Thứ Năm, 26 tháng 8, 2021

Cảnh giác trước luận điệu cố tình xuyên tạc hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trên tuyến đầu chống dịch

 Từ khi đại dịch COVID -19 bùng phát tới nay, hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân đã được huy động phối hợp với các lực lượng chức năng tham gia giải quyết những vấn đề nóng bỏng tại các địa phương. Thế nhưng trên không gian mạng, một số tổ chức, cá nhân thù địch, cơ hội chính trị lại cố tình bóp méo, xuyên tạc, bôi xấu hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trên tuyến đầu chống dịch COVID-19.

Những ngày Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện giãn cách xã hội, hình ảnh các anh bộ đội đã trở nên quen thuộc. Những người lính không chỉ làm nhiệm vụ tuyên truyền, tuần tra canh gác, phân phát thực phẩm thiết yếu mà còn kiêm luôn việc đi chợ giúp người dân.

Trong những ngày vừa qua, diễn biến tình hình dịch COVID-19 tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam rất phức tạp. Quán triệt các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Chính phủ về việc thực hiện các giải pháp cấp bách phòng, chống dịch bệnh COVID-19, cùng với các đơn vị đứng chân tại địa bàn, Bộ Quốc phòng đã huy động hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ từ các cơ quan, đơn vị phía Bắc tăng cường cho Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Sự có mặt kịp thời của cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã góp phần quan trọng cùng các lực lượng chức năng, cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương giải quyết nhiều vấn đề, từng bước đẩy lùi đại dịch tại từng địa bàn.

Nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh được xác định là nhiệm vụ chiến đấu của Quân đội thời bình. Thực tế cho thấy để hoàn thành nhiệm vụ chính trị quan trọng này, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta phải đổ biết bao mồ hôi, công sức và cả hy sinh tính mạng. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội lên đường làm nhiệm vụ không hề do dự, tính toán thiệt hơn. Mặc dù hậu phương, gia đình cũng ngổn ngang những vất vả, lo toan, nhưng cán bộ, chiến sĩ Quân đội vẫn để lại mẹ già, cha yếu, con thơ, gác quyền lợi riêng để lên đường vì nhiệm vụ chung, chiến đấu với đại dịch, bảo vệ tính mạng, sức khỏe nhân dân.

Không quản ngại khó khăn, gian khổ, bất chấp hiểm nguy bất cứ ở đâu xuất hiện điểm nóng về dịch COVID-19 là cán bộ, chiến sĩ Quân đội có mặt, xông pha trên tuyến đầu. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội chẳng nề hà bất cứ công việc gì, từ truy vết, sàng lọc, lấy mẫu, xét nghiệm, điều trị, tổ chức cách ly tập trung, tiêm vaccine…đến cung ứng lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu, chăm lo bữa ăn, bảo đảm sinh hoạt cho nhân dân và người bệnh. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị Quân đội đã thể hiện rõ phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ.

Trên khắp các ngả đường, tuyến phố, ngõ hẻm, khu dân cư thuộc Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương phía Nam, hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ mang màu xanh quân phục đã trở nên thân quen với người dân. Sự có mặt kịp thời của các cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã tiếp thêm cho nhân dân niềm tin, nghị lực, quyết tâm để vượt qua khó khăn, đẩy lùi đại dịch COVID-19. Qua các phương tiện thông tin đại chúng, dư luận trong và ngoài nước đã thấy rõ những hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam không nề hà bất cứ công việc gì dù khó khăn, gian khổ đến đâu. Nhiều cán bộ, chiến sĩ quân y thức trắng đêm, không kịp ăn, đói lả vì yêu cầu nhiệm vụ cấp cứu và điều trị bệnh nhân quá gấp gáp. Nhiều người cha, người mẹ là quân nhân suốt mấy tháng trời chỉ nghe tiếng, nhìn thấy mặt con qua điện thoại. Không ít cán bộ, chiến sĩ gia đình có người thân qua đời cũng không thể về chịu tang… Chứng kiến những hình ảnh, những câu chuyện cảm động ấy, nhiều người đã không cầm được nước mắt.

Những suy nghĩ, cử chỉ, hành động, việc làm của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam trong đại dịch một lần nữa khẳng định tinh thần “Vì nhân dân quên mình”, “Vì nhân dân phục vụ”, kế thừa và phát huy truyền thống Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới. 

Thế nhưng trên mạng xã hội, Internet, một số tổ chức, cá nhân thù địch với Việt Nam móc nối với những phần tử cơ hội chính trị, những kẻ bất mãn mang tâm địa đen tối cố tình cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, những vidio, clip... bóp méo, xuyên tạc, chế nhạo những việc làm của cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Một số kẻ đã đăng phát trên mạng xã hội những bài viết có nội dung suy diễn, chủ quan, phiến diện cố tình xuyên tạc chủ trương đưa Quân đội, Công an vào tham gia phòng, chống đại dich COVID-19 tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Đáng lưu ý, trong một bài viết trên BBC tiếng Việt, có kẻ vẫn nhai lại luận điệu cho rằng việc huy động Quân đội tham gia chống đại dịch COVID-19 là trái Hiến pháp, pháp luật. Từ những lập luận mù mờ, suy diễn một chiều chúng rêu rao rằng việc sử dụng Quân đội là vì “lý do an ninh, quốc phòng” chứ không vì nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh.

Khi quân đội huy động các loại phương tiện kể cả máy bay, tàu thủy để vận chuyển lương thực - thực phẩm vào phía Nam giúp nhân dân thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về phòng, chống dịch, thì có kẻ lại hoài nghi nói rằng: số lương thực – thực phẩm ấy phục vụ cho mấy nghìn quân ăn còn chưa đủ lấy đâu ra mà cung ứng, hỗ trợ nhân dân… Trên RFA (Đài Á Châu Tự Do), trong bài viết: “Chống dịch như chống giặc: Kẽm gai, quân đội, công an, pháo đài … sẽ còn thêm gì nữa?” khi bàn về việc bộ đội đi chợ, đảm trách cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân, có kẻ cho rằng: “Quân đội đi chợ cho dân, dân sợ mất hồn!”. Tác giả bài viết này lý giải: “Bộ đội, công an vốn được huấn luyện, đào tạo để nhằm phục vụ cho sức mạnh trấn áp đối phương chứ nào phải để làm chuyện chi li nhỏ mọn là chợ búa…”. Khi xem những hình ảnh bộ đội đi chợ giúp dân, mang từng bao gạo, hộp mỳ tôm, chai dầu ăn, chai nước mắm.... đến trao tận tay từng nhà dân, có kẻ lại nói rằng quân đội “làm màu”, “đánh bóng”, “mỵ dân”...

Tất cả những giọng điệu, chiêu trò ấy không nhằm mục đích nào khác là bóp méo, xuyên tạc chủ trương, giải pháp phòng, chống dịch của Đảng và Chính phủ ta; hạ thấp uy tín của Quân đội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Quân đội, chia rẽ tình đoàn kết giữa Quân đội với nhân dân.

Trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nêu rõ: thiên tai, dịch bệnh là những tình huống an ninh phi truyền thống, là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân ta, trong đó Quân đội nhân dân là nòng cốt. Một trong những nhiệm vụ chính trị mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta giao cho Quân đội là giúp dân phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; phòng, chống dịch bệnh. Đảng và Nhà nước ta xác định rõ: Đây là nhiệm vụ chiến đấu của Quân đội trong thời bình.

Trước những diễn biến phức tạp của tình hình đại dịch COVID-19, việc huy động Quân đội xung kích trên tuyến đầu, kề vai sát cánh cùng các lực lượng chức năng và toàn dân chiến đấu với đại dịch là cần thiết và hoàn toàn đúng với chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và Nghị quyết của Đảng. Chủ trương đưa Quân đội vào giúp nhân dân phòng, chống đại dịch COVID-19 là thể hiện sự tin tưởng của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với Quân đội. Mặt khác Quân đội là lực lượng đặc thù được tổ chức chặt chẽ; huấn luyện, rèn luyện bài bản; có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn (nhất là lực lượng Quân y) và có truyền thống gắn bó máu thịt với nhân dân. Do đó việc đưa Quân đội vào giúp nhân dân phòng, chống đại dịch COVID-19 là hoàn toàn phù hợp và nhất định sẽ đạt hiệu quả cao. Mục tiêu trên hết, trước hết của chủ trương này không gì khác là bảo vệ tính mạng, sức khỏe nhân dân.

Một trong những nhiệm vụ chính trị mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta giao cho Quân đội là giúp dân phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; phòng, chống dịch bệnh. Đây là nhiệm vụ chiến đấu của Quân đội trong thời bình.

Cán bộ, chiến sĩ các cơ quan, đơn vị được huy động giúp nhân dân phòng, chống dịch COVID-19 được quán triệt rất rõ nhiệm vụ, được tổ chức, quản lý, điều hành hoạt động chặt chẽ, thống nhất. Việc bảo đảm đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong thời gian làm nhiệm vụ được giao cho cơ quan hậu cần của các đơn vị phụ trách và đã được chuẩn bị chu đáo theo chế độ tiêu chuẩn quy định riêng. Việc vận chuyện lương thực, thực phẩm cung ứng giúp đỡ nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam đã được Thủ tướng Chính phủ giao cho Quân đội chủ trì đảm nhiệm. Những chuyến hàng liên tiếp tới miền Nam trong những ngày qua là hoàn toàn phục vụ nhu cầu thiết yếu để người dân thực hiện nghiêm tinh thần “ai ở đâu ở đó” góp phần phòng, chống đại dịch. Ở đây không có chuyện vận chuyển lương thực - thực phẩm vào là để phục vụ cho lực lượng quân đội đang làm nhiệm vụ.

Cán bộ, chiến sĩ Quân đội lên đường làm nhiệm vụ họ không có động cơ, mục đích nào khác là phòng, chống đẩy lùi đại dịch COVID-19 để bảo vệ tính mạng, sức khỏe nhân dân. Mọi hoạt động, từng việc làm của Quân đội đều có sự phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng, cấp ủy, chính quyền địa phương và được tổ chức chặt chẽ nhằm mang lại hiệu quả thiết thực, đến đúng địa chỉ cần giúp đỡ, hỗ trợ chứ không phải tùy hứng, làm theo phong trào, hô hào hình thức chung chung để “mỵ dân”, để “làm màu” hay “đánh bóng”… như một số kẻ “độc mồm, độc miệng” bóp méo, xuyên tạc.

Chúng ta không vì những giọng điệu xuyên tạc, bịa đặt ấy mà giảm đi tinh thần, ý chí, quyết tâm chiến đấu chống dịch. Cùng với tuyên truyền đấu tranh vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của các tổ chức, cá nhân thù địch và kẻ xấu, thông qua hoạt động báo chí, truyền thông, cần đẩy mạnh tuyên truyền nhân rộng, tạo sức lan tỏa những việc làm tốt, những nghĩa cử cao đẹp của các lực lượng xung kích trên tuyến đầu chống dịch, trong đó có cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây vừa là việc làm cần thiết để xây dựng niềm tin cho nhân dân, tăng cường tình đoàn kết quân - dân, vừa là biện pháp dùng cái đẹp dẹp cái xấu, dùng dư luận tích cực để lên án, phản bác đấu tranh với những luận điệu tiêu cực, xấu độc, vô lương tâm của những kẻ mang tâm địa xấu xa trên không gian mạng ở cả trong và ngoài nước.


Thứ Bảy, 14 tháng 8, 2021

Học giả quốc tế đánh giá bài viết của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, nội dung mang tính khoa học sâu sắc

Trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Campuchia, ông Uch Leang, cán bộ Khoa Nghiên cứu châu Á và châu Phi, Học viện Quan hệ quốc tế, Viện Hàn lâm Hoàng gia Campuchia, sau khi đọc bài viết của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" nhấn mạnh, đây là bài viết có nội dung mang tính khoa học sâu sắc, đầy đủ ý nghĩa trên nhiều phương diện. Qua đó, có thể thấy Việt Nam kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), dựa trên một hệ thống chính trị thuộc về nhân dân, do dân và phục vụ lợi ích của người dân.

Theo nhà nghiên cứu Uch Leang, những thành tựu của Việt Nam trong thời gian qua là do Đảng lãnh đạo, từng bước hoàn thiện đường lối, vận dụng sáng tạo quy luật khách quan phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam. CNXH Việt Nam đang hướng tới một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Đánh giá về sự phát triển mạnh mẽ của đất nước Việt Nam trong thời gian qua, ông Uch Leang ấn tượng đặc biệt về những thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực trong công cuộc Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, từ năm 1986 đến nay. Từ một nước nghèo, ngày nay Việt Nam trở thành quốc gia hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, nông sản và thu hút đầu tư nước ngoài; giữ vững ổn định đất nước, duy trì đà phát triển trong hoàn cảnh đại dịch Covid-19 tác động nặng nề lên toàn cầu.

Về nội dung thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế được nêu trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhà nghiên cứu Campuchia khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam có quan hệ hữu nghị, hợp tác tốt đẹp với các nước trong khu vực và thế giới, trong đó có nước láng giềng Campuchia. Theo ông, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Campuchia, hai nước láng giềng luôn dành cho nhau sự giúp đỡ quý báu mang tính lịch sử.

Chuyên gia nghiên cứu các vấn đề Á - Phi nêu rõ, khi dịch Covid-19 bùng phát, gây ảnh hưởng nghiêm trọng kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới, Việt Nam và Campuchia vẫn duy trì quan hệ hợp tác khăng khít. "Việc qua lại biên giới của người dân có lúc phải hạn chế để chống dịch, nhưng việc vận chuyển lương thực và hàng hóa giữa hai nước luôn thông suốt để kịp thời phục vụ đời sống của nhân dân", ông Uch Leang khẳng định.

Qua nội dung bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, cùng những liên hệ thực tế, ông Uch Leang bày tỏ tin tưởng, quan hệ giữa hai đất nước Campuchia và Việt Nam ngày càng phát triển toàn diện theo phương châm "Láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài".

Bài viết của Tổng Bí thư phân tích toàn diện con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam

 Báo Thế giới trẻ (Jungewelt) của Đức số ra ngày 12/8 đăng hai bài của tác giả Gerhard Feldbauer về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đánh giá bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích sâu sắc và toàn diện con đường mà Việt Nam đã lựa chọn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Theo TTXVN, trong bài báo thứ nhất với nhan đề “Về các nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội”, tác giả dẫn bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan và là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.

Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thật sự cho tất cả mọi người. Nhà báo Đức cho rằng, bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định, Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách Đổi mới, trong đó có việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bài báo thứ hai đề cập những thành tựu trên các mặt kinh tế - xã hội - giáo dục,... ở Việt Nam, đặc biệt kể từ khi thực hiện chính sách Đổi mới năm 1986. Theo nhà báo Gerhard Feldbauer, sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã, Việt Nam đã mở rộng hợp tác với các nền kinh tế tư bản nhằm thu hút đầu tư, bảo đảm nhập khẩu và tiếp cận với các thị trường xuất khẩu mới.

Việt Nam đã từng bước thiết lập các thỏa thuận hợp tác song phương, gia nhập Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB). Việc ký Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) giúp Việt Nam có thể mở rộng vị thế là đối tác thương mại lớn thứ hai của EU trong ASEAN. Giá trị hàng xuất khẩu của Việt Nam cao gấp nhiều lần so với nhập khẩu và đây là minh chứng cho thấy, Việt Nam không những là nhà cung cấp nguyên liệu mà còn là công xưởng sản xuất quan trọng.

Nhà báo Gerhard Feldbauer nhấn mạnh rằng, trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam từ một nước nông nghiệp đang vươn mình trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Với tốc độ tăng trưởng hằng năm từ 6% đến 8%, Việt Nam thuộc nền kinh tế phát triển mạnh nhất trong khu vực Đông Nam Á. Theo số liệu của Viện thống kê Statista, nếu năm 2002, GDP bình quân đầu người của Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 550 USD thì năm 2019 đã tăng lên 3.400 USD, cho thấy mức lương trung bình và tối thiểu đã tăng lên trong khi tỷ lệ lạm phát được duy trì ở mức thấp.

Người dân Việt Nam giờ đây đã có một cuộc sống tốt đẹp hơn, nguồn cung cấp thực phẩm cơ bản được bảo đảm, thanh niên được tạo mọi cơ hội học tập. Việc Đảng Cộng sản Việt Nam có hơn 5,1 triệu đảng viên, trong đó 60% là thanh niên, đã phủ nhận quan điểm phổ biến ở phương Tây cho rằng, giới trẻ Việt Nam không quan tâm đến chủ nghĩa xã hội.

Nguồn: Báo Nhân dân

Quyết tâm bảo vệ và phát huy thành quả trong phòng, chống dịch

​Sáng 15/8, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị trực tuyến của Thường trực Chính phủ sơ kết 1 tháng công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại các địa phương đang thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và triển khai thực hiện Nghị quyết số 86/NQ-CP của Chính phủ.

​Phát biểu ý kiến tại hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, chúng ta đã thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16, một số địa phương đã ban hành thêm các chỉ thị chỉ đạo thực hiện việc này ở mức cao hơn, sớm hơn so quy định của Chính phủ.

Thủ tướng hoan nghênh cách làm này trên nền tảng các quy định của Trung ương, địa phương căn cứ tình hình, sáng tạo, linh hoạt, bảo đảm hiệu quả, thiết thực, sát thực tế.

Vừa qua, với sự cố gắng các cấp, các ngành, cả hệ thống chính trị, chúng ta đã thực hiện giãn cách xã hội được một tháng, có nơi gần được một tháng. Với sự cố gắng, nỗ lực cả hệ thống chính trị, sự vào cuộc của nhân dân, chúng ta đạt được những kết quả tích cực bước đầu, có cái rất cơ bản, có cái là nền tảng, có cái là khởi điểm để thực hiện tốt hơn trong thời gian tới.

​Tuy nhiên nhìn tổng thể thì chúng ta thấy kết quả thực hiện chưa đạt như mong muốn, mục tiêu đề ra. Cho nên, hôm nay, Thường trực Chính phủ cùng các bộ ngành liên quan đánh giá lại công tác thời gian qua thực hiện các biện pháp theo tinh thần Chỉ thị 16, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo để xem cái gì đã làm được, cái gì chưa làm được, nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Trong đó tập trung phân tích đánh giá thật kỹ nguyên nhân chủ quan trên cơ sở đó tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, phân cấp, phân quyền, nâng cao trách nhiệm các cấp, các ngành, nâng cao ý thức của người dân trong việc thực hiện quy định của Đảng, Nhà nước. Trên cơ sở đó chúng ta sẽ bổ sung, hoàn thiện và xem cái gì cần quyết liệt hơn.

Việc chống dịch chưa có tiền lệ, dịch bệnh biến ảo khôn lường, đi trước chúng ta, do đó các biện pháp tổ chức thực hiện phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm.

Cái gì đã "chín", đã rõ, đã được thực tiễn chứng minh là đúng, thực hiện có hiệu quả, được đa số đồng tình thì triển khai ngay; không cầu toàn, không nóng vội.

​Chúng ta cần đưa ra lộ trình, mục tiêu, biện pháp để hoàn thành, nếu để kéo dài thì chống dịch không dứt điểm và kinh tế - xã hội không phát triển được, không có nguồn lực để chống dịch.

Chúng ta không có điều kiện như các nước phát triển, quy mô nền kinh tế chúng ta còn hạn chế, chúng ta phải kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, kiểm soát dịch bệnh thì mới có nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội. Chúng ta quyết tâm không để xảy ra khủng hoảng kinh tế và y tế.

Trong điều kiện chúng ta chưa có vaccine, thuốc đặc trị chưa có thì biện pháp giãn cách, cách ly xã hội thì phải thực hiện triệt để vì lây nhiễm là giữa người với người.

Phải phong toả các ổ dịch nghiêm ngặt để tách F0, có điều trị phù hợp. Phải phát hiện nguồn lây trong cộng đồng bằng xét nghiệm đại trà.

Còn tại TP Hồ Chí Minh và Bình Dương thì cần xét nghiệm theo trọng tâm, trọng điểm. Thời gian còn lại của giãn cách phải thực hiện nghiêm việc này. Cùng với đó là huy động, tìm kiếm nguồn vaccine và thuốc điều trị.

Vừa qua, các cấp, các ngành đã nỗ lực cố gắng, đến nay, nếu chúng ta không kiên định các mục tiêu thì sẽ thất bại. Do đó phải kiên quyết bảo vệ thành quả đạt được.

​* Tại hội nghị, Bộ Y tế kiến nghị thực hiện quyết liệt hơn nữa, triệt để hơn nữa các biện pháp phòng, chống dịch nhằm phấn đấu đạt mục tiêu kiểm soát dịch bệnh như tại nội dung Nghị quyết số 86/NQ-CP ngày 6/8/2021 của Chính phủ.

Đồng thời để nhanh chóng ổn định tình hình, bảo đảm an sinh xã hội, trật tự xã hội và tiếp tục phấn đấu đạt các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội, thời gian tới cần triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống dịch, trong đó tập trung:

Tiếp tục quán triệt tinh thần “chống dịch như chống giặc”; thống nhất trong lãnh đạo chỉ đạo; huy động toàn bộ hệ thống chính trị tham gia tích cực vào công tác phòng, chống dịch. bảo đảm công tác lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt; chỉ đạo tốt, tuân thủ tốt, thực hiện tốt trong điều hành, quản lý công tác phòng, chống dịch ở các cấp trên địa bàn.

Đẩy mạnh và phát huy vai trò kiểm tra, giám sát của hệ thống chính trị cơ sở trong thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch, nhất là tại từng tổ dân phố, khu dân cư...

Động viên, khen thưởng kịp thời những tổ chức, cá nhân làm tốt và nhân rộng các mô hình, cách làm tốt, hiệu quả trong phòng, chống dịch; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định.

Đẩy mạnh triển khai quyết liệt các biện pháp ngăn chặn lây nhiễm. Các địa phương đang thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 thì phải thực hiện nghiêm, dứt khoát, thực chất, hiệu quả, chắc chắn, chặt chẽ hơn việc giãn cách theo nguyên tắc người cách ly với người, gia đình cách ly với gia đình, kiên quyết yêu cầu người dân “ai ở đâu thì ở đó” để thực hiện triệt để việc giãn cách, cách ly theo quy định. Áp dụng các biện pháp cao hơn nếu không đạt hiệu quả.

Thực hiện xét nghiệm thần tốc, tầm soát trên diện rộng, trước tiên tại các khu vực phong tỏa, có nguy cơ rất cao, nguy cơ cao và những người có nguy cơ lây nhiễm cao, các trường hợp có biểu hiện ho, sốt trong cộng đồng để kịp thời phát hiện, đưa các trường hợp F0 ra khỏi cộng đồng nhanh nhất. Tổ chức tốt việc điều phối, lấy mẫu, trả kết quả xét nghiệm trong vòng 24 giờ.

Xây dựng kế hoạch cụ thể và triển khai quyết liệt các biện pháp nhằm kiên quyết bảo vệ và mở rộng các “vùng xanh” trên địa bàn để từng bước kiểm soát tình hình dịch bệnh, không để dịch tiếp tục lây lan rộng hơn.

Áp dụng các biện pháp điều trị kịp thời, hiệu quả nhằm giảm tối đa các trường hợp tử vong. Chuẩn bị các phương án cao nhất có thể cho điều trị, bảo đảm đầy đủ oxy, máy thở, giường cấp cứu, các điều kiện cần thiết khác trong thời gian sớm nhất.

Tổ chức tốt việc quản lý, điều phối các nguồn lực để kịp thời tiếp nhận, điều trị người nhiễm Covid-19 nhằm giảm tỷ lệ diễn biến nặng hơn ở tất cả các tầng trong đó đặc biệt lưu ý phân biệt những người bị nhiễm chưa có triệu chứng với những người có triệu chứng để tổ chức quản lý, theo dõi và trợ giúp y tế phù hợp, giảm tỷ lệ người chưa có triệu chứng diễn biến thành có triệu chứng...

Đám rận chủ lại làm trò hề

 Thời gian gần đây trước diễn biến phức tạp của dịch Covid - 19, Đảng, Nhà nước ta đã và đang sử dụng các biện pháp để khống chế dịch bệnh và được nhân dân nhân cả nước đồng lòng ủng hộ.

Thế giới chỉ thực sự an toàn khi mọi người dân được tiêm vacxine phòng ngừa Covid 19, tiến tới miễn dịch trong cộng đồng. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề vacxin vẫn đang có xu hướng ưu tiên cho các quốc gia giàu có, phát triển cũng như phải ưu tiên cho những khu vực có nguy cơ cao chịu sự “tàn phá” nặng nề của con bão “Covid 19”.

Cũng xung quanh vấn đề này ở Việt Nam, thời gian qua, người dân cũng đang rất mong chờ những lô vacxine được Chính phủ đàm phán mua về để tiêm cho người dân. Nhưng trong “cơn khát” vacxine như hiện nay, chúng ta cũng đã phần nào thấy được những khó khăn, vất vả của những người lãnh đạo trong việc đàm phán ngoại giao để có thể tiếp cận mua sản phẩn và công nghệ sản xuất. Hơn nữa, “vấn đề đầu tiên là tiền đâu” cũng đang đau đáu trong suy nghĩ của các lãnh đạo đất nước, phải vận dụng đủ cách để có một khoản ngân sách lớn đáp ứng được đảm bảo việc tiêm vacxine cho toàn dân.

Và với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, một câu nói quen thuộc đó là “Đảng và nhân dân cùng làm” trong lúc này lại cho thấy tính đúng đắn. Nhà nước đứng ra đàm phán đồng thời phát huy nguồn nội lực của nhân dân, trong đó đặc biết phát huy sự hỗ trợ đắc lực từ các doanh nghiệp, những mạnh thường quân.

Theo báo cáo mới nhất của Bộ Tài chính cho thấy, Quỹ vắc xin phòng dịch Covid-19 đã có 16.000 tỉ đồng từ ngân sách T.Ư. Nhiều cá nhân, tổ chức cũng đã ủng hộ hàng trăm tỉ đồng. Cụ thể, theo cơ quan này, nguồn kinh phí dự kiến mua và tiêm vắc xin phòng Covid-19 để tiêm phòng cho khoảng 75 triệu người khoảng 25.200 tỉ đồng (mua vắc xin khoảng 21.000 tỉ đồng; vận chuyển, bảo quản, phân phối, tổ chức tiêm khoảng 4.200 tỉ đồng).

Sau khi văn bản này được ban hành thì tất cả mọi hoạt động sẽ được đảm bảo công khai, minh bạch và có sự giám sát của Bộ Tài chính, cơ quan thanh tra, kiểm toán các cấp, đảm bảo hoạt động đúng mục đích, hiệu quả.

Có thể thấy, chỉ trong ít ngày, phong trào ủng hộ mua vacxine Covid 19 đã lan tỏa khắp nơi nơi. “Tích tiểu thành đại”, với sự chung tay giúp sức của mỗi người dân Việt Nam thì tất yếu mọi phong trào cách mạng của đất nước ta đều đi đến thắng lợi, và cuộc chiến đẩy lùi dịch bệnh Covid 19 này cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó.

Tuy nhiên, bên cạnh câu chuyện này, đã có không ít luồng quan điểm xấu được đám rận chủ quốc nội, số đối tượng chống đối chính trị phát tán trên mạng xã hội. Thậm chí đám báo lá cải như RFA, BBC, RFI và đặc biệt là “kênh truyền thông” của tổ chức khủng bố Việt Tân ra rả tuyên truyền các thông tin xấu độc mấy ngày vừa qua.

Mục đích của chúng là muốn phá hoại chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta trong việc hỗ trợ từ nhân dân để mua vacxin bằng cách gieo rắc sự hoài nghi vào Quỹ vắc xin phòng dịch Covid-19. Đây là luận điệu chẳng có gì lạ lẫm của những kẻ “bán trời không văn tự”. Thủ đoạn của các đối tượng rất tinh vi, cũng giống như việc cứu trợ lũ lụt miền Trung vừa qua, hay liên quan gói cứu trợ Covid 19, họ cố tình “tung hỏa mù” bằng cách lấy những dẫn chứng từ hành vi vụ lợi của môt bộ phận nhỏ cán bộ cơ sở, để từ đó “khuấy nước, tạo đục”, cố tình “tát bùn sang ao” để quy chụp nói xấu cả hệ thống.

Người dân Việt Nam thì cũng rất dị ứng về vấn đề này, một bộ phận người nhẹ dạ cả tin đã đành, nhưng cũng chính vì việc các đối tượng tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc như vậy ra rả trên mạng xã hội cũng khiến cho người dân cũng đặt dấu hỏi về đề trên. Đây là một cách để chúng hạ uy tín của cấp ủy, chính quyền các cấp, làm phai nhạt niềm tin của quần chúng nhân dân vào vai trò lãnh đạo của các cấp chính quyền. Cho nên, suy cho cùng, vấn đề covid hay thiên tai hoạn nạn cũng chỉ là cái cớ để họ bám víu nhằm chống phá Đảng, Nha nước ta mà thôi.

Thứ Hai, 9 tháng 8, 2021

Ảo tưởng khi đòi hỏi "Tự do tôn giáo tuyệt đối"

Quyền con người nói chung, quyền “tự do tôn giáo” nói riêng là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Song, lợi dụng quyền tự do tôn giáo để đòi “tự do tuyệt đối về tôn giáo” (tôn giáo đứng ngoài pháp luật) dù mục đích nào cũng đều phi thực tiễn, không thể chấp nhận.

Theo văn bản pháp lý của Liên hợp quốc: mặc dù là một quyền cơ bản của con người, nhưng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là tuyệt đối mà là một quyền tương đối, có giới hạn. Điều này được chỉ rõ tại Khoản 2, Điều 29, Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948: “Khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như nhằm đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”; Khoản 3, Điều 18, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”. Như vậy, quan niệm cho rằng “tự do tuyệt đối về tôn giáo” là sự cố tình phớt lờ nội dung cốt lõi của các văn bản pháp lý quốc tế, nhằm can thiệp, phá hoại hệ thống pháp lý các quốc gia về tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch, phản động.

Sở dĩ có quan niệm cho rằng “tự do tuyệt đối về tôn giáo”, là bởi họ đã cố tình vin vào cái gọi là “thuyết nhân quyền tự nhiên” về quyền tự do tuyệt đối, vĩnh hằng, không bị giới hạn “không một chủ thể nào, kể cả nhà nước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền bẩm sinh, vốn có của con người”. Đây là điều hết sức phi lý. Vì trong xã hội, nếu không có hoạt động quản lý của nhà nước thì các quyền tự do cơ bản của con người không thể thực hiện, tất yếu sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người dân. Bên cạnh một số ít quyền tuyệt đối, như: quyền được sống, còn lại đa số các quyền đều là quyền tương đối, thụ hưởng các quyền đó phải có điều kiện, phải chịu sự chế ước của xã hội. Điều đó càng có sức thuyết phục khi mỗi tín đồ tôn giáo đồng thời là công dân, được thực hiện các quyền của mình, nhưng phải thực hiện nghĩa vụ công dân, tuân thủ pháp luật nhà nước. Như vậy, ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, quyền tự do tôn giáo đều phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, không thể có tự do vô chính phủ, tự do vô nguyên tắc, xem thường pháp luật. Ở Việt Nam, Điều 15, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 chỉ rõ: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”.

Thực tiễn trên thế giới, các quốc gia có nền kinh tế phát triển đều quan niệm về tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải đặt trong mối quan hệ với nhà nước và pháp luật. Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Ðức quy định: tự do tôn giáo, tín ngưỡng được bảo đảm, nhưng hoạt động của một tổ chức tôn giáo có thể bị giới hạn hay bị cấm nếu như mục đích và hoạt động của tổ chức đó vi phạm quy định của Luật hình sự hay chống lại chế độ xã hội đã được quy định trong Hiến pháp. Tại Áo, Ðiều 28, Bộ Luật về hội đoàn chỉ rõ: một tổ chức tôn giáo có thể bị giải tán nếu vi phạm quy định trong Bộ luật Hình sự. Ở Mỹ, tuy Hiến pháp nước này không đưa ra giới hạn đối với tôn giáo, nhưng lại chỉ rõ: các cơ quan chính quyền của bang trực tiếp thi hành việc giám sát các hoạt động của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn hành chính của bang, chỉ sau khi được chính quyền xem xét, đồng ý cho phép thành lập thì các tổ chức tôn giáo mới được phép hoạt động và có tư cách pháp nhân, v.v. Điều này cho thấy: các quốc gia đã đặt ra giới hạn cho tự do tôn giáo, nhằm bảo đảm trật tự, lợi ích chung của xã hội và của người dân. Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong luật pháp quốc tế cũng như pháp luật các quốc gia không phải là một quyền tuyệt đối. Các quan điểm biện hộ cho “quyền tự do tuyệt đối về tôn giáo” không chỉ đi ngược lại hiến pháp, pháp luật các quốc gia mà còn đi ngược lại pháp luật quốc tế về tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Mặt khác, “tự do tôn giáo” và “tự do thể hiện tôn giáo” là hai vấn đề không đồng nhất với nhau, mỗi vấn đề có nội hàm riêng biệt. Điều 18, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định: “tự do tôn giáo” là mọi người có quyền tuyệt đối tự do lựa chọn tôn giáo của mình, nhưng khi thể hiện quyền tự do tôn giáo, tức là thực hiện hành vi tôn giáo trên thực tế phải phù hợp với bối cảnh, điều kiện xã hội cụ thể trên cơ sở tôn trọng nhu cầu riêng tư của người khác, không ảnh hưởng đến trật tự xã hội. Song, với những toan tính chính trị, các thế lực thù địch ra sức nhào nặn, đồng nhất, đánh tráo hai khái niệm này, nhằm khẳng định tự do thể hiện tôn giáo là tuyệt đối. Ở khía cạnh khác, cụm từ “tự do tôn giáo” và “tự do thể hiện tôn giáo” tuy khác về bản chất, nhưng lại có sự trùng lặp tương đối về mặt ngôn ngữ, nên đã trở thành công cụ chính trị để một số quốc gia tự cho mình “quyền” để phán xét thành tựu bảo đảm quyền tự do tôn giáo của quốc gia khác vì mục đích chính trị.

Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam đều khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam: luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Điều này tiếp tục được Đảng ta khẳng định: “Tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt đúng quy định của pháp luật; chủ động giúp đỡ, giải quyết các nhu cầu hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh của quần chúng”1. Điều 24, Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Mặc dù các văn bản pháp lý của Việt Nam hoàn toàn tương thích với Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc, nhưng các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị vẫn cố tình tạo cớ, xuyên tạc, cho rằng hệ thống pháp luật Việt Nam ban hành nhằm hạn chế “tự do tín ngưỡng, tôn giáo” của người dân và đòi “tự do tuyệt đối về tôn giáo”. Đây là sự xuyên tạc hết sức lố bịch nằm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Thực tế ở Việt Nam có không ít hoạt động tôn giáo nhuốm màu mê tín dị đoan, trái với văn hóa truyền thống, không được pháp luật cho phép, như: hoạt động của Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ, Pháp Luân Công, Dương Văn Mình, Nhất quán đạo, v.v. Một số vụ vi phạm pháp luật bị đưa ra xét xử, phạt tù, điển hình là: đối tượng Rah Lan Hip (trú tại Ia Băng, Chư Prông, Gia Lai) bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai tuyên phạt 7 năm tù, vì đã tổ chức nhóm họp “Tin lành Đề ga”, tuyên truyền duy trì hoạt động Fulro để thành lập cái gọi là Nhà nước Đề ga của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên, vi phạm Khoản 1, Điều 116, Bộ luật Hình sự năm 2015 “Phá hoại chính sách đại đoàn kết”. Một số linh mục: Nguyễn Đình Thục, Đặng Hữu Nam, Nguyễn Duy Tân,… bị hạn chế đi lại, do các linh mục này có nhiều hoạt động không phải là hoạt động tôn giáo thuần túy. Họ đã lợi dụng tòa giảng để chống chính quyền, có nhiều phát biểu đăng trên mạng xã hội xuyên tạc lịch sử Việt Nam, vi phạm Điều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo: “quy định các hành vi bị nghiêm cấm các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự an toàn xã hội, gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo”. Gần đây, một số linh mục tại các giáo xứ: Hà Lời (Phong Nha, Bố Trạch, Quảng Bình); Xuân Hòa (Quảng Xuân, Quảng Trạch, Quảng Bình); Dũ Thành (Kỳ Khang, Kỳ Anh, Hà Tĩnh); Hội thánh truyền giáo Phục Hưng (Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh) vi phạm chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, các quy định của Bộ Y tế và địa phương về công tác phòng, chống đại dịch Covid-19. Hành động này của các vị linh mục, xét cho cùng đã “lạm quyền” tự do thể hiện tôn giáo một cách thái quá, vi phạm nguyên tắc thượng tôn pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, những luận điệu xuyên tạc, vu cáo chỉ là chiêu trò lợi dụng vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Nhà nước Việt Nam.

Lịch sử đã minh chứng: dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tôn giáo chung sống gắn bó, hòa hợp, “tốt đời, đẹp đạo”; các tín đồ, chức sắc tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, phát huy truyền thống yêu nước, đồng hành cùng dân tộc, góp phần to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đến ngày 31/12/2020, Việt Nam có: 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động tôn giáo; gần 30.000 cơ sở thờ tự, 53 cơ sở đào tạo; các nhóm người theo tôn giáo chưa được công nhận được chính quyền địa phương bảo đảm sinh hoạt tại gia đình, điểm nhóm đã đăng ký theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có cả điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài. Nhiều tỉnh, thành phố bàn giao đất cho các tổ chức tôn giáo xây dựng cơ sở thờ tự, cơ sở đào tạo: Thành phố Hồ Chí Minh giao 7.500 m2 cho Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam xây dựng Viện Thánh kinh thần học; Thừa Thiên Huế giao 20 ha cho Học viện Phật giáo; Đà Nẵng giao 6.000 m2 cho Hội truyền giáo Cơ đốc; Hà Nội giao 11 ha cho Giáo hội Phật giáo để xây dựng Học viện Phật giáo, v.v. Hằng năm, có hàng trăm đoàn của tổ chức, cá nhân tôn giáo ở trong nước tham gia hoạt động tôn giáo ở nước ngoài; nhiều chức sắc nước ngoài vào Việt Nam hoạt động tôn giáo. Nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế được tổ chức thành công tại Việt Nam: Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Đa Minh thế giới; Tin lành kỷ niệm 100 năm đạo Tin lành truyền vào Việt Nam; Giáo hội Phật giáo tổ chức Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc năm 2019 đã thu hút sự tham dự của trên 3.000 đại biểu tăng ni, phật tử trong và ngoài nước tham dự, được dư luận quốc tế đánh giá cao, v.v. Đặc biệt, Việt Nam trúng cử là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016 với số phiếu cao nhất và đã bảo vệ thành công các Phiên Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ II. Hiện nay, các nước ASEAN đã đồng ý giới thiệu Việt Nam ứng cử vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 – 2025. Sự thực trên là sự khẳng định mạnh mẽ nhất của Việt Nam trong bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời khẳng định: không ở đâu có quyền tự do tôn giáo tuyệt đối như đòi hỏi phi lý của một số người.

Nguồn: Tạp chí QPTD

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...