Thứ Hai, 17 tháng 2, 2020

HUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CỦA ĐẢNG TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC HIỆN NAY


C
Hơn lúc nào hết, hiện nay, cần tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng để lãnh đạo đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và hội nhập quốc tế, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC, CỘI NGUỒN SỨC MẠNH CỦA ĐẢNG, CỦA CÁCH MẠNG ĐỂ ĐI ĐẾN THẮNG LỢI
Khi chuẩn bị những điều kiện cần thiết để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trong tác phẩm Đường Cách mệnh (1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đặt lên hàng đầu Tư cách một người cách mệnh với 23 điểm căn bản. Với thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam, yêu cầu và nội dung xây dựng Đảng đặt ra nhiều vấn đề lớn lao và mới mẻ trong đó có rèn luyện đạo đức cách mạng. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (10-1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong Chương III về Tư cách và đạo đức cách mạng, nhấn mạnh 12 điều về tư cách của Đảng chân chính cách mạng. Người nêu bật những tính tốt của người cách mạng cần được bồi đắp: NHÂN, NGHĨA, TRÍ, DŨNG, LIÊM.
Hồ Chí Minh thẳng thắn chỉ rõ những khuyết điểm, sai lầm của cán bộ, đảng viên như non kém về lý luận, tư tưởng không vững vàng, thiếu kiên định mục tiêu chính trị, quan liêu trong phong cách lãnh đạo và khuyết điểm về đạo đức. Biểu hiện kém đạo đức rất nặng nề và tập trung ở sự tham lam, lười biếng, xa hoa, hủ hóa, kiêu ngạo, hiếu danh, hẹp hòi, thiếu kỷ luật,v.v.. Những thứ bệnh nguy hiểm đó đều bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân.
Suốt quá trình lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do, xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức gắn liền với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng - lý luận và tổ chức. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Nhiều cán bộ, đảng viên đã nêu tấm gương sáng về đạo đức cách mạng. Ở mỗi thời kỳ đấu tranh cách mạng, với chiến lược cách mạng cụ thể đã định hình những giá trị chuẩn mực đạo đức nổi bật.
Trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và các cuộc kháng chiến cứu nước đã làm nổi bật những tấm gương về nhân cách, đạo đức của những chiến sĩ cộng sản.
Trước hết đó là tuyệt đối trung thành với sự nghiệp đấu tranh của Đảng và dân tộc vì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đạo đức của Đảng là thật sự vì nước, vì dân, nêu cao lợi ích của đất nước, dân tộc, Tổ quốc trên hết, độc lập trên hết. Toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức và hành động vì lợi ích của dân tộc. Ngoài lợi ích của giai cấp, dân tộc và nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác. Toàn Đảng chung sức lãnh đạo đấu tranh làm sao cho đất nước được hoàn toàn độc lập, thống nhất, dân tộc, đồng bào được tự do, hạnh phúc, bảo đảm quyền sống và thoát khỏi sự áp bức, bất công, đau khổ dưới sự thống trị của chế độ thực dân, phong kiến và các thế lực phản động.
Đạo đức của Đảng thể hiện ở quyết tâm và kiên cường đấu tranh chống mọi kẻ thù cướp nước và bán nước, cán bộ, đảng viên của Đảng là những chiến sĩ đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh đó. Cuộc đấu tranh đó đã diễn ra rất lâu dài và gian khổ với những thách thức nặng nề. Cuộc đấu tranh đó phải đương đầu với những thế lực đế quốc, thực dân, phản động cực kỳ tàn bạo, có sức mạnh và mưu đồ hiểm độc. Thách thức nặng nề đó khiến cho toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao phẩm chất, ý chí đấu tranh vì phẩm giá, nhân cách con người và tinh thần tự tôn dân tộc. Bền bỉ đấu tranh vượt qua mọi gian khổ hiểm nguy để đi tới chiến thắng là giá trị đạo đức của Đảng.
Đạo đức của Đảng là đức hy sinh, giữ vững ý chí và khí tiết của người cộng sản. Những người cộng sản đã hy sinh tuổi thanh xuân, cuộc sống gia đình, hạnh phúc riêng tư, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Dù biết phải hy sinh kể cả hy sinh tính mạng cũng không lùi bước. Luôn luôn đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh, nêu tấm gương sáng trước quần chúng nhân dân. Nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng đã hy sinh trong lao tù đế quốc như Trần Phú, Lê Hồng Phong hoặc ở trường bắn của quân thù như Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Thụ,…
Đạo đức của Đảng trong đấu tranh giải phóng dân tộc đã góp phần rèn luyện nhiều thế hệ đảng viên, cán bộ và cả quần chúng trung kiên thành những lớp người đặc biệt mà uy vũ không thể khuất phục, sẵn sàng xả thân vì dân, vì nước, vì nghĩa lớn, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Những người cộng sản luôn luôn đứng ở hàng đầu trong những lớp người đặc biệt đó và được quần chúng nhân dân kính phục, tin cậy và noi theo. Giá trị đạo đức đó cũng là cội nguồn sức mạnh của Đảng, của cách mạng để đi đến thắng lợi.
Thời kỳ Đảng lãnh đạo xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa và thực hiện công cuộc đổi mới, những giá trị đạo đức của thời cách mạng giải phóng và chiến tranh cứu nước tiếp tục được kế thừa, phát triển và lan tỏa. Đại hội XII của Đảng (1-2016) nhấn mạnh xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Đây là lần đầu tiên, Đảng ta nêu rõ nội dung xây dựng Đảng về đạo đức. Cùng với xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoàn thiện Cương lĩnh, đường lối, chú trọng xây dựng tổ chức đảng và công tác cán bộ, phải rất đề cao giáo dục đạo đức cách mạng trong Đảng và cũng đòi hỏi từng cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, đặc biệt học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
ĐÒI HỎI QUYẾT TÂM MỚI
Chặng đường mới cũng đặt ra nhiều thách thức mới từ vị trí cầm quyền của Đảng và trách nhiệm lớn lao của mỗi cán bộ, đảng viên đòi hỏi quyết tâm mới để vượt qua hoàn cảnh và vượt qua chính mình trước những cám dỗ vật chất, lợi ích cá nhân và tham vọng quyền lực. Nhiều đồng chí đã giữ vững truyền thống đạo đức của Đảng, hết lòng vì sự phát triển, phồn vinh của đất nước, vì cuộc sống hạnh phúc của nhân dân. Nhưng cũng có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã thiếu sự tu dưỡng, rèn luyện, học tập dẫn tới sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (10-2016) đã thẳng thắn chỉ ra. Những hạn chế, khuyết điểm và sự suy thoái đó đã “làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”.
Hơn lúc nào hết, hiện nay cần tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng để lãnh đạo đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và hội nhập quốc tế, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Trước yêu cầu đó, rất cần thiết phải tổng kết sâu sắc hơn những vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức từ trước tới nay và đề ra được những tiêu chí về đạo đức của Đảng trong hoàn cảnh hiện nay.
Đạo đức của Đảng trong thời kỳ mới là hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, “dĩ công vi thượng”. Cương lĩnh, đường lối của Đảng đã thể hiện điều đó. Chỉ đạo và hoạt động thực tiễn của toàn Đảng, mọi tổ chức đảng hướng tới chuẩn mực đó. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý phấn đấu để làm tốt điều đó. Đó là giá trị đạo đức mới hiện nay. Để đạt tới chuẩn mực đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải đề cao tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân, thái độ vì dân. Thật sự trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân. Phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, vì sự hùng cường của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Coi trọng hành động, những việc làm cụ thể vì mục tiêu cao cả đó. Chuẩn mực đạo đức đó đòi hỏi phải kiên quyết phê phán, chống chủ nghĩa cá nhân trong mỗi người cán bộ, đảng viên. Chống lối sống ích kỷ, tham lam, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, thu vén cá nhân, không quan tâm đến tập thể, đến lợi ích chung.
Cần nhấn mạnh, đạo đức của Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên là cần kiệm liêm chính, không tham ô, tham nhũng, lãng phí, không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi. Đây là chuẩn mực thể hiện lương tâm, danh dự và nhân cách, tư cách của người cách mạng. Chuẩn mực đó đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải làm việc với chất lượng và hiệu quả cao nhất với những nhiệm vụ được giao, không thờ ơ, thiếu trách nhiệm, vô cảm trong công việc. Thói vô trách nhiệm, né tránh công việc đang làm tổn hại, cản trở sự phát triển và làm cho sự lãnh đạo, quản lý trì trệ, kém hiệu quả, hiệu lực. Cần kiên quyết phê phán, đấu tranh ngăn chặn hành động tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn câu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Sống bằng kết quả lao động, cống hiến và thu nhập hợp pháp, kê khai trung thực, minh bạch tài sản riêng. Không lợi dụng, lạm dụng quyền lực được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực. Kiên quyết chống những biểu hiện phe cánh, lợi ích nhóm. Mọi cán bộ, đảng viên sống và làm việc tuân thủ kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, trung thực đoàn kết, không làm điều gì khuất tất, không đưa người nhà, người thân không đủ tiêu chuẩn, điều kiện vào các cơ quan hoặc vị trí lãnh đạo, quản lý. Chống tham nhũng không chỉ bảo vệ tiền bạc, tài sản công để không gây thiệt hại về kinh tế mà còn là vấn đề chính trị, sự vững mạnh của chế độ, niềm tin của nhân dân và cũng là vấn đề đạo đức, vì sự trong sạch trong đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, đạo đức của Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay là không quan liêu, xa rời quần chúng, khiêm tốn, giản dị, giữ gìn lối sống trong sạch, đề cao các giá trị văn hóa, nhân văn. Gắn bó mật thiết với nhân dân là một trong những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Từ phong trào cách mạng của quần chúng mà xây dựng Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên trưởng thành. Bài học lấy dân làm gốc cần được nhận thức và hành động đúng ở mọi thời kỳ cách mạng. Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới, bài học đó có ý nghĩa to lớn động viên sức dân trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước. Gắn bó với nhân dân, thật sự vì lợi ích của nhân dân, là vấn đề lớn trong đạo đức cách mạng. Làm tốt được điều đó là khắc phục được bệnh quan liêu - một nguy cơ lớn của Đảng cầm quyền. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã nêu rõ một trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống là: “Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân”. Phải thật sự tin dân, hiểu dân, lắng nghe ý kiến của dân, bàn bạc với nhân dân, chăm lo cho lợi ích của nhân dân. Nếu có khuyết điểm thì thật thà nhận lỗi trước nhân dân và cùng với nhân dân sửa chữa. Giữ gìn lối sống lành mạnh, không “sa vào các tệ nạn xã hội, vi phạm thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội”.
Đạo đức của Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay đòi hỏi đề cao tính trung thực, tình thương yêu đồng chí, sống nhân ái, nghĩa tình. Sinh thời Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Tình là tình cảm chân thật, nghĩa là trách nhiệm, cần sống “ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có gì phải giấu Đảng”. Đó là sự trung thực. Mọi việc Đảng giao cho dù to hay nhỏ phải cố gắng hoàn thành cẩn thận. Hiện nay, phải khắc phục biểu hiện thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, gió chiều nào che chiều ấy, dĩ hòa vi quý. Đó là sự thiếu trung thực ảnh hưởng đến sự lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng và cũng là biểu hiện suy giảm về đạo đức. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã nêu rõ những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống cần phải phê phán, loại bỏ như “ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình”, “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền, độc đoán, gia trưởng, thiếu chỉ đạo trong chỉ đạo, điều hành”. Những biểu hiện đó là trái với đạo đức cách mạng của Đảng mà Hồ Chí Minh chú trọng rèn luyện, trái với đạo đức công vụ trong bộ máy nhà nước và ảnh hưởng xấu đến đạo đức của xã hội.
Đạo đức trong Đảng hiện nay cần thiết nhấn mạnh sự gương mẫu, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Gương mẫu trong công việc, trách nhiệm được giao; gương mẫu về phẩm chất, nhân cách, lối sống; gương mẫu trong phong cách làm việc dân chủ, khoa học, gần dân, sát thực tế, thống nhất giữa nói và làm; gương mẫu trong hưởng thụ quyền lợi vật chất. Đảng viên nêu gương trước quần chúng, cán bộ lãnh đạo, quản lý nêu gương trước nhân viên, cấp trên nêu gương trước cấp dưới. Người có chức vụ, trách nhiệm càng cao, trách nhiệm nêu gương càng lớn.
Sự hoàn thiện đạo đức trong Đảng với những tấm gương sáng về đạo đức của cán bộ, đảng viên có ảnh hưởng sâu sắc và rộng lớn đến những giá trị đạo đức của toàn xã hội, của dân tộc. Hồ Chí Minh mong muốn dân tộc Việt Nam phải là một dân tộc văn minh, thông thái, có đạo đức. Điều đó làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, dân tộc Việt Nam nhân ái trở thành biểu tượng tốt đẹp trong tình cảm của bạn bè quốc tế.
Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân” (1). Thấm nhuần lời dạy đó của Người, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, nhiệm vụ và mục tiêu xây dựng Đảng về đạo đức đang đặt ra bức thiết. Cần thiết có sự thống nhất nhận thức và quyết tâm hành động góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế./.


“MẬT ƯỚC THÀNH ĐÔ” - MỘT THÍ DỤ ĐIỂN HÌNH CỦA SỰ DỐI TRÁ



Năm 2010, trên Internet lan truyền tin giả kể rằng WikiLeaks công bố “tài liệu tuyệt mật” cho biết, đến năm 2020, Việt Nam sẽ trở thành “khu tự trị” của nước ngoài. Dù sau đó người đưa ra tin giả này khẳng định đây chỉ là bịa đặt, thì đến nay, các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí vẫn sử dụng để vu khống Đảng, Nhà nước Việt Nam. Và đáng tiếc, một số người đã tin theo, rồi có phát ngôn, hành động thiếu chín chắn...
Ngày 30-11-2010, blog nguoiduatinkami công bố bài viết của Kami nhan đề “Wikileaks - Kế hoạch cho Việt Nam được hưởng quy chế Khu tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh”, trong đó viết rằng sự kiện này sẽ xảy ra vào năm 2020, và đó là thông tin “nằm trong số 3.100 các bức điện đánh đi từ Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh của cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ tại Việt Nam gửi chính phủ Hoa Kỳ”! Dù Kami coi đó “chỉ là một tin mang tính chất giả thiết của tác giả mà nó có nhiều khả năng khi bị bạch hóa có thể xảy ra mà thôi, chứ không phải tin chính thức của Wikileaks... Xin vui lòng chờ tổ chức Wikileaks họ sẽ chính thức công bố trong một thời gian gần đây cho mọi người toàn thế giới rõ”, thì tin này vẫn loang ra với tốc độ chóng mặt.
Trước hệ quả tiêu cực từ thông tin bịa đặt, ngày 6-12-2010, Kami phải công bố tiếp bài “Đôi điều về bài viết “Wikileaks: Kế hoạch…”…” khẳng định đó chỉ là “tin mang tính giả thiết”, “một bài báo mang tính phiếm luận, ở dạng viết chơi, viết cho vui mà không hề có suy nghĩ nó sẽ được mọi người, các hãng truyền thông nhào nặn thành một tin “tuyệt mật”, “cực kỳ quan trọng”, “cực kỳ nguy hiểm”…”. Tuy nhiên, Kami vẫn mập mờ rào đón đó là một “phép thử”, rồi ra vẻ đạo đức để lên giọng dạy dỗ “mọi việc sẽ trở nên hết sức đơn giản nếu mọi người chúng ta đọc bài viết một cách kỹ càng, nghiêm túc từ đầu đến cuối, nếu không nói là đọc một vài lần để hiểu Kami muốn nói gì hay chuyển tải thông tin gì qua bài viết của mình. Và một điều muốn nói với một số trang mạng, các đài radio hay đài truyền hình,… đừng lấy các tin giả thiết rồi chế thành những tin như thật nó cũng không hay lắm cho uy tín của các bạn”!
10 năm qua, cái tin nhảm nhí, vô ý thức, vô trách nhiệm, hết sức thâm độc do Kami bịa đặt đã được các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam triệt để khai thác và sử dụng làm vũ khí tiến công Đảng, Nhà nước Việt Nam. Và có một điều lố bịch là: dù luôn tự xưng về tính trung thực, song BBC, VOA, RFA,... vẫn không xấu hổ khi thể hiện thói thiếu đạo đức báo chí của họ qua việc sử dụng tin giả của Kami như một “món khoái khẩu”. Mà bằng chứng là đến hôm nay, trên Internet vẫn lưu giữ các bài như “Thực hư tài liệu tuyên truyền Thành Đô” (BBC, 15-10-2014), “Đã đến lúc công bố mật ước Thành Đô?” (BBC, 17-10-2014), “Mật ước Thành Đô: Đập như thế là… tan?” (VOA, 15-2-2019), “Nên hiểu “Mật ước Thành Đô” như thế nào?” (VOA 13-12-2017), “Uẩn khúc Hội nghị Thành đô: Lòng tin và sự minh bạch” (RFA, 10-8-2014), “Đã đến lúc giải mật Hội nghị Thành Đô?” (RFA, 6-8-2014)… Và không chỉ các tổ chức chống cộng của người Việt ở nước ngoài, các trang mạng thù địch với Việt Nam, mà một số người tự nhận hoặc được gọi là “nhân sĩ, trí thức, nhà dân chủ, người yêu nước” cũng dựa vào tin bịa đặt này để đòi “bạch hóa mật ước Thành Đô”, sử dụng để vu khống Đảng, Nhà nước Việt Nam “bán nước”, kích động hành vi chống đối chính quyền…
Chưa kể, trong khi lẽ ra nếu muốn thể hiện sự lành mạnh trong tiếp nhận, cần phải tỉnh táo xem xét, xác minh tính xác thực của thông tin, để phải phê phán, vạch rõ sự dối trá thì một số cá nhân (trong đó có cán bộ, đảng viên) lại bị cuốn theo luận điệu dối trá của kẻ xấu, thậm chí trả lời phỏng vấn của BBC, một người được gọi là nhân sĩ còn nói rằng: “Chúng tôi đang muốn là Quốc hội phải thành lập một Ủy ban nghiên cứu, bạch hóa vấn đề này”!
Là thông tin dối trá cho nên trong 10 năm khai thác cái gọi là “mật ước Thành Đô”, những kẻ cố tình khuếch đại và biến hoang tin này thành công cụ để chống phá Việt Nam và một số người tin theo một cách cảm tính rồi dựa vào đó để chất vấn Đảng và Nhà nước, đều có một đặc điểm chung là chưa bao giờ chứng minh được sự chính xác của nguồn tin, mà đều viện dẫn một cách mơ hồ rằng dẫn lại từ Wikileaks, thậm chí dựng đứng ra chuyện Tân Hoa xã, Thời báo Hoàn cầu đã công bố. Dù báo chí chính thống và rất nhiều bài viết, ý kiến trên mạng đã bác bỏ, chứng minh “mật ước Thành Đô” chỉ là thứ tin giả, khi tiếp nhận và sử dụng phải tỉnh táo, nhưng họ vẫn tảng lờ.
Đặc biệt, những kẻ chống cộng còn tỏ ra lì lợm hơn, ngoan cố hơn, và vì thế trong bài “Mật ước Thành Đô: một sự bịa đặt trắng trợn”, Kim Âu - một người Mỹ gốc Việt, từng viết: “đó chỉ là câu chuyện hoang tưởng của những kẻ bị bệnh rối loạn nhân cách, tự nhận mình là người quốc gia chống cộng do không hiểu được nội dung bài báo của Kami, hay hiểu nhưng cố tình áp đặt sự rối loạn nhân cách của họ để làm thay đổi nội dung câu chuyện từ giả thuyết thành sự thật bằng chứng hiển nhiên.
Tất nhiên những kẻ bị rối loạn nhân cách thì không có ai, lẽ phải hay sự thật nào ngăn cản được sự hoang tưởng điên dại của họ... Thậm chí đôi lúc chuyện giả tưởng này còn có lợi khi dùng thúc đẩy những người có nhiệt tình chống cộng nhưng ngu dốt vì thiếu tin tức chính xác, lành mạnh lên cơn hoặc sôi máu anh hùng rơm để tham gia vào cuộc đấu tranh chống Việt cộng”.
Và lý giải tại sao chính quyền Việt Nam lại không “bạch hóa mật ước Thành Đô” theo ý muốn của một số người, từ nước Mỹ, trả lời phỏng vấn của trang Trực diện TV, Luật sư Hoàng Duy Hùng phân tích: “Đây là chuyện không có. Người ta bịa ra mà mình cứ trả lời, thì người ta bịa hết chuyện này đến chuyện khác mình vẫn cứ phải trả lời hay sao? Nên cách hay nhất của người lãnh đạo là khi người ta bịa đặt, nhất là trong bối cảnh người ta cố tìm sơ hở để khai thác, tiến công thì cách hay nhất là im lặng, “lấy cái tĩnh để chế cái động”, đó là cách ứng xử của Nhà nước Việt Nam”. Đến ngày 3-1-2020 vừa qua, phát biểu trên PhoBolsa TV, ông Hồng Phúc - một người Mỹ gốc Việt, đã thẳng thắn vạch rõ: “Những người tung ra tin này là có tội với Tổ quốc, có tội với đất nước, có tội với những người đã hy sinh bao nhiêu xương máu, từ đời ông cha của mình, để bảo vệ đất nước Việt Nam. Họ tung tin là để kích động quần chúng, chia rẽ hận thù, và tôi coi đó là đám vô lại”...
Kể từ ngày Kami tung ra tin giả bỉ ổi kia đến nay đã tròn 10 năm, nhưng không có bất cứ dấu hiệu nào dù nhỏ nhất bảo đảm cho cái “sự kiện” mà Kami bịa ra. Trong 10 năm, dù tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, thì dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước, toàn thể dân tộc Việt Nam vẫn đoàn kết trong một khối thống nhất, vừa bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, vừa giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội với các thành tựu không thể phủ nhận, đồng thời tiếp tục khẳng định và nâng cao vị thế, uy tín trong cộng đồng quốc tế.
Trong 10 năm đó, rất nhiều văn bản hợp tác giữa Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế đã được ký kết, nhiều hội nghị có tầm vóc quốc tế như Đại hội đồng Liên minh nghị viện thế giới (IPU-132) năm 2015, Diễn đàn APEC 2017, Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới về ASEAN 2018,… đã được tổ chức tại Việt Nam. Đặc biệt, 2020 là năm Việt Nam đã chính thức đảm nhận vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2020 - 2021, giữ cương vị Chủ tịch ASEAN 2020…
Về sự phát triển kinh tế, như Báo cáo của Ngân hàng Thế giới công bố tháng 12-2019 đánh giá thì “Trong bối cảnh bất định tăng lên trên toàn cầu, Việt Nam chắc chắn vẫn nằm trong số những nền kinh tế tăng trưởng cao nhất trên thế giới với tốc độ tăng trưởng GDP ước đạt trên dưới 6,8%, cao gần gấp ba lần so với tốc độ bình quân của thế giới (2,6%), cao hơn 1,2 điểm phần trăm so với bình quân ở khu vực Đông Á, Thái Bình Dương”…
Các sự kiện, con số, các đánh giá như vậy đã trực tiếp khẳng định tinh thần độc lập, tự chủ, nỗ lực phát triển đất nước bằng chính trí tuệ, nội lực của toàn dân tộc là nguyên tắc bất di bất dịch của Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước, và hội nhập với cộng đồng nhân loại; đồng thời trực tiếp vạch trần sự bất lương của các thế lực thù địch, của một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí khi sử dụng tin giả “mật ước Thành Đô” để vu khống Đảng và Nhà nước Việt Nam, đó cũng là sự thật trực tiếp cảnh tỉnh những ai vì mơ hồ, nhẹ dạ, cả tin mà thiếu tỉnh táo trước loại thông tin bịa đặt đã được đơm đặt, thổi phồng chỉ nhằm phục vụ mưu đồ của kẻ xấu.
Những năm qua, trong sự phát triển của Việt Nam, chúng ta đánh giá cao vai trò của internet trong khi tham gia phát triển mối liên hệ giữa con người với con người, truyền bá thông tin, phổ biến tri thức, góp phần thỏa mãn nhu cầu giải trí, xây dựng các mối quan hệ kinh tế,... song không vì thế chúng ta lại xem nhẹ vấn đề quan trọng là internet đã và đang bị các thế lực thù địch cùng một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí lợi dụng, biến thành công cụ chống phá chế độ, tác động tiêu cực đến uy tín của Đảng và Nhà nước, gieo rắc thông tin sai trái, bịa đặt để thao túng, lũng đoạn niềm tin xã hội, cản trở sự phát triển của Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, tin giả về “mật ước Thành Đô” không chỉ là thí dụ điển hình, mà còn là đỉnh điểm của vô số dối trá, bỉ ổi mà kẻ xấu đã thực hiện trong những năm qua; là bằng chứng cho thấy quan hệ chặt chẽ giữa các thế lực thù địch với BBC, VOA, RFA,... khi sử dụng tin giả để chống phá Việt Nam.
Vì thế, trước sự phức tạp trong cuộc đấu tranh chống luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, mỗi người Việt Nam, đặc biệt là cán bộ và đảng viên, cần tiếp tục củng cố niềm tin vào con đường mà Đảng và Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, vào sự lãnh đạo của Nhà nước, vào truyền thông chính thống, có bản lĩnh, sáng suốt, tỉnh táo,... khi tiếp cận thông tin để tự mình và giúp người khác phân biệt giữa đúng với sai, giữa trung thực với dối trá, để tự mình trở thành nhân tố tích cực góp phần bảo vệ, củng cố niềm tin xã hội, bảo vệ cuộc sống của chính bản thân mình./.

EVFTA VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN



 Ngày 12-2 vừa qua, Hiệp định Thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu (EU) và Việt Nam (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam-EU (EVIPA) đã được Nghị viện châu Âu phê chuẩn.
Trước khi hai hiệp định trên được phê chuẩn, rất nhiều kẻ muốn "chọc gậy bánh xe", phá hoại, trì hoãn. Rồi ngay cả khi hiệp định được thông qua, bên cạnh sự vui mừng, háo hức, đánh giá cao từ doanh nghiệp và người dân Việt Nam, EU, cũng như dư luận quốc tế nói chung thì vẫn có những kẻ hậm hực, cố tình xuyên tạc, cho rằng việc ký hiệp định này, cũng như gia nhập WTO, Việt Nam mất nhiều hơn được; rằng tình trạng nhân quyền và lao động của Việt Nam rất tồi tệ. Rõ ràng việc Nghị viện châu Âu phê chuẩn EVFTA cho thấy, những phát ngôn đổi trắng thay đen, bôi nhọ sự thật trắng trợn về Việt Nam không thể làm thay đổi được hình ảnh, vị thế, giá trị của Việt Nam và cách nhìn nhận thiện cảm, đúng đắn của quốc tế về Việt Nam.
Trước khi EVFTA, EVIPA được Nghị viện châu Âu phê chuẩn, không ít kẻ đã cố công phá hoại quá trình phê chuẩn hai hiệp định này. Chỉ vài ngày trước khi hiệp định được bỏ phiếu thông qua, một số tổ chức phi chính phủ đã cố tình gây sức ép đòi các nghị sĩ châu Âu hoãn phê chuẩn hai hiệp định này, lấy lý do là tình trạng nhân quyền và quyền lao động tại Việt Nam vẫn còn “đáng lo ngại”. Một số nghị sĩ thiếu khách quan tại Nghị viện châu Âu vin cớ đối tượng Phạm Chí Dũng bị bắt vì vi phạm pháp luật, để cho rằng đó là tù chính trị và Việt Nam đã vi phạm nhân quyền khi bắt y. Một số đối tượng chống đối, phản động lợi dụng vụ việc xâm phạm đất quốc phòng, chống người thi hành công vụ tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội, cố tình đánh tráo bản chất của vụ việc, vu cáo rằng chính quyền cướp đất nông nghiệp của dân, công an bắt người trái pháp luật, vi phạm nhân quyền, từ đó cũng kêu gọi Nghị viện châu Âu không phê chuẩn EVFTA...
EVFTA và những giá trị không thể phủ nhận
Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh (bìa phải) và bà Cecilia Malmström Cao ủy về thương mại của EU tại lễ ký kết Hiệp định thương mại đầu tư (EVFTA). Ảnh: tuoitre.vn
Tuy nhiên, có thể thấy những sự bôi nhọ, làm sai lệch thực tế tình hình tại Việt Nam, gây sức ép để trì hoãn việc phê chuẩn EVFTA của các đối tượng nêu trên không thể che mờ được những thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế-xã hội, những nỗ lực để bảo đảm dân chủ, nhân quyền, chăm lo cho người lao động mà Việt Nam đạt được trong suốt những năm qua. Ngay sau khi EVFTA được Nghị viện châu Âu phê chuẩn, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã hoan nghênh kết quả này. Giám đốc ILO Việt Nam Chang Hee Lee cho rằng: “Các yêu cầu về lao động và môi trường của EVFTA sẽ giúp mang lại lợi ích cho tất cả các bên, giúp Việt Nam phát triển bền vững bằng cách tránh “cuộc chạy đua xuống đáy” và bảo đảm rằng tăng trưởng hiện tại sẽ không làm mất đi các cơ hội của thế hệ tương lai”.
ILO đã rà soát các điều khoản của hiệp định và thấy rằng, Chương 13 về Thương mại và phát triển bền vững yêu cầu Việt Nam và EU tiếp tục, duy trì các nỗ lực liên tục hướng tới phê chuẩn các công ước cơ bản của ILO. Việt Nam hiện đã phê chuẩn 6/8 công ước cơ bản của ILO. Công ước số 98 về Quyền tổ chức và thương lượng tập thể là công ước mới nhất được phê chuẩn, đã được Quốc hội Việt Nam bỏ phiếu thông qua vào tháng 6-2019. Việt Nam hiện đang tiến hành các thủ tục để phê chuẩn Công ước số 105 về Xóa bỏ lao động cưỡng bức-dự kiến trong năm 2020; và đã có lộ trình để phê chuẩn Công ước số 87 về Tự do hiệp hội và bảo vệ quyền tổ chức-dự kiến năm 2023.
Trong tuyên bố của mình, ILO cho rằng, việc ký kết các hiệp định EVFTA và CPTPP (Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) là cơ hội tạo điều kiện cho Việt Nam hiện đại hóa hệ thống pháp luật lao động và quan hệ lao động. Việc thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi) vào tháng 11-2019 đã đưa khung pháp lý của đất nước tiệm cận hơn với các công ước cơ bản của ILO, tạo ra môi trường pháp lý cần thiết cho quan hệ lao động và quan hệ việc làm hiện đại của Việt Nam.
 Kể từ khi gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (viết tắt là ICCPR) ngày 24-9-1982, Việt Nam ngày càng đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc bảo vệ và phát huy quyền vì con người. Các báo cáo quốc gia năm 2017, 2018 về thực thi Công ước ICCPR và Báo cáo trả lời danh sách các vấn đề quan tâm của Ủy ban Nhân quyền LHQ, cho thấy Việt Nam đã có những bước phát triển nổi bật và nhanh chóng trên tất cả lĩnh vực của đời sống, đặc biệt trong việc bảo vệ, thúc đẩy các quyền dân sự, chính trị. Những năm gần đây, Việt Nam đạt được nhiều tiến bộ trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, nhất là trên các lĩnh vực xây dựng Nhà nước pháp quyền, kiện toàn hệ thống pháp luật về quyền con người, xây dựng Chính phủ kiến tạo, phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội, báo chí và hội nhập quốc tế. Tất cả các nỗ lực cải cách của Việt Nam diễn ra trong hòa bình, với sự ủng hộ của người dân, qua đó, góp phần nâng cao sự hưởng thụ của người dân về các quyền dân sự và chính trị phù hợp với Hiến pháp, pháp luật và điều kiện KT-XH của Việt Nam; bảo đảm các yêu cầu đối ngoại, đối nội, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. 
Việc tăng trưởng kinh tế được duy trì liên tục từ 6-7%/năm đã giúp tạo thêm hàng triệu việc làm cho người dân, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp; tỷ lệ nghèo đa chiều giảm mạnh từ 9,9% năm 2015 xuống 5,23% năm 2018. Đời sống vật chất và tinh thần của hơn 96 triệu người dân Việt Nam, trong đó có người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số đã thay đổi nhanh chóng, ấm no và hạnh phúc hơn. Việt Nam đã và đang tham gia tích cực và có những sáng kiến được ghi nhận tại các cơ chế liên quan đến quyền con người của LHQ, đón nhiều chuyên gia theo cơ chế các thủ tục đặc biệt của Hội đồng Nhân quyền LHQ; gia nhập thêm hai công ước nhân quyền cơ bản là Công ước chống tra tấn (CAT) và Công ước về quyền của người khuyết tật (CRPD). 
Năm 2019, Việt Nam lần thứ 3 đăng cai tổ chức thành công Đại lễ Phật đản LHQ Vesak, là bằng chứng sinh động khẳng định chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Với việc trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đang góp phần tích cực cho hòa bình và an ninh quốc tế, trong đó có việc thúc đẩy nhân quyền.
Về ý nghĩa của EVFTA đối với Việt Nam và EU, giới quan sát cho rằng, đây là thỏa thuận chất lượng, toàn diện và hiện đại nhất mà châu Âu từng ký với một nước đang phát triển.
Hiện nay, trong bối cảnh căng thẳng thương mại quốc tế có chiều hướng gia tăng, cộng hưởng với sự trở lại của chủ nghĩa bảo hộ, đe dọa sự phát triển ổn định của kinh tế thế giới và các khu vực, việc Nghị viện châu Âu phê chuẩn Hiệp định EVFTA hứa hẹn sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cả Việt Nam và EU, đặc biệt là ở hai phương diện chính yếu như sau:
Thứ nhất, trên phương diện chính trị, an ninh quốc gia và chiến lược đối ngoại, trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp và bản thân nội bộ EU gặp nhiều khó khăn như sự nổi lên của chủ nghĩa dân túy và bảo hộ mậu dịch, Hiệp định EVFTA thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của cả hai bên trong việc thúc đẩy quan hệ song phương, góp phần đưa quan hệ giữa Việt Nam và EU phát triển sâu rộng và thực chất hơn, có lợi cho cả đôi bên.
Với việc Việt Nam sẽ đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020, Hiệp định EVFTA sẽ làm gia tăng vai trò, vị thế của Việt Nam trong quan hệ EU-ASEAN cũng như tạo hình mẫu cho một hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa ASEAN với EU trong tương lai.
Việt Nam là nước đang phát triển đầu tiên ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương có FTA với EU. Điều này khẳng định vai trò và vị thế địa-chính trị quan trọng của Việt Nam trong khu vực, thực sự nâng cao vị thế của nước ta trong khu vực cũng như trên trường quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh tình hình chính trị-an ninh thế giới và khu vực đang thay đổi nhanh chóng, diễn biến phức tạp, khó lường, Hiệp định EVFTA vừa giúp Việt Nam có điều kiện nâng cao nội lực để ứng phó, vừa giúp củng cố vị thế để thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa đi đôi với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh.
Thứ hai, trên phương diện phát triển kinh tế, Hiệp định EVFTA được coi là đòn bẩy cho tăng trưởng. EU sau sự kiện Brexit rất cần những cú hích mới về thị trường. Với việc ký kết EVFTA, EU sẽ có cơ hội tiến sâu hơn vào thị trường Việt Nam, từ đó làm cửa ngõ để tiến sâu vào thị trường ASEAN. Khi Hiệp định EVFTA và Hiệp định EVIPA chính thức có hiệu lực, thương mại hai chiều và đầu tư Việt Nam-EU được dự báo sẽ tăng trưởng ở mức cao hơn, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của cả hai bên, giải quyết việc làm cho người lao động. Hiệp định thương mại tự do với EU giúp Việt Nam có điều kiện nâng cao nội lực để ứng phó tốt hơn với các diễn biến bất lợi trong khu vực và trên trường quốc tế, đặc biệt là khi căng thẳng thương mại Mỹ-Trung Quốc vẫn chưa chấm dứt và tác động bất lợi của dịch Covid-19 đối với kinh tế. Hiện nay, Việt Nam đang xuất khẩu mỗi năm sang EU hơn 40 tỷ USD, trong đó xuất siêu gần 30 tỷ USD. Do vậy, hiệp định này sẽ tạo điều kiện để thúc đẩy xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường và thu được giá trị gia tăng cao hơn thông qua việc thiết lập các chuỗi cung ứng mới.
Hiệp định EVFTA giúp Việt Nam có cơ hội tiếp cận thị trường EU với thuế suất ưu đãi hơn các đối thủ cạnh tranh. Kết hợp với các cam kết cao về mở cửa đầu tư và cải thiện môi trường kinh doanh, EVFTA chắc chắn sẽ là cú hích lớn cho đầu tư, cả đầu tư nước ngoài lẫn đầu tư trong nước, từ đó tạo ra năng lực sản xuất mới, giúp GDP tăng trưởng bền vững hơn trong dài hạn.
Như thế, có thể thấy việc ký kết EVFTA là một nhu cầu thiết thực của cả EU và Việt Nam, do đó mọi nỗ lực hủy hoại hay trì hoãn hiệp định là vô lý và rõ ràng đã thất bại. Sau cuộc bỏ phiếu ngày 12-2, Chủ tịch Ủy ban Thương mại quốc tế của Nghị viện châu Âu Bernd Lange tuyên bố: “Lịch sử chứng minh cô lập không thay đổi một quốc gia. Đây là lý do vì sao Nghị viện châu Âu bỏ phiếu tán thành thỏa thuận thương mại với Việt Nam”.
Cách đây hơn 13 năm, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO, đã không chỉ tác động tích cực đến sự phát triển KT-XH của đất nước mà còn mở cánh cửa để Việt Nam tham gia sân chơi toàn cầu rộng lớn. Đến nay, Việt Nam đã ký kết và đang đàm phán 17 hiệp định FTA song phương và đa phương; trong đó, 12 FTA đã có hiệu lực và đang thực thi. Nhờ đó, Việt Nam trở thành nền kinh tế có độ mở lớn nhất thế giới. Việc mở cửa nền kinh tế trở thành động lực quan trọng để duy trì tốc độ tăng trưởng cao hằng năm của nền kinh tế Việt Nam. Đó là thực tế, là những giá trị không thể phủ nhận.

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2020

“ĐẢNG TA LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH” - SỰ THẬT KHÔNG THỂ BÁC BỎ



Xuyên tạc, nói xấu, hòng làm mất uy tín, thể diện, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một thủ đoạn chống phá trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Thế nhưng, thực tiễn đã bác bỏ mọi xuyên tạc, chứng minh rõ “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.
Kỷ niệm lần thứ 30 Ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh/ Là thống nhất, độc lập, là hòa bình ấm no”. Điều đó, một mặt, nhằm khẳng định bản chất tốt đẹp, nhân văn và tiến bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam; mặt khác, nhằm khích lệ, giáo dục và yêu cầu mọi đảng viên của Đảng phải không ngừng tu dưỡng, phấn đấu để Đảng ta mãi mãi “là đạo đức, là văn minh”.
Những năm gần đây, trước sự đổ vỡ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới; sự thất thế của nhiều đảng cộng sản và công nhân tại các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô, thì việc xuyên tạc, nói xấu chủ nghĩa cộng sản và đảng cộng sản cầm quyền ở những nước còn lại trở thành thủ đoạn phổ biến của các thế lực chống cộng, nhằm làm mất uy tín, vị thế, vai trò của đảng cộng sản trong xã hội, tiến tới xóa bỏ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở những quốc gia này. Đối với nước ta, các thế lực chống cộng, phản động ở nước ngoài câu kết với những phần tử thoái hóa, biến chất, cơ hội chính trị, bất mãn ở trong nước cũng dùng mọi thủ đoạn để công kích sự lãnh đạo của Đảng; trong đó, xuyên tạc sự thật lịch sử, nói xấu, bôi lem hình ảnh Đảng Cộng sản Việt Nam là thủ đoạn được họ tích cực sử dụng. Họ bỏ qua sự thật lịch sử những năm đầu thế kỷ XX để cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam “tiếm quyền” lãnh đạo cách mạng của các lực lượng chính trị khác, nên
“không thể là đạo đức”(!). Họ phớt lờ những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, cố tình khuếch đại một số sai lầm của Đảng trong thực tiễn để chứng minh đó là “hành động vô đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam”(!). Trước thực trạng trong Đảng hiện nay có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, họ lớn tiếng “Đảng Cộng sản Việt Nam không còn là đạo đức, là văn minh”(!). Nhân sự thoái trào tạm thời của phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới, họ cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, vẫn kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội là “lạc hậu, không còn là một đảng tiến bộ, văn minh”(!), v.v. Mục tiêu hướng tới của những luận điệu công kích này là làm mất uy tín, thể diện của Đảng Cộng sản Việt Nam trước quần chúng nhân dân, làm cho nhân dân xa rời Đảng; đồng thời, gieo rắc sự hoài nghi, dao động trong đội ngũ đảng viên của Đảng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, tạo thời cơ để giành lấy chính quyền, đưa đất nước đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Những luận điệu sai trái đó vô cùng nguy hiểm, phải kiên quyết vạch trần, bác bỏ.
Trước hết, cần khẳng định dứt khoát: không có chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam “tiếm quyền” lãnh đạo cách mạng của các lực lượng chính trị khác. Nhìn lại lịch sử Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX có thể thấy: các phong trào Cần Vương, Đông Du, Tây Du; các cuộc khởi nghĩa Yên Thế, Yên Bái; các cuộc vận động Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục,… đều sáng ngời tinh thần yêu nước, bất khuất, nhưng rốt cuộc đều lâm vào bế tắc và thất bại. Các tổ chức, đảng phái chính trị ra đời trong thời kỳ này, như: Hội Phục Việt (năm 1925), Việt Nam Quốc dân đảng (năm 1927),... với nhiều cương lĩnh chính trị khác nhau, nhằm chiếm vũ đài lịch sử, nhưng các ngọn cờ lãnh đạo của họ không vượt qua được sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp. Nguyên nhân khiến các phong trào và tổ chức đó không thể đi tới thành công bởi các ngọn cờ mà họ giương lên không giải quyết được mâu thuẫn cơ bản của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ, không phù hợp với xu thế của thời đại, nên không thể đoàn kết được toàn dân tộc. Chỉ đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với việc giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng đã quy tụ được sức mạnh của toàn dân tộc để đấu tranh giành độc lập, tạo ra bước ngoặt căn bản trong phong trào yêu nước, đánh dấu kết thúc thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam. Do vậy, không phải Đảng Cộng sản Việt Nam “tiếm quyền”, mà chính lịch sử đã trao trọng trách lãnh đạo cách mạng cho Đảng ta, sau khi đã khảo nghiệm một cách khắt khe những phương án chính trị của các lực lượng chính trị đương thời. Ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu, lý tưởng của Đảng, mà còn là nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân, phù hợp với xu thế của thời đại; là ngọn cờ đưa nhân dân ta đến độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc, nên điều đó chứng tỏ “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.
Để xem một đảng chính trị có “là đạo đức, là văn minh” hay không, người ta không chỉ nhìn vào mục tiêu, lý tưởng, mà còn phải nhìn vào hành động của đảng đó. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, 90 năm qua, kể từ khi bước lên vũ đài đấu tranh chính trị (02-1930), dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; “…nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”1 và hội nhập quốc tế. Nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức quốc tế và khu vực; đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với 16 nước, Đối tác toàn diện với 11 nước (gồm cả 05 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc); là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009 và tiếp tục sứ mệnh này trong nhiệm kỳ 2020 - 2021. Trên lĩnh vực kinh tế, nước ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, có quan hệ thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng tăng lên. Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, dựa vào viện trợ để đứng vững, nay chúng ta đã đứng vào nhóm nước hàng đầu thế giới về xuất khẩu lương thực và nhiều mặt hàng khác. Đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn dưới 5% (theo chuẩn nghèo đa chiều) hiện nay. Chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững; nước ta đã tham gia vào Lực lượng Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, v.v. Những thành tựu đó gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng và là minh chứng thuyết phục về năng lực lãnh đạo của Đảng trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ hội nhập; chứng tỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là đúng đắn, “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.
Nhìn lại thực tiễn lãnh đạo cách mạng, đúng là có thời điểm Đảng phạm sai lầm, khuyết điểm do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan. Song, đó chỉ là những nốt trầm lẻ loi trong bản trường ca hào hùng 90 năm lãnh đạo của Đảng. Quan trọng hơn, trước mỗi sai lầm, Đảng đã thẳng thắn thừa nhận khuyết điểm, nghiêm túc tự phê bình trước nhân dân, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, tự chỉnh đốn để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, tiếp tục lãnh đạo cách mạng tiến lên. Đúng như Bác Hồ đã nói: “Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”2, tức là một Đảng “đạo đức, văn minh”. Hiện nay, nhận thấy thực trạng có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và niềm tin của nhân dân, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã kịp thời ban hành và tổ chức thực hiện các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, với một hệ thống giải pháp rất quyết liệt. Tại Đại hội XII, Đảng ta đã đặt nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức ngang hàng với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Các nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII) được thực hiện một cách kiên trì, kiên quyết, làm thổi bùng ngọn lửa đấu tranh chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chỉ tính từ sau Đại hội XII đến tháng 10-2019, hơn 70 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý đã bị xử lý kỷ luật, một số cán bộ cấp cao đã bị xử lý hình sự. Đó là chưa kể hàng nghìn cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức ở các cấp dưới bị xử lý. Kết quả đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, không có vùng cấm đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng; đồng thời, là minh chứng khẳng định việc làm đó của Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”.
Mặc dù hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới không còn, nhưng Đảng ta vẫn kiên trì lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm nền tảng tư tưởng không phải là “sự bảo thủ, lạc hậu”. Bởi lẽ, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ không có nguyên nhân từ học thuyết này. Đây là điều mà nhiều nhà lãnh đạo Liên Xô thời kỳ đó thừa nhận qua hồi ký và phát biểu của họ. Nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp của sự sụp đổ bắt nguồn từ chủ nghĩa giáo điều, xét lại trong đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức của đảng cầm quyền, cùng sự phản bội của một số người lãnh đạo cao nhất ở đó đối với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Do vậy, đây là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội - “mô hình xô-viết”, chứ không phải là sự sụp đổ học thuyết Mác – Lê-nin. Mặt khác, những thay đổi của thế giới ngày nay vẫn chưa vượt khỏi những quy luật mà chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã khái quát, nên học thuyết này vẫn là lý luận khoa học, cách mạng, giá trị nhất trong việc giải thích và cải tạo thế giới. Bản thân Giắc-cơ Đê-ri-đa, triết gia hiện đại có uy tín ở Mỹ và Pháp, cũng kêu gọi nhân loại “Trở về với Mác”. Ông cho rằng: nhân loại “không có tương lai nếu không có Mác, nếu không có các di sản của Mác”3. Còn Đi-đi-ê Ê-ri-bông, nhà chính luận Pháp khẳng định: sức sống mãnh liệt của học thuyết Mác là bất diệt và vai trò dẫn đường thời đại mới vẫn chính là chủ nghĩa Mác4. Chả thế mà trước sự bế tắc của chủ nghĩa tư bản trong việc giải quyết các mâu thuẫn nội tại của mình, nhất là trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ nước Mỹ (năm 2008), nhiều người trong xã hội tư bản, kể cả một số nhà lãnh đạo các nước phương Tây, đã tìm đọc các di sản của C. Mác. Đối với cách mạng Việt Nam, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng, có một nguyên nhân cơ bản là Đảng ta luôn kiên trì lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Sự kiên định đó luôn gắn với sự vận dụng sáng tạo, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Ngay sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không chỉ là sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân như các đảng cộng sản khác, mà còn kết hợp với phong trào yêu nước. Quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cũng không chỉ là quá trình xây dựng bản chất giai cấp công nhân như quân đội các nước xã hội chủ nghĩa khác, mà còn gắn liền với bồi dưỡng tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, v.v. Chính vì thế, tổng kết 30 năm đổi mới, Văn kiện Đại hội XII đã rút ra bài học số một là: “phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam”5. Sự kiên định như thế “là đạo đức, là văn minh”.
Để Đảng ta mãi mãi “là đạo đức, là văn minh”, chúng ta cần tạc ghi trong lòng Di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng cần nghiêm túc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cùng Quy định 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; coi đó là việc làm tự giác, thường xuyên, gắn với thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” bằng những hình thức phong phú, sáng tạo. Đó là cách làm thiết thực để kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh.
___________
1 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 64.
2 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 301.
3 - Giắc-cơ Đê-ri-đa – Những bóng ma của Mác, Nxb CTQG, H. 1994, tr. 16.
4 - Báo Người quan sát, ngày 17-10-1993.
5 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H. 2016, tr. 69.

CHIA RẼ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN - CHIÊU TRÒ NGUY HIỂM CỦA CÁC LUẬN ĐIỆU THÙ ĐỊCH



Như đã thành thông lệ, sắp đến kỳ Đại hội Đảng, các thế lực thù địch lại ra sức chống phá cách mạng nước ta trên mọi lĩnh vực; trong đó, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là một trong những chiêu trò nguy hiểm nhất. Vì vậy, đấu tranh bác bỏ luận điệu xuyên tạc của chúng, nhằm bảo vệ uy tín của Đảng, cũng như mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân là việc làm cấp thiết.
Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam 90 năm qua, đã chứng minh mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với nhân dân Việt Nam là mối quan hệ gắn bó trong một chỉnh thể thống nhất. Tính thống nhất đó, được thể hiện tập trung ở chỗ: Sự ra đời, tồn tại và mục tiêu hoạt động của Đảng là vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân; nguồn sức mạnh bất tận và vô địch của Đảng là từ nhân dân, ở trong nhân dân. Đảng là của dân, vì dân, dân một lòng, một dạ theo Đảng. Đảng luôn quan tâm chăm lo cho lợi ích của nhân dân và nhân dân cũng luôn sẵn sàng chiến đấu, xả thân vì sự nghiệp cách mạng của Đảng. Quá trình cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định sức mạnh dời non, lấp biển của sự thống nhất giữa ý Đảng và lòng dân; đồng thời, thể hiện sức mạnh của sự thống nhất giữa lý tưởng của Đảng với khát vọng không có gì quý hơn độc lập, tự do của nhân dân. Sự thống nhất đó, là nhân tố cơ bản, sức mạnh chủ yếu tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp cách mạng làm nên những thắng lợi vĩ đại, huy hoàng của dân tộc Việt Nam trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm trước đây và công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.
Nhận thức rõ sức mạnh vô địch của Đảng Cộng sản Việt Nam là ở mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, các thế lực thù địch luôn tìm mọi chiêu trò phá hoại, công kích nhằm chia rẽ Đảng với dân; lôi kéo, kích động, tách nhân dân ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho dân xa Đảng, thậm chí đối lập với Đảng. Gần đây, người ta lại thấy những chiến dịch rầm rộ được các thế lực thù địch bên trong và bên ngoài hợp sức tấn công vào công tác chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng. Những luận điệu đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”; đưa ra những lập luận, như: “một đảng cầm quyền thì không có dân chủ”, với những yêu sách đòi “Đảng ta phải từ bỏ quyền lãnh đạo” và coi đó là vấn đề “căn cốt”, “then chốt” để hợp lòng dân, v.v. Không khó hiểu khi vấn đề đảm bảo dân chủ được các thế lực thù địch tung ra ngày càng nhiều, với những chiêu trò ngày càng tinh vi, xảo quyệt nhằm làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Chúng ra sức xuyên tạc, công kích bằng những luận điệu: Đại hội XIII chẳng có gì mới, vẫn theo phương hướng “chính trị bảo thủ”; vẫn tiếp tục “tôn thờ một chủ thuyết đã bị phá sản” và “không thể trông chờ ” vào ban lãnh đạo mới để đưa đất nước đi theo trào lưu văn minh nhân loại(!). Lợi dụng một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống được đưa ra xét xử, chúng cố tình thổi phồng, gán ghép cho Đảng ta đủ các bệnh hoạn: nào là “dốt nát”, “võ biền”, “vi phạm dân chủ”, “chà đạp lên lợi ích của nhân dân”, “thất nhân tâm” làm hại dân, hại nước. Nhiều “cuốn sách”, “tờ báo”, “tờ rơi”, “tâm thư”,“thư ngỏ”, “tuyên cáo” xuyên tạc mục đích hoạt động của Đảng không phải vì lợi ích của nhân dân, mà là lợi ích của nhóm cán bộ, đảng viên có chức có quyền và người thân của họ. Và, Đảng Cộng sản Việt Nam hết “vai trò lãnh đạo”; “quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân không còn nữa”. Rồi, chúng kêu gọi như lời “hịch”: trách nhiệm của những người yêu nước phải “nắm lấy thời cơ này, vượt qua thách thức, đánh đổ ban lãnh đạo của Đảng, giải tán Đảng, mở ra một kỷ nguyên mới cho sự phát triển của đất nước”; “bỏ lỡ thời cơ này là có tội với dân tộc”, v.v.
Từ những lời lẽ, giọng điệu trên chúng ta thấy rõ, mục tiêu số một của các thế lực thù địch là nhằm chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; làm cho nhân dân hoài nghi vai trò lãnh đạo của Đảng, xa Đảng, đối lập, chống lại Đảng, thủ tiêu nguồn sức mạnh vô địch và sức sống của Đảng, để đi đến thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.
Chúng ta không cần phải trình bày nhiều về các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa đã thiết lập nên vị thế lãnh đạo, vai trò dẫn dắt dân tộc, vị thế cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như tính chất mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân trong quá trình cách mạng nước ta. Đảng đã vì dân mà ra đời, lãnh đạo cách mạng, đưa nhân dân thoát khỏi đêm trường nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo, duy nhất cầm quyền ở nước ta. Và, nhân dân Việt Nam đã theo Đảng, đoàn kết dưới ngọn cờ của Đảng làm nên những kỳ tích vĩ đại của thế kỷ XX, ngày nay đang vững bước trên con đường đổi mới. Đó là bản chất và nội dung cốt lõi của mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân đã, đang và vẫn thể hiện sinh động trong thực tiễn và là nguồn sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam, không có thế lực nào, dù nham hiểm đến đâu cũng không thể xuyên tạc, chia rẽ được. Bởi, vai trò của Đảng đối với vận mệnh và tương lai của dân tộc, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân là khách quan. Tính khách quan đó, không chỉ do chính lịch sử dân tộc và khát vọng của nhân dân Việt Nam quy định, mà còn do chính bản chất cách mạng, tính tiền phong, gương mẫu của Đảng. Vai trò và mối quan hệ đó đã được khẳng định trong thực tiễn lịch sử Việt Nam suốt 90 năm qua, không ai có thể bác bỏ.
Do đó, không thể vì sự hạn chế, khuyết điểm nào đó mà nói bừa rằng, Đảng ta đã “hết vai trò”, “không còn khả năng để lãnh đạo đất nước”, “không còn là đảng của nhân dân, vì nhân dân”, v.v. Và, cũng không thể phán xét một cách hồ đồ rằng, quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân không còn nữa, rồi kích động, hô hào nhân dân chống đối lại Đảng và chế độ.
Không chỉ trong lịch sử, mà thực tiễn ngày nay cho thấy, những thành tựu của sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã và đang được thụ hưởng thực sự trong cuộc sống hằng ngày, được bạn bè quốc tế ngưỡng mộ và lạc quan tin tưởng vào sự phát triển của Việt Nam. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân. Mọi người dân đều trực tiếp hoặc gián tiếp đề đạt nguyện vọng và đóng góp ý kiến cho các cơ quan công quyền. Các kênh đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng, phát huy hiệu quả. Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát không chỉ trở thành quy chế, thiết chế dân chủ trong xã hội, mà còn là phương châm hành động trong xây dựng hệ thống chính trị và là yêu cầu ứng xử của cán bộ, đảng viên trong tiếp xúc, quan hệ với nhân dân. Nhân dân lao động là chủ thể mọi quyền lợi và nghĩa vụ; quyền hạn và trách nhiệm; cống hiến và hưởng thụ. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Đảng đã thực sự gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình đúng với Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã hiến định. Đó là thực tế, hiện thực sinh động không thể phủ nhận, đã bác bỏ mọi sự xuyên tạc chống phá, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.
Những thành tựu có được ngày hôm nay là sự cố gắng to lớn, rất đáng tự hào của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, được bạn bè quốc tế ngưỡng mộ. Tuy nhiên, chúng ta không phủ nhận một số yếu kém, khuyết điểm trong quá trình xây dựng đất nước, nhất là công tác lãnh đạo, quản lý, vai trò nêu gương của cấp ủy, chính quyền cơ sở. Theo đó, trong tình hình mới, chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trọng tâm là kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII). Xây dựng và thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách hợp lòng dân, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”1. Thực hiện tốt những yêu cầu này, không chỉ củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, mà còn làm thất bại mọi sự xuyên tạc, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với dân của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay.

1 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 51.      

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI - SỰ LỰA CHỌN CỦA LỊCH SỬ, KHÔNG THỂ THAY THẾ



Chống phá hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch. Song, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội đã được thực tiễn kiểm nghiệm, là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, không thể thay thế.
Nhân dịp kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và tiến hành đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch và một số “nhà hoạt động” của cái gọi là “nhân quyền”, “dân chủ”,… tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước ta, với nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi, thâm độc. Họ triệt để lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, những khuyết điểm của một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, hoặc các sự cố môi trường, dịch bệnh, thiên tai,… để xuyên tạc, bóp méo sự thật; quy chụp tất cả yếu kém, khuyết điểm đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Nhưng, dù họ có cố tình xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận thế nào chăng nữa cũng không thể phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Điều ấy xuất phát từ mấy vấn đề cơ bản sau:
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử, đáp ứng yêu cầu của dân tộc và nguyện vọng thiết tha của nhân dân. Lịch sử dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cho thấy, trước ách thống trị, nô dịch, bóc lột hà khắc, tàn bạo của thực dân, phong kiến, trên khắp đất nước đã có nhiều cuộc đấu tranh, phong trào yêu nước theo tư tưởng phong kiến, tư sản nổ ra nhưng đều thất bại, mà nguyên nhân chủ yếu là do đường lối, tư tưởng không phù hợp với thời đại và nguyện vọng của nhân dân. Mặc dù bị đàn áp dã man, nhưng phong trào yêu nước, cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân và giai cấp công nhân vẫn phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có một lực lượng với đường lối cách mạng tiên tiến, phù hợp với tiến trình phát triển của lịch sử mới đủ tư cách đại biểu cho các tầng lớp nhân dân, đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.
Giữa lúc cả dân tộc đang bế tắc về đường lối cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, đó là con đường cách mạng vô sản theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Để thực hiện được, Người đã tích cực chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức, con người, truyền bá chủ nghĩa đó vào Việt Nam bằng nhiều con đường, phương tiện, mở các lớp huấn luyện cán bộ, nhằm hình thành nên một chính đảng để lãnh đạo phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân. Với sự chuẩn bị chu đáo của Nguyễn Ái Quốc, ngày 03-02-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập trên cơ sở các tổ chức cộng sản tiền thân. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lên-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đáp ứng nguyện vọng của dân tộc và nhân dân, bởi Đảng có đường lối cách mạng đúng, gồm những người ưu tú nhất, đại biểu cho giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động, đáp ứng yêu cầu bức thiết về lực lượng lãnh đạo, đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, khơi dậy, quy tụ được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, được quần chúng nhân dân tin tưởng, đi theo. Đó là sự lựa chọn của lịch sử.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước Việt Nam đã đạt được những thắng lợi vĩ đại, ghi vào lịch sử dân tộc những trang vàng chói lọi. Ngay khi mới 15 năm tuổi, Đảng đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam làm cuộc Cách mạng Tháng Tám “long trời lở đất”, giành độc lập, tự do cho dân tộc sau gần một trăm năm bị thực dân Pháp đô hộ; nhân dân Việt Nam thoát khỏi “kiếp ngựa trâu”, trở thành người làm chủ vận mệnh của mình. Tiếp đó, Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo đảm quyền con người, v.v. Giai đoạn 2016 - 2020, mặc dù bị ảnh hưởng bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP luôn đạt cao, bình quân khoảng 6,78%/năm, năm sau cao hơn năm trước1, thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới; thu nhập bình quân đầu người ước đạt 3.000 USD vào năm 2020; năm 2019 tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới giảm xuống còn khoảng 4%, thấp hơn 1% so với năm 2018; tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 90%; đời sống nhân dân được nâng cao; chính trị ổn định, xã hội phát triển, quốc phòng, an ninh được tăng cường, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 194 nước và vùng lãnh thổ; trong đó, có quan hệ với tất cả các nước lớn và các nước đều thừa nhận, tôn trọng chế độ xã hội ở Việt Nam. Điều đó khẳng định, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối đúng, phù hợp, được nhân dân luôn tin tưởng, giao phó và ủng hộ, đi theo tiếng gọi của Đảng. Đây là điều không ai có thể phủ nhận.
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất đúng và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Trước sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch và một số người cho rằng, đó là bằng chứng của sự sai lầm, lỗi thời của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Song thực tiễn cho thấy, đến nay, chưa hề có một học thuyết nào tiến bộ, khoa học và cách mạng hơn chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Các mô hình xã hội ở các nước tư bản chủ nghĩa, kể cả đã phát triển ở châu Âu, châu Mỹ, mặc dù có nhiều thành tựu, nhưng vẫn chứa đựng đầy rẫy những mâu thuẫn lợi ích, căn bệnh bản chất mà chủ nghĩa tư bản không thể khắc phục. Các cuộc chiến tranh, xung đột vũ trang ở I-rắc, Li-bi, Xy-ri; các vụ khủng bố ngay trong lòng nước Mỹ và một số nước ở châu Âu đã minh chứng cho điều đó. Mặt khác, sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã và đang thúc đẩy nhanh hơn quá trình xã hội hóa lực lượng sản xuất, dẫn đến thay đổi về quan hệ sản xuất. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cách mạng xã hội, hình thành xã hội mới tốt đẹp hơn, như chủ nghĩa Mác – Lê-nin xác định. Đó là xã hội xã hội chủ nghĩa, một xã hội tiến bộ, vì con người, là ước vọng ngàn đời của tất cả người dân lao động, của nhân loại tiến bộ, mong muốn sống trong hòa bình, nhân ái. Sự sụp đổ mô hình xã hội chủ nghĩa hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, mà nguyên nhân trước hết là do những người cộng sản đã nhận thức không đầy đủ và vận dụng sai lầm những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào thực tiễn, cùng với sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, là bài học đau đớn không chỉ đối với những người cộng sản, mà cả đối với nhân loại. Song, đó là sự sụp đổ của mô hình cụ thể, tuyệt nhiên không phải là sự sụp đổ của một học thuyết khoa học, càng không phải là sự sụp đổ về một tương lai tốt đẹp mà nhân loại tiến bộ đang hướng tới. Điều đó cho thấy, chủ nghĩa xã hội vẫn là tương lai của loài người; và chắc chắn xã hội loài người sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Việc Việt Nam lựa chọn, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn phù hợp với xu thế thời đại, là con đường duy nhất đưa dân tộc Việt Nam đến vinh quang, hùng cường. Nhân dân Việt Nam tin tưởng, lựa chọn, giao phó cho Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn dân tộc tiến lên theo con đường đã lựa chọn.
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nguyện vọng, niềm tin của nhân dân. Để hoàn thành trọng trách mà nhân dân giao phó, Đảng ta luôn tự phê bình và phê bình, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn để “xốc lại đội ngũ”, làm cho Đảng mạnh hơn, nên Đảng đã lãnh đạo toàn dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Hiện nay, nhận rõ nguy cơ của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, toàn Đảng đã kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, v.v. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay có hơn 70 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý đã bị xử lý kỷ luật và xử lý hình sự, trong đó có cả ủy viên và nguyên ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, ủy viên Bộ Chính trị. Điều đó cho thấy, cuộc đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Đảng là “không có vùng cấm”; bất cứ ai, làm gì, ở cương vị nào, dù đang tại vị hay đã “hạ cánh” nếu sai phạm đều bị xử lý. Đây là lời tuyên chiến quyết liệt của Đảng đối với “giặc nội xâm”, yếu tố lớn nhất làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, suy giảm sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của Đảng, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng. Qua đó, góp phần cảnh tỉnh, răn đe, ngăn ngừa những hành vi tiêu cực; tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, củng cố niềm tin càng vững chắc của nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa.
Các “lực lượng” chống đối, đòi đa nguyên, đa đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không thể là lực lượng đại diện và không bao giờ đủ khả năng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Cần khẳng định rằng, các tổ chức và cá nhân, như: Việt Tân (Việt Nam Canh tân cách mạng Đảng, có trụ sở ở Mỹ), các nhà mang danh “dân chủ”, “xã hội dân sự” luôn hô hào, kêu gọi, tuyên truyền dân chủ tư sản phương Tây, lớn tiếng đòi đa nguyên, đa đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,… chỉ là đại diện và là tay sai đắc lực của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang ra sức chống phá hòng làm cho Việt Nam rối ren, bất ổn để dễ bề trục lợi về chính trị và kinh tế. Điều này được chính một số kẻ từng tham gia các tổ chức này thừa nhận. Mặt khác, họ không có và không thể đại diện cho bất cứ một học thuyết nào với tư cách là một hệ tư tưởng tiến tiến, khoa học và cách mạng hơn chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Vì vậy, họ không thể đại diện cho nhân dân và không có chút tư cách gì để lãnh đạo đất nước, lãnh đạo dân tộc Việt Nam đi đến vinh quang.
Sự thực hiển nhiên trên đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng của nhân dân, của dân tộc đối với Đảng. Vai trò đó đến nay và mãi mãi về sau là không thể thay thế. Mọi sự phủ nhận, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, hòng làm lu mờ vai trò của Đảng càng cho thấy một sự thật là: Đảng vẫn đang vững vàng với vai trò của mình và niềm tin của nhân dân dành cho Đảng ngày càng vững chắc.

1 - Kết quả các chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 so năm 2018: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 7,02%; Tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) bình quân 2,79; Xuất siêu 9,9 tỷ USD; Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 33,9% GDP, v.v.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...