Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2020

QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ TÍNH MẠNG - GIÁ TRỊ CAO NHẤT CỦA NHÂN QUYỀN



Trước hàng chục nghìn ca tử vong bởi dịch Covid-19 đang lan rộng trên khắp thế giới, giá trị cao nhất của nhân quyền lúc này chính là sinh mạng con người được bảo vệ.Cuối tháng 3-2020, Liên minh toàn cầu Vì sự tham gia của công dân (CIVICUS) có trụ sở tại Nam Phi, với 9.000 thành viên trên toàn thế giới đã ra tuyên bố: “Trong đại dịch Covid-19, các chính phủ không nên coi biện pháp khẩn cấp là cái cớ để hạn chế quyền công dân”. Tuyên bố đã nhắc đến Việt Nam như là một quốc gia “cần đặt nhân quyền làm trọng tâm trong phòng, chống dịch Covid-19”.
Thực tiễn cho thấy, trong bối cảnh dịch Covid-19 đang hoành hành khắp thế giới, cướp đi sinh mạng hàng vạn người, hủy hoại nền kinh tế toàn cầu, một tuyên bố đi ngược lại những nỗ lực của các chính phủ, của hàng tỷ người dân trở nên vô cùng lạc lõng. Cái gọi là “tuyên bố” ấy hoàn toàn không có chỗ đứng trên thực tế, thậm chí còn trở thành luận điểm phản động, có thể gây ảnh hưởng tới công cuộc phòng, chống dịch Covid-19.
Những “thiết chế Covid-19” trên khắp thế giới
Dịch Covid-19 đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng trên quy mô toàn cầu. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi hầu hết chính quyền các quốc gia, vùng lãnh thổ đều ban hành những luật, quy định mới nhằm đối phó với “cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất mà thế giới phải đối mặt kể từ cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai”, như cách định danh của Tổng thư ký Liên hợp quốc (LHQ) Antonio Guterres.
Ông Antonio Guterres cũng kêu gọi cộng đồng quốc tế cần đối phó quyết liệt hơn theo đúng tình hình cấp bách của đại dịch Covid-19 hiện nay: “Chúng ta đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng sức khỏe toàn cầu, không giống bất kỳ cuộc khủng hoảng nào khác trong lịch sử 75 năm của LHQ. Nó gây chết chóc, gieo rắc sự đau khổ và hoang mang cho cuộc sống của con người. Tuy nhiên, điều lớn hơn cả là một cuộc khủng hoảng nhân loại. Đại dịch Covid-19 đang tấn công vào cốt lõi của xã hội loài người”.
Hưởng ứng lời kêu gọi của LHQ, nhằm đối phó với đại dịch Covid-19, nhìn rộng ra toàn thế giới, rất nhiều quốc gia đã phải ban bố hoặc sửa đổi các đạo luật nhằm ứng phó hiệu quả với đại dịch Covid-19 đang gây ra tác hại khủng khiếp cho nhân loại. Không chỉ là sự cảnh tỉnh, hoặc mang tính răn đe, không ít quốc gia như: Nga, Hungary, Ireland, Australia… còn xác định mức hình phạt cao đối với những người có hành vi, biểu hiện làm lây truyền dịch bệnh, tán phát thông tin sai lệch liên quan đến dịch Covid-19…
Tại Hoa Kỳ, sau những tuyên bố thiếu nhất quán với xu hướng xem nhẹ tác động của dịch Covid-19, ngày 3-4, trong họp báo tại Nhà Trắng, Tổng thống Donald Trump cho biết Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) kêu gọi mọi người che mặt bằng khăn quàng cổ hoặc khẩu trang vải, để dành khẩu trang y tế cho đội ngũ y sĩ, bác sĩ. Đây được coi là sự thay đổi quan điểm đáng kể của CDC, cơ quan vài tháng trước vẫn khẳng định phần đa người Mỹ không cần thiết đeo khẩu trang để ngăn virus SARS-CoV-2. Mỹ từ lâu xem hành động này là không cần thiết, nhưng sự nguy hiểm của Covid-19 đã buộc quốc gia này phải thay đổi suy nghĩ. Tại Mỹ, luật pháp cũng có quy định về việc bỏ tù những người vi phạm về tự cách ly trong thời điểm dịch bệnh bùng phát.
Như vậy, cần phải thấy rằng: Trước tình hình diễn biến hết sức phức tạp của dịch Covid-19, yêu cầu đặt ra đối với mọi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới là cần phải có những giải pháp cấp thiết để bảo vệ tính mạng con người. Phải khẳng định rằng, tính mạng con người là giá trị cao nhất của quyền con người, và Việt Nam đang nỗ lực hết mình để làm điều thiêng liêng và ý nghĩa đó.
Giá trị cao nhất của quyền con người
Là quốc gia nằm kề Trung Quốc (nơi khởi phát dịch Covid-19), Việt Nam từng bị đánh giá là sẽ ảnh hưởng nặng nề. Tuy nhiên, thực tế lại hoàn toàn khác. Dù phải đối mặt với khủng hoảng y tế có quy mô toàn cầu, Việt Nam vẫn đang là hình mẫu trong phòng, chống dịch Covid-19 theo đánh giá của nhiều tổ chức quốc tế uy tín như: LHQ, Tổ chức Y tế thế giới…
Lý giải về kết quả khả quan trong công cuộc phòng, chống dịch Covid-19 của Việt Nam có rất nhiều nguyên nhân. Trước hết, đó chính là sự đoàn kết, thống nhất từ Trung ương Đảng, Chính phủ, tới các cấp chính quyền và tới từng người dân. Cùng với đó, Việt Nam tiến hành một chiến dịch truyền thông rộng khắp, liên tục về dịch Covid-19. Thứ nữa, nhận thức của người dân trước mối nguy hiểm mang tên Covid-19 và những chính sách, pháp luật về phòng, chống dịch bệnh. Và trên hết, là niềm tin của xã hội vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước.
Niềm tin ấy xuất phát từ việc Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang đặt sức khỏe, tính mạng con người lên vị trí cao nhất trong công cuộc phòng, chống dịch Covid-19. Ngay từ khi dịch Covid-19 khởi phát ở Trung Quốc, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định: Việt Nam sẵn sàng hy sinh lợi ích về kinh tế để phòng, chống dịch, bảo đảm sức khỏe, tính mạng của người dân.
Thực tế diễn biến thời gian qua, không một bệnh nhân Covid-19 nào ở Việt Nam (kể cả người Việt Nam và người nước ngoài) bị "bỏ lại phía sau”. Không một mối nguy hại nào đối với cộng đồng mà không được chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương quan tâm. Điều đặc biệt trong công cuộc phòng, chống đại dịch Covid-19 tại Việt Nam được bạn bè quốc tế đánh giá rất cao là Chính phủ hỗ trợ điều trị miễn phí hoàn toàn cho người nhiễm virus SARS-CoV-2 và miễn phí sinh hoạt đối với người được cách ly. Chưa hết, người được cách ly phòng, chống Covid-19 còn luôn nhận được sự quan tâm hết mực, chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ từ lực lượng làm nhiệm vụ, trong đó nòng cốt là quân đội, công an và y tế.
Chính sách đặt con người ở vị trí cao nhất trong công cuộc phòng, chống dịch Covid-19 ở Việt Nam còn thể hiện bao trùm trên phạm vi toàn xã hội. Đó là việc đẩy mạnh đầu tư công nhằm xây dựng những công trình thiết yếu phát triển kinh tế, tạo việc làm; giảm mạnh lãi suất điều hành, giãn, hoãn thuế để “tiếp máu” cho doanh nghiệp… Triển khai gói an sinh xã hội, nhằm hỗ trợ người yếu thế, doanh nghiệp khó khăn do dịch Covid-19 gây ra; không để người dân nào đói cơm, lạt muối. Chính sách này cũng góp phần dưỡng sức, tái sản xuất sức lao động, là động lực tiếp tục phát triển kinh tế-xã hội thời gian tới. Về đối tượng được hưởng chính sách, theo kết luận của Thủ tướng Chính phủ gồm 7 nhóm đối tượng; trong đó, 6 nhóm đối tượng được hỗ trợ từ ngân sách, một nhóm đối tượng được doanh nghiệp hỗ trợ từ khoản vay lãi suất ưu đãi 0%. Mức hỗ trợ cơ bản thống nhất với đề xuất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Thủ tướng lưu ý các đối tượng rất cần quan tâm, cần được hỗ trợ, trước hết là hỗ trợ cho người nghèo, cận nghèo, người có công, thu nhập giảm sâu do dịch Covid-19.
Trước mối hiểm họa khôn lường của đại dịch Covid-19, Đảng, Nhà nước Việt Nam đang làm hết sức vì tất cả người dân. Trong đó, mối ưu tiên hàng đầu là bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân. Điều đó đang được cộng đồng quốc tế công nhận; toàn thể nhân dân ủng hộ. Bởi lẽ đó, việc đề cập đến vấn đề nhân quyền ở Việt Nam của Liên minh toàn cầu Vì sự tham gia của công dân không những trở nên thừa thãi mà thông tin này còn hoàn toàn ngược lại so với thực tế.
Đây không phải lần đầu tiên Đảng, Nhà nước Việt Nam đặt người dân vào vị trí trung tâm trong các đường lối, chính sách lãnh đạo của mình. Mỗi giai đoạn lịch sử, quyền con người ở Việt Nam luôn được coi trọng. Trong thời kỳ chiến tranh, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân đấu tranh giành lại nền độc lập cho Tổ quốc, sự tự do-giá trị lớn nhất của nhân quyền khi đất nước bị xâm lược-cho nhân dân. Trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, tốc độ xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam vượt xa Mục tiêu Thiên niên kỷ của LHQ. Điều đó làm cho Việt Nam trở thành điển hình của thế giới trong công tác này. Với người dân, khi đời sống còn khó khăn, thoát khỏi đói nghèo chính là quyền mang nhiều ý nghĩa nhất trong vấn đề nhân quyền. Nay, khi dịch Covid-19 đang bùng phát, đối với người dân, quyền được bảo vệ sức khỏe trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Bảo vệ và phát huy quyền con người luôn là giá trị cốt lõi của chế độ ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

https://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/thanh-tuu-nhan-quyen-viet-nam/quyen-duoc-bao-ve-tinh-mang-gia-tri-cao-nhat-cua-nhan-quyen-614523

ĐỪNG TẠO CỚ CHO “TU HÚ ĐẺ NHỜ”



Tu hú là loài xảo quyệt nhất trong thế giới tự nhiên. Đặc tính của loài chim này là không bao giờ làm tổ, đẻ trứng, nuôi con. Vào mùa sinh sản, chúng tìm tổ của các loài chim khác để “đẻ nhờ”. Tu hú con vừa tách vỏ trứng nở ra, lập tức gồng mình đẩy những quả trứng khác rơi xuống đất để “độc chiếm giang sơn”.

Câu thành ngữ “Nuôi con tu hú” của ông bà ta nhằm nhắc nhở con cháu phải luôn luôn cảnh giác với loại người “tu hú”, từ đời sống gia đình, xã hội cho đến vận mệnh của cả quốc gia, dân tộc…
Đối tượng lợi dụng của loài “tu hú”
Các nhà sinh vật học đã chứng minh, loài tu hú rất tinh ranh và chuyên nghiệp trong “sự nghiệp” đẻ nhờ. Thế giới tự nhiên có hàng nghìn loài chim, nhưng không phải tổ chim nào tu hú cũng đến đẻ trứng. Chúng thường chọn tổ của những loài chim thường mất cảnh giác và có kích thước, màu sắc tương đồng. Loài bị tu hú lợi dụng nhiều nhất là chim cưỡng. Trong giới sinh vật cảnh, chim cưỡng rất được ưa chuộng bởi hót hay, có thể luyện cho chúng nói được tiếng người. Thông minh, giá trị là thế nhưng trong đời sống tự nhiên, chim cưỡng lại thiếu sự nhạy cảm cần thiết để phân biệt thật-giả, trắng-đen. Bị tu hú lợi dụng từ đời này qua đời khác nhưng không tỉnh ngộ. Chim cưỡng ngày càng hiếm, một phần do bị kẻ thù triệt mất nòi giống mà không hề hay biết…
Ngẫm chuyện tu hú để thấy rõ hơn đời sống xã hội và quan hệ quốc tế trong môi trường đổi mới, hội nhập, thời cơ đan xen nguy cơ, cơ hội đi kèm thách thức. Việc nhận diện, phân định đối tượng-đối tác không hề là chuyện đơn giản trong các mối quan hệ của thời đại số. Trong suốt 45 năm qua, mỗi bước phát triển của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng là một giai đoạn trải qua thử thách cam go, phức tạp. Vị thế đất nước trên trường quốc tế càng cao thì sự cay cú, chống phá của các thế lực thù địch, phản động càng tinh vi, phức tạp. Văn hóa, tư tưởng là lĩnh vực được các thế lực thù địch, phản động tập trung chống phá mạnh mẽ nhất. Chúng triệt để lợi dụng tiện ích của công nghệ thông tin, truyền thông, mạng xã hội để tác động, lôi kéo các đối tượng cực đoan, suy thoái chính trị trong nước, ngay trong nội bộ đảng nhằm phục vụ mưu đồ theo cách “tu hú đẻ nhờ”.
Giới nghệ sĩ điện ảnh, sân khấu ở TP Hồ Chí Minh đến nay vẫn hay nhắc đến bài học đắt giá của diễn viên ĐD. 20 năm trước, ĐD được coi là một “át chủ bài” của điện ảnh phía Nam, đảm nhiệm vai chính trong gần 40 phim điện ảnh, trong đó có nhiều tác phẩm về đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang có giá trị cao về nội dung, nghệ thuật. Tài năng và nổi tiếng, con đường nghệ thuật của ĐD đang rộng mở thì bị đổ sông đổ biển, khi được điện ảnh Mỹ săn đón, mời sang đóng phim và tham gia vai chính trong một số phim nhưng thực chất, đó là một kiểu “tu hú đẻ nhờ” tinh vi. Phim ĐD đóng có nội dung xuyên tạc sự thật lịch sử, bôi nhọ cuộc chiến tranh chính nghĩa chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta, làm sai lệch bản chất, méo mó hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ.
Những người nổi tiếng trong giới nghệ sĩ, trí thức, cán bộ bị kỷ luật, sa thải có tư tưởng bất mãn với chế độ… là những đối tượng luôn được các thế lực thù địch, phản động săn đón, lợi dụng. Ai cũng biết, tiếng nói và sự xuất hiện của họ trên truyền thông luôn thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng. Không ít người vì nhẹ dạ cả tin, vì non kém về nhận thức và bản lĩnh chính trị, vì lóa mắt trước thứ “bánh vẽ” danh tiếng nên đã dễ dàng sa vào cái bẫy giăng sẵn hết sức tinh vi của các thế lực thù địch. Có không ít bài học nhãn tiền từ những người đi trước, nhưng một số người hiện nay vẫn chưa chịu thức tỉnh. Thời gian qua, dư luận bày tỏ thái độ bức xúc trước việc, một số trí thức, học giả, nhà nghiên cứu đăng đàn phát biểu những nội dung đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Dưới danh nghĩa hội thảo, tọa đàm khoa học do các hội, đoàn, tổ chức phi chính phủ thực hiện, họ cố tình đánh tráo khái niệm, đòi công nhận chính quyền tay sai Sài Gòn trước năm 1975 là một “chính thể quốc gia”. Họ lập luận, lịch sử độc lập với chính trị; nhà sử học chỉ quan tâm đến lịch sử!?! Thực chất, đây là kiểu tư duy ngụy khoa học, là cái cớ cho “tu hú đẻ nhờ”, tạo cơ hội để các thế lực thù địch xuyên tạc, rêu rao luận điệu phá hoại, thủ tiêu thành quả vĩ đại trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của Đảng và nhân dân ta.
Mới đây, cái gọi là tổ chức “Ủy ban hành động chống cộng sản” của một số phần tử người Việt Nam tại Mỹ đã sử dụng những em bé đang tuổi học sinh, cho mặc quân phục của quân lực Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975 để trả lời phỏng vấn. Thực chất, đó là một vài người Việt trẻ tuổi sống xa Tổ quốc bị các phần tử thù địch nhồi nhét tư tưởng hận thù, học thuộc các nội dung do người lớn chuẩn bị sẵn để kích động, xuyên tạc, chống phá đất nước. Vậy là, bên cạnh những thành phần truyền thống, chúng đã và đang hướng đến đầu độc thế hệ tương lai của đất nước và kiều bào. Đây là thủ đoạn hết sức nham hiểm, bởi tâm hồn trẻ em như trang giấy trắng. Các cháu sống xa Tổ quốc, biết nói tiếng Việt nhưng lại bị đầu độc bởi tư tưởng thù địch, chống phá đất nước, sẽ để lại những hệ lụy tiêu cực về sau...
Thành trì vững chắc ngăn chặn thủ đoạn “đẻ nhờ”
Được “trải thảm đỏ” săn đón, nhưng khi hết giá trị lợi dụng thì những “ngôi sao” trong giới nghệ sĩ, trí thức trót “nhúng chàm” có được cuộc sống sung túc, giàu sang nơi xứ người không? Hoàn toàn không! Kết cục của diễn viên ĐD là một dẫn chứng đau buồn. Sau khi đóng máy các bộ phim xuyên tạc, chống phá cách mạng Việt Nam, những người từng mời ĐD đóng phim cũng… “đóng cửa” luôn với anh ta. ĐD sống cơ cực trên đất khách, phải nhờ đến sự giúp đỡ của những người thân, rồi qua đời năm 2011 vì bệnh hiểm nghèo; tro cốt được người thân đón về trong lòng Đất mẹ Việt Nam. Đa phần những người quay lưng với Tổ quốc đều có chung cái kết tương tự. Đó thực là những bài học nhãn tiền…
Âm mưu, thủ đoạn chống phá đất nước của các thế lực thù địch, phản động là không giới hạn. Nhưng không phải ai cũng dễ dàng rơi vào bẫy của chúng. Đa số những người nổi tiếng trong giới nghệ sĩ, trí thức, doanh nhân, khoa học… đều nhận thức đầy đủ trách nhiệm nghề nghiệp và bổn phận với Tổ quốc, nhân dân. Cố NSND Thế Anh trong cuộc gặp gỡ cuối cùng với chúng tôi cũng đã đau đáu nhắn gửi đến thế hệ nghệ sĩ hôm nay rằng, miếng phô mai không mất tiền chỉ có trong cái bẫy chuột. Đừng lóa mắt trước những thứ xa xỉ bên ngoài Tổ quốc mình. Thời đóng phim “Nổi gió”, “Mối tình đầu”… tên tuổi Thế Anh nổi như cồn. Người ta cũng trải thảm đỏ mời ông qua Mỹ định cư, hứa hẹn cho nhà cao cửa rộng, trả lương cao ngất ngưởng. Thế Anh từ chối rằng: “Tôi ăn rau muống, cà dầm tương, uống rượu cuốc lủi quen rồi. Rượu tây, nhà lầu, xe hơi… không hợp với tôi”.
Ngay cả những người từng ở bên kia chiến tuyến trước năm 1975, hiện sinh sống tại Mỹ, cũng đã lên tiếng thức tỉnh những cái đầu lệch lạc trong giới kiều bào. Ông Nguyễn Cầm, Việt kiều quốc tịch Mỹ, cựu lính Việt Nam Cộng hòa là một ví dụ. Trở về quê hương sau mấy chục năm xa cách, ông Cầm hết sức ngạc nhiên, cảm động trước sự phát triển nhanh chóng của đất nước và tình cảm nồng ấm của đồng bào mình. Trở lại Mỹ, ông đăng đàn trả lời một kênh truyền thông hải ngoại, thẳng thắn bày tỏ thái độ phê phán việc một bộ phận người Việt Nam ở Mỹ tham gia các nhóm, hội chống phá, xuyên tạc sự thật tình hình đất nước. “Về Việt Nam tôi mới thấy, bên đó (Mỹ), bọn nó toàn bịa đặt vô căn cứ, nói tầm bậy tầm bạ. Tôi về, đi nhiều nơi, đâu đâu cũng thấy đất nước phát triển, yên bình”, ông Cầm nói.
Trong cuộc chiến phòng, chống đại dịch Covid-19 và chống hạn hán, xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long đang diễn ra quyết liệt, công chúng cả nước dành tình cảm và sự mến mộ đối với nhiều nghệ sĩ nổi tiếng. Dù tuổi đời còn trẻ nhưng hành động thiện nguyện, sát cánh cùng các cấp, các ngành phòng, chống dịch, giúp đỡ dân nghèo bằng những việc làm thiết thực, cho ra đời những tác phẩm nghệ thuật cổ vũ nhân dân, đã cho thấy tinh thần yêu nước đáng trân quý trong trái tim nghệ sĩ. Hành động nhân văn từ những người nổi tiếng có sức cộng hưởng, lan tỏa lớn trong cộng đồng, tạo thêm động lực sát cánh cùng Đảng, Nhà nước chăm lo tốt nhất cho dân, đồng lòng chiến thắng đại dịch, vượt qua khó khăn, thách thức…
Với tinh thần lấy xây để chống, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, sự lan tỏa những suy nghĩ, hành động, việc làm nhân ái của những trái tim yêu nước chính là cách để chúng ta xây dựng thành trì tư tưởng vững chắc; triệt tiêu cơ hội "đẻ nhờ” của loài "tu hú"…

CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU TRÒ TUNG HÔ NHẢM NHÍ VỀ NHÂN SỰ TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG


Thời gian này, đại dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, khó lường, là mối nguy hại ảnh hưởng đến các mặt đời sống chính trị, kinh tế-xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Thay vì chung tay phòng, chống dịch bệnh, nhiều tài khoản ở các trang mạng xã hội, một số website của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại đăng tải, chia sẻ dưới nhiều hình thức những thông tin xấu độc, bịa đặt về công tác nhân sự (CTNS) đại hội đảng các cấp, nhân sự Đại hội XIII của Đảng.
Những phần tử này đã dựng chuyện về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo các tỉnh, thành phố, Ban Chấp hành (BCH) Trung ương Đảng khóa XIII, "bố trí, quy hoạch" cán bộ vào những chức danh lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ... Họ bịa đặt trắng trợn, tung hỏa mù, gây rối không khí và tâm trạng xã hội, kích động tâm lý tiêu cực, gây hoang mang trong dư luận, nhằm làm tổn hại đến niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ XHCN, làm suy giảm uy tín của một số cán bộ lãnh đạo cấp cao, tác động đến vai trò giám sát của quần chúng đối với CTNS đại hội đảng.
Phải khẳng định, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Việt Nam không lạ gì những chiêu trò chống phá trước thềm đại hội đảng của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Dù thủ đoạn có tinh vi, xảo quyệt tới đâu, ngụy trang kiểu gì cũng không đủ để tác động tiêu cực đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Bởi mỗi người dân Việt Nam luôn mang trong mình truyền thống yêu nước, một lòng kiên trung theo Đảng, theo cách mạng, tin tưởng tuyệt đối vào công tác lãnh đạo của Đảng, của cấp ủy các cấp.
Nhân dân tin Đảng, tin cán bộ của Đảng, bởi quá trình lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước, dù gặp nhiều khó khăn, thử thách trong chiến tranh cũng như thời bình, Đảng luôn tiếp thu nghiêm túc, vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cách mạng Việt Nam, một lòng một dạ gắn bó máu thịt với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh. Nhiều cán bộ, đảng viên đã anh dũng chiến đấu, hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng, cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đúng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định trong Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930/3-2-2020): “Thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của nhân dân”.
Qua khảo sát, tìm hiểu về công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng cấp cơ sở ở các địa phương: Tuyên Quang, Phú Thọ, Hải Dương, Điện Biên, Cao Bằng, Hậu Giang, Đồng Nai... cho thấy: Đa số người dân vững tin rằng, CTNS đại hội đảng bộ cơ sở đúng với ý chí, nguyện vọng của dân, nên rất phấn khởi, tự hào. Qua chuyến khảo sát đó, chúng tôi còn được biết thêm những hành động, việc làm tuy không lớn, nhưng hết sức ý nghĩa của quần chúng nhân dân dành cho Đảng và cán bộ của Đảng. Ở đó, nhiều nông dân dù chưa một ngày được đứng trong hàng ngũ của Đảng nhưng nhớ rất rõ tên, tuổi, những cống hiến của các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng; nhiều người còn chép lại những sự kiện lịch sử trong 90 năm Đảng lãnh đạo đất nước để làm tài liệu tuyên truyền. Như trường hợp ông Phạm Quốc Đạt, 73 tuổi, ở tổ 3, phường Nông Tiến, TP Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang rất cẩn thận ghi danh sách các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương qua 12 nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc và thành tựu của đất nước sau hơn 30 năm đổi mới vào cuốn sổ rất dày. Ông Đạt cập nhật liên tục những kết quả nổi bật của đất nước về chính trị, kinh tế-xã hội theo từng tháng để phổ biến cho các thành viên trong gia đình.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, đã có thời điểm, một bộ phận nhân dân bị giảm sút niềm tin với Đảng, vì rằng ở một số cấp ủy, việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ vào các chức vụ lãnh đạo vẫn chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân xảy ra ở một số nơi. Biết được những suy tư, trăn trở của dân, lắng nghe dân, để giữ vững niềm tin của dân, Đảng ta đã kịp thời ban hành Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng Đảng, qua đó siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, xử lý nghiêm khắc các đảng viên vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật theo tinh thần "không có vùng cấm". Chính vì thế, có một số cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý, không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng đã phải chịu hình phạt thích đáng. Cùng với đó, BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo các cấp ủy đẩy mạnh thực hiện dân chủ trong công tác quản lý, đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ. 
Liên quan đến các vấn đề thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội đang ráo riết rêu rao, kích động, tung hô nhảm nhí về CTNS đại hội đảng các cấp và nhân sự Đại hội XIII của Đảng, nhiều người dân ở mọi miền Tổ quốc đã phản hồi về Báo Quân đội nhân dân đề nghị quý báo cần có những bài viết vạch mặt; kiến nghị với Đảng, Nhà nước có những hình thức xử lý thích đáng những kẻ nói xấu, bôi nhọ uy tín của cán bộ lãnh đạo, cơ cấu nhân sự của Đảng một cách bịa đặt, tùy tiện, vô căn cứ. Ông Đỗ Thế Trà, 80 tuổi, ở phường Đội Cấn, TP Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang bức xúc: “Tôi đề nghị Đảng, Nhà nước cần có những giải pháp mạnh về công nghệ thông tin để cho những trang mạng tuyên truyền nhảm nhí về nhân sự đại hội đảng dừng hoạt động”. Cựu chiến binh Đặng Văn Lệch, ở xã Tứ Xuyên (Tứ Kỳ, Hải Dương) cho rằng: “Sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chẳng thể làm ảnh hưởng đến công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng, vì thực tiễn đã chứng minh, dù khó khăn, gian khổ, dù các thế lực thù địch, phản động chống phá quyết liệt, Đảng ta vẫn tổ chức thành công 12 kỳ đại hội, sáng suốt lựa chọn được một bộ tham mưu chiến lược tài, trí của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam”. Ông Trần Sỹ Phong, xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ, đề xuất: “Các cơ quan báo chí cần tuyên truyền nhiều về những tấm gương cán bộ của Đảng luôn vì dân, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, để những trang mạng phản động có thủ đoạn nham hiểm, thích nhảy vào bàn công việc của người khác tự tiêu tan”.
Với quan điểm đấu tranh kiên quyết, mềm dẻo, linh hoạt, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần đề cao cảnh giác, nhận diện, đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội đang ngày đêm bịa đặt về CTNS đại hội đảng các cấp và Đại hội XIII của Đảng. Công tác đấu tranh theo đúng tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Cán bộ, đảng viên, đặc biệt đối với những cán bộ tạo nguồn cấp ủy, cán bộ quy hoạch các chức danh lãnh đạo chủ chốt phải thực hiện tốt Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của BCH Trung ương quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, để cán bộ của Đảng thực sự là tấm gương tiêu biểu về “dĩ công vi thượng”, tự miễn dịch với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, được quần chúng nhân dân tin tưởng, yêu mến.
Thời điểm này, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang tập trung chống lại đại dịch Covid-19 nhưng vẫn không lơ là công tác chuẩn bị, tổ chức đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Nhiều đảng bộ (chi bộ) đã tổ chức đại hội thành công, đạt kết quả tốt, các đồng chí trúng cử BCH đảng bộ (chi bộ) đạt số phiếu tín nhiệm cao, tiêu biểu về phẩm chất và năng lực. Các đảng bộ trực thuộc Trung ương đã quán triệt sâu sắc các chỉ thị, hướng dẫn của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Tổ chức Trung ương về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, làm tốt CTNS cấp ủy khóa mới bảo đảm dân chủ, khách quan, công tâm, công khai, minh bạch; giải quyết tốt mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu; giữa đức và tài; giữa kế thừa và đổi mới, ổn định và phát triển với quyết tâm xây dựng cấp ủy có phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ. Đặc biệt, CTNS Đại hội XIII của Đảng đã được BCH Trung ương Đảng khóa XII chuẩn bị chu đáo, công phu, bảo đảm đúng nguyên tắc, quy định.
Đáp lại niềm tin, kỳ vọng của nhân dân với Đảng, tin tưởng rằng các cấp bộ đảng sẽ lựa chọn được đội ngũ cán bộ, cấp ủy “vừa hồng”, “vừa chuyên”, có đủ sức mạnh hoàn thành sự nghiệp vẻ vang… Những âm mưu, ý đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc về công tác chuẩn bị nhân sự đại hội đảng các cấp, nhân sự Đại hội XIII của Đảng sẽ không thể làm lung lay được ý chí, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trên bước đường phát triển, xây dựng “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, xây dựng nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN.

“NGƯỜI CÁCH MẠNG PHẢI CÓ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG LÀM NỀN TẢNG...”



QĐND - Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng, quan tâm xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, viết vào tháng 12-1958, Bác khẳng định “... Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Bác cũng từng chỉ rõ vai trò của đạo đức cách mạng: “... Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời của Người là di sản quý báu của cả dân tộc, soi rọi cho mọi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên và nhân dân noi theo. Như tâm niệm của nhà thơ Tố Hữu và nhiều thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân dân: “... Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn/ Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi/ Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn”. Noi theo gương sáng của Người, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc trước đây, lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đội ngũ cán bộ, đảng viên tiếp tục phát huy trí tuệ, tâm sức để dựng xây đất nước ngày càng thịnh vượng, phồn vinh, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng vẻ vang của người cách mạng.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, tác động tiêu cực từ mặt trái cơ chế thị trường và trong đời sống xã hội, một bộ phận cán bộ, đảng viên đã không giữ được lời thề với Đảng; dẫn đến suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm...
Từ thực tiễn tranh đấu, hy sinh vì nền độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra chỉ dẫn quý báu cho mọi cán bộ, đảng viên: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Thấm nhuần lời dạy của Người, giai đoạn hiện nay, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến xây dựng Đảng về đạo đức; quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có đức, vừa có tài. Trung ương đã ban hành hàng loạt quy chế, quy định, hướng dẫn cán bộ đảng viên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng theo các tiêu chuẩn, tiêu chí đạo đức hết sức cụ thể; đồng thời chủ trương đẩy mạnh nhận diện, đấu tranh, khắc phục những biểu hiện suy thoái ở đội ngũ cán bộ, đảng viên, thông qua việc ban hành các văn bản, như: Quy định về những điều đảng viên không được làm; Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng; chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ...
Thời gian qua, hàng loạt cán bộ, đảng viên vi phạm khuyết điểm đến mức phải xử lý kỷ luật, mà nguyên nhân chính là thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Bởi vậy, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, công tác nhân sự đại hội luôn được Trung ương đặc biệt quan tâm trên quan điểm lựa chọn, bố trí đội ngũ cán bộ lãnh đạo, nhất là cán bộ chủ chốt phải vừa có đức vừa có tài, trong đó đức là gốc, đủ sức gánh vác nhiệm vụ cách mạng to lớn mà lịch sử giao phó.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH MÃI MÃI LÀ NGỌN ĐUỐC SOI ĐƯỜNG, DẪN DẮT SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM



Ngày 8-5, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức Hội thảo Khoa học cấp quốc gia với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới, phát triển và bảo vệ Tổ quốc”.
Hội thảo được tổ chức với hình thức trực tuyến giữa điểm cầu trung tâm Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và 68 điểm cầu tại các tỉnh, thành phố, Đảng ủy trực thuộc Trung ương và 5 học viện trực thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Tới dự và chủ trì hội thảo tại điểm cầu trung tâm Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh có đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Nguyễn Xuân Thắng, Bí thư Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương. Tới dự hội thảo tại điểm cầu TP Hà Nội có đồng chí Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội.
Cùng dự tại các điểm cầu có các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các Bộ, ban ngành, các địa phương, các nhà khoa học…
Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi là ngọn đuốc soi đường, dẫn dắt sự nghiệp cách mạng Việt Nam
Đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh: TTXVN.
*Giá trị soi sáng, dẫn đường của tư tưởng Hồ Chí Minh
Đọc diễn văn khai mạc hội thảo, đồng chí Trần Quốc Vượng khẳng định: Kế thừa và phát triển các giá trị tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại, nghiên cứu vận dụng phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh và điều kiện cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta và các thế hệ mai sau một gia tài đồ sộ, một di sản quý giá. Đó là thời đại Hồ Chí Minh, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống các quan điểm, lý luận toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, và con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân-khối đại đoàn kết dân tộc, về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về xây dựng phát triển kinh tế-văn hóa, không ngừng nâng cao vật chất tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, bồi dưỡng thế hệ cách mạng; về xây dựng chỉnh đốn Đảng…
Đồng chí Trần Quốc Vượng nhấn mạnh: Dân tộc ta, đất nước ta, Đảng ta biết ơn vô hạn đối với công lao như trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng ta nguyện kế tục trung thành, kế thừa xuất sắc và không ngừng phát triển sự nghiệp cách mạng của Người. Tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, vững bước đi lên trên con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, con đường vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta, toàn nhân dân ta đã lựa chọn. Để hoàn thành được trọng trách, sứ mệnh lịch sử to lớn đó, từng cấp ủy, tổ chức Đảng, mỗi cán bộ đảng viên phải luôn khắc ghi trong tâm khảm của mình lời căn dặn của Người. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch vững mạnh, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí của Đảng "như giữ gìn con ngươi của mắt mình".
Trong thời gian chuẩn bị, Ban tổ chức hội thảo đã nhận được hơn 60 báo cáo, tham luận của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các chuyên gia, các nhà khoa học, các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương. Kế thừa các kết quả nghiên cứu trong thời gian vừa qua, cập nhật các tư liệu mới được công bố với tinh thần khoa học, các tham luận đã tập trung phân tích, luận giải sâu sắc ở từng nội dung, vấn đề theo chủ đề hội thảo đặt ra.
Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi là ngọn đuốc soi đường, dẫn dắt sự nghiệp cách mạng Việt Nam
Quang cảnh buổi hội thảo tại điểm cầu Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVN.
Các tham luận gửi tới hội thảo và phát biểu tại hội thảo đều thể hiện phương pháp tiếp cận đa chiều, trên quan điểm hệ thống hoàn thiện, lịch sử cụ thể, quan điểm thực tiễn, đổi mới và phát triển, có ý nghĩa tư tưởng chính trị cao, có hàm lượng khoa học sâu sắc, phản ánh thực tiễn đa dạng, phong phú, đáp ứng yêu cầu đề ra của hội thảo.
Các tham luận một lần nữa khẳng định cuộc đời, sự nghiệp cách mạng cao cả và những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam cũng như với phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, phong trào giải phóng các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Bằng những luận điểm, lý luận và thực tiễn, các tham luận đều thống nhất khẳng định cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng cao cả và đẹp đẽ. Đó là biểu tượng sáng ngời về đạo đức, về ý chí cách mạng kiên cường, bất khuất về tinh thần độc lập, tự chủ và bản lĩnh sáng tạo, về lòng yêu nước, thương dân tha thiết, về đạo đức cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư và phong cách giản dị, khiêm tốn.
Chính vì vậy, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, vì Người đã hiến dâng trọn cuộc đời cho độc lập của Tổ quốc, tự do cho dân tộc và cho hạnh phúc của nhân dân, cho hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.
Nhiều tham luận đã khẳng định tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được thế giới thừa nhận và tôn vinh bởi đó là sự kết tinh giá trị văn hóa tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại. Là sự thống nhất giữa bản chất khoa học và cách mạng, đổi mới và phát triển. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, dân tộc và thời đại, truyền thống và hiện đại, giữa lời nói và hành động. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã trở thành di sản tinh thần vô cùng to lớn, quý giá đối với Đảng và dân tộc ta.
Khác với sự ra đời của nhiều hệ tư tưởng, lý luận trên thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển trong quá trình đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Đó là sự đúc rút, tổng kết từ cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hy sinh, nhưng vô cùng sôi nổi, phong phú, cao thượng và trong sáng của Người.
Hệ thống lý luận cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao bằng tinh thần cách mạng và khoa học. Người cho rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh. Bởi vậy, Người tiếp thu, vận dụng sáng tạo, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển phù hợp, làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin trở nên sống động với thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Các tham luận tiếp tục khẳng định tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là nội dung cốt lõi, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi là ngọn đuốc soi đường, dẫn dắt sự nghiệp cách mạng Việt Nam
Quang cảnh tại điểm cầu Bộ Quốc phòng. Ảnh: Cường Dũng.
Sự đúng đắn, phù hợp quy luật khách quan và đầy sáng tạo của Hồ Chí Minh khi đặt cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo cách mạng vô sản gắn liền giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đồng thời khẳng định đi lên CNXH là con đường đúng đắn, tất yếu của cách mạng Việt Nam, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới trong thời đại ngày nay-thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH.
Bên cạnh đó, các tham luận phân tích, khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại về vai trò sức mạnh to lớn của nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh mang tầm chiến lược có giá trị khoa học, cách mạng và nhân văn sâu sắc bởi vì luôn đặt lợi ích của nhân dân, của con người ở vị trí trung tâm. Chính nhờ chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ, tập hợp được sức mạnh của toàn dân tộc, của các lực lượng yêu nước trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do cho dân tộc, ấm no hạnh phúc cho nhân dân, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
Trên cơ sở phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, một số bài tham luận đề xuất Đảng cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại toàn dân, tập hợp, phát huy sức mạnh của tất cả các tầng lớp nhân dân. Đồng thời mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự rèn luyện, tự tu dưỡng đạo đức cách mạng nêu cao tinh thần trách nhiệm phục vụ, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực sự là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn.
* Khẳng định giá trị và ý nghĩa to lớn tư tưởng của Người về Đảng Cộng sản
Đề cập đến giá trị, ý nghĩa to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản, về xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền đối với công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, các tham luận đã đi sâu, phân tích làm sáng tỏ tâm huyết, công sức mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đặc biệt là việc xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức về công tác giáo dục, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên để tiếp tục vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn mới. Nhiều tham luận đã phân tích, luận giải sâu sắc, đồng thời đề xuất Đảng cần phải thường xuyên tiến hành công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chăm lo, giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng, lấy đó làm hạt nhân đoàn kết toàn dân, thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện thường xuyên, nghiêm túc việc tự phê bình và phê bình trong Đảng; quan tâm giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng nêu cao tinh thần trách nhiệm vì nước vì dân của cán bộ đảng viên; kiên quyết kiên trì đấu tranh phòng, chống quan liêu tham nhũng, lãng phí, chống chủ nghĩa cơ hội, cá nhân. Phải gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do dân, vì dân và xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh, thật sự là đạo đức là văn minh xứng đáng với niềm tin yêu và kỳ vọng của nhân dân.
Hội thảo đã nêu bật chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, lãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam, người chiến sĩ cộng sản quốc tế mẫu mực, người bạn thân thiết của các dân tộc đã và đang đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới. Nhiều tham luận đã khắc họa đậm nét tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Hội thảo tiếp tục khẳng định Đảng và nhân dân Việt Nam luôn trung thành, kiên định và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đó vừa là nhu cầu vừa là yêu cầu có tính nguyên tắc trong công cuộc đổi mới, phát triển và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Các tham luận đã làm sáng tỏ sự kế thừa, phát huy di sản vô cùng quý báu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho Đảng và nhân dân ta, làm rõ những thắng lợi vĩ đại của Đảng, của đất nước và của dân tộc trong 50 năm thực hiện Di chúc của thiêng liêng của người.
Phát biểu kết luận hội thảo, đồng chí Võ Văn Thưởng một lần nữa nhấn mạnh: Sự nghiệp cách mạng vĩ đại và tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là ngọn đuốc soi đường, dẫn dắt sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong quá trình đổi mới, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Ở bất cứ hoàn cảnh, điều kiện nào, Đảng và nhân dân ta luôn trung thành, kiên định lý tưởng, mục tiêu và con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động.

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2020

NGHỆ THUẬT TẠO THẾ VÀ LỰC TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN NĂM 1975



Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 diễn ra từ ngày 04/3 đến ngày 30/4/1975, được thực hiện bằng ba đòn tiến công chiến lược chủ yếu vào Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn - Gia Định, kết hợp với các chiến dịch, các đợt hoạt động tác chiến và nổi dậy. Để kết thúc thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng, quân và dân ta đã vận dụng linh hoạt, sắc sảo nghệ thuật chiến tranh nhân dân, tạo thế, lực mạnh hơn địch nhiều lần - yếu tố quyết định giành thắng lợi - nét độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, để lại một số vấn đề học thuật mang tầm chiến lược.
1. Trong đòn tiến công chiến lược mở đầu trên chiến trường Tây Nguyên, ý định ban đầu của ta là tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng Buôn Ma Thuột và Nam Tây Nguyên, mở rộng hành lang, nối liền Tây Nguyên với Đông Nam Bộ; thực hiện chia cắt, tạo cục diện mới về chiến lược. Thực hiện ý định đó, việc tạo ưu thế về lực lượng và phương tiện là một nhân tố quan trọng được Bộ Tổng Tư lệnh, người chỉ huy và cơ quan chiến trường hoạch định tỉ mỉ, có tính nghệ thuật cao. Theo đó, ta chủ động kết hợp giữa lực lượng tại chỗ (28 tiểu đoàn bộ binh và dân quân du kích) với lực lượng của Bộ tăng cường (14 tiểu đoàn bộ binh) và chủ lực của Quân khu 5, miền Đông Nam Bộ đến phối hợp (10 tiểu đoàn) hình thành tập đoàn chiến lược mạnh, tạo được ưu thế về binh lực và phương tiện so với địch, nhất là trên hướng chủ yếu của Chiến dịch và ở trọng điểm đột phá khẩu Buôn Ma Thuột1. Đặc biệt, trong Chiến dịch này, nghệ thuật nghi binh, tạo thế, giữ quyền chủ động tác chiến cũng là nét nổi bật và thành công lớn của ta ở cả cấp chiến dịch và chiến lược. Bằng một loạt các biện pháp nghi binh công phu ta đã thu hút và giam chân khối chủ lực cơ động của địch ở Bắc Tây Nguyên, dẫn đến sơ hở ở Nam Tây Nguyên, điều kiện thuận lợi để ta tập trung lực lượng chủ yếu tiến công mạnh quân địch làm cho chúng hoàn toàn bị bất ngờ và nhanh chóng thất bại. Đó chính là nghệ thuật nghi binh, lừa địch, làm thay đổi tương quan so sánh lực lượng trên chiến trường chính Tây Nguyên có lợi cho ta, bất lợi cho địch. Mặc dù, ta chỉ tăng cường đến chiến trường này 04 sư đoàn bộ binh (316, 968, 10, 320), song đã tạo thế áp đảo, nhất là trên hướng chủ yếu của Chiến dịch. Cùng với đó, ta đã kết hợp khéo léo giữa thế bao vây, chia cắt với cách đánh linh hoạt, sắc nhọn, hiểm chắc, nên trận then chốt mở đầu Buôn Ma Thuột nhanh chóng giành thắng lợi.
Thắng lợi của trận đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột đã tạo đà cho ta tiêu diệt Sư đoàn 23 ngụy tại Phước An, mở ra thế phát triển về chiến dịch và chiến lược, để lực lượng vũ trang Tây Nguyên phá vỡ thế trận phòng thủ của địch, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng của chúng ở Tây Nguyên, giải phóng toàn bộ địa bàn Tây Nguyên và nhanh chóng phát triển tiến công xuống đồng bằng duyên hải miền Trung, cắt đôi thế bố trí chiến lược của địch, tạo thời cơ phát triển cuộc tiến công chiến lược thành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam. Theo Tài liệu tổng kết về Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 của Bộ Tổng Tham mưu (năm 1976): nếu như ở thời điểm tháng 02/1975, so sánh tổng quân số địch, ta ở miền Nam là 1,7/1; trong đó, quân chủ lực là 1/1,03, quân địa phương là 4,9/1, đến khi ta chuyển lên Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam (ngày 18/3/1975), so sánh tổng quân số địch, ta là 1,38/1, trong đó quân chủ lực là 1/1,26, quân địa phương là 4,5/1. Thực tế cho thấy, thắng lợi của đòn tiến công chiến lược mở đầu trên chiến trường Tây Nguyên không chỉ tạo bước phát triển mới về thế trận chiến lược, chiến dịch, mà còn góp phần quan trọng làm cho cán cân lực lượng chiến lược có sự thay đổi đáng kể, có lợi cho ta.
2. Trong lúc đòn tiến công chiến lược mở đầu trên chiến trường Tây Nguyên tập trung đánh địch phản kích ở Buôn Ma Thuột và tổ chức chặn đánh, tiêu diệt các lực lượng còn lại của Quân đoàn 2 ngụy rút chạy trên Đường 7, thì Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5 và Quân đoàn 2 của ta đồng loạt mở hai chiến dịch quy mô vừa, đánh địch ở đầu phía Bắc thuộc Quân đoàn 1, Quân khu 1 ngụy. Khi đòn tiến công Tây Nguyên của ta giành được thắng lợi, làm cho thế trận chiến lược của địch đứng trước nguy cơ bị cắt đôi, Quân khu 3 ngụy bị uy hiếp trực tiếp, buộc địch phải rút bỏ Quảng Trị về co cụm chiến lược. Trước sự phát triển nhanh về mọi mặt của ta trên chiến trường, ngày 24/3/1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở cuộc tiến công vào Đà Nẵng. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, lực lượng vũ trang Quân khu Trị Thiên, Quân khu 5 và Quân đoàn 2 chủ lực của Bộ đã nhanh chóng phát triển hai chiến dịch quy mô vừa, thành chiến dịch tiến công quy mô lớn, khẩn trương tiêu diệt cụm quân lớn của địch, giải phóng Huế - Đà Nẵng.
Trong đòn tiến công chiến lược này, mặc dù kém chúng về quân số và vũ khí trang bị, nhưng so sánh về ưu thế ta vẫn hơn địch, bởi nhiều yếu tố, điển hình là, thế thắng lớn ở Tây Nguyên, thế bao vây, chia cắt hiểm và hơn nữa là bí mật, bất ngờ chớp thời cơ tạo thế và lực áp đảo - thời cơ là lực lượng - tiến công giải quyết nhanh các mục tiêu Huế, Tam Kỳ, Đà Nẵng. Nhờ đó, chỉ hơn 01 tháng liên tục tổng tiến công và nổi dậy, với 02 đòn tiến công chiến lược ở chiến trường Tây Nguyên và Huế - Đà Nẵng, quân và dân ta đã giành được thắng lợi to lớn: tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân sự và hệ thống chính quyền ngụy ở 02 địa bàn có lực lượng quân sự rất mạnh2, giải phóng 16 tỉnh, 05 thành phố cùng nhiều quận lỵ, chi khu, yếu khu quân sự. Vùng giải phóng được mở rộng chiếm 3/4 đất đai và gần 1/2 dân số miền Nam. Sau thắng lợi của đòn Huế -  Đà Nẵng (29/3/1975), so sánh tổng quân số địch, ta là 1/1,14 (địch: 464.000, ta: 530.000); trong đó, quân chủ lực là 1/1,95 (địch: 235.000, ta: 457.873); quân địa phương là 3,2/1 (địch: 229.800, ta 71.727)3. Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn đấu trí, đấu lực, cán cân lực lượng chiến lược giữa ta và địch trên chiến trường càng có sự thay đổi lớn hơn. Trong khi lực lượng của địch giảm mạnh, thì lực lượng của ta lại tăng với tốc độ rất nhanh.
Rõ ràng, cùng với thắng lợi có ý nghĩa quyết định của đòn tiến công chiến lược Tây Nguyên và thắng lợi nhanh chóng, vang dội của đòn tiến công chiến lược Huế - Đà Nẵng, ta đã đập tan ý định co cụm chiến lược của địch, góp phần làm thay đổi lớn về so sánh thế, lực giữa ta và địch ở cả quy mô chiến lược, chiến trường. Từ đó, tạo sự nhảy vọt về chất của cục diện chiến tranh, hoàn toàn có lợi cho ta, mở ra cục diện chiến lược mới chưa từng có, cơ sở, tiền đề quan trọng để ta giành được những mục tiêu chiến lược lớn hơn và sớm hơn dự kiến.
3. Đòn quyết chiến chiến lược đánh thẳng vào sào huyệt cuối cùng của địch ở Sài Gòn - Gia Định. Trên cơ sở dự báo sớm “Kế hoạch thời cơ”, khi thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam xuất hiện, Bộ Chính trị chủ trương: tập trung nhanh nhất lực lượng (từ 12 sư đoàn trở lên), binh khí, kỹ thuật và vật chất giải quyết xong Sài Gòn - Gia Định trước mùa mưa. Tiếp đó (ngày 30/3/1975 và ngày 14/4/1975), Bộ Chính trị chính thức hạ quyết tâm mở Chiến dịch Hồ Chí Minh - chiến dịch quyết chiến chiến lược với hình thức tiến công hiệp đồng quân chủng, binh chủng quy mô lớn kết thúc chiến tranh.
Nghệ thuật tạo thế và lực trong đòn quyết chiến chiến lược này, đó chính là sự kịp thời phát hiện, nắm bắt và tận dụng triệt để thời cơ chiến dịch, chiến lược; sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo mưu kế, thế, thời; nghệ thuật tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy đúng đắn, tài tình,… của Bộ thống soái. Đó là những cơ sở khoa học để các lực lượng cơ động thần tốc, tác chiến hiệp đồng quân chủng, binh chủng, tiến công và nổi dậy,… tạo ưu thế hơn hẳn cả về thế và lực, áp đảo hoàn toàn quân địch trên từng hướng tiến công vào Sài Gòn.
Về thế, ta chủ động, tích cực xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân phát triển ở trình độ cao; thế của hai lực lượng, ba thứ quân; thế bao vây chia cắt; thế tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng; thế đứng chân ở các vị trí xung yếu,... còn thế của địch đang ở thế tan rã, thế hoang mang và tất yếu là thế thua trận. Về lực, ta đã làm suy giảm lực lượng địch bằng những trận tiêu diệt lớn4. Hơn nữa, ta chủ động xây dựng được các binh đoàn chủ lực mạnh làm chuyển biến căn bản so sánh lực lượng có lợi cho ta, bất lợi cho địch: ta 1,7, địch 1 (riêng quân chủ lực là 3/1); về binh khí, kỹ thuật ta đã tập trung được 516 khẩu pháo mặt đất, 550 tên lửa và pháo phòng không, 01 đại đội máy bay A37, 320 xe tăng, xe thiết giáp,... còn lực của địch đang lâm vào trạng thái, “lực bất tòng tâm”. Đó là những thuận lợi căn bản, tạo sức mạnh tổng hợp hơn hẳn địch, đập tan mọi cố gắng cuối cùng của quân đội và chính quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Như vậy, chỉ với 55 ngày đêm diễn ra cuộc đấu trí, đấu lực giữa ta và địch trên chiến trường, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành, tổ chức, chỉ huy mưu lược, trí tuệ, sáng tạo và linh hoạt của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, của người chỉ huy và cơ quan chiến trường, chiến dịch, quân và dân ta đã làm nên kỳ tích lịch sử ở thế kỷ XX, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Thắng lợi đó để lại nhiều bài học quý, trong đó bài học về nghệ thuật tạo thế và lực trong tác chiến chiến dịch mãi mãi là tinh hoa quân sự để các thế hệ người Việt Nam tiếp tục kế thừa, nghiên cứu, vận dụng trong công cuộc xây dựng thế và lực của nền quốc phòng toàn dân để bảo vệ Tổ quốc.
1 - Trong trận Buôn Ma Thuột, ta đã tập trung một lực lượng lớn đủ sức áp đảo địch (so sánh lực lượng ta và địch: Bộ binh: 4,5/1, pháo binh 5/1, xe tăng 5,5/1), hình thành 05 mũi tiến công từ 03 hướng vây chặt quân địch, thực hiện chia cắt triệt để về chiến thuật.
2 - Quân khu 2 - Quân đoàn 2; Quân khu 1 - Quân đoàn 1.
3 - BTTM – Tài liệu tổng kết về Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 (Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã giành được thắng lợi trọn vẹn), Tập 1, H. 1976.
4 - Tính đến thời điểm Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu diễn ra, quân địch trên toàn chiến trường miền Nam đã bị đánh thiệt hại tới 35% quân số, 40% cơ sở hậu cần, 40% binh khí kỹ thuật.


PHÁT HUY TINH THẦN TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975, XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN TỰ VỆ VỮNG MẠNH, RỘNG KHẮP



Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giành thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, có sự đóng góp không nhỏ của lực lượng dân quân, tự vệ và du kích. Phát huy tinh thần đó, lực lượng Dân quân tự vệ hiện nay cần được xây dựng vững mạnh, rộng khắp; có tổ chức biên chế chặt chẽ, chất lượng chính trị cao, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu tốt, hoạt động chiến đấu phòng thủ có hiệu quả, góp phần xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc ngay từ cơ sở.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng Dân quân tự vệ và du kích miền Nam đã anh dũng chiến đấu bằng mọi thứ vũ khí, vận dụng phong phú, sáng tạo nhiều hình thức đánh địch trên khắp 03 vùng chiến lược; kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang bằng 03 mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận), phát triển các căn cứ chiến đấu, bám trụ kiên cường, giữ thế xen kẽ, cài răng lược, hình thành thế trận, vành đai du kích tiêu diệt địch. Bên cạnh đó, lực lượng Dân quân tự vệ, du kích còn phối hợp với nhân dân đấu tranh chống địch dồn dân lập “Khu trù mật”, “Ấp chiến lược”; phối hợp với bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực đánh bại chiến thuật “Trực thăng vận”, “Thiết xa vận”,… góp phần quan trọng để đánh thắng các chiến lược “Bình định”, “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”,… của Mỹ. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, lực lượng Dân quân tự vệ, du kích1 đã phối hợp với quân, dân miền Nam đồng loạt tiến công và nổi dậy, phá hủy nhiều trận địa pháo của địch, làm chủ các tuyến đường, treo cờ giải phóng, tiếp tế, vận chuyển, bảo vệ cơ sở vật chất của các cơ quan, nhà máy,… trong thành phố. Đồng thời, dẫn đường cho các đơn vị chủ lực đánh chiếm các căn cứ, truy quét, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng các vùng bị chiếm đóng với phương châm: xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”. 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ của Quân giải phóng đã tung bay trên nóc Dinh Độc lập, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lực lượng Dân quân tự vệ được xây dựng vững mạnh, rộng khắp; có chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu ngày càng cao; chủ động, tích cực tham gia cùng với các lực lượng giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống dịch bệnh; tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tham gia thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động, phong trào thi đua do Trung ương và địa phương phát động, trở thành lực lư­ợng chính trị tin cậy của cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương.
Những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn định khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, chi phối các quan hệ quốc tế; xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng, căng thẳng thương mại, can thiệp lật đổ, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ, biển, đảo, tài nguyên,… diễn ra dưới nhiều hình thức gay gắt hơn. Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, đe dọa an ninh và ổn định ở khu vực cũng như quyền lợi chính đáng của nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Sự chống phá của các thế lực thù địch ngày càng quyết liệt, thông qua chiêu bài kích động, tụ tập đông người, đòi hỏi yêu sách phi lý, gây mất an ninh chính trị trên địa bàn. Trước tình hình đó, phát huy tinh thần Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 và chủ trương xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, cần tập trung thực hiện một số nội dung chủ yếu sau.
Một là, tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức triển khai có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật về Dân quân tự vệ. Cấp ủy, chính quyền địa phương, các cấp, các ngành thường xuyên làm tốt công tác giáo dục, quán triệt; tuyên truyền, phổ biến pháp luật, tập trung vào các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật về Dân quân tự vệ. Trọng tâm là Chỉ thị số 16-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng Dân quân tự vệ và lực lượng Dự bị động viên trong tình hình mới; Nghị quyết Trung ư­­ơng 8 (khoá XI) về Chiến lư­ợc bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Chiến lược Quân sự Việt Nam, Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia, Luật Dân quân tự vệ năm 2019,… cho các đối tượng và toàn dân, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ trì các cấp, ban chỉ huy quân sự cấp xã, cơ quan, tổ chức, đơn vị Dân quân tự vệ nhằm nhận thức rõ vai trò quan trọng của Dân quân tự vệ, từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm trong xây dựng lực lượng này. Đồng thời, tăng cường công tác quản lý nhà nước, xây dựng, ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ, bảo đảm 100% các tỉnh, thành phố có đề án, kế hoạch, xây dựng, huấn luyện, hoạt động và bảo đảm chế độ, chính sách cho lực lượng Dân quân tự vệ. Chú trọng công tác kiểm tra, tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ.
Hai là, xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ có số lượng phù hợp, cơ cấu thành phần hợp lý, chất lượng tổng hợp ngày càng cao, trước hết là chất lượng chính trị. Cơ quan quân sự các cấp thực hiện nghiêm việc đăng ký, quản lý Dân quân tự vệ, tiến hành tuyển chọn, xét duyệt, sắp xếp đúng, đủ thành phần bảo đảm dân chủ, công khai theo phư­ơng châm “Dân biết, dân bàn, dân cử”; khắc phục tình trạng mất cân đối lực l­ượng giữa các vùng, miền, biên giới, hải đảo. Trong đó, chú trọng xây dựng Dân quân tự vệ tại chỗ, cơ động, Dân quân tự vệ biển, Dân quân tự vệ binh chủng, Dân quân thường trực ở địa bàn trọng điểm về quốc phòng và lực lượng tự vệ trong các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng tiếp tục phối hợp với các địa phương đẩy mạnh triển khai thực hiện, nhân rộngcác mô hình mới về xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ, như: hải đội dân quân thường trực, chốt chiến đấu dân quân thường trực biên giới, đất liền gắn với các điểm dân cư, v.v. Đồng thời, nâng cao chất lư­ợng tổ chức, hoạt động của chi bộ quân sự cấp xã; chú trọng công tác phát triển đảng viên, đoàn viên nhằm nâng cao chất lượng chính trị của Dân quân tự vệ.
Ba là, đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện Dân quân tự vệ và đào tạo Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn. Các địa phương tập trung nâng cao chất lượng bồi dưỡng, tập huấn, thống nhất chương trình, nội dung, thời gian, phương pháp, trình độ, năng lực tổ chức, chỉ huy trước khi bước vào huấn luyện cho đội ngũ cán bộ làm công tác quốc phòng địa phương, cán bộ chỉ huy đơn vị Dân quân tự vệ, nhất là cán bộ trực tiếp huấn luyện. Qua đó, huấn luyện cho Dân quân tự vệ hiểu rõ âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; từng bước sử dụng thành thạo các loại vũ khí, phương tiện được trang bị, vũ khí tự tạo, công cụ hỗ trợ; nắm vững nguyên tắc chiến thuật gắn với địa bàn hoạt động, vận dụng sáng tạo trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu; phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn. Đồng thời, coi trọng huấn luyện các tình huống, phương án tại chỗ; tập trung đào tạo các chức vụ chỉ huy chuyên môn kỹ thuật, huấn luyện hải đội dân quân thường trực, bảo đảm hoạt động có hiệu quả. Tăng cường hội thi, hội thao, diễn tập, kiểm tra của các cấp để đánh giá thực chất, kịp thời rút kinh nghiệm, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác huấn luyện. Cùng với đó, Cục Dân quân tự vệ tiếp tục tham mưu ban hành, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác đào tạo theo quy định của Luật Dân quân tự vệ năm 2019. Các cấp, các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, nhà trường tiếp tục quán triệt nhiệm vụ đào tạo, lấy chất lượng làm chính, góp phần nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cấp xã. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, tuyển chọn, cử đi đào tạo và bố trí, sử dụng sau đào tạo đúng quy trình, nguyên tắc, chuyên ngành; thường xuyên rút kinh nghiệm, bổ sung, điều chỉnh chương trình, nội dung đáp ứng yêu cầu thực tiễn; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, giảng viên. Tăng cường đào tạo liên thông vừa làm vừa học từ trung cấp lên cao đẳng và từ cao đẳng lên đại học ngành quân sự cơ sở tại trường quân sự các quân khu, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội, Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Bốn là, nâng cao chất lượng, hiệu quả phối hợp hoạt động giữa Dân quân tự vệ với các lực lượng. Phát huy vai trò tham mưu của cơ quan quân sự các cấp, ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức trong tuyên truyền, vận động và triển khai thực hiện hiệu quả hoạt động phối hợp của Dân quân tự vệ. Việc sử dụng lực lượng Dân quân tự vệ bảo đảm đúng quy định của pháp luật và Chỉ thị số 20/CT-TM, ngày 22/8/2012 của Tổng Tham mưu trưởng về tăng cường chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Dân quân tự vệ. Các địa phương chỉ đạo, hướng dẫn Dân quân tự vệ phối hợp với Công an và các lực lượng liên quan trong bảo vệ an ninh biên giới quốc gia, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật; kịp thời xử lý các tình huống, không để bị động, bất ngờ. Xây dựng Dân quân tự vệ thực sự là lực lượng nòng cốt, xung kích trong phối hợp với các lực lượng thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thảm họa, sự cố, thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn; tham gia diễn tập phòng thủ dân sự, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.
Năm là, quan tâm bảo đảm đầy đủ, kịp thời chế độ, chính sách đối với Dân quân tự vệ. Những năm qua, các địa phương, cơ quan, tổ chức đã thực hiện nghiêm việc bảo đảm chế độ, chính sách cho lực lượng Dân quân tự vệ theo quy định của Luật Dân quân tự vệ, nhiều địa phương có cách làm sáng tạo, đem lại hiệu quả cao. Phát huy kết quả đó, các địa phương chủ động bố trí ngân sách, kết hợp tăng cường huy động các nguồn lực xã hội hóa bảo đảm đầy đủ, kịp thời chế độ, chính sách đối với Dân quân tự vệ, đặc biệt là những địa phương còn khó khăn. Đồng thời, làm tốt công tác chính sách hậu phương, gia đình đối với những cán bộ, chiến sĩ Dân quân tự vệ gặp khó khăn, ốm đau, bị thương, từ trần hoặc hy sinh. Các địa phương chủ động bảo đảm phương tiện, vũ khí, trang bị, công cụ hỗ trợ, cơ sở, vật chất cho thực hiện nhiệm vụ và quan tâm đầu tư kinh phí xây dựng trụ sở làm việc riêng cho ban chỉ huy quân sự cấp xã, nhà ở cho dân quân thường trực, bảo đảm điều kiện làm việc, sinh hoạt của lực lượng Dân quân tự vệ.
Việc xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững mạnh, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Nhiệm vụ quan trọng này phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, có chất lượng, hiệu quả để thực hiện tốt phương châm “giữ nước từ khi nước chưa nguy”.
http://tapchiqptd.vn/vi/ky-niem-45-nam-ngay-giai-phong-mien-nam/phat-huy-tinh-than-tong-tien-cong-va-noi-day-xuan-1975-xay-dung-luc-luong-dan-quan-tu-ve-v/15409.html1 - Riêng ở Sài Gòn - Gia Định có khoảng 3.000 dân quân, du kích và trên 200 tự vệ mật.



Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...