Thứ Tư, 7 tháng 6, 2023

Lan tỏa tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nhân dân

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn tâm niệm: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”...

Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt Nam, người chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi vì sự nghiệp giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người luôn tâm niệm: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(1). 

Khát vọng ấy, chính là động lực thôi thúc Người đi ra nước ngoài tìm đường cứu nước, cứu dân. Người đã sáng lập và rèn luyện Đảng ta trở thành đảng mác-xít chân chính, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc. Trong tư tưởng của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc, có sứ mệnh “giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.

Sau khi nước nhà đã giành được độc lập, với cương vị là Chủ tịch nước, Người hết sức chú trọng nhiệm vụ kiến quốc, chăm lo đời sống nhân dân. Người khẳng định: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(2). 

Từ đó, Người xác định trách nhiệm của Đảng và Chính phủ là phải làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành; các cơ quan của Chính phủ: “Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề dầu khó khăn đến mặc lòng, những vấn đề quan hệ đến đời sống của dân... Nói tóm lại, hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân phải được ta đặc biệt chú ý”(3).     

Theo Người, con đường mang lại cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho nhân dân là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Người quan niệm: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ...     

Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”(4). Với trách nhiệm là người đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trăn trở, suy nghĩ về cuộc sống của nhân dân, Người nói: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu cực khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”(5). 

Trước lúc đi xa, Người căn dặn trong Di chúc: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nhân dân đã được Đảng và Nhà nước vận dụng, cụ thể hóa trong Cương lĩnh chính trị của Đảng năm 1991 và năm 2011 (bổ sung và phát triển) về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm, 5 năm và kế hoạch hằng năm. 

Với phương châm: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”(6), Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, chính sách nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. 

Cụ thể là: Không ngừng hoàn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội; đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả nhằm bảo đảm an sinh xã hội cơ bản và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là các dịch vụ xã hội cơ bản thiết yếu; thực hiện tốt chính sách đối với người có công; hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi; phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp, khu chế xuất, sinh viên...; phát triển đa dạng các hình thức từ thiện, đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia giúp đỡ những người yếu thế; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống nhân dân. 

Trong giai đoạn 2016 – 2020, Chính phủ đã đề ra Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, với tổng số vốn là 41.449 tỷ đồng; Nhà nước cũng dành 44.214 tỷ đồng để thực hiện chính sách giảm nghèo thường xuyên, hỗ trợ người nghèo về y tế, giáo dục, nhà ở, tín dụng… Theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2019 của Chính phủ, chất lượng cuộc sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện rõ rệt; các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững được các cấp, các ngành tập trung chỉ đạo thực hiện và đạt nhiều kết quả, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm từ 1 đến 1,5% (còn khoảng 3,73 – 4,23%), trong đó các huyện nghèo giảm trên 4%; chất lượng dịch vụ y tế tiếp tục được nâng lên, đạt 8,6 bác sỹ và 27,5 giường bệnh trên 1 vạn dân; làm tốt công tác y tế dự phòng...

Đặc biệt là từ cuối năm 2019 đến nay, khi đại dịch COVID-19 đang là hiểm họa đối với loài người, tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của các quốc gia, tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nhân dân lại tiếp tục lan tỏa, và Việt Nam được đánh giá là hình mẫu về phòng, chống dịch cho nhân dân. Ngay từ khi dịch bắt đầu bùng phát, từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Quốc hội tới Chính phủ đều xác định chống dịch là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách và huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc với tinh thần “coi sức khỏe và tính mạng của con người là trên hết”, “không ai bị bỏ ở lại phía sau”, “chống dịch như chống giặc”... Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã ra lời kêu gọi đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài cùng chung sức, đồng lòng vượt qua mọi khó khăn, thách thức để chiến thắng đại dịch COVID-19. 

Thủ tướng Chính phủ đưa ra thông điệp sẵn sàng chấp nhận thiệt hại về kinh tế để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người dân. Trong cuộc chiến chống dịch COVID-19, Chính phủ đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch bệnh COVID-19 (dành 62.000 tỷ đồng hỗ trợ cho khoảng 20 triệu người thuộc 6 nhóm đối tượng khác nhau); xét nghiệm, điều trị miễn phí cho người bị nhiễm bệnh; nỗ lực tối đa để đưa hàng nghìn công dân Việt Nam từ nước ngoài về nước... 

Các doanh nghiệp Nhà nước chủ động giảm giá điện, nước, cước viễn thông và nhiều loại phí khác để san sẻ khó khăn cho nhân dân. Đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các ngành, các cấp, các địa phương, cả hệ thống chính trị đã đoàn kết, thống nhất triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiều biện pháp, vừa ngăn chặn, đẩy lùi sự lây lan của dịch bệnh, vừa bảo đảm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh, an toàn xã hội, về cơ bản, Việt Nam đã khống chế được dịch bệnh.

Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân là sứ mệnh của Đảng; là mục tiêu và bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Để hoàn thành sứ mệnh cao cả ấy, cấp ủy và chính quyền các cấp cần luôn ghi nhớ lời Bác dạy để nhận thức rõ hơn trách nhiệm của mình: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(7). Với tinh thần đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống nhân dân sẽ tiếp tục lan tỏa, soi sáng mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Không thể phủ nhận giá trị, sức sống tư tưởng Hồ Chí Minh

 Cứ vào dịp cả nước kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 19/5) trên một số diễn đàn, trang mạng xã hội của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tung ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng của Người.

Do vậy, việc nhận diện, phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc không chỉ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mà còn khẳng định sức sống, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, đó còn là trách nhiệm, lương tâm, tình cảm đối với lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt Nam.

Một số hội nhóm, tổ chức, cá nhân phản động, bất mãn lấy danh nghĩa là “nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh” đưa ra luận điệu: “thực chất Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc”, “chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”. Họ giải thích tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc, không có tư tưởng đấu tranh giai cấp, không có tư tưởng về cách mạng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, họ ngụy biện rằng, Hồ Chí Minh không phải là người theo chủ nghĩa cộng sản; tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin, đối lập với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam vì tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc, còn đường lối của Đảng là theo tư tưởng đấu tranh giai cấp…

Đây thực chất là một cách diễn đạt sai lệch. Cách diễn đạt này dù vô tình hay hữu ý đã bỏ qua tính giai cấp, làm mờ đi lập trường, quan điểm giai cấp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Với cách diễn đạt ấy đã tước bỏ tính đảng và lập trường cách mạng chân chính trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực chất là để phủ nhận tư tưởng của Người.

Thậm chí, những kẻ chống phá, cơ hội cố tình bóp méo, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, chia rẽ, phá vỡ từng bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Mục đích của các thế lực thù địch nhằm để thực hiện mưu đồ chính trị chống phá Đảng ta trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là nhằm làm cho Đảng xa rời, từ bỏ nền tảng tư tưởng, từ bỏ thế giới quan, phương pháp luận khoa học, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, dẫn đến từ bỏ mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thực tế, nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như thực tiễn thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.

Kế thừa, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin để giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc với giai cấp

Từ khi thực dân Pháp xâm lược (1858) và đặt ách thống trị ở nước ta cho đến đầu thế kỷ XX, các ngọn cờ cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và tư sản đã chiến đấu rất quyết liệt và anh dũng, song tất cả đã bị đàn áp đẫm máu và thất bại. Thực tiễn đó cho thấy, không thể giải quyết vấn đề dân tộc, giành độc lập dân tộc dựa trên những quan điểm phong kiến hay tư sản.

Trong điều kiện lịch sử ấy, Nguyễn Tất Thành với lòng yêu nước, thương dân, với nhãn quan chính trị sắc sảo đã nhận thấy không thể cứu nước và giải phóng dân tộc theo con đường của các bậc tiền bối và Người đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Điểm xuất phát và là động lực tinh thần của sự ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa yêu nước chân chính. Người đặt cho mình cái tên Nguyễn Ái Quốc là để luôn nhắc nhở bản thân và cổ vũ đồng bào mình lòng yêu nước.

Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Luận cương chỉ rõ, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Đó là chân lý của thời đại, là giải đáp cho điều mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở, tìm tòi. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc xác định “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” ¹ . Lúc này Người có sự chuyển biến từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống sang chủ nghĩa yêu nước theo lập trường giai cấp vô sản. Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định, đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Người đánh giá cao động lực của chủ nghĩa dân tộc nhưng chủ nghĩa dân tộc theo quan niệm của Người phải theo lập trường vô sản.

Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, tự nhận là học trò của C. Mác, V.I Lênin nhưng Nguyễn Ái Quốc không thụ động mà dùng lập trường, quan điểm, phương pháp luận mác xít để vận dụng và phát triển những nguyên lý, quy luật chung của cách mạng thế giới vào đặc điểm tình hình các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Người luận giải, những luận điểm về chủ nghĩa đế quốc như một con đỉa có hai vòi; tính chủ động chủ yếu của cách mạng thuộc địa; nội dung chủ yếu của cách mạng thuộc địa; quy luật thành lập đảng ở các nước thuộc địa… Đó là những cống hiến lý luận to lớn của Người đối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam và trên thế giới.

Nắm vững học thuyết về cách mạng vô sản và học thuyết giai cấp, đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời bám sát đặc điểm của thực tiễn Việt Nam và thế giới, Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện ra những nét đặc thù của Việt Nam so với các quốc gia khác, đặc biệt là các nước phương Tây. Người nhận thấy, nếu như ở phương Tây, mâu thuẫn giai cấp đã trở nên sâu sắc thì ở Việt Nam, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với chủ nghĩa thực dân Pháp và bè lũ tay sai là mâu thuẫn hàng đầu, đấu tranh giải phóng dân tộc mới là vấn đề gay gắt và nóng bỏng đối với cách mạng Việt Nam chứ chưa phải là đấu tranh giai cấp như trong các xã hội tư bản chủ nghĩa phương Tây. Quan điểm này của Người được thể hiện rõ ở “Chính cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt” và “Điều lệ tóm tắt” trong Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, đó là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” 2. Trong đó, nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ chủ nghĩa đế quốc và bọn phong kiến “làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”, nhân dân được tự do, tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc làm của công và chia cho nông dân nghèo, quốc hữu hoá toàn bộ xí nghiệp của tư bản đế quốc, lập chính phủ công - nông - binh và quân đội công nông...

Quan điểm này tiếp tục khẳng định tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (Khóa I, tháng 5/1941): “Trong lúc này quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy... nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho dân tộc thì chẳng những còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp vạn năm cũng không đòi lại được. Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc”³.

Đây chỉ là một phần dẫn chứng nhưng đủ để cho thấy tư tưởng và hành động nhất quán để giải quyết đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp; kết hợp đúng đắn đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp của Hồ Chí Minh. Chính điều đó đã thực sự trở thành chiến lược chỉ đạo toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam, cũng nhờ đường lối đúng đắn đó mà đã huy động được toàn thể nhân dân Việt Nam muôn người như một chống lại kẻ thù chung, giành độc lập cho dân tộc.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Thời kỳ đất nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975), Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, nhằm thực hiện mục tiêu chung trước mắt của cả nước là giải phóng miền Nam, hoà bình, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trong công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế hiện nay, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nước ta đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hoá, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng - an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các tổ chức quốc tế, trở thành một thành viên tích cực, có trách nhiệm trong các hoạt động của cộng đồng quốc tế. Thêm một lần nữa khẳng định sức sống mãnh liệt và giá trị vô cùng to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam.

Không chỉ nhân dân Việt Nam mà nhân dân tiến bộ trên thế giới còn ca ngợi, công nhận tư tưởng và những cống hiến của Hồ Chí Minh đã có quyết định đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam và góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Ngay từ năm 1970, nhà triết học Nhật Bản Singô Sibata đã viết cuốn sách có tiêu đề “Hồ Chí Minh, nhà tư tưởng” và cho rằng: “Nguồn gốc thắng lợi của Việt Nam, trong một mức độ lớn, bắt nguồn từ trình độ cao của triết học và lý luận mà nhân dân Việt Nam đạt được”. Báo chí Cuba coi “Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời đại chúng ta”. Cựu Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ Gớt Hôn thì cho rằng: “Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ và là một nhà tư tưởng Mácxít - Lêninnít vĩ đại của thế giới... Cả loài người sẽ đời đời trân trọng giữ gìn những cống hiến của Người vào kho tàng của chủ nghĩa Mác”. Còn UNESCO thì khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”.

Tỉnh táo trước luận điệu xuyên tạc một số dự án luật về an ninh, trật tự

Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và quá trình hội nhập quốc tế, việc bảo đảm công khai, minh bạch, dân chủ trong xây dựng các dự án luật là yêu cầu khách quan.

Theo đó, trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan nhà nước cần phải lấy ý kiến, lắng nghe ý kiến của người dân để bàn bạc, nghiên cứu tiếp thu, đảm bảo các chính sách được đề xuất sau khi luật hóa sẽ phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống, sát dân, gần dân, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân, góp phần bảo đảm hài hòa các quyền, lợi ích trong xã hội.

Thông qua việc lấy ý kiến của người dân, người hoạch định chính sách sẽ có thông tin thực tế cuộc sống để đưa ra được những quy định phù hợp với các điều kiện xã hội hiện có. Từ đó, văn bản pháp luật sẽ có tính khả thi cao, phù hợp với tâm tư nguyện vọng, lợi ích của đa số quần chúng nhân dân thì văn bản sẽ dễ dàng đi vào cuộc sống, niềm tin của nhân dân đối với chính quyền sẽ được củng cố. Việc lấy ý kiến người dân cũng là hình thức tuyên truyền mang tính tích cực, chủ động để tổ chức, cá nhân nghiên cứu, thảo luận, tiếp cận trước một bước với văn bản pháp luật, tạo thuận lợi để văn bản đi vào cuộc sống khi được chính thức ban hành.                    

Thực hiện kế hoạch của Chính phủ, Bộ Công an được giao chủ trì soạn thảo các dự án luật quan trọng gồm: Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) ở cơ sở; Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật CAND; Luật Căn cước; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cảnh vệ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, với âm mưu chống phá, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và các tổ chức phản động lợi dụng quá trình Bộ Công an triển khai lấy ý kiến nhân dân về các dự án luật nêu trên để đưa ra đủ luận điệu xuyên tạc, vu cáo. Các đối tượng cho rằng, Việt Nam muốn hạn chế các quyền tự do dân chủ rồi ban hành luật để trói buộc, gò ép người dân, thậm chí chúng còn lôi kéo, kích động người dân phản đối các dự luật khi đưa ra lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của nhân dân.

Lướt qua các mạng xã hội Facebook, Youtube… hay các phương tiện truyền thông nước ngoài như đài BBC tiếng Việt, RFA, VOA cho thấy những chiêu trò chống phá khi liên tiếp đăng tải, phát tán các bài viết có nội dung xuyên tạc các dự án luật. Chẳng hạn, khi nói về dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, các đối tượng tung ra bài viết cho rằng, Nhà nước muốn tạo ra một mạng lưới chân rết quần chúng sát với từng người dân để nắm được từng chân tơ kẽ tóc, mọi hoạt động của dân, rồi hạch sách, nhũng nhiễu… gây nguy hại cho dân; nếu hình thành một lực lượng như thế thì gần như là lực lượng bán vũ trang, rồi chi phí dụng cụ hành nghề, thậm chí có thể là vũ khí nóng gây bất an cho dân... Từ đó hướng lái vấn đề “lực lượng này dù có hợp nhất hay không cũng sẽ không giữ được ANTT như mong muốn của nhà cầm quyền cộng sản khi soạn luật mà nó sẽ làm mất ANTT và xã hội sẽ trở nên hỗn loạn hơn”...

Ngay sau đó, nhiều trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong liền đăng tải các bài viết nhằm bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và kích động người dân. Đây là những luận điệu xuyên tạc nhằm dẫn dắt, hướng lái dư luận, tạo ra nhận thức lệch lạc, thái độ phản đối, chống phá đối với dự án luật. Từ việc xuyên tạc nội dung trong dự án luật, các đối tượng hướng đến bôi nhọ hình ảnh lực lượng vũ trang, bôi nhọ chính sách quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cho rằng cách làm như vậy là sai lầm, làm mất vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế! Cùng với việc vu khống, bôi nhọ cán bộ, đảng viên, các đối tượng tìm cách tâng bốc những người bất mãn, cơ hội chính trị, coi những đối tượng hoạt động tuyên truyền, chống phá nhà nước bị pháp luật xử lý là những “nhà dân chủ”; cổ vũ tư tưởng dân tộc cực đoan, kích động "lòng yêu nước" để tụ tập, biểu tình chống đối nhằm tới mục tiêu "cách mạng đường phố", "cách mạng màu" để thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

Trái ngược với những luận điệu xuyên tạc, phá hoại nói trên, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, đại biểu Quốc hội và người dân ở các tỉnh, thành phố qua quá trình nghiên cứu, thảo luận đã khẳng định, việc ban hành các dự án luật do Bộ Công an chủ trì soạn thảo nói trên là hết sức cần thiết, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi khách quan. Điều này xuất phát từ sự đa dạng, phức tạp của công tác bảo đảm ANTT, luôn có sự biến động, thay đổi, đòi hỏi các quy định pháp luật phải được bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Với những vấn đề mới khi đưa ra thảo luận, đóng góp ý kiến, có những ý kiến đồng tình hoặc chưa tán thành nội dụng, vấn đề nào đó là điều hết sức bình thường. Tuy nhiên, cần tỉnh táo trước những luận điệu lợi dụng việc góp ý để xuyên tạc nhằm tạo ra nhận thức lệch lạc, suy giảm niềm tin, kích động tâm lý, thái độ chống đối, phá hoại dự thảo luật, sâu xa hơn là chống phá chế độ, Đảng và Nhà nước.

Các dự án luật trên có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; tăng cường quản lý nhà nước và bảo đảm quyền lợi của công dân; nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng CAND. Tạo cơ sở vững chắc giúp lực lượng Công an chủ động trong công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ trương, chính sách về bảo đảm an ninh trật tự, triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và xây dựng lực lượng CAND thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại theo tinh thần Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị.

Đối với dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động gây tâm lý hoài nghi, dao động, ảnh hưởng đến mục tiêu giữ vững sự ổn định và bảo đảm ANTT ngay từ cấp cơ sở. Do vậy, chúng ta cần nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn để có cách thức đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái.

Cần thấy rằng, việc xây dựng Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là sự cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, trong đó CAND là lực lượng nòng cốt, bảo vệ ANTT từ xa, từ sớm, từ cơ sở. Việc xây dựng dự thảo, lấy ý kiến các nhà khoa học, các cơ quan chức năng trước khi hoàn thiện để Chính phủ trình Quốc hội thảo luận, thông qua nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đảm bảo ANTT tại địa bàn cơ sở.

Hiện nay, cùng với lực lượng Công an, trên địa bàn cấp xã có sự tham gia bảo vệ ANTT của các lực lượng: Bảo vệ dân phố, dân phòng, Công an xã bán chuyên trách đã kết thúc nhiệm vụ được tiếp tục sử dụng. Các lực lượng này được gọi chung là lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Đây là lực lượng quần chúng do UBND cấp xã thành lập, quản lý, duy trì hoạt động, hỗ trợ lực lượng Công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT ở địa bàn cấp xã. Mặc dù vậy, hiện nay mỗi nơi từ tên gọi đến tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cũng khác nhau, không rõ ràng. Từ đó một số nơi gặp khó khăn trong chỉ đạo, tổ chức, thực hiện, do vậy đòi hỏi cần phải được chuẩn hóa, đưa vào luật.

Thực tiễn tổ chức và hoạt động của các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở thời gian qua đã bộc lộ nhiều vướng mắc bất cập, nhất là về chính sách, pháp luật. Các quy định hiện hành về tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở được đề cập ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành. Mặt khác, các quy định về thẩm quyền thực hiện một số nhiệm vụ bảo vệ ANTT, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ bị chồng lấn giữa các lực lượng. Quy định về chế độ, chính sách; điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất, trang, thiết bị hoạt động của các lực lượng này còn thiếu, chưa thống nhất.

 “Lấy dân làm gốc” là nguyên tắc cơ bản, mục tiêu xuyên suốt của dự thảo luật và phát huy vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Theo cơ quan soạn thảo, việc xây dựng, tổ chức lại lực lượng tham gia bảo vệ ANTT không làm tăng biên chế, tăng ngân sách nhà nước. Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là cánh tay nối dài, sâu sát với nhân dân, hỗ trợ cấp ủy, chính quyền, hỗ trợ lực lượng nòng cốt là Công an chính quy trong việc đảm bảo ANTT tại cơ sở, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở đã phát huy tích cực thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ bảo đảm ANTT địa bàn dân cư, sát dân, hiểu, nắm được tâm tư nguyện vọng nhân dân, góp phần tham gia tổ chức, thực hiện phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Rõ ràng, với mục tiêu, ý nghĩa như trên, việc ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là thực sự cần thiết và đáp ứng yêu cầu thực tiễn khách quan, có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng, củng cố các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, phục vụ hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân và phục vụ đắc lực nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội. Do đó, những quan điểm, luận điệu lệch lạc, sai trái, chống phá việc nghiên cứu, xây dựng và trình Quốc hội ban hành dự luật cần phải được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời.

Người dân cần cảnh giác với các tà đạo

Thời gian qua, một số đối tượng xấu lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền tà đạo, lôi kéo người dân tham gia hoạt động mờ ám, phạm pháp. Người dân nếu không tỉnh táo sẽ nghe theo các đối tượng tham gia vào các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, hậu quả khó lường.

Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, tính đến nay, Nhà nước đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, với khoảng 26,5 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước, trong đó có trên 54 nghìn chức sắc, trên 135 nghìn chức việc và gần 30 nghìn cơ sở thờ tự. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam luôn phát huy truyền thống yêu nước và đại đoàn kết dân tộc, sống “tốt đời đẹp đạo”, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Theo cơ quan chức năng, ngoài các tổ chức tôn giáo được phép hoạt động, thì các “hiện tượng tôn giáo mới” đều mang tính mê tín dị đoan, hoạt động tà đạo, phản khoa học, tác động tiêu cực đến đời sống xã hội, tiềm ẩn nhiều nguy cơ phức tạp về an ninh, trật tự.

“Đạo Trời Thái Bình” là một tà đạo, không được phép hoạt động tại Việt Nam. Tà đạo này được phát hiện trên địa bàn tỉnh Bình Phước ngày 5/10 vừa qua, đã bị cơ quan chức năng kịp thời xử lý.

Còn trên mạng xã hội facebook mới xuất hiện một đạo lạ đó là “Giáo hội Phật giáo vũ trụ”. Nhóm này được tạo ngày 9/7/2022 với phần giới thiệu là nơi hội tụ những "Tinh Anh" của Vũ Trụ, hiện có 1,3 nghìn thành viên. Người tạo nhóm này lúc lấy tên là “Thiên Đạo”, lúc tên là “Giáo Chủ”, “Núi Tu Dzi”. Nhóm này thường xuyên tổ chức live stream lên mạng để “tranh đàm luận đạo”. Trong đó, nhiều người lớn tuổi nhưng cãi nhau ì xèo, thậm chí chửi nhau như trẻ trâu. Những người này cho rằng: “Lên đây là phải cọ sát, những người sẵn sàng đối diện để cọ sát là những người sẽ trở thành bá tánh”.

Cảnh giác với tà đạo “Đạo Trời Thái Bình”

“Đạo Trời Thái Bình” là tà đạo, không được phép hoạt động tại Việt Nam. Người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, không để các đối tượng lôi kéo tham gia.

Thời gian qua, sự xuất hiện và phát triển của các “hiện tượng tôn giáo mới” đã tiềm ẩn nhiều nguy cơ phức tạp về an ninh, trật tự. Ngoại trừ một số ít tổ chức hoạt động tôn giáo thuần túy, tuân thủ pháp luật, mong muốn được Nhà nước cấp đăng ký hoạt động, công nhận tư cách pháp nhân, thì các “hiện tượng tôn giáo mới” đều mang tính mê tín dị đoan, hoạt động “tà đạo”, phản khoa học; tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị và trật tự an toàn xã hội. Trong đó có “Đạo Trời Thái Bình”, một tà đạo vừa mới được phát hiện trên địa bàn tỉnh Bình Phước.

“Đạo Trời Thái Bình” hay còn gọi là “Pháp Vương Như Ý” do Hoàng Sonny (Việt kiều Canada tự xưng “Đức Thầy Danh Vô Thị”, “Phật Di Lặc tái thế”) khởi xướng từ năm 2012; hình thức sinh hoạt chủ yếu là ngồi thiền kết hợp với ngâm thơ, ca hát dựa trên nền tảng triết lý của Phật giáo; thờ Phật Di Lặc, Phật A Di Đà và Phật Quan Âm.

Với thủ đoạn lợi dụng các tà thuyết về “ngày tận thế” gắn với nhu cầu về sức khỏe, “Đạo Trời Thái Bình” đã lôi kéo được một bộ phận người dân tham gia ở các địa phương như Lâm Đồng, Tiền Giang, Đồng Nai, Hải Phòng… Họ tuyên truyền rằng thế giới đang ở kỳ ba, kỷ nguyên của Phật Di Lặc, thế giới đang thay đổi, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm phóng xạ, nguồn nước… nếu không tu hành sẽ bị diệt vong trong ngày Long Hoa Đại Hội (ngày đắc đạo và cũng là ngày tận thế). Những người tham gia phải ngồi thiền, đọc kinh, ăn chay các ngày 01, 14, 30 âm lịch hàng tháng để được đắc đạo, trở thành thần, thánh tiên.

Trên địa bàn tỉnh Bình Phước, ngày 5/10/2022, nhận được tin báo của người dân, cơ quan Công an đã kịp thời phát hiện, ngăn chặn 2 đối tượng (là mẹ con, cùng trú TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương) có hành vi tuyên truyền, lôi kéo người tham gia “Đạo Trời Thái Bình” tại phường Tân Xuân, TP Đồng Xoài.

Tại hiện trường, cơ quan Công an thu giữ được một số tài liệu và vật phẩm liên quan. Đây cũng là lần đầu tiên “Đạo Trời Thái Bình” được phát hiện trên địa bàn tỉnh. Hiện vụ việc đang được tiếp tục xác minh, làm rõ.

“Đạo Trời Thái Bình” là tà đạo, không được phép hoạt động tại Việt Nam, cần phải kiên quyết ngăn chặn, lên án và xóa bỏ. Người dân cần nêu cao tinh thần cảnh giác, không để các đối tượng lôi kéo tham gia. Khi phát hiện hoạt động liên quan đến “Đạo Trời Thái Bình” phải báo ngay cho cơ quan Công an gần nhất hoặc chính quyền địa phương để kịp thời xử lý.

Tà đạo, tạp đạo lại lộng hành

Hiện nay, những loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có yếu tố mê tín dị đoan đang có diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, quản lý khi vẫn còn một bộ phận quần chúng nhân dân tin theo và gây ra nhiều hệ lụy đến đời sống xã hội. 

Dưới góc độ tư tưởng, mê tín dị đoan khiến cho họ xa rời với khoa học hiện đại, phủ nhận những tiến bộ xã hội, mất niềm tin với đời sống xã hội khi dành niềm tin tuyệt đối, mù quáng vào một thế giới siêu nhiên, vào sự quyết định và chi phối của thần linh, ma quỷ. Trong đời sống sinh hoạt xã hội hàng ngày, mê tín dị đoan gây nên những lãng phí, bất ổn, đau thương, mất mát, tiêu hao của cải, vật chất của con người. Ở mức độ nguy hiểm hơn, đã có không ít trường hợp từng có nhiều người bị mắc bệnh nhưng lại tin vào sự mê tín rằng chỉ làm lễ để cúng bái thì có thể “đuổi con ma”, chữa khỏi bệnh, từ đó dẫn đến mất mạng hoặc mang thương tật, tàn phế. 

Những hệ lụy của mê tín dị đoan rõ ràng đang ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức, đời sống của người dân. Đặc biệt, có một thực tế nguy hại khi trong số những người tin theo thần linh, đi theo tà đạo, tạp đạo ngoài bộ phận quần chúng có đời sống khó khăn, nhận thức hạn chế thì có cả người có học thức, có hiểu biết nhưng vẫn tin và làm theo những chỉ dẫn hoang đường, tin theo lời nói của những người tự nhận mình có “khả năng tâm linh”! Thực tế đó không thể phù hợp trong một xã hội mà chúng ta đang xây dựng - xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 

Trong khi những loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có yếu tố mê tín dị đoan đã và đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế, xã hội thì những hiện tượng tín ngưỡng tôn giáo có yếu tố tà đạo, tạp đạo do một số tổ chức, cá nhân có ý đồ xấu về chính trị thành lập, nuôi dưỡng đang có những hoạt động gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự. Có đối tượng còn trở thành tay sai, quân cờ của các thế lực thù địch để tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam; kích động, lôi kéo tín đồ cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lợi dụng vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng để gây rối, phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc, gây bất ổn trong nội bộ nhân dân. Một số đối tượng cầm đầu trong các tổ chức như “Tin Lành Chrish”, “tà đạo Hà Mòn”, “Tin Lành Đề Ga”, “đạo Bà Cô Dợ”, “tà đạo Dương Văn Mình”… còn lợi dụng vấn đề tôn giáo để lừa bịp, kích động bà con đồng bào dân tộc thiểu số tham gia các hoạt động ly khai tự trị, chống đối chính quyền. Hành động này không chỉ xâm phạm đến trật tự trị an tại địa phương mà còn  gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, chủ quyền lãnh thổ…

Ngoài ra, các cá nhân này còn lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, lợi dụng niềm tin của tín đồ để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ dưới chiêu bài đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền… Số này biến mình thành những quân cờ dưới sự hà hơi tiếp sức của các tổ chức chống phá ở nước ngoài, điển hình là Human Rights Watch, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF)… Đổi lại, các tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam nêu trên sẽ có thông tin sai lệch từ các đối tượng chống đối trong nước cung cấp. Đây là cơ sở để họ cho “ra lò” các báo cáo thường niên về nhân quyền, về tự do tôn giáo toàn cầu với nội dung chứa đựng những luận điệu phiến diện, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam “đàn áp tôn giáo”! Đây chính là cái cớ để họ gây sức ép về mặt chính trị, ngoại giao,  tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Chính vì vậy, việc nhận diện đúng đắn những loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có yếu tố mê tín dị đoan, các tà đạo, tạp đạo nêu trên sẽ góp phần nâng cao nhận thức của mỗi người dân. Qua đó giúp chúng ta hiểu rõ đâu là chính đạo, đâu là tà đạo, nắm được tác hại của các tà đạo, tạp đạo đối với đời sống vật chất, tinh thần của người dân và những ảnh hưởng xấu đến an ninh, an toàn xã hội. Từ đó hình thành tính tự giác trong công tác phòng ngừa, tham gia đấu tranh ngăn ngừa hoạt động của các tà đạo. Đây cũng là cơ sở quan trọng để các cơ quan chức năng nhận được sự đồng tình, ủng hộ từ nhân dân, tạo thế trận lòng dân trong việc tẩy chay các hiện tượng tà đạo, tạp đạo; xử lý nghiêm số đối tượng cầm đầu, cốt cán lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng vi phạm pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quần chúng nhân dân ngay tại cơ sở, tuyên truyền vận động người dân tuân thủ theo pháp luật, đảm bảo đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn, lành mạnh.

Nhận diện hoạt động các tà đạo, tạp đạo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo. Theo thống kê chưa đầy đủ cho thấy Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo (trong hàng nghìn tín ngưỡng thì tín ngưỡng phổ biến là thờ cúng ông bà tổ tiên và tín ngưỡng thờ Mẫu). Suốt chiều dài lịch sử của đất nước, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo luôn là một bộ phận không thể tách rời của đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân Việt Nam.

Theo thống kê của cơ quan chức năng, cả nước có khoảng 45.000 cơ sở tín ngưỡng, trong đó có hơn 2.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hàng năm, Việt Nam có gần 13.000 lễ hội, gồm 5 loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài, lễ hội văn hóa - thể thao và ngành nghề. Riêng trong lĩnh vực tôn giáo, Việt Nam có khoảng hơn 26,5 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số), 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được nhà nước công nhận hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động. Cả nước hiện có hơn 57,4 ngàn chức sắc, trên 147 ngàn chức việc, hơn 29,6 ngàn cơ sở thờ tự… Thực tế cho thấy, các tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đều mang những nét đặc trưng riêng nhưng có một điểm chung đó là hướng đến các giá trị chân - thiện - mỹ và có sự dung hợp, đan xen, hòa đồng với truyền thống, văn hóa đậm đà bản sắc của dân tộc Việt Nam. Qua đó tạo nên một đất nước đa sắc màu tôn giáo, cũng chính vì thế có đánh giá cho rằng, Việt Nam như “bảo tàng tôn giáo” của thế giới.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, ở Việt Nam còn xuất hiện một số loại hình tín ngưỡng, tôn giáo pha tạp những yếu tố mê tín dị đoan như: Hội Thánh đức Chúa trời mẹ, đạo bà Điền, đạo Dừa… Có những hiện tượng tôn giáo mới nhưng mang đậm chất tà đạo, tạp đạo như “Thanh Hải vô thượng sư”, “tà đạo Hà Mòn”, “Bà Cô Dợ”, “Tin Lành Đề Ga”, “Dương Văn Mình”… Ngoài ra, nhiều địa phương nổi lên hoạt động mê tín dị đoan trá hình dưới hình thức xem tử vi, bói toán, đoán vận mệnh kết hợp với “đuổi tà ma”, “trục vong đeo bám”… Những hiện tượng, tín ngưỡng tôn giáo này đều có một điểm chung là không được Nhà nước ta công nhận tư cách pháp nhân hoặc buộc phải chấm dứt hoạt động do được lập ra với mục đích xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Nhưng vì nhiều lý do khác nhau mà các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo trên vẫn được một số cá nhân, tổ chức tìm cách nuôi dưỡng, lén lút hoạt động, thậm chí có lúc, có nơi, các đối tượng còn tìm cách qua mặt cơ quan chức năng, công khai hoạt động.                        

Hiện nay, những loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có yếu tố mê tín dị đoan đang có diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, quản lý khi vẫn còn một bộ phận quần chúng nhân dân tin theo và gây ra nhiều hệ lụy đến đời sống xã hội. 

Dưới góc độ tư tưởng, mê tín dị đoan khiến cho họ xa rời với khoa học hiện đại, phủ nhận những tiến bộ xã hội, mất niềm tin với đời sống xã hội khi dành niềm tin tuyệt đối, mù quáng vào một thế giới siêu nhiên, vào sự quyết định và chi phối của thần linh, ma quỷ. Trong đời sống sinh hoạt xã hội hàng ngày, mê tín dị đoan gây nên những lãng phí, bất ổn, đau thương, mất mát, tiêu hao của cải, vật chất của con người. Ở mức độ nguy hiểm hơn, đã có không ít trường hợp từng có nhiều người bị mắc bệnh nhưng lại tin vào sự mê tín rằng chỉ làm lễ để cúng bái thì có thể “đuổi con ma”, chữa khỏi bệnh, từ đó dẫn đến mất mạng hoặc mang thương tật, tàn phế. 

Những hệ lụy của mê tín dị đoan rõ ràng đang ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức, đời sống của người dân. Đặc biệt, có một thực tế nguy hại khi trong số những người tin theo thần linh, đi theo tà đạo, tạp đạo ngoài bộ phận quần chúng có đời sống khó khăn, nhận thức hạn chế thì có cả người có học thức, có hiểu biết nhưng vẫn tin và làm theo những chỉ dẫn hoang đường, tin theo lời nói của những người tự nhận mình có “khả năng tâm linh”! Thực tế đó không thể phù hợp trong một xã hội mà chúng ta đang xây dựng - xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 

Trong khi những loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có yếu tố mê tín dị đoan đã và đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế, xã hội thì những hiện tượng tín ngưỡng tôn giáo có yếu tố tà đạo, tạp đạo do một số tổ chức, cá nhân có ý đồ xấu về chính trị thành lập, nuôi dưỡng đang có những hoạt động gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự. Có đối tượng còn trở thành tay sai, quân cờ của các thế lực thù địch để tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam; kích động, lôi kéo tín đồ cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lợi dụng vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng để gây rối, phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc, gây bất ổn trong nội bộ nhân dân. Một số đối tượng cầm đầu trong các tổ chức như “Tin Lành Chrish”, “tà đạo Hà Mòn”, “Tin Lành Đề Ga”, “đạo Bà Cô Dợ”, “tà đạo Dương Văn Mình”… còn lợi dụng vấn đề tôn giáo để lừa bịp, kích động bà con đồng bào dân tộc thiểu số tham gia các hoạt động ly khai tự trị, chống đối chính quyền. Hành động này không chỉ xâm phạm đến trật tự trị an tại địa phương mà còn  gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, chủ quyền lãnh thổ…

Ngoài ra, các cá nhân này còn lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, lợi dụng niềm tin của tín đồ để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ dưới chiêu bài đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền… Số này biến mình thành những quân cờ dưới sự hà hơi tiếp sức của các tổ chức chống phá ở nước ngoài, điển hình là Human Rights Watch, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF)… Đổi lại, các tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam nêu trên sẽ có thông tin sai lệch từ các đối tượng chống đối trong nước cung cấp. Đây là cơ sở để họ cho “ra lò” các báo cáo thường niên về nhân quyền, về tự do tôn giáo toàn cầu với nội dung chứa đựng những luận điệu phiến diện, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam “đàn áp tôn giáo”! Đây chính là cái cớ để họ gây sức ép về mặt chính trị, ngoại giao,  tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Chính vì vậy, việc nhận diện đúng đắn những loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có yếu tố mê tín dị đoan, các tà đạo, tạp đạo nêu trên sẽ góp phần nâng cao nhận thức của mỗi người dân. Qua đó giúp chúng ta hiểu rõ đâu là chính đạo, đâu là tà đạo, nắm được tác hại của các tà đạo, tạp đạo đối với đời sống vật chất, tinh thần của người dân và những ảnh hưởng xấu đến an ninh, an toàn xã hội. Từ đó hình thành tính tự giác trong công tác phòng ngừa, tham gia đấu tranh ngăn ngừa hoạt động của các tà đạo. Đây cũng là cơ sở quan trọng để các cơ quan chức năng nhận được sự đồng tình, ủng hộ từ nhân dân, tạo thế trận lòng dân trong việc tẩy chay các hiện tượng tà đạo, tạp đạo; xử lý nghiêm số đối tượng cầm đầu, cốt cán lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng vi phạm pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quần chúng nhân dân ngay tại cơ sở, tuyên truyền vận động người dân tuân thủ theo pháp luật, đảm bảo đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn, lành mạnh.

Nguồn: Báo QĐND

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...