Thứ Hai, 13 tháng 1, 2020

KHÔNG THỂ BỊA ĐẶT, XUYÊN TẠC SỰ THẬT NHẰM ĐÁNH TRÁO, BIỆN MINH, CỔ XÚY CHO HÀNH VI CỐ TÌNH COI THƯỜNG KỶ CƯƠNG PHÉP NƯỚC



Sau khi xảy ra sự việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng ở xã Đồng Tâm (Mỹ Đức, Hà Nội), trên một số trang mạng xã hội và đài báo nước ngoài đã xuất hiện nhiều ý kiến, quan điểm sai lệch, cố tình bóp méo sự thật, đổi trắng thay đen, lợi dụng sự việc để gây chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang (LLVT) và nhân dân. Họ không chỉ biện minh, cổ xúy cho những hành vi vô thiên vô pháp, coi thường kỷ cương phép nước mà còn muốn kích động, thổi phồng sự việc, lôi kéo để tiếp tục làm phức tạp tình hình, thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, LLVT và nhân dân.
Những luận điệu đổi trắng thay đen
Vừa qua, chúng tôi đã tới xã Đồng Tâm để tìm hiểu, phân tích sự việc suốt từ những ngày đầu năm 2017 đến nay, càng hiểu rõ bản chất và thấy cần thiết phải phản bác các luận điệu đổi trắng thay đen nguy hại ấy.
Trong các bài viết trên mạng xã hội và trả lời đài báo nước ngoài, có người đã sử dụng nhiều cụm từ như “cưỡng chế thu hồi đất”, chính quyền “cướp đất” của dân để cố tình thổi phồng sự việc. Một số người còn viện dẫn một số điều khoản, quy định của pháp luật về việc không tổ chức cưỡng chế thu hồi đất vào dịp lễ, tết để cho rằng chính quyền và cơ quan chức năng đã vi phạm pháp luật; thậm chí xuyên tạc rằng thu hồi đất để làm… sân gôn.
Họ cố tình đổi trắng thay đen, lập lờ, tiếm danh lòng yêu nước, tiếm danh nhân dân. Họ gọi số đối tượng hung hãn, tấn công người thi hành công vụ một cách dã man là “người dân chỉ tự vệ chính đáng” và đưa ra những luận điệu dân túy, cho rằng việc sử dụng lực lượng công an như vậy là không cần thiết, xuyên tạc rằng chính quyền các cấp đã không thực hiện đối thoại, sử dụng bạo lực “đối đầu với dân”, “coi dân như kẻ thù”. Tổ chức phản động, khủng bố Việt Tân còn ca ngợi những kẻ vi phạm pháp luật nghiêm trọng là “anh hùng dân tộc”, cố tình khoét sâu mâu thuẫn bằng cách đòi xóa bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng thì mới giải quyết tận gốc vấn đề đất đai.
"Té nước theo mưa", một số đài báo nước ngoài như BBC tiếng Việt còn kích động rằng phải dùng đến từ “chiến tranh”. Như thường lệ, Tổ chức Theo dõi nhân quyền quốc tế (HRW) lại ra thông cáo “kêu gọi chính quyền Việt Nam phải mở một cuộc điều tra công khai và khách quan về vụ đụng độ giữa người dân và công an khiến ít nhất 4 người chết”. Hùa theo, nhóm của những cái gọi là các nhà dân chủ và tổ chức xã hội dân sự đã đưa ra cái gọi là "Tuyên bố Đồng Tâm" với nhiều lời vu cáo, bịa đặt, như “các LLVT lên đến hàng nghìn người vào bao vây, tấn công bằng lựu đạn cao su, hơi cay, dùi cui đánh từ người già đến trẻ nhỏ, không từ một ai”. Họ đòi “chấm dứt dùng bạo lực dưới mọi hình thức trong việc giải quyết vấn đề đất đai với nhân dân Đồng Tâm và với tất cả các địa phương ở Việt Nam”; “phải thay đổi từ gốc rễ ở Hiến pháp và Luật Đất đai, phải trả lại quyền tư hữu đất đai cho mọi người dân Việt Nam”.
Tột cùng của sự xuyên tạc bỉ ổi là một số cá nhân trên mạng còn rêu rao thông tin 3 đồng chí công an không hề hy sinh, mà đây chỉ là thông tin được dựng lên, rằng vẫn gặp các đồng chí được coi là hy sinh còn sống mạnh khỏe, và có đồng chí công an đã bị “cho chết đi chết lại mấy lần”. Các thông tin xuyên tạc bỉ ổi như vậy chỉ vạch trần bản chất xấu xa của chính những người rêu rao.
Không thể bịa đặt, xuyên tạc sự thật nhằm đánh tráo, biện minh, cổ xúy cho hành vi cố tình coi thường kỷ cương phép nước
Ảnh minh họa: tuyengiao.vn. 


Cố tình đánh tráo khái niệm
Xung quanh sự việc ở Đồng Tâm, những chiêu trò xuyên tạc, đổi trắng thay đen nổi lên một số vấn đề cần làm rõ như sau:
Một là, họ xuyên tạc bản chất vấn đề đất đai ở Đồng Tâm, quy chụp “chính quyền cướp đất của dân”, người dân bị lấy đất canh tác “cha ông để lại”, thậm chí là đất có sổ đỏ, đất ruộng đồng đã canh tác hàng chục năm, khiếu kiện mà không được giải quyết nên bị đẩy đến bước đường cùng. Họ bất chấp thực tế toàn bộ đất sân bay Miếu Môn là đất quốc phòng, có đầy đủ hồ sơ, giấy tờ chứng minh rõ hiện trạng, không hề có sự mập mờ, khuất tất. Các thế lực thù địch, phản động còn gắn sự việc này với các sự việc từng xảy ra ở Tiên Lãng (TP Hải Phòng), Dương Nội (TP Hà Nội), vườn rau Lộc Hưng (TP Hồ Chí Minh)… để đổ lỗi cho chính quyền có sai sót trong “cưỡng chế thu hồi đất”. Ở đây, cần khẳng định rằng không có chuyện cưỡng chế nào hết mà chỉ có việc một số đơn vị của Bộ Quốc phòng phối hợp với lực lượng chức năng tiến hành xây dựng tường rào bảo vệ sân bay Miếu Môn, thuộc đất quốc phòng theo kế hoạch từ ngày 31-12-2019. Khi các lực lượng chức năng triển khai những biện pháp bảo đảm an ninh trật tự, bảo vệ các mục tiêu tại khu vực thi công tường rào, thì các đối tượng đã manh động ném bom xăng, sử dụng lựu đạn, dao phóng... tấn công lực lượng chức năng; song lực lượng chức năng vẫn kiên trì phát loa tuyên truyền, kêu gọi trước khi phải tiến hành các biện pháp khống chế, bắt giữ... Và chính hành vi manh động, chống người thi hành công vụ một cách vô cùng liều lĩnh, dã man của các đối tượng đã dẫn đến hậu quả xấu.
Cần phân biệt rõ việc thu hồi đất của các dự án kinh tế-xã hội với việc quân đội triển khai xây dựng công trình quân sự, thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng vì lợi ích an ninh quốc gia. Đây cũng không phải là việc thu hồi đất quốc phòng để chuyển đổi mục đích, thực hiện dự án kinh tế-xã hội nên không thể nói có tiêu cực, lợi ích nhóm như các thông tin bịa đặt. Đây là đất quốc phòng, là “công thổ quốc gia” nên càng không thể gắn cho hành vi cố tình xâm chiếm đòi trục lợi trên đất quốc phòng của một số đối tượng là “bảo vệ đất đai hương hỏa cha ông” hay “đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực” được.
Vu khống chính quyền giải quyết chưa thỏa đáng
Hai là, xung quanh việc chỉ trích giải quyết khiếu kiện của người dân không thỏa đáng, chính quyền không chọn giải pháp đối thoại, giải quyết tâm tư, nguyện vọng của dân mà lại “đối đầu”, “trấn áp”. Gần đây, nhiều người còn so sánh sự việc với cách hành xử mà họ cho rằng là “kiên nhẫn”, “an dân” mà chúng ta đã từng giải quyết thành công ở Quỳnh Lưu (Nghệ An), Quỳnh Phụ (Thái Bình), Văn Giang (Hưng Yên)… để từ đó chỉ trích vụ việc ở xã Đồng Tâm là “sai lầm về chủ trương giải quyết”, tiếp tục chỉ trích, phê phán chính quyền và Đảng, Nhà nước ta.
Đây là sự suy diễn, so sánh không đúng thực tế. Như chúng tôi từng phân tích trong các bài viết gần đây, chính quyền các cấp, các cơ quan chức năng đã xử lý kiên trì, có lý, có tình nhằm tạo sự đồng thuận để giải quyết sự việc tốt nhất. Ngay cả khi một số người coi thường kỷ cương phép nước, bắt giữ 38 người bao gồm cả công an, cán bộ chính quyền, nhà báo; chính quyền TP Hà Nội và các lực lượng chức năng đã thể hiện sự kiên nhẫn, mềm mỏng để xử lý tình hình. Sự việc đã được giải quyết kiên trì, kéo dài suốt hơn hai năm với tinh thần dân chủ, nhân văn.
Nhưng sự kiên trì không đồng nghĩa với việc nương nhẹ, né tránh. Không thể vì các kiến nghị, đòi hỏi không hợp pháp, không hợp lý của một số ít người mà du di, nương nhẹ, chà đạp lên lợi ích quốc gia, làm trái pháp luật, biến đất quốc phòng, công thổ quốc gia thành tài sản cho một nhóm người tự ý đòi hỏi, tư hữu.
Trung tướng Phạm Phú Thái, nguyên Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân, nguyên Chánh thanh tra Bộ Quốc phòng đã có ý kiến khẳng định rằng: “Nói là đất tranh chấp rồi quy trách nhiệm và bôi xấu chính quyền là không được. Đây là lấn chiếm đất công. Ở Đồng Tâm, các thế lực chống đối lợi dụng và kích động làm cho những kẻ tham lam nghĩ rằng mình có thể thắng, từ đó có thể chiếm được đất và chuyển thành tiền. Chúng ta hãy tỉnh táo đừng để những kẻ mị dân hay dân túy làm nhòa tầm nhìn của mình, còn những ai lợi dụng việc này để kích động thêm sẽ là có tội với dân, với nước”.
Là chuyên gia trong lĩnh vực đất đai, GS, TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường khẳng định: Vụ việc chống đối lại chính quyền như tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội là sai hoàn toàn, không thể chấp nhận được! Phân tích thêm về những ý kiến hô hào "cần phải tư hữu hóa đất đai", GS, TSKH Đặng Hùng Võ cho rằng, không có lý do gì cần thiết phải tư hữu hóa đất đai. Có tư hữu hóa đất đai hay không thì cũng không ảnh hưởng đến việc đưa đất đai vào thị trường. Trong khi đó, nếu thực hiện tư hữu đất đai có thể trở thành vấn đề xã hội nhức nhối, dẫn đến những mâu thuẫn khốc liệt khác. Tư hữu đất đai chỉ là khẩu hiệu gây nên bất đồng xã hội nặng nề hơn. Đối với việc đưa chế độ công hữu đất đai vào thị trường, chúng ta đã thực hiện đưa quyền sử dụng đất vào thị trường. Điều này cho đến nay không gặp vướng mắc gì.
Còn nhớ, khi sự việc ở Tiên Lãng (Hải Phòng) xảy ra, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, nguyên đại biểu Quốc hội có chia sẻ vụ việc tranh chấp đất đai kéo dài giữa hai xã thuộc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An năm 1992. Trong vụ này, lãnh đạo địa phương không kiên quyết giải quyết triệt để, dẫn đến tình trạng Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND hai xã huy động lực lượng dân quân vũ trang do hai xã đội trưởng chỉ huy, xây dựng công sự, chướng ngại vật, hầm hào để bảo vệ vùng đất tranh chấp; thậm chí xảy ra đấu súng giữa hai bên, chính quyền không thể vào tiếp cận được, cán bộ vào bị bắt giữ, tắc nghẽn, tê liệt giao thông Quốc lộ 1. Khi đó, cán bộ quân đội được giao nhiệm vụ đã vào đối thoại cùng người dân, sau đó các xã đội trưởng nguyên là chiến sĩ đơn vị thuộc quân khu đã thu súng, lui quân, giải quyết được “ngòi nổ”. Điểm nóng năm xưa nay là Khu công nghiệp Hoàng Mai đang phát triển mạnh mẽ, trở thành một điểm sáng về chính trị và kinh tế của tỉnh Nghệ An.
Thật khó so sánh bởi ở huyện Quỳnh Lưu, việc chỉ kéo dài trong thời gian tính bằng tháng, hai xã đội trưởng đã biết lắng nghe; song như vụ việc ở Đồng Tâm, sự giải thích, đối thoại đã kéo dài tới hai năm mà vẫn không hiệu quả.
Hay như vụ việc gây rối, phức tạp ở Thái Bình năm 1997, đồng chí Phạm Thế Duyệt, nguyên Ủy viên Thường vụ Thường trực Bộ Chính trị, lúc đó là Trưởng ban Dân vận Trung ương được giao nhiệm vụ về tháo gỡ, sau này đã kể lại việc tổ công tác gồm 11 người về tận nơi và trực tiếp nói chuyện với người dân. Có xã 500-600 người kéo đến, tổ công tác yêu cầu bà con cử 10 người đại diện vào nói chuyện. Khi được phân tích, làm rõ sự tình, bà con ra thông tin lại thì người dân hoan nghênh, vỗ tay ầm ầm. Lúc đoàn công tác ra về, người dân còn nói theo: “Chúng tôi đã hiểu, Trung ương đừng bảo chúng tôi cực đoan nhé!”. Như vậy rõ ràng trong sự việc này, người dân dù có vướng mắc, thậm chí mâu thuẫn nhưng không đến mức cực đoan, đối địch với chính quyền và không có những hành vi hung hãn, bất chấp pháp luật, coi thường kỷ cương phép nước đến mức không thể vận động, thuyết phục.
Đừng tiếm danh hai chữ "nhân dân"
Ba là, cần phân biệt giữa người dân chân chính với những kẻ coi thường kỷ cương phép nước, chà đạp lên luật pháp để trục lợi.
Dư luận đặt câu hỏi, tại sao cùng thực hiện chính sách đất đai giống nhau liên quan đến đất sân bay Miếu Môn nhưng 3 xã bên cạnh là Mỹ Lương, Trần Phú, Đồng Lạc đã thực hiện nghiêm chỉnh mà ở xã Đồng Tâm lại có một số người bất chấp việc đối thoại, giải thích của cơ quan chức năng, ngày càng leo thang sự việc, kích động chống đối, bắt giữ cán bộ, thậm chí công khai chuẩn bị, tàng trữ vũ khí, phương án và đe dọa tấn công lực lượng chức năng.
Theo các cơ quan chức năng, cơ quan điều tra đã thu giữ được các tài liệu cho thấy có cả việc chia tiền quyên góp, trục lợi từ "Tổ đồng thuận", thậm chí có nguồn tài trợ từ tổ chức phản động nước ngoài. Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm, nguy cơ biến địa bàn từ những mâu thuẫn kinh tế-xã hội đơn thuần có thể trở thành điểm nóng chính trị-xã hội phức tạp. Trong số người vi phạm, có cả người là cán bộ, đảng viên lâu năm. Với các hành vi sai trái như vậy, xét cho cùng, họ đã bước qua ranh giới “tự diễn biến", "tự chuyển hóa”, thậm chí vô hình trung đã tiếp tay cho thế lực thù địch chống phá đất nước.
Rõ ràng rằng: Hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, hung hãn, dã man của những đối tượng giết người thi hành công vụ thì phải gọi là tội phạm. Những người có lương tri và tôn trọng đạo lý không thể không bất bình, lên án, yêu cầu điều tra, xử lý nghiêm minh; càng không thể biện minh, bao biện, tiếm danh nhân dân, gọi họ là dân lành được!
Ở đây, để sự việc bị đẩy đi quá xa, có nhiều nguyên nhân. Bên cạnh sự vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng của một số đối tượng và âm mưu kích động, lôi kéo của các thế lực thù địch, không thể không nói đến việc làm đáng trách của một số người xưng là nhân sĩ, trí thức, luật sư, cán bộ… Có những đối tượng xưng là luật sư “vì dân oan”, đứng ra giúp đỡ nhóm người ở xã Đồng Tâm hỗ trợ pháp lý nhưng thực sự họ tư vấn thì ít, kích động thì nhiều. Còn có những gương mặt quen thuộc trong các phong trào chống phá Đảng, Nhà nước, với nhiều đối tượng tự nhận là “dân oan”, từng “tác oai tác quái” nhiều năm ở Dương Nội, vườn rau Lộc Hưng… Đáng buồn hơn, có cả những người có vị trí trong xã hội, thường xuyên phát biểu trước công luận nhưng trong vụ việc này, chính họ cũng thiếu tỉnh táo, thay vì khách quan, công tâm phân tích giúp người dân thấu tường phải trái, họ lại đổ thêm dầu vào lửa, tiếp tay cho những nhận thức và hành động sai trái.
Yêu cầu tấn công trấn áp tội phạm là cần thiết
Bốn là, cần hiểu đúng về việc xử lý của lực lượng chức năng. Hiện nay, có một số ý kiến không hiểu hay cố tình không hiểu về việc các đối tượng công khai tuyên bố có vũ khí, súng đạn, lựu đạn, thuốc nổ, bom xăng; công khai đe dọa gây nổ phá hoại cơ sở hạ tầng, đe dọa giết cán bộ, không chỉ giết lực lượng công tác mà cả cán bộ địa phương. Thậm chí, chúng còn ngang nhiên livestream và tán phát thông tin để đe dọa trên mạng xã hội. Luật sư Bùi Quang Thu (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) khẳng định rằng, chỉ riêng việc tàng trữ lựu đạn, vũ khí quân dụng đã là vi phạm Bộ luật Hình sự, phải xử lý nghiêm.
Trong các biện pháp thì trấn áp là biện pháp cuối cùng, khi không còn biện pháp nào khác. Suốt nhiều năm, các cơ quan chức năng đã tìm mọi cách để giải quyết, để đối thoại nhưng những đối tượng chống đối bất chấp, bỏ ngoài tai, cố tình phá hoại. Theo thông tin từ Báo Công an nhân dân, cơ quan công an đã nhiều lần gọi hỏi, răn đe song các đối tượng vẫn cố tình thực hiện đến cùng và gần đây gia tăng các hành vi gây rối, tấn công cán bộ, chuẩn bị rất nhiều vũ khí với mục đích sát hại cán bộ, cho thấy sự manh động, nguy hiểm, ngoan cố, phạm tội có tổ chức tinh vi chứ không còn là sự “đối phó”, “tự vệ” như ai đó đang biện minh cho các đối tượng này. 
Việc cơ quan công an áp dụng biện pháp khống chế, bắt giữ các đối tượng phạm tội là biện pháp tuân theo Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm điều tra, làm rõ vụ án, xử lý các đối tượng theo quy định pháp luật. Yêu cầu tấn công, trấn áp tội phạm là cần thiết, không thể đánh lận khái niệm dân nói chung với những kẻ phạm tội, gây trọng tội; không thể để các đối tượng nhởn nhơ, chống phá, gây tội ác mà không áp dụng biện pháp mạnh theo luật định.  
Cũng chính vì anh dũng hy sinh trong khi bắt các đối tượng phạm tội có hành vi hung hãn, manh động nên 3 đồng chí công an hy sinh tại xã Đồng Tâm được Chủ tịch nước truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Việc một số cá nhân, tổ chức cố tình xuyên tạc rằng 3 đồng chí công an này hy sinh khi đi “cưỡng chế đất”, “bắt dân” là hoàn toàn sai bản chất. Thủ tướng Chính phủ đã biểu dương tấm gương hy sinh của 3 đồng chí công an, khẳng định đây là tấm gương xả thân bảo vệ đất nước, bảo vệ an ninh quốc gia và đã có quyết định cấp Bằng Tổ quốc ghi công đối với 3 liệt sĩ. Thủ tướng Chính phủ cũng nêu rõ cần phải xử lý nghiêm các đối tượng chống đối, vi phạm pháp luật.
Người dân chân chính phải là người tôn trọng pháp luật, sống trọng đạo lý, nghĩa tình. Gần 60 năm trước, khi về thăm xã Nghĩa Dân, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, Bác Hồ đã dạy: "Nghĩa Dân là dân có nghĩa, phải làm gương cho các xã khác". Thiết nghĩ lời dạy ấy còn nguyên ý nghĩa để chúng ta hiểu đúng về nhân dân.
Chúng tôi từng trực tiếp chứng kiến phiên tòa xét xử vụ án Đoàn Văn Vươn ở TP Hải Phòng hơn 6 năm trước nên ít nhiều đã được chứng kiến những cay đắng, bẽ bàng của các đối tượng vi phạm cũng như đáng tiếc cho một số người trong và sau khi tham dự phiên tòa vẫn còn có những tiếng nói lạc lõng, bênh vực, bao biện cho những hành vi vô thiên vô pháp. Phải chăng, đó cũng chính là lý do khiến cho các vụ việc manh động có tính tội ác vẫn tái diễn? Nên đây chính là lúc, qua sự việc này và các sự việc tương tự từng xảy ra, chúng ta cần có quan điểm kiên quyết, nghiêm khắc trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ Năm, 9 tháng 1, 2020

LUẬN ĐIỆUXUYÊN TẠC THIẾU CĂN CỨ CỦA DÂN NGUYỄN



KHÁNH ANH

Lợi dụng Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2019 – 2024. Ngày 15/12/2019, trên trang Danlambaovn.blogspot.com, Dân Nguyễn lại đăng bài: Không nên ngộ nhận giữa chủ nghĩa yêu nước và lòng yêu nước. Thực chất bài viết của Dân Nguyễn không có gì khác đó là xuyên tạc và phản động, hòng đánh lừa người đọc nếu như không tìm hiểu các hoạt đông, các diễn đàn mà Đại hội đã thảo luận.
Thứ nhất, bằng cách đưa thông tin không đầy đủ về các hoạt động của Đại hội, các nội dung trong phong trào “Tôi yêu Tổ quốc tôi” của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Dân Nguyễn cho rằng, Đại hội đã: “Ngộ nhận về chủ nghĩa yêu nước”.
Chúng ta đều biết, từ ngày 10-12/12/2019 tại Hà Nội đã diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, nhiệm kỳ 2019 – 2024. Với khẩu hiệu hành động “Thanh niên Việt Nam yêu nước, sáng tạo, tình nguyện, hội nhập, phát triển”, Đại hội đã tập trung đánh giá việc triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ VII và phong trào “Tôi yêu Tổ quốc tôi”. Mục đích là: thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến để đưa phong trào đến với thanh niên, vận động thanh niên thi đua rèn luyện, vận động thanh niên thi đua cống hiến, vận động thanh niên sống có trách nhiệm….
Đại hội đã xác định tiếp tục triển khai phong trào: “Tôi yêu Tổ quốc tôi” trong nhiệm kỳ 2019 -2024, với 5 nội dung chính, bao gồm: Thanh niên Việt Nam yêu nước, bản lĩnh; Thanh niên Việt Nam sáng tạo, khởi nghiệp; Thanh niên Việt Nam sống đẹp, sống có ích; Thanh niên Việt Nam tình nguyện vì cộng đồng; Thanh niên Việt Nam khỏe thể chất, vững kỹ năng, chủ động hội nhập quốc tế. Như vậy, với việc thông tin không đầy đủ các nội dung của phong trào “Tôi yêu Tổ quốc tôi”, Dân Nguyễn đã dùng cách đánh tráo khái niệm, so sánh khập khiễng, sau đó lập luận một cách vô căn cứ để rồi cho rằng Đại hội đã ngộ nhận về chủ nghĩa yêu nước.
Thứ hai, Dân Nguyễn đã “chỉ ra” những tác hại của sự ngộ nhận đó là: “Xã hội từ đó hỗn loạn về mọi mặt, đặc biệt về nhân cách và đạo đức; lòng yêu nước chi phối toàn diện, tất nhiên pháp luật sẽ không được thực thi. Một xã hội vô chính phủ hiện nguyên hình bằng những hành vi hoang dã nhân danh ‘lòng yêu nước gắn liền yêu CNXH…”
Không biết tên Dân Nguyễn có đọc những nội dung mà phong trào “Tôi yêu Tổ quốc tôi” của Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã phát động hay không?! Thiết nghĩ, những nội dung đó với bất kỳ ai, bất kỳ người thanh niên nào, kể cả thanh niên các nước trên thế giới đều thấy đó là những mục tiêu rất cao cả, rất tốt đẹp để mỗi thanh niên Việt Nam trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, mọi miền của Tổ quốc đều hướng tới và mong muốn phấn đấu đạt được. Với mục tiêu xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn về nhân cách, phẩm chất đạo đức, có trí tuệ, thể lực; sống có lý tưởng, có ý chí vươn lên, biết cống hiến, hy sinh vì cộng đồng và luôn hướng tới những giá trị chân, thiện, mĩ của cuộc sống. Tốt đẹp là vậy, thế nhưng Dân Nguyễn lại cho rằng những giá trị đó sẽ làm cho “xã hội từ đó hỗn loạn về mọi mặt, đặc biệt về nhân cách và đạo đức; lòng yêu nước chi phối toàn diện…” Phải chăng, theo cách hiểu của Y thì thế hệ thanh niên ngày nay chỉ biết sống hưởng thụ, sống buông thả ngoài khuôn khổ pháp luật, không theo các chuẩn mực xã hội, sống không có trách nhiệm với cộng đồng thì mới là những công dân tốt? Và, thật phi lý khi Dân Nguyễn còn cho rằng, những giá trị cao đẹp đó “lại xóa bỏ hệ thống pháp luật của xã hội? và làm cho đất nước trở thành một xã hội vô chính phủ…?”. Dân Nguyễn phải hiểu rằng, khi con người có phẩm chất đạo đức tốt, sống có ích, có lý tưởng, có trách nhiệm với cộng đồng… thì đó chính là những người sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, điều này làm cho nền tảng pháp luật của xã hội ngày càng được củng cố vững chắc. Đó chính là cơ sở xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, hoàn toàn không như những gì mà Dân Nguyễn đề cập.
Như vậy có thể thấy, tất cả những nội dung mà Dân Nguyễn nêu ra trong bài viết chỉ là xuyên tạc, vu khống, chống phá đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà thôi. Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam, nhất là thanh niên hãy cảnh giác vạch trần, lên án và kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu nêu trên của Dân Nguyễn./.


VẠCH TRẦN SỰ NHAM HIỂM CỦA TRÍ NGUYỄN



Công Đặng
Bằng những thủ đoạn như: trích dẫn cắt xén, thêm bớt nội dung, hình ảnh; bịa đặt thông tin rồi mập mờ nói đó là nguồn tin riêng;… Trí Nguyễn và những kẻ vẫn tự xưng hay vẫn tán dương nhau là “nhà dân chủ, người yêu nước” đã tự lộ rõ bản chất bất lương của chúng, nên không ngẫu nhiên dư luận lại thường gọi chúng là “nhà dân chủ cuội, người yêu nước dỏm”. Đến nay, dù những trò dối trá luôn bị cư dân mạng vạch trần, truy nguyên nguồn gốc, nhưng chúng vẫn không dừng lại, vì đó là cái cần câu cơm của những kẻ sống nhờ những đồng USD bẩn thỉu từ những tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam. Chính vì thế, khi tiếp xúc với thông tin chúng đưa ra, chúng ta cần hết sức tỉnh táo, để không bị mê hoặc, thao túng, lợi dụng.
Chúng ta đều biết, việc xem xét kỷ luật đối với ông Hoàng Trung Hải và khởi tố các lãnh đạo liên quan đến Dự án Gang Thép Thái Nguyên đã được tiến hành một cách bài bản, thận trọng với tinh thần sai phạm đến đâu xử lý đến đó, đúng người, đúng tội. Đặc biệt, công khai trước dư luận, đã chỉ rõ đến từng cá nhân vi phạm, không còn là lỗi của tập thể và không có “vùng cấm”.
Nhìn lại các cá nhân, tập thể bị thi hành kỷ luật và xử lý hình sự trong thời gian qua chúng ta có thể khẳng định, không có chuyện “phe phái” hay là vì bất cứ lý do “không chính đáng” nào, cũng không có chuyện “thanh trừng” như luận điệu xuyên tạc một số đối tượng cơ hội chính trị rêu rao. Trong “cuộc chiến” giữa thanh thiên bạch nhật này, nếu có chuyện thanh trừng thì đó chỉ là “giặc nội xâm” đang bòn rút bạc tiền của người dân. Không thể để một bộ phận cán bộ đảng viên được Đảng và nhân dân giao trọng trách lại có thể dùng trọng trách được giao để “moi ruột nước, móc túi dân” như một số kẻ đã từng làm. Chủ trì phiên họp thứ 16 Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban chỉ đạo đã khẳng định, “một không khí phấn khởi đang lan tỏa trong toàn xã hội” bởi niềm tin của người dân vào “cuộc chiến” chống tham nhũng ngày càng được củng cố.
Như vậy có thể thấy, việc xem xét kỷ luật ông Hoàng Trung Hải – một Ủy viên Bộ Chính trị, từng giữ chức vụ Phó Thủ tướng (hay trước đây là xét xử ông Đinh La Thăng) đã truyền đi thông điệp mạnh mẽ, quyết tâm của Đảng trong việc làm trong sách bộ máy Nhà nước. Có vi phạm sẽ phải bị xử lý, không có vùng cấm. Đây chính là “cú tát” vào những kẻ chuyên đi xuyên tạc, bịa đặt như Trí Nguyễn và đồng bọn.
Vì vậy, cho dù công cuộc phòng chống tham nhũng, suy thoái có không ít những chua xót. Việc “cho củi vào lò” là bất đắc dĩ song không thể không làm vì nó liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ và việc “đốt lò” cần đến trí tuệ chứ không phải nơi dành cho những kẻ “phàm phu tục tử” buông lời chọc ngoáy thiếu đạo đức. Những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của Trí Nguyễn và đồng bọn tuy chẳng thể lừa phỉnh được ai, nhưng những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của chúng cần phải được vạch trần, lên án và đấu tranh bác bỏ một cách triệt để, kiên quyết./.


PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG



Công Đặng
"Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi "phi chính trị hóa" quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an" là một trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây cũng chính là âm mưu thâm độc trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, vì vậy, chúng ta cần phê phán, đấu tranh, bác bỏ.
Các thế lực thù địch luôn công kích, phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; đề nghị “bỏ quy định lực lượng vũ trang phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam” (Điều 65, Chương IV) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Đi cùng với phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an, các thế lực thù địch còn xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.
Đây là sự chống phá cực kỳ nguy hiểm và trên thực tế, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác quốc phòng, an ninh, về xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Chúng ra sức xuyên tạc, bôi nhọ bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; làm giảm lòng tin của nhân dân đối với quân đội và công an; xuyên tạc các sự kiện lịch sử có ý nghĩa chính trị trọng đại của đất nước có lực lượng quân đội và công an tham gia, nhằm làm mất uy tín, vị thế, vai trò của hai lực lượng này trước nhân dân. Thâm độc hơn, chúng còn thực hiện các thủ đoạn tạo mối nghi ngờ, hiềm khích, gây ly gián Quân đội nhân dân với Công an nhân dân, lực lượng vũ trang với các cơ quan Đảng, Nhà nước... 
Sự chống phá của các thế lực thù địch là vậy, nhưng một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân do thiếu hiểu biết, thiếu rèn luyện, học tập chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, đã bị dao động, bi quan, dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra. Đáng lưu ý, thông qua internet, các trang mạng xã hội, blog cá nhân... biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ngày càng rõ nét và bị các thế lực thù địch lợi dụng để thúc đẩy chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Có thể khẳng định, biểu hiện này trong một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân là rất nguy hiểm và cần phải kiên quyết loại trừ. Bởi thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chỉ rõ, bài học thành công của Đảng trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới của giai cấp vô sản chính là xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cốt lõi là giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; chăm lo xây dựng bản chất giai cấp công nhân gắn với xây dựng tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. 
Chỉ dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, với đường lối vũ trang cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng, lực lượng vũ trang mới tôi luyện được bản lĩnh chính trị vững vàng, nâng cao sức mạnh chiến đấu tổng hợp, thực sự là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong thực hiện các chủ trương, đường lối, chiến lược, sách lược bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Và trên thực tế, trong hơn 70 năm qua, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam luôn vượt qua những khó khăn trở ngại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đó là sự thật hiển nhiên không thể xuyên tạc, bóp méo.
Chúng ta cần phải đẩy mạnh đấu tranh phản bác lại những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đặc biệt là biểu hiện: “Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an”. Muốn làm được điều đó, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:
Một là, cần cung cấp thông tin chính thống về lĩnh vực quốc phòng - an ninh đến cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân một cách kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực. Bởi quốc phòng - an ninh là lĩnh vực đặc thù, có liên quan trực tiếp đến sự an nguy của quốc gia, dân tộc. 
Hơn nữa, khi cán bộ, đảng viên và nhân dân được cung cấp thông tin chính thống nhanh chóng và chính xác, các thế lực thù địch sẽ ít có cơ hội thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình”, đồng thời ngăn chặn hiệu quả những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Hai là, luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với QĐND và CAND trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Đây vừa là nguyên tắc, vừa là quy luật cơ bản trong xây dựng quân đội và công an kiểu mới, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng chỉ rõ: “... phải tiếp tục giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”, làm cho quân đội và công an thật sự đoàn kết, gắn bó, là lực lượng xung kích đi đầu trong ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Ba là, tăng cường đấu tranh phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng làm cho QĐND, CAND Việt Nam “tự diễn biến” theo khuynh hướng “phi chính trị hóa”. Theo đó, phải tăng cường xây dựng QĐND, CAND vững mạnh về chính trị, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; củng cố và tăng cường sức mạnh đoàn kết quân dân, góp phần giữ gìn và phát huy hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, người “Công an cách mạng”.
Bốn là, thường xuyên đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ quân đội và công an, tạo chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa tinh thần, khắc phục các biểu hiện tiêu cực trong đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ. Cùng với đó phải tích cực giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ có ý thức và hành động đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng với mọi biểu hiện dao động, giảm sút ý chí, niềm tin; mơ hồ, mất cảnh giác; cá nhân chủ nghĩa; suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; không tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá nội bộ. 
Đồng thời, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức cho các nhà khoa học, bằng cơ sở lý luận, thực tiễn sắc bén, có tính thuyết phục cao, tham mưu, đề xuất những biện pháp, cách thức đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội.




LUẬN ĐIỆUXUYÊN TẠC THIẾU CĂN CỨ CỦA DÂN NGUYỄN



KHÁNH ANH

Lợi dụng Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2019 – 2024. Ngày 15/12/2019, trên trang Danlambaovn.blogspot.com, Dân Nguyễn lại đăng bài: Không nên ngộ nhận giữa chủ nghĩa yêu nước và lòng yêu nước. Thực chất bài viết của Dân Nguyễn không có gì khác đó là xuyên tạc và phản động, hòng đánh lừa người đọc nếu như không tìm hiểu các hoạt đông, các diễn đàn mà Đại hội đã thảo luận.
Thứ nhất, bằng cách đưa thông tin không đầy đủ về các hoạt động của Đại hội, các nội dung trong phong trào “Tôi yêu Tổ quốc tôi” của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Dân Nguyễn cho rằng, Đại hội đã: “Ngộ nhận về chủ nghĩa yêu nước”.
Chúng ta đều biết, từ ngày 10-12/12/2019 tại Hà Nội đã diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, nhiệm kỳ 2019 – 2024. Với khẩu hiệu hành động “Thanh niên Việt Nam yêu nước, sáng tạo, tình nguyện, hội nhập, phát triển”, Đại hội đã tập trung đánh giá việc triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ VII và phong trào “Tôi yêu Tổ quốc tôi”. Mục đích là: thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến để đưa phong trào đến với thanh niên, vận động thanh niên thi đua rèn luyện, vận động thanh niên thi đua cống hiến, vận động thanh niên sống có trách nhiệm….
Đại hội đã xác định tiếp tục triển khai phong trào: “Tôi yêu Tổ quốc tôi” trong nhiệm kỳ 2019 -2024, với 5 nội dung chính, bao gồm: Thanh niên Việt Nam yêu nước, bản lĩnh; Thanh niên Việt Nam sáng tạo, khởi nghiệp; Thanh niên Việt Nam sống đẹp, sống có ích; Thanh niên Việt Nam tình nguyện vì cộng đồng; Thanh niên Việt Nam khỏe thể chất, vững kỹ năng, chủ động hội nhập quốc tế. Như vậy, với việc thông tin không đầy đủ các nội dung của phong trào “Tôi yêu Tổ quốc tôi”, Dân Nguyễn đã dùng cách đánh tráo khái niệm, so sánh khập khiễng, sau đó lập luận một cách vô căn cứ để rồi cho rằng Đại hội đã ngộ nhận về chủ nghĩa yêu nước.
Thứ hai, Dân Nguyễn đã “chỉ ra” những tác hại của sự ngộ nhận đó là: “Xã hội từ đó hỗn loạn về mọi mặt, đặc biệt về nhân cách và đạo đức; lòng yêu nước chi phối toàn diện, tất nhiên pháp luật sẽ không được thực thi. Một xã hội vô chính phủ hiện nguyên hình bằng những hành vi hoang dã nhân danh ‘lòng yêu nước gắn liền yêu CNXH…”
Không biết tên Dân Nguyễn có đọc những nội dung mà phong trào “Tôi yêu Tổ quốc tôi” của Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã phát động hay không?! Thiết nghĩ, những nội dung đó với bất kỳ ai, bất kỳ người thanh niên nào, kể cả thanh niên các nước trên thế giới đều thấy đó là những mục tiêu rất cao cả, rất tốt đẹp để mỗi thanh niên Việt Nam trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, mọi miền của Tổ quốc đều hướng tới và mong muốn phấn đấu đạt được. Với mục tiêu xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn về nhân cách, phẩm chất đạo đức, có trí tuệ, thể lực; sống có lý tưởng, có ý chí vươn lên, biết cống hiến, hy sinh vì cộng đồng và luôn hướng tới những giá trị chân, thiện, mĩ của cuộc sống. Tốt đẹp là vậy, thế nhưng Dân Nguyễn lại cho rằng những giá trị đó sẽ làm cho “xã hội từ đó hỗn loạn về mọi mặt, đặc biệt về nhân cách và đạo đức; lòng yêu nước chi phối toàn diện…” Phải chăng, theo cách hiểu của Y thì thế hệ thanh niên ngày nay chỉ biết sống hưởng thụ, sống buông thả ngoài khuôn khổ pháp luật, không theo các chuẩn mực xã hội, sống không có trách nhiệm với cộng đồng thì mới là những công dân tốt? Và, thật phi lý khi Dân Nguyễn còn cho rằng, những giá trị cao đẹp đó “lại xóa bỏ hệ thống pháp luật của xã hội? và làm cho đất nước trở thành một xã hội vô chính phủ…?”. Dân Nguyễn phải hiểu rằng, khi con người có phẩm chất đạo đức tốt, sống có ích, có lý tưởng, có trách nhiệm với cộng đồng… thì đó chính là những người sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, điều này làm cho nền tảng pháp luật của xã hội ngày càng được củng cố vững chắc. Đó chính là cơ sở xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, hoàn toàn không như những gì mà Dân Nguyễn đề cập.
Như vậy có thể thấy, tất cả những nội dung mà Dân Nguyễn nêu ra trong bài viết chỉ là xuyên tạc, vu khống, chống phá đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà thôi. Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam, nhất là thanh niên hãy cảnh giác vạch trần, lên án và kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu nêu trên của Dân Nguyễn./.


CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN KHÔNG THỂ LỖI THỜI!



Thời gian gần đây, một số nhà nghiên cứu phương Tây và một bộ phận cán bộ, đảng viên trong nước cho rằng, trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời. Bởi vậy, chúng ta không thể xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh trên nền tảng của học thuyết lỗi thời đó.
Câu hỏi đặt ra là, chủ nghĩa Mác - Lênin có thật là đã lỗi thời không khi xem xét dưới mọi bình diện, từ ý nghĩa khoa học, mục tiêu xã hội đến ý nghĩa thực tiễn? Nếu nó là lỗi thời thì nguyên nhân và cơ sở nào quy định, ngược lại nếu không lỗi thời thì tại sao và do đâu?
Những người cho rằng Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời thường dựa chủ yếu vào 4 lý do sau đây: Thứ nhất, chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời từ những điều kiện kinh tế - xã hội của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX nên không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay. Thứ hai, CNXH hiện thực được xây dựng theo học thuyết của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I. Lênin ở Liên Xô, các nước Đông Âu đã bị sụp đổ. Hiện thực sụp đổ có nghĩa là lý thuyết sai lầm. Thứ ba, điều kiện kinh tế và xã hội ở các nước tư bản phát triển được cải thiện rất nhiều so với ở các nước đi theo con đường XHCN, chứng tỏ CNTB là ưu việt. Và thứ tư, một loạt sai lầm, khuyết điểm mà các nước đi theo con đường XHCN, trong đó có nước ta đã và đang mắc phải, chứng tỏ lý luận về CNXH là sai lầm và lỗi thời.
Trong bài viết này, chúng tôi xin trao đổi về các lý do đó.
Về lý do thứ nhất, đúng là học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen ra đời từ giữa thế kỷ XIX, trong điều kiện những mâu thuẫn của CNTB đã trở nên gay gắt, phơi bày tất cả bản chất giai cấp của nó cùng với sự bóc lột người lao động đến cùng cực. C.Mác và Ph.Ăngghen kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, tiếp thu có phê phán toàn bộ những giá trị tinh hoa của quá trình phát triển tư tưởng của nhân loại, đặc biệt là kinh tế - chính trị cổ điển Anh, triết học cổ điển Đức và CNXH không tưởng Pháp. Những học thuyết về giá trị lao động của Ađam Xmít và Đavít Ricácđô, phương pháp biện chứng của Hêghen, chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phơbách, những tư tưởng tiến bộ về xã hội của các nhà tư tưởng Pháp như Sanh Simông, Phuriê cũng đóng góp những cơ sở nhận thức quan trọng vào quá trình hình thành học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen. Cũng cần phải nói rằng, lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện ra tính quy luật trong sự vận động của xã hội loài người, trong đó nhân tố quyết định là mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Đây chính là cơ sở để C.Mác và Ph.Ăngghen dự báo về tất yếu loài người sẽ tiến tới CNCS qua một giai đoạn quá độ là CNXH.
V.I.Lênin là người tiếp tục phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen vào thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong điều kiện mới khi CNTB đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. V.I.Lênin có nhiều đóng góp vào phát triển các tư tưởng triết học, kinh tế - chính trị của C.Mác và Ph.Ăngghen. Đặc biệt, V.I.Lênin đã phát triển tư tưởng về khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản ở một nước tư bản riêng biệt; xây dựng học thuyết về một chính đảng mác xít kiểu mới; tổ chức cuộc cách mạng XHCN thắng lợi và vận dụng học thuyết của Mác để phân tích, giải quyết hàng loạt vấn đề trong quá trình xây dựng CNXH ở nước Nga và Liên bang Xô viết.
Đến giữa thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là người vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam để giải quyết những nhiệm vụ to lớn của cách mạng Việt Nam, đánh thắng những đế quốc to, những kẻ thù hung bạo để giành độc lập tự do cho dân tộc, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Điều hiển nhiên và không thể chối cãi là, dù được hiểu theo nghĩa nào, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là khoa họcvề những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; quy luật về sự phát triển của sản xuất xã hội, về cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động chống lại áp bức, bóc lột, mưu cầu tự do, hạnh phúc; quy luật về cách mạng XHCN và con đường xây dựng, phát triển đi tới CNCS. Vào thời điểm ra đời của học thuyết này, những tác giả của chủ nghĩa Mác - Lênin đã phê phán CNTB, chỉ ra bản chất bóc lột, tính quy luật trong sự tồn tại và phát triển của nó. Sự phê phán đó là sâu sắc và phản ánh đúng bản chất của thực tiễn xã hội đương thời. Đó là điều đã được thực tế kiểm nghiệm, được hầu hết các nhà nghiên cứu xã hội thừa nhận cho dù họ theo xu hướng chính trị nào. Từ sự phê phán CNTB đương thời, từ phát hiện tính quy luật của lịch sử xã hội loài người và từ cả thái độ nhân văn trước hiện thực tăm tối về sự thống khổ của người lao động dưới ách áp bức, bóc lột của CNTB, C.Mác, Ph.Ăngghen dự báo về một xã hội tương lai như một tất yếu lịch sử sẽ thay thế CNTB.
Cần nói rằng, những gì CNTB hiện đại đang thể hiện vẫn không đi ra ngoài tính quy luật mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra, càng minh chứng cho tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, một mặt tăng thêm tiềm lực cho CNTB. Mặt khác, nó càng thúc đẩy nhanh hơn quá trình xã hội hóa của lực lượng sản xuất, dẫn đến những thay đổi chóng mặt về quy mô, tính chất của quan hệ sở hữu, quản lý, điều hành sản xuất và phân phối của cải xã hội. Quá trình toàn cầu hóa xuất phát trước tiên từ nền kinh tế TBCN, nói cho cùng cũng như cái “áo” trong khung khổ từng quốc gia đã quá chật hẹp, buộc phải nới ra trên phạm vi toàn thế giới. Sự áp bức bóc lột của CNTB theo đó cũng mở rộng mạnh mẽ ra ngoài chính quốc. Sự bóc lột ấy, về bản chất, chẳng khác gì hành vi xâm lược thuộc địa của các đế quốc - TBCN trước đây, chỉ có điều nó được che đậy dưới lớp vỏ hào nhoáng, mỹ miều hơn, nó đi vào các quốc gia nghèo khó bằng cửa chính và bóc lột người lao động bằng những lề luật văn minh, sạch sẽ hơn.
Càng giàu mạnh, các thế lực tư bản càng hung hăng, tìm mọi cách để chiếm đoạt các nguồn tài nguyên, của cải của thế giới, quy phục các quốc gia nghèo khó, yếu thế nhằm phục vụ cho lợi ích của mình. Cuộc chiến tranh Irắc đã đẩy một quốc gia hòa bình vào cuộc chiến đẫm máu, huynh đệ tương tàn suốt hơn một thập niên, đến nay vẫn chưa thấy lối ra. Lý do để phát động cuộc chiến tranh chống lại một dân tộc có chủ quyền, độc lập cách xa nước Mỹ hàng vạn cây số là tàng trữ “vũ khí giết người hàng loạt”, nhưng từ sau chiến dịch Bão táp sa mạcđến giờ người ta đã đào bới, xới lộn cả nước Irắc mà không tìm thấy cái gì là “vũ khí giết người hàng loạt”. Nhưng thực tế thì chính nước Mỹ đang tàng trữ lượng vũ khí hạt nhân đủ phá hủy nhiều lần cuộc sống của nhân loại trên toàn cầu. Đất nước Libia hòa bình cũng trở thành hỗn loạn sau khi Mỹ và các đồng minh phương Tây can thiệp lật đổ chính quyền dân cử Mohamet Cadaphi. Cho dù Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh đã xin lỗi nhưng điều ấy có nghĩa gì khi đất nước Irắc và Libia đã tan hoang, hàng vạn người dân lành đã chết, hàng triệu người dân đang sống trong những điều kiện tồi tệ nhất(1). Ngay với nước Mỹ, hàng chục nghìn thanh niên đã bỏ xác ở Irắc, ở Trung Đông một cách vô nghĩa. Chắc chắn trong số những thanh niên Mỹ đã chết vô ích ấy không và không thể có con cái các nhà tư bản, các ông chủ ngân hàng. Vậy, lý do cuộc chiến Irắc là gì nếu không phải là dầu mỏ và lợi ích của những ông chủ, các nhà tư bản Mỹ? Một loạt cuộc cách mạng màu do bàn tay Mỹ và các nước phương Tây phát động ở Libia, Siry, Ai Cập... đều có chung một hình thái bên ngoài, mục đích ẩn giấu bên trong và hậu quả tồi tệ không khác gì với cuộc chiến ở Irắc.
Mặt khác, nếu nhìn nhận từ góc độ nhân vănthì CNXH là ước vọng ngàn đời của tất cả những người dân lao động, của những con người có lương tâm cùng tình thương nhân loại, muốn sống trong hòa bình, nhân ái. C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển CNXH từ không tưởng trở thành khoa học khi nhìn nhận nó từ quy luật vận động của lịch sử, như sự vận động tất yếu từ những cơ sở xã hội, những yếu tố kinh tế, vật chất vốn đã được hình thành ngay trong lòng CNTB. Như vậy, CNXH là phù hợp và hợp lý cả về phương pháp luận khoa học và tính mục đích nhân văn.
Với tính chất là một học thuyết khoa học, những người khai sinh ra chủ nghĩa Mác - Lênin chưa bao giờ muốn và chưa có bất cứ một mệnh đề phán đoán nào để quy các luận điểm trong học thuyết của mình về cách mạng xã hội hay về xã hội XHCN tương lai thành những tín điều siêu hình, cứng nhắc. Trong tác phẩm Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, Ph.Ăngghen đã trả lời hàng loạt vấn đề lý luận liên quan trực tiếp đến chủ nghĩa xã hội khoa học như: thế nào là giai cấp công nhân và đảng cộng sản; quan hệ giữa giai cấp công nhân với đảng cộng sản; hiểu thế nào là xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN và xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; mối quan hệ ra sao giữa giai cấp công nhân, dân tộc và quốc tế; các giải pháp cần thiết để tiến hành cách mạng XHCN,... Chính Ph.Ăngghen là người rất khách quan, khoa học khi luận giải rất tường minh CNXH từ không tưởng trở thành khoa học, đồng thời yêu cầu những người cộng sản rằng, “...chủ nghĩa xã hội trở thành khoa học mà ngày nay, vấn đề trước hết là phải nghiên cứu thêm, trong mọi chi tiết và mọi mối liên hệ của nó”.
Trong rất nhiều tác phẩm, C.Mác và Ph.Ăngghen đều nhấn mạnh tầm quan trọng của nhận thức, đánh giá, tổng kết thực tiễn để thường xuyên bổ sung, phát triển lý luận, nhất là lý luận về con đường hiện thực hóa CNXH, CNCS. Trong Lời đề tựa cho lần xuất bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản vào năm 1872, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết rằng: “...chính ngay “Tuyên ngôn” cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đấy không nên quá câu nệ vào những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II”(2). Quan điểm lịch sử - cụ thể và quan điểm phát triển cũng luôn luôn được V.I.Lênin quán triệt vận dụng trong nhiều nhận thức thực tiễn giải quyết mối quan hệ gắn bó giữa lý luận với thực tiễn. Chính sách Kinh tế mới chính là một dẫn chứng thực tế sáng rõ về quan điểm đó. Chính V.I.Lênin đã có một định nghĩa đầy tính thực tiễn về CNXH mà lâu nay đôi khi những người hậu thế đã bỏ quên hoặc bảo thủ với những định kiến mà không nhìn nhận một cách đúng đắn và nghiêm túc. Người nói: “Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt nhất của nước ngoài: Chính quyền xô-viết + trật tự ở đường sắt Phổ + kỹ thuật và cách tổ chức các tơ-rớt ở Mỹ + ngành giáo dục quốc dân Mỹ etc. etc. + + = ∑= chủ nghĩa xã hội”(3). Nhận định của V.I.Lênin từ gần 100 năm trước vẫn còn nguyên giá trị phương pháp luận đối với chúng ta hiện nay, nhất là trong điều kiện toàn cầu hóa.
Vậy thì tại sao có thể nói rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là lỗi thời. Xin thưa rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin không thể lỗi thời mà chính những người cố tình phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin mới là những người nhầm lẫn, sai lầm, cố tình không nhìn thấy bản chất khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Hoặc giả, họ đã cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin vì một lý do chính trị, vì muốn xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin để bảo vệ cho CNTB và quyền lợi của một nhóm người tư bản hoặc được hưởng lợi không chính đáng từ guồng máy của CNTB. Nếu có lỗi thời chăng, thì chính là lỗi thời ở cách mà chúng ta chưa nghiên cứu đủ sâu sắc, chưa vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách đúng đắn vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề trong quá trình xây dựng CNXH mà thôi. Tuyệt nhiên không thể là sự lỗi thời của chủ nghĩa Mác - Lênin!
Về lý do thứ hai, sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu phải chăng như một bằng chứng hiển nhiên của sự sai lầm, lỗi thời của chủ nghĩa Mác - Lênin và cùng với nó là con đường xây dựng CNXH? Phải chăng có một lôgic thực tế là CNXH hiện thực sụp đổ do lý thuyết về CNXH sai lầm?
Trước hết, cần phải nói rằng mô hình CNXH hiện thực trên thực tế đã mang lại sự thay đổi rung trời chuyển đất, tạo ra một mảng sáng không thể phủ nhận ở Liên xô, Đông Âu và một loạt nước trên thế giới. Nó đã mang lại cuộc sống tốt đẹp cho một phần to lớn của nhân loại. Nó đã tạo nên một sức mạnh to lớn mà trước đó không thể tưởng tượng về nguồn lực vật chất và tinh thần, đủ sức để động viên sức người, sức của, tạo thành lực lượng chủ yếu đánh thắng cả những lực lượng to lớn của liên minh các thế lực tư bản trong Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng như đội quân phát xít tàn bạo của trục ma quỷ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Bằng thực tế sinh động tốt đẹp trên các đất nước xây dựng CNXH, nó đã động viên, thúc đẩy cuộc đấu tranh vì tự do, dân chủ, hòa bình, giải phóng dân tộc trên toàn trái đất. Hàng loạt dân tộc bị áp bức đã giành được độc lập tự do dưới ảnh hưởng và sự giúp đỡ vô tư của các nước XHCN do Liên Xô dẫn đầu. Chính CNXH và cuộc đấu tranh rộng lớn, mạnh mẽ của nhân dân lao động trên toàn thế giới đã là động lực thúc đẩy, buộc các thế lực tư bản, đế quốc phải, một mặt thừa nhận quyền tự do, độc lập của các dân tộc trong hệ thống thuộc địa rộng lớn của CNTB thực dân, đế quốc. Một mặt, tạo thành sức ép, buộc các thế lực tư bản có những cải cách xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân lao động ở chính quốc. CNXH đã là một hiện thực hùng mạnh đủ để những chiến lược gia, các nhà lý luận tư sản phải run sợ, đã đưa ra những dự báo về sự thất bại, kết thúc không thể đảo ngược của chủ nghĩa tư bản. Những thừa nhận đắng cay của Henry Kitsingiơ, Brêginxki thời kỳ những năm 60, 70 thế kỷ XX vẫn còn nguyên đó trong các cuốn sách, bài báo của họ.
Tất nhiên, sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã là một bài học đau đớn không chỉ cho những người cộng sản, mà còn cho cả nhân loại tiến bộ. Đó là kết quả của sự bảo thủ, không nhìn thẳng vào thực tế, chậm đổi mới nhận thức và đổi mới các chính sách cũng như những giải pháp cần thiết để giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn như những mâu thuẫn tất yếu nảy sinh trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Đó cũng chính là sự sai lầm do những người cộng sản ở Liên Xô và các nước XHCN trước đây mắc phải do không nhận thức đúng đắn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính biện chứng và quan điểm lịch sử cụ thể trong quá trình lãnh đạo cuộc cách mạng XHCN, đã do cố chấp và thiên kiến mà bỏ qua bài học phương pháp luận quý báu của V.I.Lênin, không “Dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt nhất của nước ngoài” để xây dựng, phát triển chế độ XHCN.
Mặt khác, sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng CNXH cụ thể không hơn, không kém. Tuyệt nhiên đó không phải là sụp đổ của một học thuyết khoa học, càng không thể là sự sụp đổ về một tương lai tốt đẹp mà nhân loại tiến bộ đang hướng tới. Điều ấy không chỉ được minh chứng bằng việc ngay ở thời điểm hiện nay, một loạt nước ở tây bán cầu ngay cận kề nước Mỹ đang tìm tòi con đường và cách thức để xây dựng CNXH theo một mô hình mới. Nó cũng được minh chứng bởi một loạt quốc gia ở chính châu Âu, nhất là Bắc Âu đã và đang lấy CNXH làm mục đích và cảm hứng để xây dựng, phát triển đất nước mình. Không phải không có lý do, khi họ tự gọi mình là mô hình CNXH phúc lợi. Đương nhiên còn một minh chứng hiện hữu là một số nước kiên trì đi theo con đường XHCN, trong đó có Việt Nam đã đạt được những thành tựu có tính lịch sử trong xây dựng, phát triển.
Từ tất cả thực tế ấy, không thể nói rằng mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước khác sụp đổ trong những năm cuối thế kỷ trước có nghĩa là học thuyết Mác - Lênin về CNXH là sai lầm và lỗi thời! Ngược lại, sẽ là ảo tưởng khi nghĩ rằng CNTB đang thắng thế. Thực tế đang chỉ ra rằng, chính CNTB đang đứng trước những thánh thức đầy nguy hiểm. Chính sự mâu thuẫn lợi ích, căn bệnh bản chất của CNTB đang làm nảy sinh sự chia rẽ khó tránh khỏi trong các liên minh tưởng chừng bền vững của họ. Hiện tượng Brexit của nước Anh chỉ là một dấu hiệu đầu tiên và tất yếu của sự khục khặc từ chính trong lòng của nó khi CNTB ở Tây Âu mất đi đối trọng là khối các nước XHCN. Khi không còn phải đối mặt với nguy cơ từ bên ngoài thì những mâu thuẫn không thể tránh khỏi về lợi ích sẽ hiện nguyên hình, phá vỡ mối liên kết yếu ớt của các thế lực TBCN. Mặt khác, những cuộc khủng bố đã hiện diện ngay trung tâm của châu Âu, đe dọa không chỉ an ninh mà tạo nên sự bất ổn sống còn của chế độ TBCN. Vụ khủng bố ở thành phố Nice giữa đêm Quốc khánh nước Pháp làm hơn 80 người chết và vụ khủng bố bằng phương thức như thế được lặp lại ở Berlin, thủ đô nước Đức ngày 18-12-2016  làm 12 người chết, gần năm chục người bị thương, không chỉ báo hiệu mối nguy lớn về an ninh của châu Âu. Nó còn là hệ quả tất yếu cho chính sách sai lầm, vụ lợi của CNTB trong cách hành xử với các nước nghèo, các quốc gia Bắc Phi và Trung Đông.
Về lý do thứ ba, sự hơn hẳn về điều kiện vật chất, trình độ phát triển về kinh tế, khoa học - công nghệ và một số lĩnh vực khác của các nước tư bản phát triển so với các nước đi theo con đường XHCN hiện nay, phải chăng đã minh chứng cho tính ưu việt của CNTB? Đúng là không ai có thể phủ nhận một thực tế là các nước TBCN phát triển đã có được những thành tựu phát triển về kinh tế, khoa học - công nghệ kéo theo những cải thiện nhất định về điều kiện sống của người dân. Nhưng đó mới chỉ là cách nhìn thực tại, phiến diện, không thấy đằng sau và phía trước của sự phát triển ấy là gì.
Trước hết, cần phải nhìn cho rõ những thành tựu đó do đâu mà có. CNTB đã có nhiều trăm năm phát triển. Trên con đường phát triển của CNTB, bánh xe vận hành của nó đã lăn đi trong ngập ngụa máu và nước mắt của nhân loại cần lao, thống khổ trên khắp các lục địa. “Những nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm”(4), đó là lời tự thú có tính chất phản tỉnh của Terry Eagleton - một học giả người Anh. Chỉ cần giở lại các trang lịch sử của nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha... sẽ thấy ngay những gì mà chế độ tư bản đã hành xử với đồng loại của mình. Những kẻ thực dân từ cựu lục địa châu Âu đã phá vỡ cuộc sống bình yên hàng nghìn năm của các bộ tộc người da đỏ, chiếm đoạt đất đai của họ bằng gươm, súng và cả sự tra tấn dã man, rùng rợn ngoài trí tưởng tượng, bằng cách lột da đầu. Trong cuốn sách Sự tàn sát khủng khiếp cuối thời Victoria(Late Victorian Holocausts), học giả người Anh đã viết rằng, hàng chục triệu người Ấn Độ, châu Phi, Trung Quốc, Braxin, Triều Tiên, Nga và nhiều nước khác đã chết do đói, hạn hán và dịch bệnh vào cuối thế kỷ XIX dưới chế độ thực dân xâm lược. Và ngay ở chính các nước tư bản giàu có hiện nay, có ai dám chắc mọi người dân đều có cuộc sống tốt đẹp. Hàng chục triệu người dân Mỹ không có bảo hiểm y tế chỉ có cách chờ tử thần khi mắc bệnh. Ở bang Caliphoócnia, quá nửa nam giới người da đen có ít nhất một lần trong đời phải đi tù...
Làm sao, là người Việt Nam mà ai đó có thể quên được nỗi thống khổ của nhân dân ta trong đêm trường nô lệ hơn 80 năm dưới ách đô hộ của CNTB thực dân Pháp? Bao nhiêu người dân Việt Nam đã chết trong các xưởng máy, hầm lò, trên các cung đường, các bến tàu. Những cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Yên Bái, Xô viết Nghệ - Tĩnh... bị dìm trong bể máu. Hơn hai triệu người chết đói năm 1945. Thực dân Pháp bóc lột người dân thuộc địa Việt Nam đến tận xương tủy, vơ vét hết vàng, than, sắt, đồng... mang về làm giàu cho chính quốc. Gần 20 năm, đế quốc Mỹ thay chân đế quốc Pháp thiết lập ách thống trị, dày xéo đất nước ta. Những nhà tù địa ngục trần gian ở Côn Đảo, Phú Quốc..., những vụ tàn sát ở Thái Bình (Bình Định) năm 1966, Bình Hòa (Quảng Ngãi) năm 1966, Mỹ Lai (Quảng Ngãi) năm 1968..., vụ B52 ném bom rải thảm khu phố Khâm Thiên, bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), phải chăng đó không phải là tội ác thấu trời của chế độ tư bản Mỹ? Ngỡ tưởng, không phải nhìn đâu xa, chính những trang lịch sử khắc nghiệt và đau thương ấy đã đủ để cho các thế hệ chúng ta và con cháu chúng ta hiểu được bản chất của chủ nghĩa tư bản! Vậy mà lạ lùng thay, vẫn có người bước ra khỏi biên giới đã hết lời khen hay, khen đẹp cho các nước tư bản, cho các thành phố hào hoa Tây Âu. Họ có biết đâu hoặc cố tình không biết rằng, những thành phố đó đã trải qua mấy trăm năm xây dựng bằng sức lao động và của cải của bao thế hệ người lao động và cả của cải bóc lột từ các thuộc địa mang về.
Việc xây dựng chế độ XHCN là công việc rất khó, mang tính khoa học, có tính quy luật, đòi hỏi thời gian, nguồn lực, sự lãnh đạo chính trị đúng đắn và các điều kiện không thể thiếu khác. Theo như C.Mác, CNXH chỉ có thể thành công ở một loạt nước tư bản phát triển ở trình độ cao. Nó như là tất yếu thay đổi quan hệ sản xuất xã hội khi lực lượng sản xuất dưới chế độ TBCN đã phát triển, xã hội hóa cao độ, không thể tiếp tục tồn tại trong khuôn khổ quan hệ sản xuất TBCN. Đối với Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu, tất cả đều có điểm xuất phát là các nước tư bản có trình độ phát triển thấp hoặc trung bình. Thời gian xây dựng chế độ XHCN hầu như còn rất ngắn. Liên bang Xô Viết (Liên Xô) được thành lập và bắt tay xây dựng CNXH năm 1921, khi vừa ra khỏi cuộc nội chiến. Mới chỉ có chưa đầy 20 năm hòa bình xây dựng, Liên Xô đã phải trải qua cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại với sự tàn phá vô cùng nặng về sức người và sức của. Hơn 20 triệu người chết, hàng loạt thành phố, làng mạc từ biên giới với Ban Lan cho đến phía Tây Mátxcơva bị san phẳng. Từ sau năm 1945, Liên Xô chỉ có hơn 30 năm xây dựng trong hòa bình, đồng thời phải đối mặt với cuộc chạy đua vũ trang do Mỹ và phe đế quốc khởi xướng. Tương tự như vậy, các nước XHCN ở Đông Âu cũng chỉ có xấp xỉ 30 năm xây dựng. Nhưng những thành tựu mà các nước này đạt được là vô cùng to lớn, thậm chí có lĩnh vực vượt qua cả Mỹ và các nước tư bản Tây Âu. Ngoài việc thiết lập cuộc sống công bằng, cải thiện nhanh chóng về nhà ở, giáo dục, văn hóa cho nhân dân, Liên Xô còn đi đầu thế giới về khoa học công nghệ vũ trụ. Vào thời hoàng kim, CHDC Đức là quốc gia bảo đảm điều kiện sống cho trẻ em tốt nhất thế giới. Một yếu tố không thể không nhắc tới, Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đã trở thành đối thủ chính trị không đội chung trời của CNTB ở các nước phương Tây. Người dân các nước phương Tây và các dân tộc thuộc địa nhìn vào các nước XHCN như tấm gương, niềm hy vọng cho cuộc đấu tranh giành tự do, độc lập, đòi dân chủ, dân sinh. Các thế lực TBCN nhìn vào đó như mục tiêu phá hoại phải loại bỏ bằng được. Cho đến hôm nay, khi Chiến tranh lạnhđã lùi xa hơn 25 năm, nhưng hầu như cách ứng xử trước đây vẫn còn nguyên trong những trừng phạt kinh tế mà các nước tư bản phương Tây nhằm vào nước Nga.
Đối với Việt Nam, chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nước thống nhất theo con đường XHCN sau cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài suốt 30 năm. Ngay sau đó, chúng ta lại phải đối mặt với cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc. Trên thực tế, đất nước chỉ ra khỏi cuộc chiến từ năm 1989. Chúng ta bắt tay vào xây dựng đất nước từ con số không khi tất cả những gì có được sau mấy năm hòa bình xây dựng ngắn ngủi đã bị tàn phá hoàn toàn. Hơn thế nữa, hậu quả chiến tranh vô cùng nặng nề. Hàng vạn thương, bệnh binh, người già, trẻ em không nơi nương tựa. Đồng ruộng đầy bom, đạn, mìn còn lại. Những gì chúng ta có được hôm nay sau 30 năm xây dựng là đáng trân trọng, đáng tự hào, mặc dù chưa phải đã được như mong đợi. Đương nhiên là không thể so sánh với các nước tư bản đã có mấy trăm năm phát triển mà không cần quan tâm đến sự thống khổ, hy sinh của lớp lớp người lao động thuộc địa và ở chính quốc. Tuy nhiên, công việc xây dựng một xã hội mới chưa từng có tiền lệ, không bao giờ là dễ dàng, có tính quy luật của nó, không thể xong trong thời gian ngày một, ngày hai, không thể đốt cháy giai đoạn.
Như vậy, rõ ràng là sai lầm khi chỉ nhìn vào bề ngoài những gì đang có ở các nước tư bản phát triển để so sánh, đánh giá tính ưu việt của chế độ TBCN so với chế độ XHCN. Chỉ có bằng sự phân tích sâu sắc, toàn diện, bằng cách nhìn công bằng, lịch sử mới thấy được nguồn gốc, bản chất của sự giàu có của các nước tư bản phát triển, mới thấy hết được những thành công và đóng góp to lớn của CNXH cho sự phát triển của nhân loại và tiến bộ xã hội.
Về lý do thứ tư, phải chăng sự bảo thủ, trì trệ trong nhận thức, những sai lầm, hạn chế và khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo con đường XHCN là bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lênin?
Trước hết, chúng ta không hề giấu giếm những sai lầm, hạn chế và khó khăn trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình bày tại Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Tăng trưởng kinh tế thấp hơn 5 năm trước, không đạt mục tiêu đề ra; năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp... Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi... Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ; kỷ cương, kỷ luật chưa nghiêm...”(5). Đảng cũng nghiêm khắc thừa nhận rõ rằng, tình trạng trên có những nguyên nhân khách quan nhưng “trực tiếp và quyết định nhất là nguyên nhân chủ quan”. Đó là những hạn chế trong đánh giá, dự báo tình hình, trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, trong công tác lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy, chính quyền, v.v..
Việc có những sai lầm, khuyết điểm, khó khăn, hạn chế trong quá trình xây dựng đất nước là khó tránh khỏi. Xây dựng CNXH là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, có tính khoa học, đòi hỏi thời gian, nguồn lực to lớn và nhiều điều kiện khác. Chúng ta bắt tay vào xây dựng CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bị tàn phá nặng nề sau cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài suốt 30 năm. Cái khó khăn lớn nhất của chúng ta có lẽ trước hết không phải từ sự thiếu thốn về của cải, vật chất mà đa phần chính ở lối nghĩ, tác phong mang nặng tính chất của nền văn hóa nông nghiệp. Không có kinh nghiệm tiền lệ, không có sự hỗ trợ của phe XHCN như trước đây. Nhiều thế lực đang dòm ngó, chống phá. Trong điều kiện ấy, những thành tựu mà công cuộc đổi mớiđạt được là đặc biệt quan trọng. Chúng ta đã duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao trên 6,5% năm trong suốt 30 năm thực hiện chính sách đổi mới. Từ GDP bình quân đầu người chỉ 80USD đã tăng lên mức trên 2.100USD. Đời sống nhân dân đã được cải thiện một bước cơ bản. Những điều đó là không thể phủ nhận và mặc nhiên đã được nhiều tổ chức, cá nhân trên thế giới, trong đó có nhiều học giả phương Tây thừa nhận.
Để có được những thành tựu to lớn đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những bước đi dũng cảm về nhận thức, sự đổi mới mạnh mẽ về chính sách kinh tế - xã hội. Từ một nền kinh tế bao cấp hoàn toàn dựa trên sở hữu công cộng, chúng ta đã chuyển sang xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần sở hữu, rồi chuyển hẳn sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Từ một Nhà nước xây dựng theo mô hình nền chuyên chính vô sản, chúng ta đã chuyển sang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Từ chỗ bị bao vây cấm vận, chỉ có quan hệ với các nước khối XHCN là chủ yếu, chúng ta đã mở cửa hội nhập quốc tế, thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 quốc gia và vùng lãnh thổ trên tổng số 193 thành viên Liên Hợp quốc, trong đó có 2 đối tác toàn diện đặc biệt, 15 đối tác chiến lược, 11 đối tác toàn diện, hai đối tác chiến lược theo từng lĩnh vực.
Từ thực tế ấy, không thể có lý gì để nói rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam bảo thủ, cố chấp hay định kiến mà không đổi mới nhận thức, đổi mới chính sách về CNXH và xây dựng CNXH, cũng như không thể đổ cho học thuyết Mác - Lênin có lỗi trong những khó khăn, hạn chế, sai lầm của quá trình xây dựng, phát triển đất nước.
Tóm lại, sự sai lầm của những người phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện ngay trong chính những cơ sở, lý do để họ phản bác chủ nghĩa Mác - Lênin. Ở đây, hoặc là có sự hiểu nhầm về tính chất của học thuyết - chủ nghĩa Mác - Lênin, hoặc là biết nhưng vẫn cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin với định kiến và mục đích chính trị là thay đổi nền tảng tư tưởng, đường lối, mục tiêu xây dựng CNXH bằng một lý thuyết khác, bằng một mô hình xã hội khác. Mục đích ấy đơn thuần để phục vụ cho lợi ích của một nhóm người nào đó, hoàn toàn không phải vì lợi ích của tuyệt đại đa số nhân dân, không phải vì lợi ích chung của dân tộc.
Việc nghiên cứu, chỉ ra những sai lầm, xuyên tạc đối với chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ đơn thuần là để bảo vệ sự trong sáng, tính khoa học, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó còn là sự cảnh báo, là lý do để những người cộng sản cảnh giác với nhận thức của mình về chủ nghĩa Mác - Lênin, để tìm hiểu rõ hơn, quán triệt sâu sắc, thường xuyên hơn quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử - cụ thể khi vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào việc đề ra đường lối, hoạch định chính sách xây dựng, phát triển đất nước.
__________________
 (1) Ngày 10-4-2016, khi trả lời phỏng vấn Hãng tin Fox New, Tống thống Mỹ Ôbama đã thừa nhận rằng, sai lầm tồi tệ nhất trong nhiệm kỳ tổng thống của ông là đã không chuẩn bị một kế hoạch lâu dài cho Libia sau khi lật đổ Tổng thống Mohamet Cadaphi, để gây nên tình trạng hỗn loạn ở nước này. Năm 2015, cựu Thủ tướng Anh Tony Ble cũng đã thừa nhận sai lầm và xin lỗi về việc đưa quân đội Anh tham gia cuộc chiến ở Irắc.
(2) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.18, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr.128.
(3) V.I.Lênin: Toàn tập, t.30, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.684.
(4) Terry Eagleton: Tại sao Mác đúng?, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2012, tr.40.
(5) ĐCSCN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.60-61.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...