Thứ Tư, 19 tháng 8, 2020

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

 


 Phủ nhận thành quả Cách mạng Tháng Tám năm 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm xuyên tạc lịch sử, hướng lái con thuyền cách mạng nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, là thủ đoạn không mới, nhưng vô cùng thâm độc của các thế lực thù địch. Do đó, luận giải và kiên quyết đấu tranh làm thất bại mưu đồ phản động ấy là vấn đề cấp thiết và thời sự hiện nay.

Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi cách đây 75 năm là dấu mốc lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam thời hiện đại. Vậy mà, những phần tử cơ hội, xét lại trong và ngoài nước, đặc biệt cái gọi là đảng Việt Tân lại cố tình phủ nhận thành quả vĩ đại ấy của dân tộc ta. Chúng cho rằng “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sai lầm lịch sử”, “là đi ngược lại sự bảo hộ của mẫu quốc”, “là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”... Đây là những luận điệu xuyên tạc trắng trợn của những kẻ thiếu lương tri... quên đi “vết nhơ” của lịch sử dân tộc ta đã phải chịu cảnh nô lệ, lầm than hơn 80 năm.

Năm 1858, thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp nước ta, áp bức đồng bào ta, khiến dân tộc ta mất quyền độc lập, nhân dân ta phải chịu cảnh nước mất, nhà tan, “một cổ hai tròng”. Thực dân Pháp không cho dân ta bất cứ quyền tự do dân chủ nào; bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy, thẳng tay chém giết những người yêu nước, dìm những cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta trong bể máu... Từ năm 1940, trước sự xâm lăng của phát xít Nhật vào Đông Dương và Việt Nam, đã bao lần Việt Minh kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Vậy mà, chẳng những thực dân Pháp không đáp ứng, lại thẳng tay đàn áp Việt Minh và quỳ gối đầu hàng, bán nước ta cho phát xít Nhật, làm cho nhân dân ta phải chịu hai tầng xiềng xích...

Luận điệu cho rằng Cách mạng Tháng Tám là “nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam” thì quả là sự vu khống và xuyên tạc lịch sử. Bởi lẽ, sau khi Nhật hàng đồng minh, Vua Bảo Đại thoái vị, nhân dân ta giành được chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa được bao lâu, thì ngày 23-9-1945, thực dân Pháp quay trở lại cướp nước ta một lần nữa. Trước tình thế đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều chính sách để gìn giữ hòa bình, tránh “cuộc chiến tranh đổ máu vô nghĩa”. Nhưng “chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”. Với tinh thần “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(1), quân và dân ta đã trường kỳ kháng chiến và giành thắng lợi to lớn trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”. Với bản chất hiếu chiến, phản động, thực dân Pháp đã cấu kết và “bật đèn xanh” cho đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược Việt Nam và Đông Dương, buộc nhân dân ta phải tiếp tục chiến đấu bảo vệ nền độc lập dân tộc và con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) do Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta xác định từ năm 1930. Và con đường cách mạng chân chính ấy đã đưa nước ta đến thắng lợi vẻ vang vào ngày 30-4-1975, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên CNXH. Như vậy, chính sự hiếu chiến xâm lược của bọn thực dân, đế quốc là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta, chứ không phải Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là “nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam” như bọn phản động xuyên tạc.

Về vai trò lãnh đạo và nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, chúng cho rằng “đó là sự ăn may, vì Nhật thua trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chứ Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng có tài cán gì”; rằng “do khoảng trống quyền lực, nên Việt Nam dễ giành được kết quả nhanh chóng”... Thực chất, luận điệu ấy là chúng muốn phủ nhận vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với vận mệnh dân tộc Việt Nam, phủ nhận khối đại đoàn kết và tinh thần dân tộc, khát khao giành độc lập dân tộc của nhân dân ta sau hơn 80 năm dưới sự cai trị tàn bạo của chế độ thực dân Pháp. Cách mạng Tháng Tám nổ ra và giành thắng lợi do Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng suốt lựa chọn con đường giải phóng dân tộc một cách khoa học, đúng đắn, khắc phục triệt để hạn chế, sai lầm của những con đường cứu nước mà các nhà yêu nước trước đó đã tiến hành và khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(2). Các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945 thực sự là những “cuộc tổng diễn tập”, là tiền đề cho Cách mạng Tháng Tám thành công. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước đúng thời cơ, vào thời điểm thuận lợi nhất nên đã giành thắng lợi!

Về thành quả của Cách mạng Tháng Tám, chúng cho rằng “không có gì thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam, chẳng qua chỉ là thay từ chế độ “vua trị” sang chế độ “đảng trị”... Đây là sự xuyên tạc trắng trợn và phi lịch sử. Ngay về thuật học, chúng đã đánh tráo khái niệm. Ở nước ta, chế độ “vua trị”, hay nói cách khác là chế độ “quân chủ” bao giờ cũng đối lập hoàn toàn với chế độ “dân chủ”. Trong khi đó, cuộc Cách mạng Tháng Tám không những lật đổ sự thống trị của thực dân, phát xít, mà còn lật đổ hoàn toàn chế độ phong kiến “vua trị”.

Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ tôn chỉ, mục đích rõ ràng “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(3). Mục tiêu của Cách mạng Tháng Tám “là giành lại hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ cho Tổ quốc ta, cho nhân dân ta”(4). Nghĩa là, đánh đổ đế quốc Pháp, Nhật và bọn phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc hoàn toàn, độc lập dân tộc thực sự để đi đến xây dựng một xã hội hoàn toàn ấm no, tự do, hạnh phúc-chế độ cộng sản chủ nghĩa. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đưa nhân dân ta từ kiếp nô lệ, bị bóc lột lên địa vị làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội. Đồng thời, đưa cách mạng Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới độc lập dân tộc và CNXH. Thành quả ấy đã giải quyết được vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam-vấn đề chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đây là điều kiện tiên quyết để nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN)...

Giá trị lịch sử và thời đại vô cùng to lớn của Cách mạng Tháng Tám đó là giá trị hòa bình chân chính. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ là thắng lợi của nhân dân Việt Nam mà còn là ngọn cờ đầu của các dân tộc, thuộc địa bị áp bức đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới.

Để kiên quyết đấu tranh, làm thất bại những thủ đoạn thâm độc ấy của các thế lực thù địch, hơn bao giờ hết, chúng ta phải tiếp tục khẳng định giá trị lịch sử và thời đại to lớn của Cách mạng Tháng Tám; phải nâng cao bản lĩnh chính trị vững vàng, tư tưởng luôn kiên định với con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Hiện nay, trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, khu vực, mỗi quốc gia-dân tộc đều có những chiến lược, sách lược nhất định nhằm bảo đảm tối cao lợi ích quốc gia-dân tộc. Đảng ta chủ trương phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân làm động lực chủ yếu để phát triển đất nước; độc lập dân tộc và CNXH là mục tiêu tối thượng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN; phấn đấu “sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân...; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”(5) là những mục tiêu, giải pháp căn bản, góp bảo vệ thành quả vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của dân tộc ta.

Đại tá, PGS, TS NGUYỄN SỸ HỌA, Học viện Lục quân

------

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.534.

(2) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 12, tr.30.

(3) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 3, tr.1.

(4) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 9, tr.35.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.76.

PHẢI CHĂNG ĐẢNG TA TRONG CÔNG TÁC NHÂN SỰ ĐẠI HỘI XIII LÀ “LỢI ÍCH NHÓM” ?

 


Khánh Anh

Phải đến tháng 01 năm 2021, Đảng ta mới tiến hành Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tuy nhiên, hiện nay, trên các trang mạng nước ngoài và một số tài khoản blog, Youtube, Zalo, facebook cá nhân... đã chủ ý đăng tải nhiều thông tin xuyên tạc, thất thiệt và cố tình suy diễn về công tác chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành (BCH) Trung ương nhiệm kỳ 2021-2026.

Các luận điệu hồ đồ quy chụp rằng, công tác chuẩn bị nhân sự Trung ương bị chi phối quyết định bởi “nhóm lợi ích” từ một bộ phận quan chức Trung ương, ép buộc vận hành theo một kịch bản đã được lên sẵn.

1. Còn hơn nửa năm nữa mới diễn ra Đại hội XIII của Đảng, thế mà, không biết từ nguồn tin nào, bằng cách gì, những kẻ hiềm khích, giả danh yêu nước đã sớm tung tin về kết quả của Đại hội như thể họ là người trong cuộc, được có mặt tại nghị trường ở thì tương lai?

Thời gian gần đây, không khó để tiếp cận các bài viết trên mạng xã hội nước ngoài tung tin đồn, suy đoán về “nhân sự tứ trụ” sẽ được Đại hội XIII của Đảng tín nhiệm tiến cử, lựa chọn. Có nghĩa, nhân sự cho các chức danh: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội đã được định sẵn một cách thiếu dân chủ, khách quan, vì lợi ích nhóm trong công tác cán bộ. Tác giả của các bài viết nêu trên “lo rằng”, sự “quy hoạch mặc định” ấy sẽ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, nhất là gây mất đoàn kết trong Đảng, do các phe cánh bày mưu tính kế, hạ bệ lẫn nhau... Cùng với đó, các bài viết còn chủ ý bôi nhọ danh dự, đời tư và hạ thấp công trạng, đóng góp của các đồng chí lãnh đạo đương chức của Đảng, Nhà nước đối với sự nghiệp cách mạng; cố tình đưa ra các luận cứ cho thấy sự phân chia phe cánh, hình thành các đường dây đối lập trong nội bộ Đảng ở thời điểm trước và trong đại hội đảng.

Cần nhận diện đúng đắn rằng: Những thông tin nêu trên là hòng gây nhiễu loạn tình hình nhân sự trong Đảng, cố ý bôi nhọ tình cảm đồng chí, đồng đội trong tập thể lãnh đạo của Đảng; mưu đồ hạ thấp uy tín của cán bộ lãnh đạo, vừa gây nghi kỵ, mâu thuẫn nội bộ, dẫn đến thiếu thống nhất, đoàn kết. Đây thực chất là một thủ đoạn hết sức nham hiểm, thâm độc. Bởi chính sự đoàn kết trong Đảng, đồng thuận trong xã hội là sức mạnh nội sinh để toàn đảng, toàn dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; cũng là bức tường thành vững chắc đập tan mọi âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ. Do vậy, không lấy gì làm khó hiểu khi các thế lực thù địch luôn lăm le chống phá cho kỳ được thành trì đoàn kết của Đảng ta!

Và sự bịa đặt trắng trợn ấy, ngay lập tức bị bóc mẽ, nhận diện, khi mà HNTƯ 12, khóa XII diễn ra thành công tốt đẹp, một lần nữa công khai rộng rãi chủ trương về công tác nhân sự Đại hội XIII của Đảng. Theo đó, việc giới thiệu quy hoạch cán bộ chiến lược được Trung ương Đảng, Bộ Chính trị khóa XII nhất quán xuyên suốt phương châm "làm từng bước, làm đến đâu chắc đến đó" với lộ trình cụ thể: Quy hoạch BCH Trung ương trước; sau đó làm quy hoạch tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cuối cùng là quy hoạch các chức danh chủ chốt: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, chứ không tiến hành cùng lúc như những nhiệm kỳ trước đây.

Như vậy, xét theo tiến trình, đến HNTƯ 12, khóa XII, Trung ương chỉ mới xem xét, quyết nghị những vấn đề có tính định hướng lớn trong công tác nhân sự BCH Trung ương; thậm chí chưa bàn, quyết nghị đến nhân sự cụ thể giới thiệu dự bầu BCH Trung ương khóa mới, nên chưa thể đưa ra phương án nhân sự cụ thể cho các chức danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước như những kẻ hiềm khích đã và đang lớn tiếng rêu rao, suy diễn, bịa đặt.

Xin nhắc lại một cách làm mới mẻ và khoa học như vậy của BCH Trung ương khóa XII để nhận diện rõ hơn về âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của những kẻ hiểm ác; nhận biết quy luật hoạt động chống phá có tính chất chu kỳ của các thế lực thù địch với những chiêu trò đổi trắng, thay đen, không từ bất kể thủ đoạn nào. Và tất nhiên, dã tâm của những kẻ thiếu kiến thức, sự hiểu biết thực tiễn sẽ khiến những luận điệu mà chúng phơi ra dư luận trở thành những chiếc gậy tự đập vào lưng chính mình, đúng như bài học “gậy ông đập lưng ông” mà người xưa đã chỉ dạy, cảnh báo cho những kẻ cố tình đi ngược lại đạo lý, quy luật hiển nhiên.

2. Ngoài trò hề quen thuộc nêu trên, những kẻ hiềm khích còn suy diễn, cho rằng: Công tác quy hoạch và lựa chọn, giới thiệu cán bộ Trung ương khóa XIII lần này là do Trung ương lên sẵn kịch bản theo lối “chỉ mặt, điểm tên”, bắt buộc các cấp thực thi bằng các giải pháp dân chủ hình thức để “mị dân” và chỉ nhằm phục vụ lợi ích nhóm của một bộ phận quan chức cầm quyền.

Thực tế công tác cán bộ trong Đảng nói chung, công tác giới thiệu, lựa chọn quy hoạch cán bộ chiến lược nhiệm kỳ Đại hội XIII nói riêng lại hiện hữu một bức tranh khác biệt và đối lập. Tất nhiên, những chủ trương lớn về công tác cán bộ do Trung ương ban hành, hoạch định và trực tiếp lãnh đạo, nhưng việc lựa chọn “hiền tài” được vận hành đồng bộ ở mọi cấp trên cơ sở phát hiện, giới thiệu của cấp ủy, tổ chức đảng từ cấp nhỏ nhất đến cấp đảng bộ trực thuộc Trung ương. Mới đây nhất, trong bài viết định hướng công tác chuẩn bị, tổ chức đại hội đảng các cấp và phát biểu khai mạc, bế mạc HNTƯ 12, khóa XII, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng đều thẳng thắn chỉ rõ yêu cầu phải lựa chọn bằng được cán bộ đủ tiêu chuẩn cho Trung ương và phần việc đó thuộc trách nhiệm của toàn Đảng, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Đặc biệt, với tinh thần làm việc nghiêm túc, HNTƯ 12, khóa XII tiếp tục khẳng định tinh thần xuyên suốt của cả nhiệm kỳ Đại hội XII về hai nội dung, giải pháp hết sức quan trọng đối với công tác lựa chọn, phát hiện, giới thiệu nhân sự cho BCH Trung ương Đảng khóa XIII, đó là: Trao quyền lựa chọn, giới thiệu nhân sự Trung ương cho cơ sở và đảng bộ trực thuộc; đồng thời đề cao trách nhiệm, quy trách nhiệm đối với người tiến cử, đề cử cán bộ quy hoạch chiến lược.

Thực tiễn công tác cán bộ cũng minh chứng sống động cho tính đúng đắn của những giải pháp lớn ấy. Theo đó, dưới sự điều hành của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trực tiếp là Ban Chỉ đạo xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược nhiệm kỳ 2021-2026, tập trung cao điểm vào tháng 11-2018, 100% đảng bộ các tỉnh, thành phố và cơ quan, đơn vị, địa phương trực thuộc Trung ương đã tổ chức tốt hội nghị cán bộ chủ chốt để phát hiện, giới thiệu nhân sự quy hoạch BCH Trung ương khóa XIII.

Với tinh thần ủy quyền và đặt niềm tin đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương của BCH Trung ương đã thật sự mở ra cơ chế và điều kiện thuận lợi nhất để tất cả cấp ủy, tổ chức đảng vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao, thực hiện nghiêm túc quy trình phát hiện, giới thiệu nhân sự quy hoạch ở địa phương, cơ quan, đơn vị theo 4 bước; quy trình rà soát, thẩm tra, phê duyệt quy hoạch ở Trung ương thực hiện theo 5 bước.

Cũng tại các cơ quan, đơn vị, địa phương, hội nghị ban thường vụ, hội nghị cán bộ chủ chốt tỉnh, thành phố đều tiến hành bỏ phiếu giới thiệu nhân sự tham gia Trung ương khóa XIII. Kết quả lấy phiếu được tiến hành đúng quy trình, bảo đảm nguyên tắc với quan điểm đặc biệt coi trọng tiêu chuẩn giới thiệu vào quy hoạch, coi trọng chất lượng, không vì cơ cấu, số lượng mà hạ thấp yêu cầu.

Đặc biệt, khi Trung ương trao quyền và gắn trách nhiệm đối với người tiến cử, đề cử giới thiệu cán bộ đã giúp đội ngũ cán bộ chủ chốt ở nhiều cơ quan, đơn vị đề cao trách nhiệm, thực sự nêu gương, kiên quyết chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, chạy quy hoạch; không để có sự can thiệp không đúng nguyên tắc, sai thẩm quyền, thiếu trách nhiệm, trái quy định vào công tác cán bộ, nhất là quy trình giới thiệu quy hoạch cán bộ chiến lược nhiệm kỳ 2021-2026.

Với quy trình chặt chẽ, kết quả giới thiệu nhân sự BCH Trung ương Đảng khóa XIII đến nay đã đáp ứng yêu cầu và tiến độ đặt ra. Những cán bộ được cơ sở “chọn mặt, gửi vàng”, góp tên vào danh sách đề nghị quy hoạch gửi về Trung ương, trở thành căn cứ quan trọng để BCH Trung ương xem xét, quyết nghị tại những hội nghị tiếp theo của BCH Trung ương khóa XII.

Như vậy, cách làm nêu trên cho thấy: BCH Trung ương là cơ quan tối cao thẩm định, xem xét, quyết nghị cuối cùng về nhân sự Trung ương khóa mới trên cơ sở lựa chọn, giới thiệu nhân sự cụ thể ở từng đảng bộ trực thuộc Trung ương. Hơn thế, việc chiêu mộ hiền tài cho Đảng, Nhà nước được Trung ương kêu gọi, khuyến khích toàn đảng, toàn dân phát hiện, giới thiệu để kịp thời bổ sung và sàng lọc, chứ không cứng nhắc về phương án, áp đặt về số lượng, chất lượng hay rơi vào nạn cửa quyền, mệnh lệnh theo lối áp đặt.

Điều đó càng khẳng định, công tác nhân sự của Đảng là công khai, minh bạch, dân chủ. Những thông tin bịa đặt xoay quanh vấn đề nhân sự đại hội đảng thực chất là những thủ đoạn trá hình của các thế lực thù địch và đối tượng xấu sử dụng internet, mạng xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước, hòng chia rẽ nội bộ trong Đảng và chĩa mũi nhọn công kích vào sự kiện chính trị quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, chống phá quyết liệt đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Thế nhưng, tất cả những chiêu trò đó chỉ như chút bóng tối lập lờ, sẽ nhanh chóng bị ánh sáng sự thật đẩy lùi, xua tan! Vì vậy, những chiêu trò đó không thể quy kết cho Đảng ta là “lợi ích nhóm”, “điểm mặt chỉ tên”...

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG HIỆN NAY

 


Khánh Anh

Chiến lược “diễn biến hòa bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc nhận diện rõ và đấu tranh phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong đó, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực tư tưởng là vấn đề cấp thiết để củng cố niềm tin, lý tưởng cho toàn Đảng, toàn dân vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước.

Phòng, chống "tự chuyển hóa" trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng ở nước ta là một nhiệm vụ quan trọng của tất cả các tổ chức Đảng, tổ chức chính trị, xã hội và của toàn dân. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi toàn Đảng đang tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng thì các thế lực lại càng ra sức xuyên tạc, chống phá trên nhiều phương diện, từ các văn kiện trình đại hội Đảng đến nhân sự. Trong đó, chúng tập trung xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hòng làm lung lạc ý chí, niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Chính vì vậy, việc phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng là rất quan trọng và cấp thiết

Thực tế, trên lĩnh vực tư tưởng, các thế lực thù địch luôn tập trung xuyên tạc, vu cáo, mưu toan xóa bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm thực hiện ý đồ làm chuyển hóa thể chế chính trị ở nước ta. Trên thực tế đã có một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân phai nhạt niềm tin, lý tưởng cách mạng ở các mức độ khác nhau, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, dao động, thiếu niềm tin, sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo những nhận thức sai, quan điểm lệch lạc. Còn một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu nhiệt huyết, không hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách, nghĩa vụ; thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào lý tưởng, mục tiêu, con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Họ còn thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chủ nghĩa cá nhân trong họ trỗi dậy, chi phối, khiến cho họ hành động thực dụng vì lợi ích cá nhân, gia đình, lợi ích nhóm. Vì vậy, cần phải tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Bởi vì công tác tư tưởng, lý luận có vai trò, vị trí quan trọng trong việc xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Do đó, phải tập trung khẳng định, bảo vệ và tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thường xuyên, liên tục và mang tính phổ thông, đại chúng. Đồng thời phải tích cực đấu tranh, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi cuộc đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình", phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Để đạt được mục tiêu đó, cần tập trung thực hiện tốt mấy giải pháp chủ yếu sau:

Một là, thường xuyên giáo dục chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và những hạn chế không thể tránh khỏi trên con đường phát triển.

Hai là, đề cao tinh thần tự phê bình và phê bình trong các tổ chức đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”. Nêu cao đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, khắc phục chủ nghĩa cá nhân, tích cực vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực ngay trong cơ quan, đơn vị mình, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Ba là, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền kịp thời, có tính định hướng đúng đắn nhằm cung cấp thông tin chính thống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về những vấn đề kinh tế, chính trị, đối ngoại… quan trọng của đất nước; chú trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng đối với mọi cán bộ, đảng viên, nhất là với những cán bộ lãnh đạo, quản lý. Để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái trong đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên cần đến những chủ trương, giải pháp hành động mạnh mẽ, đồng bộ. Cần kết hợp chặt chẽ giữa tăng cường giáo dục đạo đức trong Đảng và trong xã hội với tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Phải bắt đầu “tu thân”, phải học làm người rồi mới làm cán bộ như Bác Hồ đã dạy. Tăng cường kỷ luật, pháp luật, sự công khai, minh bạch, dân chủ trong quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí và quản lý cán bộ, bảo đảm lựa chọn đúng người có đức, có tài vào bộ máy và cơ quan lãnh đạo các cấp; tạo môi trường xã hội, thể chế kinh tế lành mạnh, văn minh, khoa học để cán bộ, công chức không có điều kiện sa vào những tiêu cực, vi phạm đạo đức.

Bốn là, giữ gìn, củng cố đoàn kết, thống nhất vững chắc trong Đảng, chống những biểu hiện cục bộ, địa phương, phe cánh, “lợi ích nhóm”. Phải giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng đồng thời tích cực đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong của các thế lực thù địch, nhất là trên mặt trận tư tưởng, lý luận; tiếp tục giáo dục nâng cao nhận thức, xác định rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm của các lực lượng tham gia đấu tranh; tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; quan tâm đầu tư những điều kiện đảm bảo cho cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng ngày càng hợp lý, có hiệu quả. 

Năm là, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng cho ta mạnh lên về mọi mặt là chính, nhất là giữ vững ổn định chính trị và định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; tăng cường quốc phòng, an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại. Chăm lo xây dựng nhân tố con người, nâng cao khả năng “tự bảo vệ” trước những âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; nâng cao “sức đề kháng” của mọi cán bộ, đảng viên trước tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, hội nhập. Đây là biện pháp tốt nhất, tích cực chủ động nhất để phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Công tác phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Với sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị thì công tác này nhất định thành công.

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

CHIÊU TRÒ MỚI CỦA TRUNG QUỐC NHẰM ĐỊNH NGHĨA LẠI VÙNG BIỂN LIÊN QUAN ĐẾN HOÀNG SA

 


Một phiên bản sửa đổi quy định hàng hải của Trung Quốc định nghĩa lại vùng biển giữa đảo Hải Nam của Trung Quốc và quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1-8.

Đây là một chiêu trò mới của Trung Quốc, bất chấp những quy định của luật pháp quốc tế, nhằm mục đích siết chặt thêm quyền kiểm soát trên Biển Đông.

Bình mới rượu cũ

Theo tin từ tờ South China Morning Post, những thuật ngữ mới mà Trung Quốc dùng trong phiên bản sửa đổi quy định hàng hải có từ năm 1974 là "gần bờ" thay vì "xa bờ" (tiếng Anh là "coastal" thay vì "offshore"). 

Bản sửa đổi mang tên chính thức là “Các quy tắc kỹ thuật để kiểm tra tàu biển trong các tuyến nội địa”. Từ "nội địa" được dùng ở đây cũng gây nhiều chú ý bởi khu vực hàng hải này được Trung Quốc tự đặt ra từ năm 1974  với gọi là “Khu vực hàng hải Hải Nam - Tây Sa” (tên Trung Quốc gọi quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam). 

Phạm vi giới hạn vùng biển của khu vực này từ 2 điểm trên đảo Hải Nam đến 3 điểm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Theo giới quan sát, ý đồ của Trung Quốc là dùng luật của nước mình để áp đặt lên các vùng biển ở Biển Đông, bất chấp luật pháp quốc tế. 

Động thái này phản ánh ý đồ "biến vùng không thể tranh chấp (như quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) thành vùng có tranh chấp" rồi “đưa càng nhiều vùng tranh chấp càng tốt vào trong quyền kiểm soát” của Trung Quốc. 

Thực chất là Trung Quốc muốn tạo cơ sở pháp lý để tăng cường quản lý vùng nước thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và vùng nước nằm giữa quần đảo Hoàng Sa và đảo Hải Nam theo "quy chế quản lý vùng ven biển". Từ đó, Bắc Kinh sẽ củng cố yêu sách Tứ Sa bằng cách nội luật hóa.

Động thái của Trung Quốc không đơn thuần là nhằm đẩy mạnh giao thông liên lạc và du lịch giữa Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, mà còn mang ý nghĩa rộng hơn là kể từ nay, tàu biển Trung Quốc có thể thoải mái đi đến Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam vì vùng biển đó chỉ là vùng “ven bờ”. 

Đây chính là thủ đoạn để gia tăng quyền khống chế Biển Đông", hãng RFI bình luận. Trong khi đó, Zhang Jie, một chuyên gia về Biển Đông thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc cũng thừa nhận, động thái này được thiết kế để tăng cường quản lý Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam bằng luật pháp trong nước của Trung Quốc. 

Đồng quan điểm này, TS Swee Lean Collin Koh, chuyên gia quốc phòng thuộc Trường Nghiên cứu quốc tế S.Rajaratnam (Singapore), nhận định, hành động này không gây bất ngờ, đặc biệt sau khi Bắc Kinh thông báo lập quận hành chính đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Nhưng nó cho thấy sự bất chấp tất cả của Bắc Kinh để phục vụ cho mưu đồ độc chiếm Biển Đông.

Những suy tính đầy tham vọng

Một số nhà phân tích còn thẳng thắn chỉ rõ rằng, đây là bước phát triển mới của quyết định trái pháp luật và đầy tranh cãi của Trung Quốc hồi tháng 4 về việc thành lập hai quận đảo riêng rẽ quản lý Hoàng Sa và Trường Sa  thuộc chủ quyền của Việt Nam. 

Trong bài phân tích hồi tháng 5, cơ quan Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) tại Washington từng cảnh báo, quyết định này của Trung Quốc sẽ cho phép Bắc Kinh cải thiện việc quản lý hành chính và thúc đẩy các chính sách mới của nước này về Biển Đông. 

Vì thế, để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc bất chấp luật pháp quốc tế, cộng đồng quốc tế cần cực lực lên án, chỉ trích và bày tỏ lập trường cứng rắn hơn nữa với Bắc Kinh.

Theo tin từ tờ The Drive, Trung Quốc đang không ngần ngại thực hiện bất cứ biện pháp gì liên quan đến vấn đề Biển Đông. Vì thế, chỉ một ngày sau khi thực thi phiên bản sửa đổi quy định hàng hải, Bắc Kinh đã cho phép các máy báy chiến đấu Su-30MKK Flanker lượn đi lượn lại trên bầu trời Biển Đông. 

Chưa hết, một cuộc tập trận mô phỏng quá trình cất, hạ cánh vào ban đêm, những cuộc tấn công tầm xa và tấn công các mục tiêu trên biển... cũng nhanh chóng được thực hiện như lý giải của phát ngôn viên của Bộ Quốc phòng Trung Quốc là để tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu. 

Báo chí Trung Quốc góp phần tuyên truyền rộng rãi bằng cách liên tục cho đăng tải những hình ảnh với lời giới thiệu về sức mạnh của Không quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc - một cách trả đũa khôn khéo sau loạt cuộc tập trận hải quân ở Biển Đông của Mỹ và các đồng minh, bao gồm cả Australia. 

Thêm vào đó, hành động trên thực địa của Trung Quốc, như một nhà bình luận nhận xét, là cách để Bắc Kinh "dằn mặt" các quốc gia khác, đặc biệt là Canberra vì cuộc đấu khẩu trên Twitter giữa hai Đại sứ Australia và Đại sứ Trung Quốc tại Ấn Độ về các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông cũng như tuyên bố của Australia về việc không công nhận bất kỳ một yêu sách lãnh thổ, lãnh hải nào của Trung Quốc trên Biển Đông. 

Gần đây, Australia đã tiếp nối hoạt động của các quốc gia khác khi đệ trình một Công hàm ngoại giao lên Liên hợp quốc (LHQ), nói rằng các tuyên bố này là "không có cơ sở pháp lý".

Và nguy cơ trận chiến pháp lý mới

Đánh giá về những diễn biến hiện nay trên Biển Đông, TS Gerhar Will thuộc Viện Khoa học và Chính trị Đức (SWP) cho rằng, sau Tuyên bố chung của ASEAN về vấn đề Biển Đông hồi tháng 7, "Trung Quốc đang cư xử theo kiểu nước lớn và sử dụng quyền lực chính trị một cách liều lĩnh nhằm đạt được vị trí thống trị tại khu vực và trên toàn thế giới". 

Thực tế là có vài quốc gia đã lo sợ khi bị Trung Quốc dọa nạt và chủ trương hòa hiếu và im lặng trước cách hành xử phi pháp của Trung Quốc. "Nhưng họ càng nhún thì Trung Quốc càng lấn lướt và hành động quá mức này đã phản tác dụng, khiến Trung Quốc bị cô lập và giảm sút uy tín. 

Các lý lẽ mà nước này đưa ra trong vấn đề Biển Đông, nhất là yêu sách "đường lưỡi bò" và "Tứ sa" ngày càng bị phản bác nhiều hơn và lộ rõ nhưng sơ hở về việc thiếu tính pháp lý", bài báo trên hãng CNN có đoạn viết.

Thêm vào đó, như nhận định của TS Gerhard Will, việc hàng loạt quốc gia từ Malaysia đến Philippines, Việt Nam, Indonesia, Mỹ, Australia... đệ trình Công hàm ngoại giao lên LHQ về vấn đề Biển Đông cho thấy, quan hệ ngoại giao kiểu mà Trung Quốc mong muốn không còn phù hợp với tình hình hiện tại. 

Đặc biệt, sự cứng rắn của Mỹ, nhất là sau tuyên bố của Ngoại trưởng Mike Pompeo và cả Phó Ngoại trưởng chuyên trách Đông Á về việc Washington có thể ứng phó bằng các biện pháp cấm vận đối với những quan chức và doanh nghiệp Trung Quốc dính líu đến hành động cưỡng ép ở Biển Đông, Bắc Kinh cần phải tính kỹ hơn về những cách thức "tháo các quả bom tức giận" này. 

Được biết, hồi giữa tháng 7, Ngoại trưởng Mike Pompeo khẳng định, các yêu sách của Trung Quốc đối với các nguồn tài nguyên ngoài khơi tại hầu hết Biển Đông cũng như chiến dịch bắt nạt của nước này để kiểm soát các nguồn tài nguyên đó là hoàn toàn phi pháp. 

Ông Mike Pompeo còn cảnh báo những lợi ích chung ở Biển Đông đang “gặp phải sự sự đe dọa chưa từng thấy” từ Trung Quốc và thế giới sẽ không cho phép Bắc Kinh ứng xử Biển Đông như đế chế hàng hải của riêng mình. 

"Chúng tôi ủng hộ cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ tự do trên biển và tôn trọng chủ quyền, và bác bỏ bất cứ đòi hỏi nào nhằm áp đặt “chân lý thuộc về kẻ mạnh” ở Biển Đông hoặc ở khu vực rộng lớn hơn”, Ngoại trưởng Mike Pompeo nhấn mạnh.

http://cand.com.vn/Chong-dien-bien-hoa-binh/Phan-loai-lai-khu-vuc-hang-hai-chieu-tro-moi-cua-Trung-Quoc-de-tang-cuong-kiem-soat-Bien-Dong-606191/

TÁI DIỄN THỦ ĐOẠN PHAO TIN COVID-19 ĐỂ CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC

 


Trong khi các loại thuốc đặc trị COVID-19 chưa ra đời, các loại vaccin phòng ngừa vẫn đang được các quốc gia nỗ lực nghiên cứu, trong đó có Việt Nam thì làn sóng COVID-19 thứ hai đang diễn ra nhanh chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới với sự bùng phát mạnh, lan tỏa nhanh.

Một số quốc gia như Hàn Quốc, Trung Quốc, Pháp, Ấn Độ... các ca nhiễm mới bùng lên trong cộng đồng, số ca tử vong tăng lên và gây nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội. Tại Việt Nam, số ca nhiễm gia tăng kể từ cuối tháng 7 và môt số ca đã tử vong. Đó cũng là lúc Việt Nam bước vào cuộc chiến chống COVID-19 mới. 

Tuy nhiên, các đối tượng phản động, chống đối lợi dụng “nước đục thả câu”, tìm cách vu khống tình hình dịch bệnh tại Việt Nam, lấy cớ miệt thị chính quyền, đả phá chế độ. Các đối tượng sử dụng chiêu bài xuyên tạc thông tin về tình hình dịch bệnh, hướng lái dư luận theo mưu đồ mà chúng đã sắp đặt. Hoạt động của số này vẫn thông qua hình thức đăng tải các tin, bài viết, bình luận, chia sẻ, tán phát các video, tài liệu... trên Internet.

Lợi dụng “khoảng trống thông tin”

Với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, các kênh truyền thông, báo chí tiếp tục khẳng định vai trò tuyên truyền, cung cấp thông tin cùng nhân dân cả nước ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh. Tuy nhiên, với sự phức tạp của tình hình tại các “ổ dịch” lớn, cùng với nhiều yếu tố mang tính chủ quan, khách quan dẫn đến các nguồn thông tin còn có độ trễ nhất định. Đó là lúc các đối tượng phản động, chống đối chớp thời cơ, tuyên truyền thông tin sai sự thật, công kích công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong phòng chống dịch bệnh.

Lợi dụng “khoảng trống thông tin” khi các kênh truyền thông chính thức nhà nước chưa đưa tin, các đối tượng chống đối đã triệt để tận dụng bằng những thông tin sai sự thật, lồng ghép những ý đồ, bịa đặt về tình hình dịch bệnh diễn ra tại Việt Nam nhằm gây nên sự hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Với sự bịa đặt, gán ghép thông tin, chúng đã đưa ra các kịch bản làm cho cộng đồng mạng mất phương hướng, thậm chí có những người còn a dua, phụ họa thêm cho các hành vi sai trái đó.

Thủ đoạn gán ghép, quy chụp

Vẫn với phương thức “bình cũ, rượu mới”, số đối tượng phản động, chống đối đưa tin về tình hình dịch bệnh theo lối nửa tin, nửa ngờ để phục vụ âm mưu, ý đồ chống phá Nhà nước. Một số website, fanpage facebook, blogspot của tổ chức khủng bố “Việt Tân”; một số nhóm chống đối “Nhật ký yêu nước”; “Thanh niên Công giáo”; “Dân luận”... đăng tải thông tin bịa đặt về dịch bệnh ở Việt Nam. Trang “Việt Tân” đăng tải thông tin cho rằng người Trung Quốc liên tục vượt biên trái phép sang Việt Nam, đã lái vấn đề theo hướng: “Dư luận đặt nghi vấn, sự việc người Trung Quốc xâm nhập vào Việt Nam bất hợp pháp là việc rất nghiêm trọng và đã bắt đầu xảy ra từ đầu năm, có nghĩa là trong thời điểm đại dịch Vũ Hán đang bùng phát tại Trung Quốc mà cho đến giờ này mới báo cáo... 

Cho đến giờ này, chưa thấy nhà nước CSVN có những biện pháp cụ thể nào rõ ràng để ngăn chặn người Trung Quốc trốn sang Việt Nam”. Đó là cách tổ chức khủng bố “Việt Tân” hướng lái nhằm vu cáo Nhà nước Việt Nam trong việc kiểm soát người nhập cảnh, kiểm soát tình hình dịch COVID-19. Thực tế, thời gian qua, tất cả các lực lượng chức năng đã nỗ lực để kiểm soát các đường mòn, lối mở, kiểm soát các hoạt động xuất, nhập cảnh, kịp thời có các biện pháp ngăn chặn, xử lý các hành vi xuất, nhập cảnh trái phép, tiến hành phân luồng, cách ly người nhập cảnh 14 ngày theo quy định. Việc một số đối tượng, nhóm người nhập cảnh trái phép, cơ quan chức năng đã rà soát, xử lý và áp dụng các biện pháp phòng chống dịch chứ không phải phớt lờ, bỏ mặc như thông tin các đối tượng  tung ra.

Trang fanpage “Thanh niên Công giáo” (giả mạo đại diện Người Công giáo) đăng tải thông tin sai sự thật, công kích, hạ bệ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong công tác phòng, chống dịch. Các đối tượng phản động, chống đối sử dụng các trang web có máy chủ đặt ở nước ngoài; khai thác các tính năng bình luận, chia sẻ, livestream; thăm dò ý kiến dư luận qua mạng xã hội; tạo các bài viết mang tính giật gân, gây sốc để thu hút sự chú ý, quan tâm của dư luận. Bằng nhiều cách, các đối tượng lợi dụng tình hình dịch bệnh xảy ra tại Việt Nam để vu cáo với các luận điệu: Việt Nam thiếu minh bạch trong tình hình dịch bệnh; che giấu số lượng ca nhiễm bệnh, tử vong; lan truyền các tài liệu sai sự thật về dịch bệnh COVID-19...

Sau khi xảy ra một số ca tử vong có liên quan COVID-19, nhiều đối tượng đã so sánh với ca bệnh 91 (bệnh nhân người Anh, đã được chữa khỏi), từ đó đặt câu hỏi về “mức độ quan tâm” chữa trị giữa người trong nước và nước ngoài. Mục đích hòng đánh lận sự thật, cho rằng ca bệnh khó như 91 còn chữa được, tại sao lại để một số ca bệnh trong nước tử vong. Đây là kiểu so sánh rất khập khiễng, đánh vào tâm lý người đọc, nếu thiếu tỉnh táo sẽ bị dẫn dắt theo ý đồ chống phá của kẻ xấu.

Một mặt, xung quanh vấn đề này, nhiều đối tượng cơ hội chính trị, các đối tượng giả mác dân chủ, những thành phần định kiến, chống đối chế độ đã bộc lộ rõ sự ích kỷ, thù hằn cá nhân với xã hội đã khiến họ “hả hê” khi số liệu thống kê về ca tử vong liên quan COVID-19 tại Việt Nam tăng lên. Điều đó đã chứng tỏ họ chờ đợi để được đếm từng con số người tử vong, lấy làm vui khi các ca mắc bệnh tăng nhanh chóng, từ đó xuyên tạc, chế giễu, mỉa mai chế độ. Nổi lên trong số đó là đối tượng H.V.H (H là đối tượng chống đối cực đoan và đã từng bị TAND TP. Hồ Chí Minh tuyên phạt 4 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”), đã sử dụng tài khoản facebook cá nhân để tán phát những nội dung xuyên tạc, gây sự hoài nghi về những nỗ lực của đội ngũ y, bác sỹ trong việc cứu chữa các bệnh nhân mắc COVID-19. H.V.H đánh lận vấn đề: “ca phi công người Anh còn đòi ghép phổi vì phổi đông đặc, nhưng đùng 1 cái bệnh nhân này ra viện và về Anh không kèn, không trống. Rồi bệnh nhân già Thụy Sỹ cũng ung thư sao điều trị hết và về nước an toàn?”. Nhằm đánh lạc hướng dư luận, thu hút sự chú ý, H đã miệt thị rằng: “Với tình hình này của thông tin về SARS CoV-2 thì tôi cũng phải chào thua về mọi thông tin từ Bộ Y tế Việt Nam”.

Thực tế, việc so sánh như vậy là kiểu quy chụp, đánh lận rất lố bịch. Ngay cả những người không giỏi về y học cũng hiểu rằng, phi công người Anh mới chỉ mới 43 tuổi, bệnh lý nền là béo phì. Là phi công nên trước đó được rèn luyện sức chịu đựng dẻo dai, thể trạng tốt hơn rất nhiều, do đó khả năng hồi phục cao hơn. Trong khi đó, các bệnh nhân tử vong vừa qua đều cao tuổi, bệnh lý nền là đái tháo đường, suy thận giai đoạn cuối, tăng huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ, suy tim giai đoạn cuối, nhồi máu cơ tim diễn tiến nặng…

Liên quan đến các ca tử vong, PGS.TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh (Bộ Y tế) cho biết, nhiều bệnh nhân COVID-19 diễn biến rất nặng, có nhiều bệnh mạn tính, tuổi cao đặc biệt là có thời gian nằm điều trị ở các khoa Hồi sức cấp cứu, lọc máu lâu ngày. “Các bệnh nhân này đã suy các cơ quan quan nội tạng trong quá trình điều trị trước đây. Hệ thống miễn dịch, sức đề kháng suy yếu. 

Có những bệnh nhân suy thận mạn chạy thận chu kỳ trên 10 năm; nhiều bệnh nhân suy tim, bệnh nhân ung thư; nhiều bệnh nhân cao tuổi, có bệnh nhân đã 100 tuổi... Nay bệnh nhân bị mắc thêm COVID-19 làm cho cơ hội tiến triển của các bệnh mạn tính tăng lên, trở thành những bệnh nhân nhiễm COVID-19 nặng và rất nặng” - PGS Khuê phân tích. Theo đó, có thể thấy rằng các bệnh nhân mắc COVID-19 tử vong là do các biến chứng trên nền bệnh lý rất nặng, hiểm nghèo.  

Xét dưới góc độ chuyên môn về y học, những đối tượng như H.V.H không phải là không hiểu vấn đề. Tuy nhiên, họ đã cố tình lập lờ đánh lận, điều này đã chứng tỏ bản chất chống phá chế độ, cố tình suy diễn, đánh lạc hướng dư luận. 

Với những ai nếu cảm thấy Việt Nam chống dịch COVID-19 chưa đủ tốt thì hãy xung phong tới tuyến đầu như Đà Nẵng để được chứng kiến những nhọc nhằn, vất vả của đội ngũ y, bác sỹ, đã không quản hiểm nguy, tận tụy cứu chữa các bệnh nhân; những cố gắng phòng dịch của các chiến sĩ Công an, Quân đội... Hãy thể hiện bằng hành động của mình vào công cuộc chống dịch. Đừng vì những đồng tiền nhơ bẩn mà bán rẻ lương tâm, trở thành các “anh hùng bàn phím”, lợi dụng tình hình dịch bệnh bồi bút xuyên tạc, quy chụp, tư duy cực đoan, miệt thị chế độ. 

Mỗi người hãy thể hiện trách nhiệm của mình bằng việc có ý thức khi tiếp nhận thông tin, sử dụng mạng xã hội để không lan truyền các thông tin sai trái làm ảnh hưởng đến công tác phòng chống dịch COVID-19. Việc tham gia vào môi trường mạng xã hội không nên biến mình thành “con rối” để các đối tượng thù địch phản động điều khiển, hướng lái.

http://cand.com.vn/Chong-dien-bien-hoa-binh/Tai-dien-thu-doan-phao-tin-COVID-19-de-chong-pha-Nha-nuoc-606611/

NHỐT QUYỀN LỰC TRONG “LỒNG CƠ CHẾ”

 


LTS - Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, công cuộc đổi mới đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, nhưng cũng gặp phải những lực cản không nhỏ. Trong đó, việc lợi dụng quyền lực của một số tổ chức, cá nhân đã làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, cản trở không nhỏ đến sự phát triển của đất nước. Vì thế, kiểm soát quyền lực ở nước ta hiện nay không chỉ là vấn đề cơ bản, chiến lược, mà còn mang tính cấp thiết, nhằm triệt tiêu những hệ lụy xấu do sự tha hóa quyền lực mang lại. Tạp chí Quốc phòng toàn dân trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết: Nhốt quyền lực trong “lồng cơ chế”, của Đại tá, ThS. Ngô Đình Phiếm và Đại tá, ThS. Nguyễn Minh Sơn.

I. Quyền lực và sự tha hóa quyền lực

Nguồn gốc của quyền lực

Quyền lực xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người, là: “Cái sức có thể dùng để bắt người ta theo mình”1. Trong xã hội, quyền lực là quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy. Thực chất quyền lực là năng lực, khả năng của một tổ chức hay cá nhân, tác động đến những cá nhân, tổ chức khác phải thực hiện ý chí của mình thông qua các phương tiện, phương thức nào đó. Có nhiều loại quyền lực: chính trị, lập pháp, hành chính, tư pháp, kinh tế, thông tin,… trong đó, quyền lực chính trị là quan trọng nhất, bao trùm, chi phối đến mọi hoạt động của đời sống xã hội.

Quyền lực không phải ngẫu nhiên mà có, muốn có là được, mà do tranh đấu mới có được. Trong quá trình vận động, phát triển, từ khi có giai cấp, xã hội loài người được phân chia thành giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, quyền lực được tập trung ở một nhóm người hay thậm chí một người. Hoạt động của quyền lực được biểu hiện thông qua việc định hướng, quản lý, điều hành xã hội, bảo vệ lợi ích của tầng lớp chủ nô, giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản. Nhà nước của giai cấp thống trị (nhà nước nô lệ, nhà nước phong kiến, hay nhà nước tư sản) dẫu dưới bất cứ hình thức nào, về bản chất là thực thi quyền lực do giai cấp thống trị ủy quyền và tập trung vào “thiểu số của thiểu số”, chứ không đại diện cho đa số. Dưới chế độ tư hữu, quyền lực của nhân dân bị tước đoạt, tình trạng lạm quyền, lộng quyền xảy ra thường xuyên.

Khi giai cấp công nhân ra đời, lập ra chính đảng Mác xít chân chính, đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, lãnh đạo nhân dân đánh đổ quyền lực của giai cấp tư sản thống trị. Khi cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công ở một loạt quốc gia, thì quyền lực xã hội được trao về cho nhân dân. Nhân dân trao cho chính đảng của giai cấp công nhân (với tên gọi khác nhau, như: đảng cộng sản, đảng công nhân, đảng lao động,…) quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội; thành lập nên nhà nước xã hội chủ nghĩa và ủy quyền cho Nhà nước thay mặt nhân dân để quản lý, điều hành xã hội; mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, quyền lực ở các nước đi lên chủ nghĩa xã hội có 03 thành tố: Đảng, Nhà nước, Nhân dân; trong đó, Đảng giữ vai trò lãnh đạo, Nhà nước giữ vai trò quản lý, Nhân dân giữ vai trò làm chủ. Đây là vấn đề nguyên tắc. Việc tổ chức như thế nào để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh mỗi nước.

Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích tranh đấu để đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, cho dân tộc Việt Nam và khát vọng độc lập, tự do, hòa bình, phát triển của nhân loại. Với cương lĩnh, đường lối chính trị đúng đắn, phương pháp cách mạng khoa học, hình thức đấu tranh phù hợp, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin tưởng, ủy thác quyền lãnh đạo nhân dân đánh đổ ách thống trị của bọn phong kiến và thực dân, đế quốc, giành độc lập cho dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Từ khi trở thành đảng cầm quyền (năm 1945), để thực thi quyền lực, đảm bảo quyền lực thuộc về Nhân dân, Đảng ta đã thiết kế, tổ chức thực hiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Đây là sự sáng tạo của Đảng, phù hợp với bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, vừa khẳng định vai trò, vừa chỉ ra tính biện chứng khách quan của các thành tố nêu trên. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa hay là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì đều là nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”2. Để quyền lực của Nhân dân được biểu hiện trong thực tiễn cuộc sống, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã tổ chức xây dựng, ban hành Hiến pháp, pháp luật; tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện Kiểm sát và các bộ, ngành chức năng ở Trung ương, địa phương một cách khoa học, phù hợp với tiến trình phát triển của đất nước và thông lệ quốc tế. Hiến pháp Việt Nam năm 1946 khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể Nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 nhấn mạnh: (1). Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; (2). Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, v.v. Trên thực tế, quyền lực của Nhân dân ta được thể hiện trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,… để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mỗi người dân Việt Nam trực tiếp thể hiện quyền lực thông qua việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân về: ứng cử, bầu cử; sống, tự do, dân chủ, học hành, đi lại, tổ chức giám sát quyền lực đã được trao cho chính quyền, v.v. Các quyền, như: quản lý, điều hành, phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc,… thì Nhân dân trao cho các cơ quan, tổ chức do Nhân dân lập nên, bầu lên, thậm chí trao quyền cho một nhóm, cá nhân đại diện để thực hiện. Các cơ quan, tổ chức, nhóm người, cá nhân được Nhân dân trao quyền lực phải thực hiện đúng, có hiệu quả những chức trách, nhiệm vụ được giao theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân, đất nước. Khi nắm giữ quyền lực trong tay, nếu thiếu tu dưỡng, rèn luyện sẽ dễ dẫn đến tha hóa quyền lực thì hậu quả sẽ khôn lường.

Nguy hại của sự tha hóa quyền lực

Có quyền lực đã khó, kiểm soát được quyền lực càng khó hơn. Quyền lực không được giám sát là quyền lực sẽ bị tha hóa. Đó là tất yếu và không có ngoại lệ, thời nào cũng vậy. Thực tế cho thấy, nếu quyền lực bị biến thành “của riêng”, là tha hóa quyền lực. Tha hóa quyền lực, là việc thực hiện không đúng, không đầy đủ, không hết hoặc vượt quá quyền lực được trao trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn. Nó thường biểu hiện ở việc: lạm quyền (làm những việc vượt quá quyền hạn của mình); lộng quyền (làm việc ngang ngược vượt quá quyền hạn của mình, lấn cả quyền hạn của người cấp trên); lợi dụng quyền lực (là dựa vào điều kiện thuận lợi nào đó để mưu lợi riêng không chính đáng); không thực hiện hay thực hiện không hết quyền lực được trao. Thực tiễn cho thấy, xã hội ngày càng văn minh thì sự tha hóa quyền lực càng tinh vi, làm biến tướng bản chất, mục đích của quyền lực, trở thành công cụ để phục vụ cá nhân hay “nhóm lợi ích” nào đó. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự tha hóa quyền lực, nhưng trực tiếp là từ chủ nghĩa cá nhân, lợi ích của cá nhân, gia đình và “nhóm lợi ích”. Và những người nắm quyền bị tha hóa, bị trượt dài trước hết là do bản thân họ thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bị cám dỗ, chèo kéo, mua chuộc, thậm chí bị ép buộc,… luôn đặt lợi ích của mình lên trên hết, làm cái gì cũng tính xem mình có lợi ích gì trong đó không?

Quá trình tha hóa quyền lực có thể biến một người tốt thành kẻ xấu, từ người khiêm tốn thành kẻ ngông cuồng, từ người thanh liêm thành kẻ tham lam, xa xỉ, v.v. Nhìn vào các vụ án và số cán bộ các cấp bị kỷ luật thời gian qua, có thể thấy rõ không ít trong số đó là những người có quá trình phấn đấu với nhiều thành tích được ghi nhận, có người được phong danh hiệu anh hùng, nhận nhiều khen thưởng, trải nghiệm qua nhiều chức vụ, có người đi lên từ gian khổ, hy sinh, v.v. Vậy mà khi được trao quyền, họ đã để cho bàn tay nhúng chàm, sai lầm và tội lỗi, thậm chí mặc nhiên thực hiện các hành vi sai phạm, tội phạm để phục vụ cho lợi ích của bản thân, bè nhóm mà không chút kiêng dè. Bởi, cả quyền lực và lợi ích đều có sức mê hoặc, nó làm cho người ta mờ mắt, bất chấp những điều cấm kỵ, chà đạp lên luật pháp, coi thường dư luận xã hội. Khi đó quyền lực được trao bị biến thành phương tiện để họ thực hiện hành vi vi phạm, tội phạm. Xin nêu một ví dụ điển hình nhất: vụ án “nhận hối lộ” xảy ra tại Bộ Thông tin và Truyền thông đã được tòa án xét xử công khai tháng 12/2019. Theo dõi diễn biến phiên xét xử, nhiều người bị ám ảnh bởi ba chữ: “Cậu ký đi”. Trên cương vị là Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông tại thời điểm thực hiện Dự án mua AVG, ông Nguyễn Bắc Son bị các cơ quan điều tra, truy tố xác định có vai trò “chủ mưu”. Khai tại tòa, các bị cáo Trương Minh Tuấn, Lê Nam Trà, Phạm Đình Trọng đều khẳng định ông Son trực tiếp chỉ đạo, buộc họ phải ký vào các văn bản nhằm thực hiện bằng được thương vụ này. “Cậu ký đi”! Đó là mệnh lệnh của thủ trưởng, nó có tính áp chế quyền lực. Về lý thuyết, các thuộc cấp có thể từ chối ký vào văn bản nếu nhận thấy sự sai trái và không phù hợp pháp luật. Nhưng trong thực tế, thử hỏi mấy ai dám trái ý người đứng đầu, hơn nữa khi người đứng đầu ấy là bộ trưởng? Đây là vụ án cho thấy, hậu quả khôn lường của sự tha hóa quyền lực, bởi nó “dắt cả dây” vào vòng tội lỗi, đồng thời với sự “đục khoét” tài sản của Nhà nước và nhân dân.

Như vậy có thể thấy sự tha hóa quyền lực dẫn đến hậu quả không chỉ gây hại cho chính người giữ quyền mà còn gây hại cho người thân, đồng chí, đồng đội, cho xã hội. Và hệ quả là vô cùng nguy hiểm nếu người đó giữ trọng trách cao trong Đảng, Nhà nước - nó là một trong các nguy cơ đối với sự an nguy của chế độ.

ĐÌNH PHIẾM - MINH SƠN
_______________

1 - Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, H. 2005, tr. 1626.

2 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 698.

(Số sau: II. Quan điểm của Đảng ta về kiểm soát quyền lực và những hiệu ứng tích cực)

http://tapchiqptd.vn/vi/phong-chong-dbhb-tu-dien-bien-tu-chuyen-hoa/nhot-quyen-luc-trong-long-co-che/15733.html

QUYỀN CON NGƯỜI TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG Ở VIỆT NAM PHÙ HỢP VỚI CHUẨN MỰC QUỐC TẾ


Hiện nay, có một số người lợi dụng không gian mạng, thường xuyên phát tán thông tin sai trái, nhằm chống phá Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Khi bị các cơ quan chức năng nhắc nhở, bắt giữ, xử lý theo quy định của pháp luật, lập tức họ lu loa rằng, Luật An ninh mạng của Việt Nam hà khắc, bóp chết tự do, dân chủ. Nhưng họ đã nhầm! Quyền con người trên không gian mạng ở Việt Nam hoàn toàn phù hợp với chuẩn mực quốc tế về nhân quyền.

1. Không gian mạng

Hiện nay, có nhiều quan niệm, cách tiếp cận khác nhau về không gian mạng hay còn gọi là không gian ảo. Đây là môi trường nhân tạo, con người không trực tiếp gặp nhau, nhưng lại có thể trao đổi thông tin, liên lạc với nhau qua một hệ thống mạng, được kết nối toàn cầu - mạng toàn cầu, trên cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước, các vùng, khu vực và toàn cầu. Khoản 3, Điều 1, Luật An ninh mạng năm 2018 của nước ta xác định: “Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian”.

Nghiên cứu về không gian mạng và môi trường mạng ở nước ta cho thấy, hai quan niệm này rất gần nhau. Khoản 3, Điều 4, Luật Công nghệ thông tin năm 2006 quan niệm: “Môi trường mạng là môi trường trong đó thông tin được cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua cơ sở hạ tầng thông tin”. Mà “Cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu” (Khoản 4, Điều 4, Luật Công nghệ thông tin).

Như vậy, không gian mạng hay môi trường mạng, cách nói khác nhau, nhưng về bản chất không khác nhau vì đều là không gian ảo, nơi con người có thể liên lạc, kết nối, trao đổi, giao tiếp với nhau. Sự phát triển không gian mạng (môi trường mạng) phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng thông tin ở mỗi quốc gia. Hiện nay, ở Việt Nam nói riêng, thế giới nói chung, không gian mạng rất rộng lớn, hệ thống các mạng đang được sử dụng bao gồm: trình duyệt web (Google, Chrome, Mozilla Firefox , Opera, Safari...); trang web tin tức (VnExpress, Tin tức, Zing news, VTC News...); mạng xã hội (Facebook, Twitter, YuMe, Instagram, Zing me, Youtube, Skype, WeChat, Google Plus, Go.vn...); tìm kiếm, tra cứu (Google map, Bing, Google Docs...); tiện ích (chuyển tiền, việc làm, email, thiệp điện tử...); trang mạng mua bán, kinh doanh, học tập, âm nhạc, giải trí1.

2. Quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và việc hạn chế quyền của cá nhân, công dân trên không gian mạng

Quyền của công dân trên không gian mạng. Môi trường mạng là không gian rộng lớn, cá nhân, công dân và bất kỳ cơ quan, tổ chức nào cũng đều có thể tự do bày tỏ quan điểm chính kiến, kết nối trao đổi với nhau. Đó là quyền tự do của cá nhân: quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin (tự do tìm kiếm, tiếp nhận và trao đổi thông tin) trên môi trường mạng. Đây là quyền tự do cơ bản của công dân được pháp luật quốc tế, Hiến pháp, pháp luật Việt Nam tôn trọng và bảo vệ.

Điều 11, Luật Báo chí năm 2016 quy định quyền tự do ngôn luận trên báo chí (báo giấy, báo hình, báo nói, báo chí điện tử - không gian mạng). Các quyền này của công dân bao gồm: (1). Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; (2). Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; (3). Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác.

Tương tự quyền tự do bày tỏ quan điểm, chính kiến của công dân trên không gian mạng, công dân có quyền tiếp cận thông tin từ chính môi trường mạng. Luật Tiếp cận thông tin quy định, quyền của công dân được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời; khiếu nại, khởi kiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về tiếp cận thông tin. Luật An ninh mạng quy định một trong những nguyên tắc bảo vệ an ninh mạng là “bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trên không gian mạng” (Khoản 3, Điều 4, Luật An ninh mạng).

Như vậy, với hành lang pháp lý hiện nay, cá nhân, công dân có quyền tự do được sử dụng không gian mạng vì lợi ích cá nhân; có quyền được bảo vệ các quyền và tự do của mình từ phía các cơ quan công quyền và chủ động tự thực hiện (thực hành) quyền tự do cá nhân trên không gian mạng.

Nghĩa vụ, trách nhiệm công dân trên không gian mạng. Phù hợp với chuẩn mực quốc tế, mỗi cá nhân, công dân trong khi sử dụng, thực hiện các quyền và tự do của mình thì phải có nghĩa vụ, trách nhiệm đối với cộng đồng, xã hội, đối với quốc gia, dân tộc mà mình đang sống. Nghĩa là khi sử dụng, thực hiện quyền và tự do cá nhân không được làm ảnh hưởng hay xâm phạm an ninh quốc gia; trật tự công cộng, đạo đức xã hội; quyền và tự do của người khác. Vấn đề này theo chuẩn mực quốc tế được gọi là hạn chế quyền con người để bảo đảm vì lợi ích chung của xã hội, vì lợi ích cộng đồng trong một xã hội dân chủ; vì các lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đạo đức xã hội, vì quyền và tự do của người khác.

Cụ thể hóa nguyên tắc hạn chế thực hiện quyền và tự do cá nhân, Luật An ninh mạng và các luật khác có liên quan đã quy định bằng các hành vi bị nghiêm cấm. Trong đó, Luật An ninh mạng quy định 6 nhóm hành vi bị nghiêm cấm (Điều 8) bao gồm:

Thứ nhất: - Sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, gồm: (1). Đăng tải, phát tán thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 16 Luật An ninh mạng) và hành vi gián điệp mạng; xâm phạm bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư trên không gian mạng (quy định tại khoản 1, Điều 17 Luật An ninh mạng); (2). Chiếm đoạt tài sản; tổ chức đánh bạc, đánh bạc qua mạng internet; trộm cắp cước viễn thông quốc tế trên nền internet; vi phạm bản quyền và sở hữu trí tuệ trên không gian mạng; (3). Giả mạo trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân; làm giả, lưu hành, trộm cắp, mua bán, thu thập, trao đổi trái phép thông tin thẻ tín dụng, tài khoản ngân hàng của người khác; phát hành, cung cấp, sử dụng trái phép các phương tiện thanh toán; (4). Tuyên truyền, quảng cáo, mua bán hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục cấm theo quy định của pháp luật; (5). Hướng dẫn người khác thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; (6). Hành vi khác sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;

- Tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

- Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc;

- Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác;

- Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng;

- Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.

Thứ hai: Thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; gây sự cố, tấn công, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

Thứ ba: Sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử; phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử; xâm nhập trái phép vào mạng viễn thông, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử của người khác.

Thứ tư: Chống lại hoặc cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng; tấn công, vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng.

Thứ năm: Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi.

Thứ sáu: Hành vi khác vi phạm quy định của Luật này.

3. Luật pháp quốc tế về nhân quyền

Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người năm 1948 và hai Công ước quốc tế về quyền con người năm 1966 (Công ước về quyền dân sự và chính trị - ICCPR; Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa - ICESCR), cùng các nghị định thư bổ sung tạo thành Bộ luật quốc tế về quyền con người - là nền tảng của hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người hiện nay. Điều 2 của bản Tuyên ngôn năm 1948 quy định quyền con người: “không phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các quan điểm khác, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội…”2. Đồng thời, quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của cá nhân: “1. Mọi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng là nơi duy nhất mà ở đó nhân cách của bản thân họ có thể phát triển tự do và đầy đủ. 2. Trong khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như nhằm đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”3.

Từ nguyên tắc quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm nêu trong bản Tuyên ngôn, hai Công ước năm 1966 đã phát triển và cụ thể hóa bằng các quy định cụ thể theo hướng xác định những quyền nào phải được thực hiện ngay. Đó là các quyền đòi hỏi nhà nư­ớc phải bảo đảm thực hiện ngay lập tức. Vì đấy là ranh giới, là “ngư­ỡng” của sự có hay không có quyền con ng­ười - quyền tuyệt đối. Quyền cần được thực hiện dần dần, từng bước, là các quyền đòi hỏi nhà nước từng bước có chính sách cụ thể để nâng cao đời sống, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân - quyền tương đối và các quyền có thể bị hạn chế - hạn chế quyền.

Nguyên tắc hạn chế quyền được quy định trong cả hai Công ước năm 1966 như sau:

Điều 4, ICECSR quy định nguyên tắc các quốc gia thành viên có thể đặt ra những giới hạn trong việc thực hiện quyền con người, với các điều kiện: Những hạn chế đó phải được quy định trong luật; không được trái với bản chất của các quyền có liên quan và vì lý do duy nhất nhằm thúc đẩy lợi ích chung trong một xã hội dân chủ. ICCPR quy định cụ thể các quyền con người có thể bị hạn chế và các lý do cho việc có thể áp đặt các hạn chế bao gồm: An ninh quốc gia; Trật tự công cộng; Đạo đức và sức khỏe cộng đồng; Quyền và tự do của người khác.

Trên cơ sở các nguyên tắc chung như trên, cả hai Công ước quy định cụ thể một số quyền bị hạn chế; trong đó, có quyền tự do ngôn luận (Khoản 2, 3, Điều 19 ICCPR) quy định: “2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ.

3. Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để:

a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác,

b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”.

4. Sự phù hợp giữa quyền con người trên không gian mạng ở Việt Nam với chuẩn mực quốc tế về nhân quyền

Viện dẫn nội dung cơ bản trên cho thấy, giữa luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế về quyền con người cho thấy, cả hai đều có những điều khoản quy định quyền con người gồm: quyền tuyệt đối, quyền tương đối và quyền bị hạn chế. Những quyền bị hạn chế của Việt Nam được luật pháp quy định đều vì: An ninh quốc gia; Trật tự công cộng; Đạo đức và sức khỏe cộng đồng; Quyền và tự do của người khác nên phù hợp với luật pháp quốc tế về nhân quyền.

Vậy nên, không có bất cứ lý do gì, những kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam trên không gian mạng lại lu loa, lớn tiếng rằng, Việt Nam vi phạm tự do ngôn luận, vi phạm dân chủ, nhân quyền, “bóp chết” những tiếng nói “dân chủ” hay cái gọi là “tù nhân lương tâm”. Thực chất, đây là những người vi phạm pháp luật Việt Nam nên họ phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật. Trong một xã hội dân chủ thì pháp luật phải được thượng tôn, điều đó đúng với mọi quốc gia dân chủ, không riêng gì Việt Nam.

_____________

1 - http://tuyengiao.vn -  Nâng cao ý thức làm chủ và bảo vệ không gian mạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

2 - Viện nghiên cứu quyền con người - Một số văn kiện của Liên hợp quốc về quyền con người trong quản lý tư pháp, Nxb CAND, H. 2009, tr. 14.

3 - Sđd, tr. 14.

http://tapchiqptd.vn/vi/phong-chong-dbhb-tu-dien-bien-tu-chuyen-hoa/quyen-con-nguoi-tren-khong-gian-mang-o-viet-nam-phu-hop-voi-chuan-muc-quoc-te/15853.html

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...