiệp 4.0
Lãnh đạo bao gồm nhiều
hoạt động, từ việc xây dựng tầm nhìn, xác định mục tiêu, ra quyết định đúng,
đổi mới để tổ chức phát triển, đến việc xây dựng văn hóa tổ chức, tạo động lực
và sự cam kết của các thành viên hướng tới tầm nhìn, mục tiêu chung... Trong
tất cả các hoạt động đó, việc tiếp nhận, xử lý thông tin, dữ liệu (đầu vào) để
đi đến các quyết định quản lý hoặc quyết định chính sách hợp lý (đầu ra) có vai
trò hết sức quan trọng. Các nhà khoa học đã ước tính 70% thời gian của lãnh đạo
là dành cho việc tiếp nhận, xử lý các loại hình thông tin, dữ liệu thông qua
các kênh khác nhau. Sự khác biệt về “chất” giữa đầu vào - đầu ra thể hiện ở các
phương án quyết định mà nhà lãnh đạo cần phải lựa chọn: tính chất tổ hợp, khả
năng phản ánh hiện thực khách quan, tính khả thi... Bên cạnh năng lực tổng hợp,
phân tích và cảm nhận cá nhân của lãnh đạo thì chất lượng thông tin, dữ liệu
đầu vào có tác động quan trọng đến chất lượng phương án quyết định quản lý hoặc
quyết định chính sách đầu ra. Chính ở đây, có nhiều câu hỏi quan trọng được đặt
ra như: làm thế nào để thu nhận được các thông tin, dữ liệu đầu vào có chất
lượng trong hoạt động lãnh đạo quản lý; đánh giá mức độ tin cậy của các nguồn
thông tin; giữa các loại thông tin dữ liệu khác nhau thậm chí mâu thuẫn nhau,
thì làm thế nào để lựa chọn đúng, xây dựng phương án phù hợp?...
Từ đầu thế kỷ XXI đến
nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt công nghệ
thông tin, truyền thông, dữ liệu thì khoảng cách trong tiếp nhận thông tin giữa
các nhóm xã hội khác nhau ngày càng bị thu hẹp. Bên cạnh đó, như nhiều nhà khoa
học đã chỉ ra, với một lượng thông tin hằng ngày rất lớn, đa dạng trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội, thì con người có thể bị chìm ngập trong thông
tin mà không đem lại kiến thức và tri thức đáng kể nào. Nhà lãnh đạo, với yêu
cầu đưa ra được các quyết định đúng đắn để giải quyết các nhiệm vụ mà thực tiễn
cuộc sống, công việc đặt ra, càng cảm nhận thấy tình trạng mất cân đối giữa một
bên là thông tin ngày càng nhiều - và một bên là sự không theo kịp của năng lực
xử lý thông tin để tạo ra tri thức có ích cho công việc. Trong hoàn cảnh đó,
các nhà khoa học đã nhấn mạnh đến quá trình kiến tạo tri thức(knowledge
creation) mang tính ứng dụng cao trong khi đối diện với các thách thức lãnh
đạo. Nói cách khác, nếu coi việc ra quyết định là sự lựa chọn một trong các
phương án hành động thì chất lượng thông tin, dữ liệu đầu vào và tính khả thi
của các phương án đưa ra sẽ có tác động rất lớn đến hiệu quả của việc thực thi
quyết định.
Herbert Simon đã lập luận
về “Lý trí giới hạn - bounded rationality” (1972) dẫn đến các phương pháp ra
quyết định dựa vào trí tuệ tập thể thông qua các phương pháp như delphi, hay
lấy ý kiến bậc thang(9). Tuy nhiên, hạn chế lớn của cách tiếp cận
này là tập trung vào việc lấy ý kiến các chuyên gia, trong giới hạn nhóm nhỏ
của tổ chức, công ty hoặc công ty tư vấn.
Năm 2004, James
Surowiecki (người Mỹ) đã công bố cuốn sách: “Trí tuệ đám đông - Vì sao đa số
thông minh hơn thiểu số”, đưa ra nhiều dẫn chứng lịch sử và thực nghiệm xã hội
khẳng định rằng sự đa dạng, độc lập của các ý kiến khác nhau của nhóm đông
người là vô cùng cần thiết để đi đến những phán đoán sát với thực tế; một nhóm
bình thường đông người có thể đưa ra quyết định hợp lý hơn cả các chuyên gia(10).
Công trình nghiên cứu này gợi ý cho chúng ta rằng việc tìm kiếm phương án giải
quyết các thách thức lãnh đạo không nên chỉ giới hạn bởi ý kiến của nhóm có
trình độ cao mà cần huy động trí tuệ của nhiều người, kể cả người rất bình
thường. Thách thức lớn nhất khi cần huy động trí tuệ tập thể - ý kiến quần
chúng - là làm sao để họ tham gia vào quá trình cung cấp thông tin và gợi ý
phương án hành động một cách chân thật nhất. Các ý kiến đó nên và cần xuất phát
từ chính góc nhìn của chủ thể chứ không phải bị áp đặt bởi góc nhìn của nhà
lãnh đạo hay một ai khác.
Trong thời gian dài, đã
có định kiến về tương quan chênh lệch kiến thức, tri thức giữa người lãnh đạo
và người dân bình thường. Theo đó, đa số ý kiến cho rằng người lãnh đạo luôn có
nhiều thông tin, kiến thức hơn so với người dân; những cán bộ dưới quyền chỉ là
người thừa hành, tiếp nhận thông tin và kiến thức từ lãnh đạo, vận dụng sáng
tạo để thực hiện nhiệm vụ do lãnh đạo giao. Nói cách khác, dòng chảy thông tin,
kiến thức mang tính một chiều từ lãnh đạo đến nhân viên, từ cán bộ đến người
dân thường. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin,
truyền thông, khả năng và cơ hội khai thác thông tin, dữ liệu của người dân đã
được cải thiện rất nhiều. Việc nâng cao trình độ học vấn, cơ hội giao lưu văn
hóa liên quốc gia đã gia tăng khả năng tổ hợp tri thức của chính những người
dân bình thường. Thông qua đó, năng lực của người dân trong nhận biết mâu thuẫn
và tìm phương án giải quyết vấn đề cũng có bước phát triển vượt trội. Vậy tri
thức tổ hợp của lãnh đạo sẽ phải được gây dựng như thế nào, ở trình độ nào mới
thể hiện được năng lực lãnh đạo và dẫn dắt?
Trong khoa học xã hội đã
đề cập đến Tri thức bối cảnh hóa- contextualized knowledge như một trong những
luận điểm có sức sống nhất trong các lý thuyết quản trị tri thức hiện đại. Theo
đó, với tiến trình gia tăng mức độ phức tạp và phức hợp của các hiện tượng và
tiến trình trong xã hội được cộng hưởng bằng sự tương tác hàm chứa nhiều điều
“bất định” hơn là “tất định” thì sự hiểu biết của con người về bất kỳ một sự
kiện hiện tượng nào cũng không thể “bất biến” mà phải gắn với bối cảnh cụ thể,
không gian - thời gian của sự kiện, hiện tượng(11). Tri thức bối
cảnh hóa (contextualized intelligence/knowledge) trở nên hết sức hữu dụng, đặc
biệt đối với việc xử lý các thách thức lãnh đạo thì hiểu biết về bối cảnh cụ
thể và có thể đang thay đổi từng ngày, từng giờ càng trở nên quan trọng. Thiếu
thông tin, hiểu biết về bối cảnh của thách thức rất dễ đưa ra các quyết định
sai lầm.
Các thách thức lãnh đạo
và chính sách trong thực tiễn, luôn khác xa so với những kiến thức được học tập
trong nhà trường. Trong rất nhiều trường hợp, tri thức khoa học truyền thống,
những kiến thức hiện có của bản thân nhà lãnh đạo cũng như của tổ chức không đủ
để giúp nhà lãnh đạo giải quyết được các thách thức đó. Trong hoàn cảnh này đòi
hỏi nhà lãnh đạo và tổ chức phải kiến tạo tri thức mới, do đó, năng lực hỗ trợ
và dẫn dắt quá trình kiến tạo tri thức trở nên hết sức quan trọng đối với nhà
lãnh đạo. Trong quá trình kiến tạo tri thức này, mỗi chủ thể liên quan, cho dù
là người có trình độ cao, hay những người học vấn thấp, lạc hậu, vẫn có một vị
trí nhất định. Vai trò của họ không chỉ giới hạn ở việc trở thành đối tượng
hưởng lợi của quá trình kiến tạo tri thức mà họ có khả năng đóng góp nhất định
cho tri thức bối cảnh hóa đó.
Lý thuyết “Quản trị dựa
vào tri thức” của Ikujiro Nonaka - một trong 20 nhà quản trị nổi tiếng thế giới
thế kỷ XXI, nhấn mạnh kiến tạo tri thức (knowledge creation) là nền tảng cốt
lõi để lãnh đạo, quản lý tổ chức/cộng đồng ngày càng phát triển thích ứng được
với những thay đổi liên tục của thị trường, xã hội. Khi so sánh, đối chiếu chu
trình kiến tạo tri thức SECI gồm 4 giai đoạn: xã hội hóa - ngoại hóa - tổng hợp
- nội hóado I.Nonaka và các cộng sự phát hiện, khái quát trên cơ sở nghiên cứu
thực tiễn quá trình kiến tạo tri thức trong hàng loạt doanh nghiệp thành công
nổi bật ở Nhật Bản(12), chúng ta nhận thấy có sự trùng hợp với những
chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh như đã trình bày ở trên.
Mô hình SECI khẳng định
rằng quá trình tạo ra tri thức là quá trình biến hóa liên tục giữa tri thức ẩn
(tacit knowledge) và tri thức hiện (explicit knowledge).Tri thức ẩnlà những
hiểu biết của cá nhân, nó có tính chủ quan và là tri thức dựa trên trải nghiệm
cá nhân, nhiều khi không thể thể hiện bằng lời, con số, hay công thức (nó phụ
thuộc vào bối cảnh cụ thể). Tri thức hiệnlà những tri thức có tính khách quan,
logíc có thể thể hiện bằng lời, con số hoặc các công thức (nó không phụ thuộc
vào bối cảnh). Tất cả mọi tri thức đều ở dạng tri thức ẩn hoặc bắt nguồn từ tri
thức ẩn. “Tri thức mới được tạo ra từ sự tương tác liên tục giữa tri thức ẩn và
tri thức hiện”(13). Theo I.Nonaka, tương tác qua lại giữa tri thức
ẩn và tri thức hiệnlà sự di chuyển liên tục qua lại giữa cách nhìn chủ quan và
khách quan, hướng đến chân lý; trong đó đối thoại và thực hành đóng vai trò
quan trọng để khách quan hóa tri thức ẩn của cá nhân và kiểm chứng nó, giúp nó
tiệm cận đến chân lý.
Điều này đúng như Chủ
tịch Hồ Chí Minhđãnhấn mạnh: dân chúng so sánh đúng, giải quyết đúng, là vì tai
mắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe cũng thấy. Đây chính là nguồn tri thức ẩnvô
tận mà bất cứ một nhà lãnh đạo, quản lý nào muốn thành công thì khôngthể bỏ
qua, coi nhẹ. Sự kiến tạo tri thức đối với người lãnh đạo, không chỉ giới hạn
ởviệc tự mình tìm ra tri thức mới, hoặcdựa vào đội ngũ chuyên gia. Họ cần phải
tìm ra các phương thức, công cụ khác nhau, để đối thoại với người dân, kích
hoạt quá trình làm nổi lên tri thức ẩn (ngoại hóa tri thức ẩn) và từ đó, chuyển
hóa thành tri thức hiện(khách quan, khái quát hóa tri thức ẩn) mang tính hữu
dụng để sẵn sàng đối diện và vượt qua các thách thức. Đó chính là vai trò lãnh
đạo và dẫn dắt quá trình kiến tạo tri thức, trong phạm vi hẹp ở cơ quan, tổ
chức, haytrên bình diện cộng đồng, xã hội rộng lớn.
Đối với cán bộ lãnh
đạo,quản lý khu vực công (đảng, nhà nước, đoàn thể chính trị xã hội,...), việc
phát triển năng lực lãnh đạo dẫn dắt quá trình kiến tạo tri thức sẽ đi cùng với
việc xây dựng các công cụquản trị tri thức, rèn luyện các kỹ năng thông qua đào
tạo, kèm cặp, trải nghiệm thực tiễn. Tuy nhiên,trước hết cần phải rèn luyện một
năng lực quan trọng đầu tiên trong quan hệ với dân chúng, như Hồ Chí Minhđã chỉ
ra:“Muốn dân chúng thành thật bày tỏ ý kiến, cán bộ phải thành tâm, phải chịu
khó, phải khéo khơi cho họ nói”(14).
Trong bối cảnh Cách mạng
công nghiệp 4.0, người dân có thể tìm kiếm, trao đổi thông tin và học hỏi nhanh
hơn, nhiều hơn thông qua sử dụng mạng internet; vai trò của trí tuệ nhân tạo,
của sức sáng tạo ở con người ngày càng quan trọng thì năng lực dẫn dắt quá
trình kiến tạo tri thức trong cơ quan, tổ chức, cộng đồng xã hội, để hóa giải
những thách thức trong lãnh đạo, quản lý càng trở thành đòi hỏi cấp thiết đối
với người lãnh đạo. Năng lực đó được coi là một trong những năng lực cốt lõi
của nhà lãnh đạo hiện tại và tương lai.
Năng lực lãnh đạo, dẫn
dắt quá trình kiến tạo tri thức có thể được đào tạo, bồi dưỡng, do đó, nó cần
trở thành hợp phần quan trọng trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý
ở Việt Nam và trong hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
_______________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý
luận chính trị số 9-2017
(1), (2), (3), (4),
(5), (6), (7), (8), (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1995, tr 285, 286, 295, 294, 296, 295, 297, 291, 295.
(9) Simon, H. (1972):
“Theory of boubded rationality” trong sách Guire, C.B.Mc. and Radner, R. (Eds),
Decision and organization, North-Holland Publishing Company.
(10), (13) James
Surowiecki: Trí tuệ đám đông - Vì sao đa số thông minh hơn thiểu số, Nxb Trí
Thức, Hà Nội, 2014.
(11) Helga Nowotny, Peter
Scott and Michael
Gibbons: Tư duy lại khoa học - tri thức và công chúng trong kỷ nguyên bất định, Nxb Tri thức, 2009.
Gibbons: Tư duy lại khoa học - tri thức và công chúng trong kỷ nguyên bất định, Nxb Tri thức, 2009.
(12) Nonaka, I., Toyama,
R. và Hirata, T:Quản trị dựa vào tri thức, Nhà xuất bản Trẻ, 2011.
TS Bùi Phương Đình
TS Nguyễn Thị Thanh Tâm
Viện Lãnh đạo học và
chính sách công,
Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh
http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nguyen-cuu-ly-luan/item/2412-quan-diem-cua-ho-chi-minh-ve-%E2%80%9Ccach-lanh-dao-va-van-dung-trong-lanh-dao-hien-nay.html
Thứ Hai, 2 tháng 4, 2018
ĐẤU
TRANH LÀM THẤT BẠI NHỮNG THÔNG TIN XẤU ĐỘC
Thông
tin sai trái, độc hại do các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị chủ mưu
tiến hành, đã và đang phát tán trên không gian mạng, đài phát thanh bằng tiếng
Việt ở nước ngoài và các sách báo, tài liệu phản động để tung “hỏa mù” làm vẩn
đục và nhiễu loạn đời sống văn hóa tinh thần xã hội ta. Đó là sự phản ánh sai
sự thật, bóp méo, xuyên tạc hiện thực khách quan, cố ý gây rối “đổi trắng, thay
đen”. Làm lẫn lộn thật giả, đúng sai, chân lý, sai lầm để lừa bịp, gieo rắc sự
hoài nghi, hoang mang, dao động trong cộng đồng dân cư, xã hội, làm giảm sút
lòng tin của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế
độ xã hội chủ nghĩa.
Mưu đồ đen tối, tâm địa thâm độc của các thế lực thù địch,
là chúng thường chọn thời điểm “nhạy cảm” như Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, kỷ
niệm các Ngày lễ lớn để đẩy mạnh “chiến dịch” tung tin xấu độc làm ô nhiễm bầu
không khí chính trị, văn hóa tinh thần ở nước ta việc làm của chúng nhằm đến
một cái đích là hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân
đội, Công an, tiến tới hướng lái nước ta theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa; nham
hiểm, ác độc hơn, chúng đang chứng tỏ sẽ dùng không gian mạng và dùng mọi thủ
đoạn có thể để cố tình chia rẽ, gây mâu thuẫn trong nội bộ ta, làm rối loạn môi
trường chính trị, gây mất ổn định xã hội để tác động, thúc đẩy “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, Nhà nước và nhân dân, đòi “phi chính trị
hóa” lực lượng vũ trang.
Vì vậy, một trong những giải pháp quan trọng, góp phần làm
thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” từ trong “trứng nước”, từ sớm, từ xa
là phải làm cho cơ thể chúng ta phải thật khỏe mạnh, không tham nhũng, không
suy thoái. Đó là điều quan trọng nhất để cho chúng ta luôn tỉnh táo chủ động,
tích cực ngăn chặn, đẩy lùi, bác bỏ thông tin sai trái, độc hại do các thế lực
thù địch gây ra. Mặt khác phải tăng cường và nâng cao công tác giáo dục chính
trị nhằm củng cố vững chắc trận địa tư tưởng, lý luận, văn hóa của Đảng trong
Quân đội. Bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng của cán bộ, chiến sĩ Quân đội
nhân dân là thước đo phẩm chất chính trị, lòng trung thành tuyệt đối với sự
nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của Nhân dân ta. Đồng thời bản lĩnh chính
trị là vũ khí sắc bén để cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân tự tin, anh dũng
chiến đấu, vì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, suốt đời tận trung với nước, tận
trung với Đảng, tận hiếu với dân, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình
huống./.
Cao
Văn
Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2018
PHẢI CHĂNG CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN LÀ NGOẠI LAI,
BẮT NGUỒN TỪ PHƯƠNG TÂY NÊN KHÔNG CÒN PHÙ HỢP VỚI VIỆT NAM?
Việt Giang
Suốt hàng thế kỷ qua, nhất là những
thập niên cuối thể kỷ XX trở lại đây, chủ nghĩa Mác - Lênin đã bị xuyên tạc,
bóp méo một cách giáo điều hay cơ hội đủ loại. Và ngày nay, nó càng bị hiểu một
cách thô lậu, nhất là sau khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô, mà
luận điệu cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin
là ngoại lai, bắt nguồn từ phương Tây nên không còn phù hợp với Việt Nam là
một trong số đó.
Chúng ta thấy rằng, C.Mác và
Ph.Ăngghen, V.I.Lênin không phải là những “ông thầy bói của lịch sử”, như mấy
ai bôi nhọ hay huyễn hoặc, dù vô tình hay cố ý. Các ông là những nhà khoa học -
những nhà cách mạng. Lý tưởng của các ông theo đuổi cũng là khát vọng hàng ngàn
năm của con người - lý tưởng giải phóng triệt để con người. Phải chăng lý tưởng
thiêng liêng này chỉ có phương Tây cần, chỉ có phù hợp với phương Tây, nơi mà
chủ nghĩa tư bản ra đời, đã, đang chà đạp lên số phận mỗi con người và các dân
tộc nhược tiểu?
Chủ nghĩa mà các ông sáng lập và đấu
tranh không mệt mỏi là để nhằm hiện thực hóa lý tưởng giải phóng giai cấp, giải
phóng dân tộc, giải phóng con người, trên cơ sở lịch sử cụ thể, một cách khách
quan theo cái lôgíc phát triển tất yếu của nhân loại, bằng cách giải phẫu và biến
đổi cách mạng các xã hội mà loài người đã và đang tồn tại. Nói cách khác, lý luận
của các ông chỉ giúp loài người lựa chọn điều cần và con đường phải đi để dẫn tới
chân lý, với những lực lượng tiên quyết, tiên phong, những điều kiện có tính chất
cần và đủ, khi đứng ở ngã ba lịch sử của sự lựa chọn và khi cần phải quyết định.
Thử hỏi điều đó, phương Đông giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX - nơi chủ
nghĩa thực dân đang giày xéo lên tất cả các dân tộc, dưới gót sắt nô dịch của
chúng - có cần hay không? Hay chỉ phương Tây nơi giai cấp công nhân và nhân dân
lao động đang bị chính chủ nghĩa tư bản cầm tù?
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác
- Lênin không chỉ đơn thuần giải phẫu các hình thái kinh tế - xã hội, mà bắt đầu
từ cấu trúc nền tảng, để làm nổi bật lên những vấn đề của chúng và cuối cùng, dự
báo sự sụp đổ tất yếu và sự thay thế giữa chúng với nhau hoặc tuần tự, hoặc nhảy
vọt một cách biện chứng, theo quy luật. Một cách lịch sử - tự nhiên, từ chế độ
cộng sản nguyên thủy, nhân loại bước lên chế độ chiếm hữu nô lệ, rồi chế độ
phong kiến tới chủ nghĩa tư bản thì sau hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa ấy
chính là chủ nghĩa cộng sản. Đó là cái tất yếu lịch sử hợp quy luật mà chủ
nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học
và cách mạng triệt để, luôn đứng trên nền tảng thực tiễn, thấm đượm tính nhân
văn cao cả, nó giải quyết tất cả những trăn trở của nhân loại cần lao, dù ở
phương Đông hay phương Tây trên con đường tìm kiếm tự do, hạnh phúc đích thực
nơi trần thế. Thực tế cho thấy, từ khi hình thành, phát triển và được xác lập
vào cuối thế kỷ XIX, hệ thống tư tưởng, quan điểm và những quy luật kinh tế -
xã hội mà hệ thống khoa học đó phát hiện ra ngày càng được chứng minh bằng cuộc
sống, được thừa nhận rộng rãi và trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho
hành động cách mạng của giai cấp công nhân trên toàn thế giới, là vũ khí lý luận
sắc bén của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên các châu lục và các đảng
tiên phong, chân chính của giai cấp đó, không chỉ riêng Việt Nam hay bất cứ quốc
gia, dân tộc, châu lục nào.
Ai cũng có thể thấy, từ “bóng ma” ở
châu Âu, chủ nghĩa cộng sản khoa học đã được thực nghiệm bằng những cuộc cách mạng
vô sản nổ ra và thành công, chính quyền công nông được xác lập trong thực tiễn,
chủ nghĩa xã hội hiện thực đã tồn tại với tính ưu việt và sức sống của nó trên
thế giới. Nó là linh hồn của các phong trào tiến bộ, giúp các dân tộc đập tan
chủ nghĩa phát xít, giải phóng khỏi chủ nghĩa thực dân, thuộc địa (những sản phẩm
trong quá trình phát triển chủ nghĩa tư bản), giành độc lập dân tộc, giành quyền
tự do cho toàn thể nhân loại cần lao, chứ đâu riêng mình phương trời hay châu lục
nào. Và không phải ai khác, chính bản thân chủ nghĩa tư bản dù ở phương Đông
hay phương Tây cũng đã sử dụng chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm điều chỉnh, thích
nghi để tồn tại đến ngày hôm nay.
C.Mác nhà khoa học thiên tài và nhà
cách mạng triệt để nhất đã vạch trần một cách chính xác bản chất bóc lột của chủ
nghĩa tư bản - thủ phạm cầm tù nhân dân lao động dù là ở chính quốc hay ở thuộc
địa, là kẻ chà đạp lên độc lập, tự do của các dân tộc từ Âu tới Á… Bản chất bóc
lột của chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi, bản chất phản động toàn diện của nền
chính trị tư sản hiện đại vẫn tồn tại, bản chất mâu thuẫn, khủng hoảng và xu hướng
diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản vẫn là vấn đề thời sự không chỉ thời
C.Mác và Ph.Ăngghen sống mà còn tới tận ngày nay.
Thế nhưng, các quan điểm sai trái
và ác ý lại vin vào việc sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô để hô
hoán lên rằng: “Chủ nghĩa Mác đã thất bại”. Và hôm nay, chính họ đã tự phơi bày
một lối hiểu “trích cú”, “tầm chương”, thiếu tính toàn diện và phi khoa học về
chủ nghĩa Mác, khi chủ nghĩa tư bản đang vẫy vùng thoát khỏi khủng hoảng, theo
dự báo của Mác và khỏa lấp sự tráo trở đó nhân sự thăng trầm của chủ nghĩa xã hội.
Nhưng lý lẽ đó không đánh lừa được
ai. Lương tri của nhân loại vẫn rất tỉnh táo và sáng suốt trong cách nhìn nhận
chủ nghĩa Mác. Nhiều vấn đề kinh tế - xã hội đã và đang được nhiều người ở
chính các nước tư bản phát triển tìm đọc để mong tìm được lời giải cho chính xã
hội hiện thực. Nó đánh dấu sự phát triển của trí tuệ nhân loại, sự tỉnh táo của
loài người tiến bộ. Hơn nữa, chính những người cố tính thóa mạ, bôi nhọ Mác, cố
tính không hiểu rằng chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ không phải vì
học thuyết Mác không còn tính thời đại, mà là sự phá sản của sự sai lầm trong
xây dựng đường lối lãnh đạo của đảng cầm quyền ở đó, do đi chệch khỏi chủ nghĩa
Mác - Lênin chân chính, mà còn là sự xét lại, phản bội chủ nghĩa cộng sản khoa
học; điều này thì chính những nhân vật phản bội sau này đã thú nhận. Đồng thời,
không thể không kể đến những âm mưu thâm độc, trong chiến lược “diễn biến hòa
bình” mà chính chủ nghĩa đế quốc sử dụng. Kẻ thù của các Đảng Cộng sản đã triệt
để lợi dụng những sai lầm, khiếm khuyết không được khắc phục kịp thời trong
lãnh đạo và điều hành đất nước của các đảng đó… để mua chuộc, kích động và cổ
vũ những phần tử cơ hội bên trong, khuyến khích những hành động phản cách mạng bên
ngoài. Kẻ thù của Mác đã đổ tất cả những điều đó cho Mác, cho chủ nghĩa Mác -
Lênin.
Ở Việt Nam, chính nhờ Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản Việt Nam biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đã đưa
cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng
lợi to lớn trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Những thắng lợi là những minh chứng hùng hồn giá trị thời đại và sức sống
bất diệt của chủ nghĩa Mác - Lênin. Bởi vậy, đối với cách mạng và nhân dân Việt
Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin không những là cái cẩm nang thần kỳ, là kim chỉ nam
mà còn là mặt trời soi sáng trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Như
vậy, thắng lợi của cách mạng Việt Nam là một trong nhiều minh chứng, chứng minh
chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ đúng ở phương Tây mà còn đúng ở cả phương Đông,
đúng trên phạm vi toàn nhân loại. Đó không phải là một học thuyết giáo điều, mà
là một học thuyết mở, đòi hỏi phải luôn được bổ sung và phát triển cùng với thời
đại, cùng với thực tiễn phát triển của loài người - điều mà các nhà kinh điển
chủ nghĩa Mác - Lênin luôn nhắc nhở những người đi sau.
CHỦ
NGHĨA MÁC - LÊNIN KHÔNG LỖI THỜI
Việt
Giang
Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn mang
trong mình bản chất khoa học - cách mạng và nhân văn. Đó là một học thuyết sống
động, luôn mang hơi thở của thời đại, là một học thuyết không lỗi thời, bởi vì
những lý do sau đây:
1. Chủ nghĩa Mác - Lênin khi ra đời
đã kế thừa một cách có phê phán những thành tựu trí tuệ của loài người và không
ngừng được bổ sung phát triển trong thực tiễn.
- Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời khi
chủ nghĩa tư bản đã bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt, phơi bày bản chất giai cấp
của nó với sự bóc lột người lao động đến cùng cực.
- Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ
quy luật vận động phát triển của xã hội loài người. Điều mà xưa nay chưa học
thuyết nào làm được
- Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn được bổ
sung phát triển từ C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh, cùng các Đảng
Cộng sản sau này.
- Đó vẫn là khoa học về những quy
luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy; quy
luật về sự phát triển của sản xuất xã hội, về cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản
và nhân dân lao động chống lại áp hức, bóc lột, mưu cầu tự do, hạnh phúc; quy
luật về cách mạng xã hội chủ nghĩa và con đường xây dựng, phát triển đi tới chủ
nghĩa cộng sản.
- Chủ
nghĩa tư bản đang vận động không ngoài những quy luật mà chủ nghĩa Mác - Lênin
đã chỉ ra. Bản chất của nó không thay đổi, nhưng được che đậy dưới lớp vỏ hào
nhoáng, mỹ miều hơn. Sự hung hăng, tham vọng chiếm đoạt của chủ nghĩa tư bản vẫn
đang bộc lộ rất rõ, nhất là qua các cuộc chiến tranh gần đây.
- Loài
người vẫn đang mơ ước đến một thế giới công bằng bình đẳng. Những sự bất công,
ngang trái, những nghịch lý ở khắp nới trên thế giới, thử hỏi do ai gây ra?
2. Sự sụp đổ của hệ thống xã hội
chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác -
Lênin, không minh chứng cho sự lỗi thời của chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Những thành tựu mà các nước Đông
Âu, Liên Xô đạt được trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội là không thể phủ
nhận. Điều này đã được chính các học giả phương Tây như: Henry Kissinger,
Brêginxki thừa nhận. Nó đã từng khơi dậy lương tâm, lương tri của thời đại, của
nhân loại.
- Đó là sự sụp đổ của một mô hình cụ
thể, với nhiều khuyết tật sai lầm, chưa đúng với tinh thần chủ nghĩa Mác -
Lênin. Đó không phải là sự sụp đổ của một học thuyết khoa học, không phải là sự
sụp đổ về tương lai tiến bộ của nhân loại. Tất nhiên đó là một bài học đau đớn,
không chỉ cho những người cộng sản mà cho cả nhân loại tiến bộ. Đó là kết quả của
sự bảo thủ, không nhìn thẳng vào sự thật, chậm đổi mới nhận thức và đổi mới
chính sách cũng như những giải pháp cần thiết để giải quyết mâu thuẫn xã hội nảy
sinh. Đó cũng là sai lầm do không nhận thức đúng đắn, những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin về tính biện chứng của quá trình phát triển.
3. Đúng là hiện nay chủ nghĩa tư
bản vẫn còn khả năng phát triển, các nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã có những
thành tựu phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ kéo theo những cải thiện nhất
định về điều kiện sống của người dân. Nhưng đó mới chỉ là cái nhìn thực tại,
phiến diện không thấy quá khứ và tương lai.
-
Chủ nghĩa tư bản đã trải qua một thời gian phát triển 500 năm, con đường phát
triển của nó chứa đầy máu và nước mắt của nhân loại cần lao, thống khổ trên khắp
các thuộc địa. Phía sau những thành tựu của các nước tư bản phát triển hôm nay,
là kết quả lịch sử của sự nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê
tởm ngày hôm qua. Không biết bao nhiêu tài nguyên, của cải được về các chính quốc,
không biết bao nhiêu máu xương của người lao động khắp nơi trên thế giới đổ xuống
để làm giàu cho chủ nghĩa tư bản, mà Việt Nam là một ví dụ.
-
Trong quá trình phát triển, chủ nghĩa tư bản đã đem bom đạn đi khắp nơi trên thế
giới, để “dạy” cho những dân tộc nào không biết “vâng lời” nó, nó chà đạp lên
danh dự, nhân phẩm của người lao động, nó chà đạp lên thân phận các dân tộc nhược
tiểu. Không biết có bao nhiêu cuộc chiến tranh, biết bao nhiêu cuộc tàn sát man
rợ mà chủ nghĩa tư bản đã gây ra, và Việt Nam cũng là một ví dụ điển hình. Thật
là nực cười, khi những kẻ cướp bóc, giết hại bao người, “máu, mỡ no nê” rồi lại
quay sang đi dạy người khác “dân chủ”, “nhân quyền”…
- Tuy nhiên, có một thực tế là, số
những người chứng kiến sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản trước đây đang ngày càng
ít đi, những người sinh sau này thường chỉ thấy sự hào nhoàng bên ngoài mà
không thấy được những đau khổ mà nhân loại đã phải sống trước đây dưới gót dày
chủ nghĩa tư bản - chủ nghĩa đế quốc - chủ nghĩa thực dân. Họ cũng chỉ nhìn thấy
chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu, Bắc Mỹ mà không thấy chủ nghĩa tư bản ở châu Á, Phi,
Mỹ Latinh. Chỉ có bằng sự phân tích sâu sắc, toàn diện, bằng cách nhìn công bằng,
có cái nhìn xuyên suốt, mới thấy được bản chất của chủ nghĩa tư bản, mới thấy
được sự đóng góp to lớn của chủ nghĩa xã hội.
4. Những sai lầm, khó khăn, hạn
chế trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta cũng không phải bắt nguồn
từ chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Chúng ta không giấu giếm những
sai lầm, khuyết điểm, hạn chế trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, điều
này đã được các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới chỉ
rõ. Nó có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan gây ra. Xây dựng chủ nghĩa xã hội
là một quá trình vô cùng khó khăn, gian khổ, đòi hỏi thời gian và nguồn lực to
lớn với nhiều điều kiện khác nhau. Chúng ta bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội
từ một nước nông nghiệp bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh. Khó khăn lớn nhất
không phải là chúng ta thiếu thốn cơ sở vật chất, mà là từ quan điểm, tác
phong… mang nặng văn hóa nông nghiệp điển hình. Trong khi đó, sự nghiệp của
chúng ta lại không có tiền lệ, không có sự hỗ trợ của phe xã hội chủ nghĩa như
trước đây, trong khi chúng ta luôn bị các thế lực thù địch tìm mọi cách chống
phá.
- Vượt lên tất cả Đảng Cộng sản Việt
Nam, nhân dân Việt Nam đã kiên quyết đổi mới và giành được những thành tựu to lớn,
có ý nghĩa lịch sử. Chúng ta đã duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao trên 6,5%
trong suốt hơn 30 năm đổi mới. Đời sống nhân dân được cải thiện cơ bản. Vị thế
trong khu vực và quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao. Việt Nam đang trở
thành một điểm sáng toàn cầu trong thực hiện xóa đói, giảm nghèo, là một tấm
gương trong quá trình phát triển… Những thành tựu đó, gắn liền với việc chúng
ta nhận thức ngày càng đúng đắn những quan điểm, nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin
và cùng với đó là tư tưởng Hồ Chí Minh. Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là một
học thuyết sinh động, đầy sức sống luôn mang hơi thở của thực tiễn, chỉ cần
chúng ta không rơi vào giáo điều, xét lại, mà biết vận dụng sáng tạo, bổ sung
phát triển trong thực tiễn thì chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn mãi là kim chỉ nam cho
hành động, là “mặt trời soi sáng” cho chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng.
Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2018
PHẢI CHĂNG “ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CHỈ LÀ MỘT NHÓM LỢI
ÍCH” ?
Long Vĩ
Thời gian vừa qua, trên mạng xã
hội phát tán nhiều bài viết của các nhân vật tự xưng là đấu tranh cho dân chủ
với quan điểm cho rằng, nguyên nhân tham nhũng ở Việt Nam là do chế độ độc đảng
sinh ra. “Họ” rêu rao rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam là một nhóm lợi ích, không
hơn, không kém”. Đây là một trong những luận điệu phản động mới được các thế
lực thù địch, phản động tuyên truyền, bôi xấu nhằm xuyên tạc quyết tâm phòng,
chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng cố tình “lờ tịt” một sự thật
hiển nhiên là tham nhũng đang là vấn nạn chung của toàn cầu và nền chính trị
các quốc gia trên thế giới cũng như lịch sử chế độ chính trị Việt Nam thời hiện
đại đã chứng tỏ chế độ một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ
nạn tham nhũng.
Một hình thức của "diễn biến hòa bình"
Trong các bài viết của mình, “họ” rêu rao và tuyên truyền,
tham nhũng thuộc về bản chất của chế độ, không thể cải tạo, cần phải hủy bỏ chế
độ sinh ra nó - chế độ độc đảng và với nền chính trị hiện thời, Việt Nam không
thể chống được tham nhũng. Họ cho rằng, muốn chống tham nhũng thì cần phải chấp
nhận đa đảng đối lập (?). Hùa vào với luận điệu trên, không ít hãng thông tấn
quốc tế cùng những kẻ cơ hội chính trị “té nước theo mưa”, “mượn gió bẻ măng”, hô
hào, tập trung tuyên truyền, khai thác, thổi phồng, xuyên tạc trắng trợn tình
hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng đã và đang đạt được nhiều
kết quả ở Việt Nam.
Trước hết, có thể thấy, việc các nhà “dân chủ” đưa ra quan
điểm tham nhũng thuộc về bản chất của chế độ là một sự cố ý xuyên tạc tình hình
Việt Nam để gây hoang mang, dao động trong cán bộ, đảng viên, nhân dân, làm mất
uy tín của Đảng, Nhà nước và chống phá chế độ ta. Đây chính là thủ đoạn của các
thế lực thù địch, phản động và những kẻ cơ hội chính trị thực hiện “diễn biến
hòa bình” với hi vọng có thể thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.
Với lối suy diễn chủ quan, võ đoán, họ cố tình chỉ lựa chọn
và dựa vào hiện tượng mà lập lờ bản chất, để không thấy được hoặc không muốn
thấy bản chất của tham nhũng là sự tha hóa quyền lực để thực hiện lợi ích cá
nhân hoặc của một nhóm người làm phương hại đến lợi ích cá nhân khác, của tập
thể và xã hội. Mặt khác, tham nhũng luôn gắn với cá nhân có quyền lực và tham
nhũng tồn tại ở mọi chế độ có Nhà nước vì nó luôn gắn với Nhà nước và quyền
lực. Họ cũng cố “nhắm mắt” trước một thực tế hiển nhiên là ở quốc gia nào cũng
vậy, trong mỗi thời điểm đều do một đảng cầm quyền. Khi đảng nào cầm quyền thì
người đứng đầu và các chức vụ quan trọng của chính quyền Nhà nước đều do người
của đảng đó đảm nhiệm.
Tất nhiên, ở những nước có nền dân chủ lâu đời, có hệ thống
luật pháp hoàn chỉnh, chặt chẽ và xã hội được tổ chức ở trình độ cao thì nạn
tham nhũng được hạn chế tốt hơn. Vậy nhưng, nếu nói tham nhũng do độc đảng sinh
ra thì chỉ là ngụy biện, bởi theo xếp loại của Tổ chức minh bạch quốc tế, nhiều
quốc gia đa đảng ở châu Á, châu Phi vẫn bị xếp vào số các nước có nhiều tham
nhũng.
Thực tế này cho thấy, dù là chế độ một đảng cầm quyền hay
đa đảng thay nhau cầm quyền thì nạn tham nhũng, suy thoái vẫn luôn xảy ra. Hiện
nay, trên thế giới có chưa tới 10 nước có 1 đảng cầm quyền, còn lại là các nước
có nhiều đảng. Theo công bố của Tổ chức minh bạch quốc tế về thực trạng tham
nhũng ở các quốc gia thời điểm đầu năm 2018, trong số 168 quốc gia và vùng lãnh
thổ, Việt Nam đứng thứ 112 trong danh sách mức độ tham nhũng. Như vậy, 56 nước
có mức độ tham nhũng nhiều hơn Việt Nam chủ yếu là các quốc gia đa đảng.
"Lập lờ đánh lận con đen"
Nếu ai đã từng tiếp xúc với những thông tin nhảm nhí, xuyên
tạc thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Việt Nam hiện nay
trên các trang mạng xã hội do các thế lực phản động, thù địch và cơ hội chính
trị ngụy tạo nên, sẽ không khó để nhận ra những âm mưu thâm hiểm đi kèm. Trong
các bài viết theo kiểu "lập lờ đánh lận con đen", cho rằng nguyên
nhân tham nhũng ở Việt Nam là do độc đảng sinh ra, các đối tượng lợi dụng triệt
để thông tin một vài vụ án tham nhũng có liên quan đến cán bộ, đảng viên đã bị
đưa ra ánh sáng pháp luật nhằm suy diễn, xuyên tạc, bóp méo quan điểm rồi cho
rằng tham nhũng là bản chất, là hệ quả của cơ chế lãnh đạo tuyệt đối của Đảng.
Thông qua những bài viết cực đoan, suy diễn không đúng bản
chất về vấn đề tham nhũng ở nước ta, các thế lực thù địch, phản động rắp
tâm dựng lên một bức tranh xã hội toàn màu tối, thông qua đó, phủ nhận những nỗ
lực, sự quyết liệt trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng mà Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta đã và đang tiến hành.
Chúng ta hoàn toàn không phủ nhận hiện nay, ở những nước có
nền dân chủ lâu đời, có hệ thống luật pháp chặt chẽ và xã hội được tổ chức ở
trình độ cao thì nạn tham nhũng được hạn chế tốt hơn. Và chúng ta cũng không né
tránh một sự thật là ở Việt Nam, cho đến thời điểm hiện tại, tình trạng tham
nhũng vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với
tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, phức tạp.
Tuy nhiên, nói như các nhà “yêu nước thực sự”, “dân chủ” là
chỉ khi nào ở Việt Nam có chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới có thể được dẹp
bỏ thì quả là “phi lý”. Thực chất, đây là nấc thang mới của luận điệu tuyên
truyền lừa bịp, xuyên tạc nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên
cơ sở gieo rắc hoài nghi trong cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với quyết tâm
chống tham nhũng, qua đó, làm xói mòn, mất lòng tin của nhân dân với Đảng và
Nhà nước, từng bước tạo ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng, trong
các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân.
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định, tham
nhũng đang là giặc nội xâm, nếu không được giải quyết triệt để thì tương lai
đất nước, tương lai chế độ bị đe dọa. Do vậy, cùng việc hoàn thiện, củng cố hệ
thống pháp luật, Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam đã và đang thể hiện quyết
tâm cao trong công tác phòng chống tham nhũng, đấu tranh không khoan nhượng,
không chùn bước và quyết liệt, xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ sai phạm
theo pháp luật, trước mắt tập trung xử lý dứt điểm các vụ tham nhũng nghiêm
trọng, phức tạp, được dư luận xã hội và nhân dân đồng tình ủng hộ. Cùng với
những giải pháp và tinh thần vào cuộc quyết liệt của Trung ương, các địa phương
đang huy động cả hệ thống chính trị, cơ quan báo chí, đặc biệt là nhân dân tham
gia phòng chống tham nhũng.
Chính vì vậy,
công tác phòng, chống tham nhũng đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần
phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, củng cố niềm tin của
cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của
Nhà nước.
Như đã nói ở trên, tham nhũng là vấn đề không của riêng
quốc gia nào và ở Việt Nam hiện nay, tình trạng tham nhũng vẫn diễn biến phức
tạp, nghiêm trọng với những thủ đoạn tinh vi, trong khi công tác phát hiện, xử
lý vụ việc, vụ án tham nhũng chưa đáp ứng yêu cầu. Song, không phải vì vậy mà
chúng ta cho phép các thế lực thù địch, phản động và bọn cơ hội chính trị lợi
dụng những tồn tại, hạn chế trong phòng chống tham nhũng để xuyên tạc, bóp méo
sự thật, gây tâm lý hoài nghi, hoang mang trong các tầng lớp nhân dân.
Hơn lúc nào hết, việc nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn
của các thế lực thù địch cần phải được coi là vấn đề cấp bách. Những nỗ lực
cùng kết quả thực chất trong công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng cần
thường xuyên được cập nhật, lan tỏa trong đời sống xã hội. Đây chính là bằng
chứng xác thực nhất bác bỏ những luận điệu tuyên truyền phiến diện, lừa bịp của
các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đang cố tình lợi
dụng vấn đề này ở Việt Nam để thực hiện mưu đồ đen tối của chúng.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển
Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...
-
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (2-1930) và trải qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, Cương lĩnh, đường lối, quan ...
-
Đến thời điểm hiện tại, các nhà sản xuất vaccine Covid-19 trong nước đang nỗ lực đẩy mạnh tiến độ triển khai nghi...
-
Khi nói chuyện tại Đại hội Đảng bộ Hà Nội ngày 01/02/1961, Người đã chỉ rõ: “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách giản đơn và...