Chủ Nhật, 15 tháng 10, 2023

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri Hà Nội trước Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XV

 Chuẩn bị Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XV, sáng 14-10, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các thành viên Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội, đơn vị bầu cử số 1, tiến hành tiếp xúc cử tri các quận Đống Đa, Ba Đình, Hai Bà Trưng.

Cùng tham dự có: Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội Nguyễn Thị Tuyến; Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Nguyễn Ngọc Tuấn; lãnh đạo Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Tổng Bí thư; lãnh đạo các sở, ban, ngành của thành phố Hà Nội.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri Hà Nội trước Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XV

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến tiếp xúc cử tri tại trụ sở quận Đống Đa. Ảnh: TRÍ DŨNG

Cử tri đã nghe thông báo về dự kiến nội dung kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XV; báo cáo tổng hợp trả lời của các bộ, ngành và thành phố Hà Nội về ý kiến, kiến nghị của cử tri 3 quận trong kỳ tiếp xúc trước.

* Nhiều ý kiến tâm huyết, trách nhiệm

Tại buổi tiếp xúc, các cử tri đánh giá cao, hoạt động của Quốc hội thời gian qua đã có nhiều sáng tạo, cải tiến hiệu quả, linh hoạt. Những dự án luật, vấn đề quan trọng của đất nước đưa ra thảo luận tại các Kỳ họp được chuẩn bị kỹ lưỡng. Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội đúng trọng tâm, trọng điểm, có kết quả cao. Nội dung chất vấn, trả lời chất vấn, có các câu hỏi và trả lời trúng và đúng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri Hà Nội trước Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XV
 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với đại biểu và cử tri tại quận Đống Đa. Ảnh: TRÍ DŨNG

Thời gian tới, cử tri đề nghị Quốc hội tiếp tục tăng cường giám sát những lĩnh vực quan trọng như: Công tác lập và thực hiện đúng quy hoạch, nhất là quy hoạch đô thị; vấn đề ô nhiễm môi trường, xử lý rác thải, phòng cháy, chữa cháy tại các đô thị lớn. Đặc biệt là, Quốc hội cần tập trung giám sát việc thực hiện các dự án trọng điểm quốc gia nhất là các dự án giao thông; việc xử lý các dự án treo, các dự án chậm triển khai của các địa phương.

Trong nhiệm vụ xây dựng pháp luật của Quốc hội và thực thi pháp luật của chính quyền các cấp, cử tri đề nghị Quốc hội thảo luận, xây dựng dự thảo Luật liên quan đến đất đai, nhà ở cần làm rõ và khắc phục những bất cập; tăng cường quản lý, kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm để đảm bảo pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, phục vụ đời sống.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri Hà Nội trước Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XV
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với đại biểu và cử tri tại quận Đống Đa. Ảnh: TRÍ DŨNG

Bày tỏ sự tin tưởng của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, cử tri cho rằng, năm 2023 là một năm có nhiều khó khăn. Tình hình thế giới diễn biến phức tạp, nhưng Đảng và Quốc hội, Chính phủ đã đưa ra những chủ trương, chính sách mạnh mẽ giúp ổn định kinh tế, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Đời sống nhân dân được cải thiện.

Cử tri đề nghị cần tăng cường hơn nữa các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội một cách đồng bộ, góp phần tăng trưởng kinh tế, tăng cường an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để doanh nghiệp phục hồi và phát triển.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri Hà Nội trước Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XV
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu. Ảnh: TRÍ DŨNG

Cử tri đặc biệt ấn tượng với những thành công về hoạt động đối ngoại, tiêu biểu là chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, cho thấy vị thế đất nước ta ngày càng được củng cố nâng cao trên trường quốc tế. Cử tri cũng đánh giá cao kết quả Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII) vừa kết thúc, cùng nỗ lực đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, Chính phủ.

Cử tri bày tỏ, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vẫn đang diễn ra quyết liệt, đạt hiệu quả cao, thể hiện sự quyết tâm lớn của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân làm trong sạch bộ máy, củng cố thêm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Việc xử lý cán bộ vi phạm có nhiều bước tiến lớn, toàn diện. Việc điều tra, xét xử không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đã tạo đột phá mới trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và xử lý cán bộ vi phạm.

Cử tri mong muốn Đảng và Chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương tiếp tục kiên quyết, kiên trì, không ngừng nghỉ trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Việc điều tra, xét xử các vụ án phải đến cùng, công khai, nghiêm minh, có tính răn đe cao. Việc thu hồi tài sản do tham ô, tham nhũng phải minh bạch, kịp thời, triệt để.

Cử tri và nhân dân đồng tình, ủng hộ chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính, trong đó tập trung vào chuyển đổi số, xây dựng chính quyền điện tử và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức thực sự là công bộc của nhân dân. Cử tri mong muốn việc cải cách hành chính hiệu quả hơn, tạo thuận lợi nhất cho người dân, doanh nghiệp trong việc sử dụng dịch vụ.

Bên cạnh việc số hóa dữ liệu dân cư, thực hiện dịch vụ công trực tuyến mà các cấp chính quyền đang tích cực thực hiện, cử tri mong muốn một số ngành khác cũng đẩy mạnh số hóa dữ liệu và thực hiện dịch vụ trực tuyến như trong lĩnh vực thu thuế sử dụng đất, quản lý đất đai, lĩnh vực Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, xin cấp phép xây dựng, làm sổ đỏ, lĩnh vực quản lý giấy phép lái xe; sớm đồng bộ hóa dữ liệu tích hợp vào thẻ Căn cước công dân để người dân không phải giữ và mang theo quá nhiều loại giấy tờ.

Cũng tại buổi tiếp xúc, cử tri nêu ý kiến về: Chính sách tiền lương; tiếp tục nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh; tăng cường đầu tư các trang thiết bị y tế; nâng cao chất lượng đội ngũ y, bác sĩ tuyến cơ sở; tiếp tục hoàn thiện các chính sách về bảo hiểm; tạo thuận lợi cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ; các quy định về bảo vệ môi trường cần có tính thống nhất, đặc biệt là việc thu gom vận chuyển và xử lý rác thải…

* Tiếp xúc cử tri phải được tổ chức thiết thực, không hình thức

Sau khi nghe các vấn đề cử tri nêu, Phó chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Hà Minh Hải trân trọng tiếp thu các ý kiến đề cập nhiều vấn đề thiết thực, thể hiện trách nhiệm của cử tri và giải trình một số vấn đề cử tri nêu liên quan thẩm quyền của thành phố.

Với tư cách thành viên Đoàn đại biểu Quốc hội Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, mỗi lần tiếp xúc cử tri lại thấy Thủ đô có nhiều thay đổi, càng ngày càng phát triển, đẹp, văn minh, hiện đại hơn. Các ý kiến phát biểu ngắn gọn nhưng mang tầm khái quát, sâu sắc, tâm huyết và có trách nhiệm, nêu rõ vấn đề, “gãi đúng chỗ ngứa”, thể hiện trình độ của cử tri ngày càng cao. Các ý kiến được ghi nhận đầy đủ để tổng hợp báo cáo Quốc hội và đề nghị các cơ quan có thẩm quyền trả lời cử tri.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri Hà Nội trước Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XV
Toàn cảnh cuộc tiếp xúc cử tri quận Đống Đa, quận Ba Đình và quận Hai Bà Trưng. Ảnh: TRÍ DŨNG

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, trước các kỳ họp, đại biểu Quốc hội tiến hành tiếp xúc cử tri, báo cáo nội dung chương trình và tiếp thu ý kiến góp ý của cử tri để tổ chức kỳ họp thành công. Nội dung, kết quả kỳ họp phải thể chế hóa chủ trương của Đảng, từ đó thấm vào trong từng người dân, giúp cho “ý Đảng” luôn luôn quyện với “lòng dân”. Do đó, các cuộc tiếp xúc cử tri phải được tổ chức thiết thực, không hình thức.

Trao đổi với đông đảo cử tri, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc lại, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất do nhân dân bầu ra, thực hiện quyền lực của nhân dân. Quốc hội thực hiện các chức năng, xây dựng luật pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề lớn, quan trọng của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, Đảng ta lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị đề ra đường lối chủ trương, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Đó là ba chân kiềng rất chắc chắn, quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó, mỗi chủ thể đều phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Các cấp, các ngành phải nắm chắc để thực hiện đúng, nhất là phải gần dân, sát dân, tôn trọng nhân dân, bởi “đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”.

Chia sẻ một số kết quả quan trọng về chính trị, kinh tế - xã hội, nhất là hoạt động đối ngoại thời gian qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định quan điểm nhất quán đường lối đối ngoại và phong cách "ngoại giao cây tre" gốc vững chắc, nhưng thân mềm dẻo, có tình, có lý, có trước, có sau của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Tổng Bí thư mong muốn cử tri và nhân dân Thủ đô tiếp tục đóng góp xây dựng Hà Nội xứng đáng là Thủ đô của nước Việt Nam anh hùng và truyền thống nghìn năm lịch sử.

TTXVN

Nguồn: Báo QĐND

Phiên họp thứ 27, Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Dự kiến đạt và vượt 10/15 chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội

 Sáng 16-10, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, sự điều hành của Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục Phiên họp thứ 27 để cho ý kiến về đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội năm 2023; dự kiến kế hoạch năm 2024; đánh giá giữa kỳ tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2021-2025 và Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế.

Trình bày báo cáo thẩm tra tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh nêu rõ, trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước đối mặt khó khăn, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã có những quyết sách kịp thời giúp tình hình kinh tế xã hội  tiếp tục xu hướng phục hồi tích cực, ước tính cả năm 2023 có 10/15 chỉ tiêu đạt và vượt mục tiêu đề ra.

Phiên họp thứ 27, Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Dự kiến đạt và vượt 10/15 chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ chủ trì phiên họp thảo luận về kinh tế xã hội. 

Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm; nợ công, nợ Chính phủ, bội chi được kiểm soát; nhiều công trình hạ tầng giao thông trọng điểm, quan trọng quốc gia được tập trung đẩy nhanh tiến độ triển khai; thị trường tiền tệ, tín dụng cơ bản ổn định, mặt bằng lãi suất giảm; thanh khoản thị trường chứng khoán có xu hướng cải thiện; công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế tiếp tục được đẩy mạnh; công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được quan tâm, chỉ đạo quyết liệt; tập trung làm tốt công tác bảo đảm an sinh xã hội, lao động, việc làm, cải thiện đời sống người dân; lĩnh vực văn hóa, giáo dục có nhiều chuyển biến; quốc phòng, an ninh được giữ vững; hoạt động đối ngoại được đẩy mạnh, uy tín và vị thế quốc tế được nâng cao.

Bên cạnh kết quả đạt được, Ủy ban Kinh tế đề nghị quan tâm, tập trung đánh giá kỹ hơn về dự kiến có 5/15 chỉ tiêu kinh tế- xã hội không đạt mục tiêu đề ra trong năm 2023, trong đó chỉ tiêu tốc độ tăng năng suất lao động xã hội không đạt mục tiêu đề ra năm thứ 3 liên tiếp. Tăng trưởng kinh tế giảm tốc đáng kể, cả năm ước đạt trên 5%. Các động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế chậm lại, thậm chí suy giảm và đang chịu áp lực rất lớn từ bên ngoài. Xuất khẩu hàng hóa 9 tháng giảm 8,2% cùng kỳ. Xuất siêu tăng do nhập khẩu nguyên liệu đầu vào giảm (13,9%), cho thấy nhu cầu đầu vào sản xuất trong nước tiếp tục chậm lại.

Phiên họp thứ 27, Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Dự kiến đạt và vượt 10/15 chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh trình bày báo cáo thẩm tra. 

Tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm dần qua các quý (quý I tăng 13,9% đến quý III chỉ tăng 7,3%). Đầu tư tư nhân 9 tháng tăng 2,3%, chỉ bằng khoảng 1/6 mức tăng trước đại dịch. Công nghiệp chế biến, chế tạo giảm tốc mạnh (chỉ số IIP của ngành quý I giảm 2,9%, quý II giảm 0,7%, 9 tháng tăng rất thấp 0,2%). Du lịch quốc tế phục hồi chậm. Một số ý kiến cho rằng cả 3 động lực về đầu tư, xuất khẩu, tiêu dùng của nền kinh tế đều gặp khó khăn mang tính cơ cấu, do thiếu định hướng dài hạn và giải pháp cụ thể kịp thời, khả thi theo hướng chuyển đổi xanh, giảm thiểu thâm dụng năng lượng, phát thải các-bon và kinh tế tuần hoàn. 

Cùng với đó là những vấn đề như một số điểm nghẽn chưa được tháo gỡ hiệu quả, như thủ tục hành chính, tiến độ lập và triển khai quy hoạch, việc triển khai đề án cơ cấu lại hệ thống tín dụng gắn với xử lý nợ xấu và phương án xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém. Nền kinh tế khát vốn nhưng khó hấp thụ vốn, mặc dù mặt bằng lãi suất huy động, lãi suất cho vay giảm. Lạm phát có dấu hiệu đảo chiều tăng trong 3 tháng gần đây.

Doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về thị trường, dòng tiền và thủ tục hành chính, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu, chi phí sản xuất, chi phí logistics tăng cao; sự liên kết giữa doanh nghiệp của các thành phần kinh tế lỏng lẻo, thiếu gắn kết.

Phiên họp thứ 27, Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Dự kiến đạt và vượt 10/15 chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội
 Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải điều hành phiên họp.

Giải ngân vốn đầu tư công có cải thiện nhưng chưa đạt như kỳ vọng (hết 9 tháng đạt 51,38% kế hoạch), chưa có sự lan tỏa đối với đầu tư tư nhân, chưa thể hiện vai trò nòng cốt trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Thu ngân sách nhà nước 9 tháng giảm 8,3% so với cùng kỳ; nợ đọng thuế có chiều hướng gia tăng; giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng còn chậm. Tỷ lệ nợ xấu thị trường trái phiếu doanh nghiệp tăng. Thị trường tài chính, tiền tệ vẫn còn tiềm ẩn rủi ro. Thị trường bất động sản tiếp tục trầm lắng.

Nhiệm vụ cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh còn một số khó khăn, thách thức. Có rất nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, dừng hoạt động, đóng cửa sau khi các quy định mới về tiêu chuẩn, quy chuẩn phòng cháy, chữa cháy được ban hành. Tình trạng ùn tắc đăng kiểm phương tiện giao thông cũng gây rất nhiều khó khăn cho người dân và doanh nghiệp…

“Nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại, hạn chế trong thời gian qua là do tác động, ảnh hưởng nặng nề của các yếu tố bất lợi từ bên ngoài và những hạn chế, bất cập từ nội tại nền kinh tế tích tụ trong thời gian dài chưa được xử lý dứt điểm, nhất là trong bối cảnh thế giới biến động, không chắc chắn, phức tạp và mơ hồ; trong khi nước ta là nước đang phát triển, nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi, có quy mô còn khiêm tốn, độ mở lớn, sức chống chịu với các cú sốc từ bên ngoài và khả năng cạnh tranh còn hạn chế”, báo cáo của Ủy ban Kinh tế nêu đánh giá.

THÙY LÂM

Nguồn: Báo QĐND

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2023

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

CT&PT - Trong bản Di chúc thiêng liêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ân cần căn dặn nhắc nhở: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”1. Kế thừa và phát triển quan điểm, tư tưởng của Người, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn nhấn mạnh: “… thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị”2.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết là hệ thống những quan điểm, nguyên tắc, phương pháp tập hợp rộng rãi các giai cấp, tầng lớp nhân dân, lực lượng cách mạng nhằm đoàn kết rộng rãi các giai tầng trong xã hội, phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của dân tộc để thực hiện yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng ở từng thời điểm, giai đoạn, đưa sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của Nhân dân ta đến thắng lợi cuối cùng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

Một là, khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của đoàn kết đối với sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc và dựng xây, kiến thiết đất nước. Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, truyền thống dựng nước và giữ nước của ông cha ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đoàn kết là vấn đề chiến lược, là nhân tố quan trọng bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc: “Sử dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”3. Trên cơ sở đó, Người chỉ rõ tầm quan trọng của tinh thần đoàn kết “Không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”4.

Từ nghiên cứu, khảo nghiệm các phong trào cách mạng thế giới và thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người đã khái quát, đúc kết vấn đề đoàn kết của cách mạng Việt Nam là một chân lý, vấn đề sống còn của dân tộc “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”5. Như vậy, trong chiều sâu quan điểm, tư tưởng của Người, đoàn kết giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi hoạt động của con người, nhất là trong đấu tranh giành độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Đoàn kết là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu, có ý nghĩa quyết định thành công của cách mạng, vì đoàn kết sẽ tạo nên sức mạnh. Muốn có được sức mạnh thì phải đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc “thành một bức tường đồng vững chắc xung quanh Tổ quốc. Kẻ địch dù có hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”6.

Hai là, chỉ ra nội dung, cách thức, phương pháp thực hiện đoàn kết.

Đây là nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng ở mỗi giai đoạn, thời kỳ đang đặt ra. Với nhãn quan chính trị nhạy bén và uy tín, ảnh hưởng của bản thân, Người đã chỉ ra những nội dung, cách thức, phương pháp đoàn kết các giai cấp, tầng lớp nhân dân rất đúng đắn, phù hợp, hiệu quả, đánh thức, khơi dậy được ý chí, sức mạnh, bản lĩnh con người Việt Nam nhằm thực hiện nhiệm vụ tối cao là giành độc lập dân tộc. Người chỉ rõ: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác… Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ… Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”7. Đó là tư tưởng nhân văn sâu sắc, tất cả vì con người, vì sự nghiệp cách mạng chung của đất nước mà Người là hiện thân, tiêu biểu của chủ nghĩa nhân văn đã quy tụ, tập hợp được đông đảo các thành phần, lực lượng tạo thành sức mạnh vô địch cho mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng đề ra chống đế quốc và phong kiến đem lại độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho muôn dân.

Để đoàn kết hiệu quả, thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ các tầng lớp, giai cấp trong xã hội phải luôn đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Khi thực hiện đoàn kết, Người bao giờ cũng lấy điểm chung, thống nhất để gắn kết các giai cấp, tầng lớp nhân dân với nhau. Bởi theo Người, mỗi giai cấp, tầng lớp có thể có lợi ích riêng, khác biệt, song phải xác định lợi ích nào là cao nhất, thu hẹp đến mức thấp nhất những mâu thuẫn, bất đồng trong mỗi giai cấp, tầng lớp nhân dân. Trong đó, độc lập dân tộc, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ là mục tiêu cơ bản, xuyên suốt của đoàn kết, là vấn đề bất di bất dịch không thay đổi, là tư tưởng chủ đạo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Đoàn kết phải mang tính rộng rãi, lâu dài, ổn định, bền vững và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Người khẳng định, đoàn kết không phải là vấn đề nhất thời, mà là nội dung cơ bản, lâu dài mang tính ổn định, bền vững mãi mãi. Bởi, nếu chỉ đoàn kết ở một giai đoạn, thời điểm khi cách mạng thành công, không đoàn kết nữa thì đất nước sẽ rối ren, mỗi người một suy nghĩ, một hướng, không thực hiện được các yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đòi hỏi. Do đó, để đoàn kết lâu dài và mang tính ổn định, bền vững thì phải có sự lãnh đạo tập trung, thống nhất để trong thì vận động, liên minh quần chúng nhân dân; ngoài thì liên minh với các dân tộc, giai cấp bị áp bức, bóc lột. Đoàn kết phải chân thành, thẳng thắn, thật thà vì đồng chí, đồng đội, vì Nhân dân, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; không phải đoàn kết để mưu lợi cho lợi ích cá nhân, chủ nghĩa cá nhân có hại cho nước, cho dân. Do đó, Người yêu cầu, đoàn kết là giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, trưởng thành, phục vụ cho nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội; cùng với đó, Người cũng đặt ra vấn đề đoàn kết quốc tế, giúp đỡ, hỗ trợ các dân tộc, giai cấp bị áp bức, bóc lột vì sự nghiệp độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn trung thành và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giữ vững, củng cố và tăng cường đoàn kết trong Đảng để lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới đất nước. Một trong những bài học kinh nghiệm được Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ là: không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: Đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh: “Đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và là nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”8. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề đoàn kết để khơi dậy ý chí, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nhiều lần khẳng định “Tiền hô hậu ủng”, “Nhất hô bá ứng”, “Trên dưới đồng lòng”, “Dọc ngang thông suốt” để nói lên sự đoàn kết, nhất trí cao trong nội bộ Đảng và hệ thống chính trị. Nhờ tinh thần đoàn kết, nhất trí cao cho nên dù đứng trước những khó khăn, thách thức, Đảng ta vẫn là một khối thống nhất, lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện các mặt hoạt động, lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra bước nhảy vọt về chất trên mọi phương diện, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực và trong nước còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, thời cơ, vận hội đan xen với nguy cơ, thách thức. Thực tiễn đó đòi hỏi chúng ta phải quán triệt, vận dụng linh hoạt, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.

Một là, quán triệt và thực hiện nghiêm túc những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về đoàn kết trong Đảng.

Mỗi đảng viên cần thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, như: Quy định số 08 -QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị “Về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ”… Trên cơ sở đó, có sự thống nhất cao về ý chí, quyết tâm và ý thức trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên để gương mẫu, tự giác trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện các kết luận và quy định của Đảng trên mỗi cương vị công tác, lĩnh vực phụ trách; mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương cần thể chế hóa, cụ thể hóa quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước vào từng lĩnh vực, hoạt động để xây dựng chương trình kế hoạch hành động phù hợp, hiệu quả, khơi dậy tinh thần đổi mới, sáng tạo, hết lòng, hết sức vì sự nghiệp cách mạng chung của Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.

Hai là, thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

Những nguyên tắc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng để củng cố, giữ vững đoàn kết trong mọi hoạt động, tăng sức mạnh, vị thế, uy tín của tổ chức cơ sở đảng trong quản lý, giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, đảng viên hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Theo tinh thần này, đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị, địa phương phải nắm chắc những chỉ thị, quy định, văn bản, hướng dẫn của Đảng và Nhà nước về các nội dung có liên quan đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị như: công tác cán bộ, chế độ, chính sách cho cán bộ, sắp xếp, bổ nhiệm cán bộ theo tiêu chuẩn, quy định của Đảng; nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy vai trò của trí tuệ tập thể nhưng có sự phân công cá nhân phụ trách; thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình; đánh giá đảng viên, kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên; quản lý đảng viên sinh hoạt ở nơi cư trú…

Phát huy vai trò, tiền phong gương mẫu của cán bộ chủ trì trong việc chấp hành chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, nhất là triển khai nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống; nắm chắc kế hoạch kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên và triển khai tổ chức thực hiện theo đúng tiến độ đã xác định; thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp sinh hoạt Đảng theo hướng ngắn, gọn, có trọng tâm, trọng điểm và bảo đảm cung cấp đầy đủ thông tin cho cán bộ, đảng viên; duy trì thường xuyên các chế độ, nề nếp sinh hoạt Đảng; làm tốt công tác giáo dục chính trị, xây dựng tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau trong cơ quan, đơn vị, địa phương.

Ba là, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên và người đứng đầu.

Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu phải phát huy tính tiền phong gương mẫu của mình, chấp hành nghiêm đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; nói và làm theo đúng Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng; cán bộ chủ trì ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương là hạt nhân, trung tâm của đoàn kết, nơi quy tụ, tập hợp sức mạnh của đông đảo cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức vào thực hiện các nhiệm vụ được giao; giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, dám làm, dám nhận trách nhiệm đối với khuyết điểm, hạn chế của cấp dưới. Xây dựng phong cách làm việc dân chủ và quyết đoán của người lãnh đạo, chỉ huy cơ quan, đơn vị, địa phương; việc gì có lợi cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thì phải làm, việc gì không có lợi thì phải tránh.

Luôn tôn trọng, lắng nghe ý kiến của cấp dưới và giải quyết hài hòa các mối quan hệ, bảo đảm chủ trương, biện pháp của lãnh đạo, chỉ huy cơ quan, đơn vị, địa phương đưa ra đều nhận được sự đoàn kết, ủng hộ nhất trí của cấp dưới, không phán xét chủ quan và phải đánh giá công tâm, khách quan, không thiên vị khi đánh giá năng lực làm việc, phẩm chất đạo đức, lối sống của cấp dưới… Người đứng đầu phải phát huy được ưu điểm, thế mạnh của cấp dưới; đồng thời uốn nắn, nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý kịp thời những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có tư tưởng gây chia rẽ nội bộ, mất đoàn kết, vì lợi ích nhóm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 15, tr. 622.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 95.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 3, tr. 217.

4, 7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 9, tr. 244.

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 120.

6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 151.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 158.

Nguồn: Tạp chí CT và PT

Hồ Chí Minh với việc lựa chọn con đường phát triển của dân tộc Việt Nam qua tác phẩm “Thường thức chính trị”

 CT&PT - Chủ tịch Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn. Với tấm lòng yêu nước nồng nàn, trí tuệ và tầm nhìn thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường cách mạng vô sản, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là lý tưởng, lẽ sống được Người khẳng định trong các cương lĩnh, đường lối của Đảng và nhiều bài nói, bài viết, trong đó có tác phẩm “Thường thức chính trị”. Đó cũng là con đường phát triển, là mục tiêu, là bước đi của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới.

ho-chi-minh-voi-viec-lua-chon-con-duong-phat-trien-cua-dan-toc-viet-nam-qua-tac-pham-thuong-thuc-chinh-tri-chinh-tri-va-phat-trien-1696586474.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Thường thức chính trị” gồm 50 bài viết, ký bút danh Đ.X đǎng trên nhiều số báo Cứu quốc.

1. Quan điểm Hồ Chí Minh về lựa chọn con đường phát triển của dân tộc Việt Nam qua tác phẩm “Thường thức chính trị” là: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân

Với hành trang là lòng yêu nước nhiệt thành và quyết tâm “làm bất cứ việc gì đề sống và để đi”1 nhằm thực hiện hoài bão tìm ra con đường cứu nước, cứu dân; đồng thời, mang trong mình khát vọng giải phóng dân tộc, qua nhiều năm bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đã đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm ra con đường cách mạng đúng đắn - con đường cách mạng vô sản. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”2. Việc lựa chọn con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản, thể hiện tầm nhìn chiến lược và phù hợp với xu thế thời đại, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân lao động.

Hiện thực hóa con đường cách mạng vô sản vào tình hình thực tiễn ở Việt Nam, trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập (1930 - 1945), Đảng và Nguyễn Ái Quốc xác định: độc lập dân tộc là nhiệm vụ trọng tâm, trước hết và trên hết; đấu tranh giành độc lập dân tộc là nội dung chủ đạo, chủ nghĩa xã hội chưa đặt ra trực tiếp mà là phương hướng tiến lên. Chánh cương vắn tắt của Đảng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng xác định “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”3. Trong thời kỳ vận động cách mạng tháng Tám (1939 - 1945), trước những diễn biến mới của tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương (5/1941), khẳng định: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”4. Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu chính là quan điểm đúng đắn, sáng tạo, quyết định đến thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945.

Khi đất nước giành được độc lập, trong Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”5. Thực hiện quyết tâm ấy, bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, với quyết tâm: “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” và tinh thần “Tổ quốc trên hết”, “Dân tộc trên hết”, toàn thể dân tộc Việt Nam đã anh dũng chiến đấu đánh bại các chiến lược quân sự của kẻ thù.

Trong bối cảnh toàn quân và toàn dân đẩy mạnh chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Thường thức chính trị”, đăng trên báo Cứu quốc, dưới bút danh Đ.X từ ngày 16/1 đến 23/9/1953. Trên cơ sở phân tích sâu sắc tính chất của xã hội Việt Nam là “thuộc địa và phong kiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước. Bước thứ nhất là đánh đổ đế quốc, đánh đổ phong kiến, thực hiện “người cày có ruộng”, xây dựng chính trị và kinh tế dân chủ mới. Trong giai đoạn này, phải bảo vệ tư sản dân tộc, vì họ cũng chống đế quốc, chống phong kiến và họ là một lực lượng để phát triển công nghệ, nông nghiệp và thương nghiệp”6. Như vậy, trong bước thứ nhất của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp; đồng thời, phát huy mọi khả năng của giai cấp tư sản để xây dựng và phát triển đất nước như Báo cáo Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội (Luận cương cách mạng Việt Nam)7, do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày tại Đại hội đại biểu lần thứ hai (1951) của Đảng đã khẳng định: “Nước ta là một nước nông nghiệp, kỹ nghệ không phát triển. Muốn mau phát triển kỹ nghệ, xóa bỏ di tích phong kiến và nửa phong kiến, thế tất phải khuyến khích tư sản dân tộc kinh doanh và giúp đỡ tư bản tư nhân phát triển trong một thời gian khá lâu. Đồng thời kiểm soát và tiết chế họ, đưa họ vào con đường phát triển theo lối tư bản nhà nước, không thể nói đến cải tạo xã hội, xóa bỏ mọi hình thức bóc lột ngay”8.

Sau khi hoàn thành bước thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bước thứ hai là tiến lên chủ nghĩa xã hội, tức là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản. Thời đại mới khiến cách mạng Việt Nam phải là cách mạng dân chủ mới (tức là cách mạng dân tộc - dân chủ nhân dân hiện nay)”9. Con đường phát triển của dân tộc được đề cập trong tác phẩm “Thường thức chính trị” là sự kế thừa tinh thần của Đại hội đại biểu lần thứ hai (1951) của Đảng: “Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội”10 và như Chính cương Đảng Lao động Việt Nam xác định: “Nhiệm vụ cơ bản hiện nay của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc; xoá bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng; phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội”. “Ba nhiệm vụ đó khăng khít với nhau. Song nhiệm vụ chính trước mắt là hoàn thành giải phóng dân tộc”11.

Nội dung “cách mạng dân tộc - dân chủ nhân dân” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến trong thời điểm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã được Đại hội đại biểu lần thứ hai của Đảng xác địnhlà “đánh đuổi đế quốc xâm lược, trừ diệt bọn phản quốc, xóa bỏ những di tích phong kiến, kiến thiết một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường, phát triển chế độ dân chủ nhân dân Việt Nam, do con đường dân chủ nhân dân tiến tới chủ nghĩa xã hội”12Báo cáo Chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày tại Đại hội xác định nhiệm vụ của Đảng là “đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn; lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến đến chủ nghĩa xã hội”13.

Tính chất “dân chủ nhân dân” thực chất là thời kỳ quá độ tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Để hoàn thành dân chủ nhân dân thì phải thực hiện các nội dung chính trị, kinh tế, văn hóa dân chủ nhân dân như Đại hội đại biểu lần thứ hai (1951) của Đảng đã chỉ rõ:

- “Chính trị dân chủ nhân dân nước ta hiện nay là củng cố Nhà nước nhân dân, củng cố cơ sở chính trị của chính quyền là Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế”14.

- “Kinh tế dân chủ nhân dân là kinh tế của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội.., gồm có kinh tế nhà nước,.. bộ phận hợp tác xã,… bộ phận kinh tế nhỏ,.. bộ phận kinh tế tư bản tư nhân... Ngoài ra, còn bộ phận tư bản nhà nước gồm những xí nghiệp do tư bản tư nhân cùng chung vốn với Nhà nước kinh doanh, hoặc các xí nghiệp và tài nguyên của Nhà nước nhượng cho tư nhân kinh doanh có điều kiện”15.

- “Văn hóa dân chủ nhân dân của ta có ba tính chất: dân tộc, khoa học và đại chúng”16.

2. Kiên định con đường cách mạng mà Hồ Chí Minh lựa chọn là sự phát triển tất yếu của dân tộc Việt Nam

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, năm 1959, trong Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi, Hồ Chí Minh đã nhắc lại nhận định sáng suốt của Đảng ngay từ năm 1930: Cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa17. Trong những năm 1960, con đường cứu nước và giải phóng dân tộc Việt Nam được Hồ Chí Minh luận giải khái quát, sâu sắc hơn: Những người cộng sản chúng ta không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới. Có thể thấy, tư tưởng cốt lõi, xuyên suốt của Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, như đồng chí Phạm Văn Đồng đã khẳng định: Trong toàn bộ tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là quan điểm cơ bản nhất, là cốt lõi, là nguồn gốc, là hạt nhân chi phối hệ tư tưởng cũng như hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là trục bất di, bất dịch của cách mạng Việt Nam, vững chắc như non sông đất nước Việt Nam18.

Kiên định với mực tiêu đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Người khẳng định: “Kiên quyết bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai được xâm phạm đến quyền thiêng liêng ấy của nhân dân ta”19, với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Tinh thần, khát vọng và niềm tin của Người đã trở thành quyết tâm sắt đá, sức mạnh to lớn của của cả dân tộc làm nên Đại thắng Mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Bước vào thời kỳ đổi mới, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, hiểm nguy, khi chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới lâm vào khủng hoảng, thoái trào ở Liên Xô, Đông Âu; khi đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, dưới ánh sáng soi đường của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã đoàn kết toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiến hành công cuộc đổi mới từ Đại hội VI (năm 1986) đến nay, giải quyết thành công cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế vì một Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” theo đúng tâm nguyện của Người. Đặc biệt, cùng với việc không ngừng bổ sung lý luận về thời kỳ quá độ, những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng cũng được Đảng bổ sung hoàn thiện hơn. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Đảng đã xác định mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng gồm 6 đặc trưng. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ta gồm có 8 đặc trưng: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.

Như vậy, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung hai đặc trưng mới, đó là: khẳng định mục tiêu quan trọng nhất của sự nghiệp đổi mới là xây dựng một nước Việt Nam: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; đồng thời, đề cao dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Đảng, Nhà nước đã ban hành Quy chế Dân chủ ở cơ sở (sau là Pháp lệnh Dân chủ ở cơ sở). Trên cơ sở kiểm điểm, đánh giá thực tiễn công cuộc đổi mới hơn 35 năm qua, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã rút ra bài học kinh nghiệm lớn: Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu của Đảng. Đây là sự kiên định, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Đại hội đã phát triển, hoàn thiện cơ sở lý luận về vai trò, vị trí của Nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Đó là, Nhân dân làm chủ đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua cơ chế: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Để đảm bảo phát triển đất nước theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa và đảm bảo phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, các kỳ Đại hội của Đảng chủ trương giải quyết hài hòa các mối quan hệ lớn. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định 8 mối quan hệ lớn: “Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng bổ sung thêm mối quan hệ giữa “Nhà nước và thị trường”. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng bổ sung: giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Cùng với việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng luôn chú trọng bảo đảm độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước, giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế”20. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là vấn đề có tính nguyên tắc trong quá trình hơn 90 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cũng là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc: “Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là quy luật phát triển của cách mạng nước ta”21.

Trong tình hình phức tạp hiện nay, hơn bao giờ hết chúng ta càng phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bởi độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, là con đường duy nhất đúng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn. Trong mối quan hệ biện chứng đó, độc lập dân tộc là mục tiêu, tiền đề và là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội, không có độc lập dân tộc thì không thể xây dựng chủ nghĩa xã hội; còn xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhằm tăng cường nguồn lực vật chất kỹ thuật ngày càng dồi dào hơn, tạo cơ sở, nền tảng vững chắc để giữ vững độc lập dân tộc.

Con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên trong tác phẩm “Thường thức chính trị” là sự kế thừa con đường cách mạng vô sản đã được Đảng và Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh xác định ngay từ khi thành lập Đảng và trong quá trình đấu tranh giành độc lập (1930 - 1945). Kiên định con đường cách mạng mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn, Đảng và Nhân dân ta vững bước đi lên, quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân nhằm xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc như sinh thời Bác hằng mong muốn.


1. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1976, tr. 14.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 12, tr. 30.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t. 2, tr. 2-3.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 113.

5. Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 4, tr. 2-3.

6, 9. Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 8, tr. 254, 254.

7, 8, 10, 11, 12, 14, 15, 16. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t. 12, tr. 40, 90-91, 40, 434, 76, 103, 106, 109.

13. Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 7, tr. 40.

17, 19. Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 9, tr. 581, 532.

18. Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, Báo Nhân dân, ngày 07/01/1998.

20. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 148.

21. Đảng Cộng sản Việt Nam - Ban Chấp hành Trung ương - Ban Chỉ đạo tổng kết: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tr. 179.

Nguồn: Báo ĐT Chính trị và PT

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...