Thứ Ba, 8 tháng 6, 2021

Không để những “con sâu” phá hoại thành quả chống dịch Covid-19

Trong khi cả nước đang gồng mình chống dịch Covid-19 thì sự việc một trường hợp đi cách ly tập trung thay cho người trở về từ vùng dịch tại Lâm Đồng được phát hiện ngày 7-6 đang gây bức xúc lớn trong dư luận.

Theo thông tin Báo Quân đội nhân dân Điện tử đăng tải, ngày 2-6, khu cách ly tập trung Trung tâm huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ, Công an tỉnh Lâm Đồng tiếp nhận ông Đ.N.D, 51 tuổi, trở về từ vùng có dịch là tỉnh Bắc Ninh vào cách ly tập trung theo quyết định của Chủ tịch UBND huyện Lạc Dương. Sáng 4-6, Ban điều hành khu cách ly tập trung tiến hành lấy thông tin cá nhân, khai báo y tế các trường hợp vào cách ly thì phát hiện ông T.Đ.D, 39 tuổi, trú tại Phường 11, TP Đà Lạt (Lâm Đồng) đang cách ly thay thế cho ông Đ.N.D. 

Có thể nói, đây là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm các quy định phòng, chống dịch Covid-19 nghiêm trọng. Đáng tiếc, đây không phải là lần đầu tiên những sự việc như này diễn ra. Năm 2020, Giám đốc một dự án điện gió cũng có hành vi sai phạm tương tự khi không tuân thủ biện pháp cách ly mà "đánh tráo" người là nhân viên của dự án đi cách ly thay mình. 

Những hiện tượng “đánh tráo” người để trốn cách ly tập trung hay manh động hơn, tự trốn khỏi khu cách ly tuy không nhiều nhưng lại tiềm ẩn nguy cơ phát tán dịch bệnh diện rộng. Đây thực sự là những “con sâu” phá hoại thành quả chống dịch Covid-19 mà cả hệ thống chính trị lẫn nhân dân trong cả nước đang nỗ lực gây dựng. 

Thiết nghĩ, cần tăng mức xử lý vi phạm với những hành động đi ngược lại lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc như này. Thậm chí, cần áp dụng những khung hình phạt nặng như khởi tố hình sự để răn đe, ngăn chặn những “con sâu” vô ý thức, coi thường quy định phòng, chống dịch, làm gương để những ai đang manh nha suy nghĩ, ý định không khai báo trung thực, trốn tránh cách ly hãy nhận thức rõ và chấp hành nghiêm các quy định phòng, chống dịch. Chỉ cần loại bỏ những “con sâu” như này, chắc chắn, với sự đồng lòng của toàn dân, sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, Việt Nam chắc chắn sẽ từng bước khống chế dịch bệnh thành công.

Nguồn: Báo QĐND

Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

Hồ Chí Minh và sức lan tỏa của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc (Bài 1)

Sự kiện mở đầu là cuộc ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân ngày 5/6/1911 của người thanh niên tràn đầy nhiệt huyết Nguyễn Tất Thành.

Rời Tổ quốc từ bến cảng Nhà Rồng, anh đi sang phương Tây, đến tận nước Pháp để tìm hiểu bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân Pháp-kẻ đã xâm lược Việt Nam, đặt ách thống trị, áp bức và bóc lột tàn bạo nhân dân mình, biến Việt Nam thành thuộc địa và tìm ra con đường cách mạng, đánh đổ thực dân, phong kiến, giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho đồng bào mình. Để đạt mục đích đó, Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc, tức Hồ Chí Minh sau này đã trải qua cuộc hành trình suốt 30 năm, qua các đại dương và châu lục, lăn lộn trong thực tiễn đấu tranh, tiếp xúc với mọi người lao động nghèo khổ, dù khác màu da, tiếng nói nhưng cùng chung một cảnh ngộ bị áp bức đọa đầy, cùng chung một kẻ thù là đế quốc thực dân, cùng có một khát vọng giải phóng mình khỏi thân phận nô lệ, giành lại độc lập, tự do và nhân phẩm con người. 

1. Cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam, từ lúc khởi đầu đến khi giành được thắng lợi hoàn toàn là một quá trình lịch sử dài hơn 6 thập kỷ trong thế kỷ 20. 

Trong những sự kiện đánh dấu bước ngoặt lịch sử, làm thay đổi số phận dân tộc, không thể không nói đến các sự kiện của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh: 

Năm 1919: Gửi 8 điều yêu sách đòi độc lập, tự do cho dân tộc mình tới hội nghị Versailles. 

Năm 1920: Gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, đồng sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, tiếp cận Luận cương của Lênin về quyền tự quyết dân tộc, về cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. 

Năm 1925: Viết “Bản án chế độ thực dân Pháp” và huấn luyện cán bộ-những hạt giống đầu tiên của phong trào cách mạng Việt Nam. 

Năm 1930: Sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp soạn thảo Chính cương sách lược vắn tắt, chương trình hành động của Đảng và dự thảo Điều lệ Đảng, thư kêu gọi đồng bào. 

Năm 1941: Trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. 

Năm 1945: Cách mạng Tháng Tám thành công đúng với dự báo của Người. Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời với bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ. 

Năm 1946-1954: Cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp xâm lược và Chiến thắng lịch sử “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”. 

Năm 1965-1969: Chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, dốc lòng dốc sức cho cách mạng miền Nam; ra lời kêu gọi: Đồng bào chiến sĩ cả nước, ngày đêm theo dõi từng bước tiến của cách mạng miền Nam, viết Di chúc để lại cho đồng bào, đồng chí, nhìn thấy triển vọng toàn thắng đang đến gần với một niềm tin mãnh liệt. 

Mục tiêu cao quý và thiêng liêng của cách mạng giải phóng dân tộc là độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, là độc lập thực sự gắn liền với tự do thực sự, là hạnh phúc đủ đầy cả vật chất lẫn tinh thần cho con người, cho nhân dân Việt Nam để họ thực sự là người chủ và làm chủ cuộc sống của mình. 

2. Cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam có những đỉnh cao tiếp nối đỉnh cao: Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước thắng lợi theo đúng lời kêu gọi của Hồ Chí Minh: “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”; Điện Biên Phủ, năm 1954, chôn vùi chủ nghĩa thực dân kiểu cũ; Điện Biên Phủ trên không, 12 ngày đêm ở Hà Nội (12-1972), đánh bại B.52 của đế quốc Mỹ, làm cho “Hà Nội trở thành thủ đô của phẩm giá con người”; cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, hoàn thành xuất sắc mệnh lệnh của lãnh tụ vĩ đại “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, kết thúc cuộc kháng chiến kéo dài nhất trong lịch sử. Cuộc kháng chiến ấy đã đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam.

Cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam với những đỉnh cao đó trong thời đại Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam đứng vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong chống ách áp bức thống trị của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân; đã nêu tấm gương cổ vũ, thúc đẩy các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, các dân tộc bị áp bức chống lại mọi thế lực xâm lược phi nghĩa và phi nhân, giành lấy tự do và nhân phẩm làm người, giành lại quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc-những quyền cơ bản, thiêng liêng của con người, của các dân tộc trên thế giới. 

Đó là những giá trị làm nên sức sống và ý nghĩa của cách mạng Việt Nam, là những cống hiến của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh vào lịch sử và văn hóa nhân loại thời hiện đại. Đó cũng là ngọn nguồn cảm hứng từ Việt Nam-Hồ Chí Minh-Võ Nguyên Giáp-Điện Biên Phủ làm nên sức lan tỏa của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới. 

3. Sức lan tỏa của cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới bắt nguồn từ bản thân cuộc cách mạng ấy trong sự không tách rời với truyền thống lịch sử anh hùng, bất khuất của dân tộc Việt Nam, với lịch sử quang vinh của Đảng và với cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh-người anh hùng dân tộc vĩ đại, ngọn cờ đầu của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, người bạn lớn của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên thế giới trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam mang tầm vóc vĩ nhân, danh nhân văn hóa thế giới. (còn nữa)

Hồ Chí Minh và sức lan tỏa của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc (Bài 2)

 Sức lan tỏa ấy rộng lớn và bền bỉ bởi sức mạnh nêu gương, cổ vũ, thức tỉnh và thúc đẩy của cách mạng Việt Nam đối với phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp bức chống đế quốc, thực dân. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh cho chân lý lớn của thời đại, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, cho xu thế tất yếu của lịch sử như Hồ Chí Minh đã nói: Không ai có thể ngăn cản mặt trời mọc, không một thế lực phản động nào ngăn nổi các dân tộc trên thế giới tiến tới chủ nghĩa xã hội. Cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam chứng minh cho sức mạnh chính nghĩa thắng phi nghĩa. Đó là đạo lý chính trị lớn nhất. Dưới ánh sáng của chân lý và đạo lý ấy, nhân dân Việt Nam đã nuôi dưỡng một niềm tin mãnh liệt vào tương lai, kiên định con đường, lý tưởng, mục tiêu cách mạng, đủ dũng cảm và đức hy sinh, bất chấp mọi thế lực bạo tàn, dù hùng mạnh về vật chất và vũ khí, dù có dã tâm đến đâu trong việc gây chiến tranh xâm lược và đe dọa hủy diệt Việt Nam cũng không thắng nổi một dân tộc quyết không chịu làm nô lệ như dân tộc Việt Nam. 

Các dân tộc bị áp bức đã từ bài học và tấm gương Việt Nam mà Hồ Chí Minh là linh hồn, là tượng trưng cho sự kết tinh, hội tụ mọi giá trị cao quý của dân tộc, của thời đại để có dũng khí và niềm tin, tự giải phóng chính mình, từ nô lệ tới tự do, từ phụ thuộc tới tự chủ và làm chủ. Các phong trào giải phóng dân tộc Á, Phi, Mỹ Latin trong thế kỷ 20 và hiện nay đã có nguồn xung lực mãnh liệt từ Việt Nam, chiến đấu, hy sinh cho độc lập, tự do, cho một trật tự thế giới mới công bằng, dân chủ, bình đẳng, văn minh, không còn áp bức bóc lột và con người tự do, sáng tạo, xây dựng cuộc sống mới, trong hòa bình và hữu nghị, giữa các dân tộc, văn minh thắng bạo tàn... 

Ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao ở những nơi trên trái đất này, nơi đang còn phải đấu tranh diệt trừ cái ác, dựng xây cải thiện, củng cố nền độc lập, bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc và phấn đấu cho hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc. 

Ở những nơi đó, Hồ Chí Minh chẳng những được tôn vinh với lòng kính trọng, ngưỡng mộ và biết ơn mà di sản của Người còn mãi mãi được gìn giữ, được phát huy như những biểu tượng của lòng nhân ái, vị tha và khoan dung trong đời sống thực tại, trong khát vọng hướng tới một tương lai tốt đẹp nhất. 

Văn hóa hòa bình và văn hóa khoan dung là đặc trưng văn hóa nhân loại trong tính phổ quát của nó, cũng là những giá trị nổi bật, điển hình của văn hóa Hồ Chí Minh, mãi mãi còn được nhắc tới trong lương tâm nhân loại, trong ký ức lịch sử. 

Sinh thời, Hồ Chí Minh đã nỗ lực hết mình để kết nối tình hữu nghị thân ái giữa các dân tộc. 

Người đã đi thăm nhiều nơi trên thế giới. Người đã đón tiếp thân tình và vô cùng nồng hậu đối với Tổng thống Xucácnôcủa Indonesia và kết tình nghĩa anh em, Tổng thống Pơraxát của Cộng hòa Ấn Độ, Tổng thống Cộng hòa Mali và phu nhân Môđibô Câyta, Tổng thống Ghinê Xêcuturê và nhiều chính khách nổi tiếng khác. Người còn đón tiếp vợ chồng luật sư Ludơbai mà Người coi là ân nhân của mình, còn tự đáy lòng, nhân dân Việt Nam coi luật sư là ân nhân của Việt Nam bởi luật sư đã có công lao to lớn giúp lãnh tụ Hồ Chí Minh qua cơn hoạn nạn trên đường cách mạng ở một thời điểm đặc biệt. 

Ngay trong những năm cuối đời, dù tuổi cao sức yếu, Người vẫn chu đáo, ân cần tiếp đón nhiều bạn bè quốc tế, đem đến cho họ hiểu biết về Việt Nam và nỗ lực làm cho Việt Nam hiểu thế giới, đưa thế giới đến với Việt Nam. Năm cuối cùng của cuộc đời hữu hạn 79 mùa xuân của mình, Người vẫn có “Thư gửi các bạn người Mỹ” với lời chúc mừng hòa bình và hạnh phúc. Người đặc biệt quan tâm tới các sự kiện lớn trong phong trào cách mạng của nhân dân thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân châu Á, châu Phi. 

Người bày tỏ sự ủng hộ hoàn toàn Cương lĩnh chính trị của Mặt trận Yêu nước Lào, cảm ơn Quốc trưởng Campuchia Xihanúc đã ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ, cứu nước, đồng thời gửi điện tới Hội nghị quốc tế ủng hộ nhân dân các nước thuộc địa của Bồ Đào Nha và các nước châu Phi Nam xích đạo, nhân dân các nước Ăngola, Cônggô, Tây Nam Phi và các nước Á Phi khác. 

Người đã tiếp Tổng Bí thư Đảng Xã hội Chilê Xanvađo Agienđê, tiếp và trả lời phỏng vấn của nữ đồng chí Mácta Rôhát, phóng viên báo Grama Cuba vào tháng 7-1969. Sáclơ Phuốcniô, phóng viên Báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp là vị khách cuối cùng được Người tiếp lần cuối cùng vào ngày 15/7/1969. Chưa đầy hai tháng sau, Người qua đời. Người để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng tất cả bạn bè quốc tế. Từ châu Phi, Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Algeria đã có điện chia buồn với Việt Nam ngay sau khi Người qua đời, trong bức điện đã nhấn mạnh “Tên tuổi của Người là một biểu tượng và hoạt động của Người là một gương sáng”. Đó thực sự là biểu tượng và gương sáng của người mở đầu cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước trong thế giới thứ ba để tự giải phóng khỏi ách kìm kẹp của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc. 

Thông qua Hồ Chí Minh, cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam mãi mãi có sức lan tỏa rộng lớn, có hiệu ứng sâu xa trong thế giới nhân loại. (Hết) 

GS, TS HOÀNG CHÍ BẢO

Nguồn: Báo QĐND

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc gửi thư tới Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin

Ngày 2-6, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã có thư gửi Tổng thống Liên bang (LB) Nga Vladimir Putin nhằm trao đổi về quan hệ song phương, trong đó có việc tăng cường hợp tác phòng, chống đại dịch Covid-19.

Trong thư, Chủ tịch nước khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị truyền thống và đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-LB Nga, mong muốn đưa hợp tác giữa hai nước ngày càng đi vào chiều sâu và hiệu quả, đồng thời bày tỏ vui mừng quan hệ song phương tiếp tục phát triển tích cực trên các lĩnh vực bất chấp tác động của đại dịch Covid-19. 

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc chúc mừng LB Nga đẩy lùi dịch bệnh, nghiên cứu và sản xuất thành công nhiều loại vaccine phòng, chống Covid-19; đánh giá cao hợp tác giữa Việt Nam và LB Nga trong ứng phó đại dịch Covid-19 với nhiều hành động thiết thực, sẻ chia khó khăn; cảm ơn Tổng thống Vladimir Putin và LB Nga đã tặng Việt Nam 1.000 liều vaccine và nhiều vật tư y tế chống dịch. Chủ tịch nước cũng bày tỏ mong muốn phía Nga hỗ trợ, tạo điều kiện ưu tiên để Việt Nam sớm tiếp cận nguồn vaccine của Nga, cũng như hợp tác sản xuất vaccine tại Việt Nam. 

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc gửi lời chúc mừng đến Tổng thống Vladimir Putin và nhân dân LB Nga nhân dịp Ngày nước Nga (12-6). 

Nguồn: BQĐND

Thứ Hai, 31 tháng 5, 2021

Đấu tranh bác bỏ “Phi chính trị hóa quân đội”

Chống phá cách mạng Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Một trong những âm mưu hết sức thâm độc của chúng là thực hiện “phi chính trị hóa quân đội”.

Liên tục trong những năm qua, các thế lực thù địch, phản động đã thường xuyên cố tình rêu rao quan điểm: “Quân đội phải đứng ngoài chính trị”, Quân đội cần phải “trung lập”, “đứng giữa”, không lệ thuộc hoặc đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào… Chúng cho rằng, cách mạng giải phóng dân tộc thành công là Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử; Đảng chỉ nên lãnh đạo Quân đội trong chiến tranh, khi hòa bình Đảng cần giao quyền lãnh đạo quân đội cho Nhà nước...

Rõ ràng, trên đây là những luận điệu sai trái, phản động. Nhìn vào lịch sử nhân loại tiến bộ, chúng ta vẫn chưa thể quên được “cơn địa chấn chính trị” đã diễn ra tại Liên Xô vào thập niên cuối thế kỷ XX. Những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô chấp nhận đa nguyên, đa đảng đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng Quân đội về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin và sau đó là chấp nhận xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Quân đội, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Đây được xác định là một trong những nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô; một tổn thất nặng nề của phong trào cách mạng thế giới.

Những luận điệu sai trái, phản động đó chúng ta cần kiên quyết đấu tranh, bác bỏ. Bởi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, nhất là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng một lần nữa đã khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội.

Để thực hiện điều này, trước hết chúng ta cần luôn luôn giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội; thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức Đảng các cấp trong Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

 Đồng thời, phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội. Mỗi cán bộ, đảng viên cần thấm nhuần nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội gắn với cương vị, chức trách được giao; thực sự nêu gương trước bộ đội. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ của các tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị; tạo cơ sở để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa Quân đội” của các thế lực phản động, thù địch.

Mục đích của các thế lực chống cộng là gì, khi xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh?

Hồ Chí Minh là người cộng sản Việt Nam đầu tiên và chính Người đã lựa chọn, nguyện trung thành và triển khai trong thực tiễn con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam từ những năm 20 thế kỷ XX. Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin đã, đang và sẽ là ngọn cờ dẫn dắt sự nghiệp của Đảng và cách mạng Việt Nam. Do vậy, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam dù trong lịch sử hay hiện thực và tương lai luôn là hai thực thể gắn chặt với nhau. Kẻ thù hay đồng minh cách mạng của Hồ Chí Minh cũng chính là kẻ thù hay đồng minh cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chủ nghĩa chống cộng ở Việt Nam khi Đảng Cộng sản Việt Nam chưa ra đời là sự chống lại du nhập, hiểu biết về chủ nghĩa bônsêvích, về Cách mạng Tháng Mười Nga. Sau khi Hồ Chí Minh hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng, chủ nghĩa chống cộng ở Việt Nam đã trực tiếp, mạnh mẽ hướng sang tấn công vào Đảng và Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh và Đảng lãnh đạo cách mạng càng giành được thắng lợi thì chủ nghĩa chống cộng càng tìm mọi cách tấn công vào Hồ Chí Minh và Đảng.

Vậy, các luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh của các lực lượng chống cộng hướng tới mục tiêu gì?

Thứ nhất, phủ định vai trò, thành quả cách mạng của dân tộc Việt Nam, phủ định hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua đó làm cho nhân dân Việt Nam bị lầm tưởng và mơ hồ về chính trị, cũng như con đường phát triển của dân tộc.

Thứ hai, phá hoại nền tảng tư tưởng, thế giới quan của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời cũng là từng bước hình thành các khuynh hướng, trào lưu quan điểm đối lập, thù địch với Đảng, Nhà nước ta.

Thứ ba, lợi dụng sự chuyển hóa nhận thức tư tưởng của các tầng lớp nhân dân trong xã hội tiến tới hình thành các lực lượng đối lập ở Việt Nam.

Thứ tư, gây mất ổn định chính trị, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Thứ năm, gây dựng cơ sở tư tưởng và cơ sở giai cấp, tiến tới các mục tiêu chính trị sâu xa trong tương lai là xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam, hướng Việt Nam đi theo con đường của CNTB.

Tóm lại, cách mạng Việt Nam càng đi lên, giá trị Hồ Chí Minh càng được khẳng định thì các luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh cũng luôn có sự thay đổi theo hướng ngày càng tinh vi hơn, xảo quyệt hơn. Song, bản chất những âm mưu và mục đích của chúng là không thay đổi. Do đó, cần nhận rõ âm mưu, mục đích xuyên tạc Hồ Chí Minh của các lực lượng chống cộng để hoạt động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, xuyên tạc về Hồ Chí Minh có hiệu quả thiết thực.

Phê phán những nhận thức lệch lạc về tư tưởng Hồ Chí Minh (Bài 1)

Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ ra 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bài viết này nhận diện những nhận thức lệch lạc, hoài nghi, thiếu tin tưởng vào tư tưởng Hồ Chí Minh.

Như một thấu kính hội tụ khổng lồ, Chủ nghĩa Mác kết tinh những ánh sáng giá trị tư tưởng tinh hoa trước đó của thế giới, là kinh tế-chính trị cổ điển Anh, triết học cổ điển Đức, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp; là những điểm tiến bộ trong học thuyết về giá trị lao động của Adam Smith, David Ricardo, phương pháp biện chứng của Hegel, chủ nghĩa duy vật nhân bản của L.Feuerbach, những tư tưởng về chủ nghĩa xã hội không tưởng của Henri de Saint Simon, Robert Owen, Etienne Cabet, Charles Fourier... Để rồi Chủ nghĩa Mác trở thành mặt trời tư tưởng vĩ đại của nhân loại soi đường cho các dân tộc đi lên hạnh phúc. Hiện nay, nhiều tác phẩm kinh điển của Marx vẫn được giới nghiên cứu phương Tây quan tâm, có hàng triệu độc giả chào đón, nghiên cứu, tìm hiểu. Ở thời điểm nhân loại bước vào Cách mạng 4.0 hội nhập toàn cầu mạnh mẽ và sâu rộng, người ta càng thấy bộ "Tư bản" phát ra những ánh sáng khoa học mới mẻ đi trước thời đại, gợi dẫn những quy luật, không chỉ về kinh tế mà còn về chính trị, văn hóa, xã hội... Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự sụp đổ của Nhà nước Liên Xô (trước đây) chính là sự xa rời Chủ nghĩa Mác! 

Từ góc nhìn “liên văn hóa” hiện đại, thế giới hôm nay nhìn thấy ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp 3 luồng văn hóa: Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Cuộc Hội thảo khoa học quốc tế về Hồ Chí Minh gần đây nhất (5-10-2019) có tên Global Ho Chi Minh (Hồ Chí Minh toàn cầu) được tổ chức tại thành phố New York (Mỹ). Các chủ đề được chính những học giả Mỹ và Đại học Columbia đề xuất khi cùng đứng ra tổ chức hội thảo đều nhấn mạnh hình ảnh Hồ Chí Minh không chỉ là vị anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người còn mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người đang được cả nhân loại đón nhận. Tác phẩm mới nhất của GS, TS Nguyễn Đài Trang (Việt kiều Canada) viết về Bác Hồ: "Hồ Chí Minh: Chủng tộc da đen và các tác phẩm chọn lọc về phân biệt chủng tộc" (tháng 2-2021) in bằng tiếng Anh và tiếng Việt được giới nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn Canada đánh giá rất cao. Bà đã bỏ ra một phần tư thế kỷ sưu tầm, khảo cứu, nghiên cứu để viết tác phẩm này. Trước đó, bà là tác giả sách: "Hồ Chí Minh: Các tác phẩm chọn lọc về hòa bình, dân chủ và bình đẳng giới" (2018, phiên bản tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Việt); "Hồ Chí Minh: Nhân văn và phát triển" (2013); "Hồ Chí Minh: Tâm và tài của một người yêu nước" (2010)... Từ góc nhìn khoa học khách quan nhất, tác giả đã làm toát lên chủ đề với cái tài kiệt xuất và cái tâm yêu nước, yêu con người trong sáng nhất, Hồ Chí Minh không chỉ là vĩ nhân của Việt Nam mà còn là vĩ nhân của thế giới. Tầm vóc của Người mang tầm nhân loại, đồng hành với nhân loại...

Thế mà hiện nay, một số ít cán bộ, đảng viên ta lại có biểu hiện dao động, hoài nghi, thiếu tin tưởng vào tư tưởng của Người. Có thể kể ra những biểu hiện ấy là: 

1. Thiếu khát vọng về lý tưởng tốt đẹp. Bất cứ ai cũng đều có một lý tưởng cho riêng mình. Đó là mục tiêu, cũng là động cơ phấn đấu học tập, lao động để đạt mục đích đề ra. Với cán bộ, đảng viên thì lý tưởng riêng nằm trong lý tưởng chung của Đảng là phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Mong muốn tột bậc của Bác Hồ là “độc lập cho Tổ quốc”, “tự do cho đồng bào”, “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” đã thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước. Lý tưởng biểu hiện ra hành động. Nhiều cán bộ, đảng viên vì thiếu lý tưởng mà làm việc cầm chừng theo kiểu “trung bình chủ nghĩa”, làm cho xong chuyện, “sáng vác ô đi, tối vác về”, không dám đổi mới, làm thì sợ sai, sợ mắc khuyết điểm. Trong cơ quan, họ như những cái bóng, nói như dân gian là nếu “bỏ thì thương, vương thì tội”! 

2. Lười học lý luận, giáo điều, bảo thủ, xơ cứng. Lý luận là ánh sáng soi đường, không học hoặc học qua loa đại khái, học chống đối thì làm gì có ánh sáng để mà đi. Nghị quyết Đảng là chủ trương đường lối mà nhiều cán bộ, đảng viên không học nghị quyết, thậm chí không biết nội dung nghị quyết thì lãnh đạo được ai (?). Vì thiếu lý luận nên dẫn tới giáo điều, dựa nhiều kinh nghiệm nên bảo thủ. Trong khi đó, thực tiễn ở ngày hôm nay thay đổi đến chóng mặt, không có cái nhìn của lý luận không thể nắm bắt được bản chất và dự đoán được tình huống. 

3. Tuyệt đối hóa lý luận, xem Chủ nghĩa Mác, tư tưởng Hồ Chí Minh là “kinh thánh”, cái gì, ở đâu cũng Mác nói thế này, Bác Hồ nói thế kia nhưng chẳng ăn nhập gì với thực tiễn, chẳng giúp ích cho thực tiễn. Trong khi đó, thước đo lý luận là ở thực tiễn. Triết học Hồ Chí Minh là triết học thực tiễn, triết học hành động. Vì không hiểu, không nắm bắt được thực tiễn nên cán bộ để phong trào đi xuống, dân tình kêu ca, thế thì cán bộ ấy hiểu gì về Chủ nghĩa Mác, về tư tưởng Bác Hồ? 

Lại có khuynh hướng tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh mà bỏ qua Chủ nghĩa Mác-Lênin, cho rằng chỉ tư tưởng Bác Hồ mới phù hợp, thích hợp với cách mạng Việt Nam. Khuynh hướng này hoặc là lười học lý luận, kém hiểu biết, hoặc là a dua theo tư tưởng phản động đang muốn tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác. Trong khi đó, Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin một cách sáng tạo, phát triển một cách sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam để tạo ra tư tưởng Hồ Chí Minh, mà cho đến hôm nay thực tế đã chứng minh một cách sinh động nhất đó là sự đúng đắn của thời đại, của lịch sử. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam, là ngọn cờ, là điểm tựa cho cách mạng Việt Nam tiếp tục vững bước đi lên gặt hái những thành tựu mới. Không chỉ tiếp thu, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin mà Bác Hồ còn tiếp thu những tinh hoa tư tưởng khác của dân tộc và nhân loại. Người từng nói: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giê-su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giê-su, Mác, Tôn Dật Tiên đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội... Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”(1). Thế nên tư tưởng Hồ Chí Minh đậm đà bản sắc riêng: Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã có những đóng góp lớn lao đối với sự phát triển, làm phong phú thêm kho tàng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Vì những lẽ này, đối với cách mạng Việt Nam, Chủ nghĩa Mác và tư tưởng Hồ Chí Minh là một khối thống nhất, hữu cơ, không thể tách rời. (Còn nữa)

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...