Thứ Năm, 9 tháng 1, 2020

NHẬN DIỆN CÁC LOẠI QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH HIỆN NAY



Trong cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch thì việc nhận diện các loại quan điểm sai trái, thù địch đặc biệt quan trọng. Bài viết chỉ rõ 6 loại quan điểm sai trái, thù địch hiện nay: 1) Loại tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta với biểu hiện rất đa dạng; 2) Loại chống phá sự lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; 3) Loại xuyên tạc lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng; 4) Loại bôi nhọ cá nhân các lãnh tụ, lãnh đạo của Đảng; 5) Loại lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm của Đảng để xuyên tạc bản chất Đảng; 6) Loại ca ngợi chủ nghĩa tư bản với những giá trị khác nhau của nó
Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo càng đi vào chiều sâu càng đạt được những thành tựu rất đỗi tự hào thì càng nảy sinh những vấn đề mới đặt ra phải giải quyết. Đó cũng là lẽ thường tình, bởi thực tiễn luôn luôn vận động, biến đổi, luôn làm nảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi con người phải giải quyết. Chính thực tiễn đổi mới cũng đang đặt ra nhiều vấn đề mới trên tất cả các lĩnh vực đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải kịp thời giải quyết. Hơn nữa, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; tác động của biến đổi khí hậu; thực tiễn chính trị thế giới thay đổi nhanh, khó lường; một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, v.v. đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng. Trong tình hình ấy, lực lượng thù địch lợi dụng những khó khăn, yếu kém của ta tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước ta. Trong bối cảnh mới, các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay rất đa dạng, phong phú, vừa trực tiếp, vừa gián tiếp, vừa trực diện, vừa ẩn mình chống phá Đảng, Nhà nước ta, nhưng có thể đưa về 6 loại chủ yếu nổi lên như sau:
1. Những quan điểm sai trái, thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta với biểu hiện rất đa dạng
Quan điểm cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là đúng đắn nhưng chỉ đúng đắn trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (động cơ hơi nước), nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí. Còn hiện nay, nhân loại đã chuyển mình sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, dữ liệu lớn (Big data). Hay nói như một số nhà lý luận phương Tây là thời đại “hậu công nghiệp”, kinh tế - xã hội có rất nhiều đổi thay, vì vậy hiện nay chủ nghĩa Mác - Lênin không còn phù hợp nữa. Trong thời đại ngày nay, trong nền sản xuất hiện đại đã sử dụng nhiều robot - người máy, tự động hóa, người công nhân được tuyển dụng và sử dụng rất ít, cho nên học thuyết giá trị thặng dư của Mác, học thuyết về vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân... không còn phù hợp nữa. Trong điều kiện hiện đại thì nhà tư bản không còn bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân lao động nữa. Giai cấp công nhân không còn vai trò trong nền sản xuất hiện đại mà chính tầng lớp trí thức mới là người quyết định vận mệnh tương lai của nhân loại. Những quan điểm cho rằng thế giới đã có sự thay đổi “quyền lực”. Chẳng hạn, Alvin Toffler cho rằng “quyền lực” trong quá trình vận động và phát triển của chính bản thân nó đã trải qua các hình thức phát triển: Đi từ “bạo lực quyền, đến của cải quyền, rồi đến tri thức quyền” hay có người gọi là “trí quyền”. Nghĩa là thuở hoang sơ, phải dùng sức mạnh bạo lực mới có quyền lực như thông qua xâm lược, ăn cướp,...; sau đó kẻ nào có tiền là có quyền lực và đến hiện nay, ai có trí tuệ, có tri thức là có quyền lực (trí quyền). Nếu thoáng qua chúng ta thấy có vẻ hợp lý, bởi lẽ trong một xã hội chưa hoàn thiện, còn dựa trên sở hữu tư nhân thì kẻ nào có tiền thì kẻ đó có quyền lực. Nhưng thực chất ở đây, Alvin Toffler muốn khẳng định rằng chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thay đổi, không còn xâm lược hay bạo lực nữa, có tiền cũng không có quyền lực nữa, giai cấp công nhân không còn vai trò sứ mệnh lịch sử giải phóng lao động nữa mà tầng lớp trí thức mới đóng vai trò này trong xã hội hiện đại. Nếu tách quyền lực ra khỏi sản xuất vật chất, ra khỏi kinh tế thì quyền lực không còn cơ sở để tồn tại nữa. Xét về bản chất, quyền lực vẫn do kinh tế quyết định. Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ph.Ăngghen khi phê phán Đuyrinh vì không hiểu bạo lực đã viết “vậy một lần nữa, bạo lực lại do tình hình kinh tế quyết định, tình hình kinh tế cung cấp cho bạo lực những phương tiện để tạo ra và duy trì những công cụ bạo lực”1. Đồng thời, Ph.Ăngghen cũng chỉ ra rằng “bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, những điều kiện kinh tế và tài nguyên kinh tế đều là những cái đã giúp cho “bạo lực” chiến thắng, nếu không có những điều kiện và tài nguyên đó thì bạo lực không còn là bạo lực nữa”2. Điều này hoàn toàn phù hợp, tương thích với quyền lực. Do vậy, nếu có tri thức nhưng không có điều kiện kinh tế, điều kiện vật chất để chuyển hóa những tri thức ấy thành của cải vật chất thì tri thức ấy cũng không có vai trò gì. Cho nên cách tiếp cận của Alvin Toffler chỉ là một cách xa rời khôn khéo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin mà thôi.
Quan điểm khác cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin do C.Mác, Ph.Ăngghen sáng lập, được V.I.Lênin phát triển là sản phẩm của sự phát triển kinh tế, văn hóa của châu Âu là chủ yếu. Mà đó lại là châu Âu cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Do vậy, đối với châu Âu hiện nay thì nó không còn phù hợp. Đối với châu Á thì càng không phù hợp. Bởi lẽ, châu Á có sự phát triển kinh tế khác, có trình độ văn hóa, cùng phong tục, tập quán khác châu Âu. Do vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin không phù hợp với Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Triều Tiên,... Tư tưởng Hồ Chí Minh lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng, cơ sở, do vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không thể và không nên vận dụng vào Việt Nam. Vì vậy, không nên lấy học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng cho dân tộc Việt Nam. Đúng là các châu lục khác nhau có những đặc thù khác nhau trong quá trình vận động, phát triển. Nhưng như thế không có nghĩa mỗi châu lục phải có nền toán học, vật lý, hóa học, hay khoa học nói chung riêng biệt. Tại sao các dân tộc khác nhau ở những châu lục khác nhau họ có thể hiểu được các tác phẩm văn học, nghệ thuật, những tác phẩm điện ảnh v.v. của nhau được? Họ hiểu được những điều này là bởi lẽ, mặc dù giữa các dân tộc có sự khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý nhưng họ đều dựa trên những tri thức khách quan, những quy luật khách quan được phản ánh trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật, điện ảnh đó. Chính những tri thức khách quan, chính cái quy luật khách quan hay nói khác đi chính cái biện chứng khách quan đã quy định cái biện chứng chủ quan trong đầu óc họ. Các tri thức khách quan, các quy luật khách quan không phụ thuộc vào ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tập quán, chỉ phụ thuộc vào nội dung khách quan mà nó phản ánh. Các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tập quán... chỉ làm cho các tri thức khách quan, các quy luật khách quan được phát hiện, trình bày mang thêm sắc thái chủ quan khác nhau mà thôi chứ nội dung khách quan mà chúng phản ánh vẫn là một, là không đổi. Đúng như V.I.Lênin đã viết “Những khái niệm của con người là chủ quan trong tính trừu tượng của chúng, trong sự tách rời của chúng, nhưng là khách quan trong chỉnh thể, trong quá trình, trong kết cuộc, trong khuynh hướng, trong nguồn gốc”3. Chủ nghĩa Mác - Lênin mặc dù ra đời từ những năm 40 của thế kỷ XIX, nhưng luôn được bổ sung, phát triển và dù được trình bày bằng ngôn ngữ nào thì nó vẫn phản ánh đúng quy luật vận động khách quan của lịch sử loài người, trong đó có quy luật: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”4. Chính vì vậy, giai cấp tư sản không thích thú gì với học thuyết khoa học chỉ ra rằng chính họ - chính giai cấp tư sản - sẽ bị sụp đổ cả. Vì vậy, việc họ quyết liệt chống đối, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin và những chủ thuyết dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin là điều không khó hiểu.
Có quan điểm đồng nhất sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói chung, sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội nói riêng. Từ đây, họ ca ngợi mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ. Cho rằng chính chủ nghĩa xã hội dân chủ là mô hình phát triển phù hợp với thế giới đương đại, vừa tích hợp được những mặt mạnh của chủ nghĩa tư bản với mặt mạnh của chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa, có một số ý kiến cho rằng những nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, mặc dù có những bất cập nhất định nhưng tốc độ phát triển kinh tế nhanh, những vấn đề xã hội, môi trường thường được giải quyết tốt hơn các nước đi theo chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa, các nước đi theo chủ nghĩa xã hội thường xảy ra tình trạng tham nhũng, quan liêu, độc đoán. Chính tình trạng tham nhũng, quan liêu, độc đoán đã cản trở xã hội phát triển lành mạnh. Họ thường đồng nhất những yếu kém, hạn chế của chủ nghĩa xã hội hiện thực, hay những sai lầm, hạn chế của một số đảng cộng sản để minh chứng cho sự không đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin.
Những loại ý kiến này đều sai lầm ở một điểm là đồng nhất một mô hình chủ nghĩa xã hội sai lầm với chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội nói chung. Họ cố tình làm ngơ trước những thành tựu của chủ nghĩa xã hội cải cách, mở cửa, đổi mới ở Cộng hòa Cuba, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên. Họ đồng nhất hiện trạng tham nhũng, quan liêu, độc đoán với chủ nghĩa xã hội. Chúng ta không phủ định những hạn chế biểu hiện ở tình hình tham nhũng, quan liêu, độc đoán ở một số nước xã hội chủ nghĩa, nhưng hiện trạng này cũng tồn tại ở các nước tư bản phát triển, ở các nước không đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Dường như hiện trạng này tồn tại khá phổ biến trên thế giới, không loại trừ quốc gia nào. Nó là căn bệnh của bộ máy quan liêu mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang quyết tâm làm trong sạch.
2. Quan điểm sai trái, thù địch tấn công vào sự lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Biểu hiện của loại này cũng đa dạng như cho rằng sự ra đời của Đảng là sai lầm; đòi đa nguyên chính trị; cho kinh tế thị trường không thể đi cùng định hướng xã hội chủ nghĩa; lôi kéo theo Mỹ “bài” Trung Quốc; cho rằng sự lựa chọn đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản là ngược, là trái với quy luật tự nhiên; không nên đi lên chủ nghĩa xã hội, v.v.. Những người có quan điểm này thường là những người có lợi ích cá nhân, lợi ích gia đình liên quan đến chế độ cũ, bởi lẽ sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội sẽ làm cho bản thân họ, gia đình họ mất đi những lợi ích to lớn. Đứng trước lợi ích gia đình và lợi ích Tổ quốc họ đã sẵn sàng hy sinh lợi ích Tổ quốc, dân tộc. Những người có quan điểm này là những người đã từng phục vụ cho lợi ích của thực dân, đế quốc ngoại bang. Chính họ đã bán rẻ lợi ích dân tộc từ lâu rồi. Bởi lẽ, một công dân bình thường của bất kỳ quốc gia, dân tộc nào cũng sẽ luôn muốn bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không muốn làm nô lệ cho ngoại bang, cho dân tộc khác. Nhưng những người này lại sẵn sàng làm tay sai, nô lệ cho ngoại bang. Vì vậy, chính họ đã xúc phạm đến sự hy sinh của hàng nghìn, hàng vạn các anh hùng liệt sỹ, thương binh - những người đã hy sinh tính mạng, một phần thân thể của mình cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng có những sai lầm nhất định, bởi Đảng ta không phải là thánh, nhưng Đảng luôn nhìn thẳng vào sự thật để sửa chữa sai lầm và kiên quyết sửa chữa. Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, vị thế thực sự của Việt Nam trong con mắt bạn bè quốc tế, sự nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân... đã nói lên tất cả.
3. Quan điểm sai trái, thù địch tấn công vào lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng
Loại quan điểm này thường xuyên xuyên tạc lịch sử cách mạng, ví như cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Đảng và Nhân dân ta là sai lầm, gây đổ máu; đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì đã không phải thực hiện hai cuộc chiến tranh; phủ nhận những thành quả cách mạng của Đảng và Nhân dân ta đã giành được. Hiện nay, những kẻ chống lại lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng Việt Nam bất chấp mọi hành động đê tiện, hèn mạt như xuyên tạc, vu khống, lừa dối, chửi bới, tìm mọi cách và bằng mọi thủ đoạn nhằm đổi trắng thay đen, “thay đổi lịch sử dân tộc”, bôi nhọ, xuyên tạc, gây nghi ngờ không rõ về lịch sử của Đảng, của dân tộc, lịch sử cách mạng của chúng ta. Một số ý kiến chống đối khó nhận ra, họ bằng cách đánh tráo vấn đề, đánh tráo tên gọi để cố ý đồng nhất chiến tranh bảo vệ độc lập dân tộc với chiến tranh ăn cướp, xâm lược phi nghĩa của thực dân, đế quốc. Nhân danh nhân đạo, nhân ái để làm lu mờ ranh giới lịch sử thân nhân của những người đã từng tích cực tham gia phục vụ chế độ đế quốc, thực dân cũ. Chúng ta nhân đạo, khép lại quá khứ, hướng tới tương lai nhưng chúng ta không quên quá khứ hy sinh, mất mát của hàng triệu người vì nền độc lập của dân tộc. Chúng ta phân biệt rõ ranh giới lịch sử thân nhân các cá nhân không phải để trả thù mà để rút ra bài học kinh nghiệm, để biết người, biết ta, để biết rõ bạn - thù.
4. Quan điểm sai trái, thù địch tấn công vào cá nhân các đồng chí lãnh đạo, các lãnh tụ của Đảng
Loại quan điểm này đã xuyên tạc, bôi đen lý lịch, đời tư của một số đồng chí lão thành cách mạng; đổi trắng thay đen, tung hỏa mù gây nghi ngờ trong dư luận về phẩm chất đạo đức, năng lực và lý lịch gia đình; gây chia rẽ nội bộ trong Đảng. Đặc biệt, loại quan điểm này hay tung hỏa mù làm cho thế hệ trẻ ít hiểu biết và đông đảo quần chúng nhân dân không có thông tin, hiền lành, chất phác dễ tin và dễ bị lừa bởi thông tin mập mờ không rõ. Mục đích của loại quan điểm này là gây nghi ngờ trong Nhân dân về uy tín của cá nhân các đồng chí lãnh đạo. Từ hạ thấp uy tín cá nhân một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước để hạ uy tín của Đảng. Loại quan điểm này thường lợi dụng công nghệ thông tin, các trang mạng xã hội tung tin giả, làm nhiễu thông tin. Do vậy, chúng ta phải rất thận trọng khi tham gia các trang mạng xã hội. Không vội hùa theo những thông tin trên mạng xã hội khi chưa được kiểm chứng, xác thực.
5. Lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm của Đảng để xuyên tạc bản chất Đảng
Loại quan điểm này luôn luôn lợi dụng những sai lầm, khuyết điểm của Đảng ta; lợi dụng những khó khăn, hạn chế của chúng ta, hay lợi dụng tình trạng có một số đảng viên có chức quyền tham nhũng, quan liêu để qua đó nói xấu, xuyên tạc bản chất của Đảng, cho Đảng ta là quan liêu, tham nhũng, xa dân, không vì lợi ích của Nhân dân; gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ. Lợi dụng sự sụp đổ, khó khăn của chủ nghĩa xã hội để phủ định con đường lên chủ nghĩa xã hội. Những kẻ xấu thậm chí còn dùng thuật ngữ Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dùng “lời lẽ” của Đảng, Nhà nước ta để chống lại chính hệ tư tưởng, chủ trương, đường lối, chính sách của chúng ta thông qua việc chống tiêu cực. Vì khi làm như vậy chúng mới “lừa” được những quần chúng nhân dân chất phác, ngây thơ, những người ít am hiểu lý luận và thực tiễn. Cũng có những ý kiến thuộc dạng này khi lợi dụng việc phát biểu của cá nhân đồng chí cán bộ lãnh đạo, quản lý nào đó chưa chặt chẽ chúng cắt, ghép, trích dẫn không đầy đủ tung lên mạng xã hội với dụng ý hạ bệ uy tín cá nhân các đồng chí lãnh đạo. Qua đó muốn hạ uy tín của Đảng ta.
6. Ca ngợi chủ nghĩa tư bản với những giá trị khác nhau của nó
Loại quan điểm này lấy chủ nghĩa tư bản làm mục đích tối thượng, ca ngợi các nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa; ca ngợi tự do kiểu phương Tây; ca ngợi dân chủ phương Tây; ca ngợi mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ; ca ngợi những giá trị của phương Tây; ca ngợi văn hóa thực dụng phương Tây; tuyên truyền cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ngoại lai vào nước ta; phủ nhận những giá trị của chủ nghĩa xã hội hiện thực; thông tin sai lệch, không đúng về thực tế Cuba, Vênêxuêla, các nước xã hội chủ nghĩa khác, phủ định những thành tựu của chủ nghĩa xã hội hiện thực, ca ngợi con đường phát triển tư bản chủ nghĩa hoặc phi xã hội chủ nghĩa... Qua đó, gián tiếp phủ định chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Từ những nhận diện trên, có thể thấy, các quan điểm sai trái, thù địch rất tinh vi, đa dạng, phong phú. Các loại ý kiến này có liên hệ với nhau và cùng mục tiêu chung là chống phá sự nghiệp cách mạng của chúng ta. Muốn đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch này một cách hiệu quả cần kiên trì, bình tĩnh và phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp. Với từng loại quan điểm sai trái, thù địch chúng ta phải có đối sách riêng, phù hợp. Trong cuộc đấu tranh này, dù thuộc loại quan điểm sai trái, thù địch nào trong 6 nhóm biểu hiện trên cũng cần quán triệt tốt một số nguyên tắc cơ bản:
Một là, đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách của Nhà nước Việt Nam để đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch.
Hai là, phân biệt rõ quan điểm thù địch, quan điểm sai trái và xem xét xem chúng thuộc loại nào, trên cơ sở đó có các phương pháp đấu tranh, phê phán cụ thể, phù hợp, hiệu quả. Đối với các quan điểm thù địch, phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống lại, bác bỏ toàn diện, triệt để trên nhiều phương diện lý luận, pháp lý, lịch sử, khoa học, thực tiễn. Phân biệt những quan điểm sai trái do nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ với những quan điểm sai trái do cố ý, cố tình để có phương thức đấu tranh phù hợp.
Ba là, vận dụng uyển chuyển nguyên tắc khách quan trong đấu tranh, phê phán quan điểm sai trái, thù địch.
Bốn là, quán triệt nguyên tắc dân chủ trong đấu tranh, phê phán quan điểm sai trái, thù địch.
Các nguyên tắc cơ bản trên phải được quán triệt, thực hiện một cách triệt để, đồng bộ. Cùng với quán triệt tốt các nguyên tắc trên thì biện pháp quan trọng nhất là phải phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân; ổn định chính trị, xã hội, an ninh, an toàn, trật tự. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự gương mẫu trong cuộc sống và trong công việc. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh. Có như vậy thì việc nhận diện và đấu tranh, phê phán quan điểm sai trái, thù địch mới hiệu quả, thiết thực.
--------------------------------------
1, 2C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 235, 242.
3V.I.Lênin, Toàn tập, t.29, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr. 223-224.
4C.Mác và Ph.Ăngghen, Sđd, t.4, tr. 613.

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG



Về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ quan điểm: “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa "xây" và "chống"; "xây" là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; "chống" là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách” (Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII).
Thời gian qua, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ của Đảng đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều cán bộ, đảng viên có sai phạm (kể cả các quan chức cấp cao) đã bị xử lý.
Gần đây nhất, đại án AVG đã được đưa ra xét xử. Hai cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông là ông Nguyễn Bắc Son, ông Trương Minh Tuấn cùng đồng phạm đã phải ra tòa, nhận các án phạt nghiêm minh. Thông qua đây, uy tín của Đảng trong quần chúng được nâng cao, sức mạnh của Đảng được củng cố.
Tuy nhiên, ở chiều hướng ngược lại, nhiều đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị trong và ngoài nước liên tục đưa ra các thông tin một chiều, võ đoán, xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Các đối tượng đưa ra hàng loạt nội dung lệch lạc dưới những bài viết có tiêu đề giật gân, đăng tải trên mạng xã hội như: “Bộ phim chỉnh đốn đảng còn bao nhiêu tập”; “Cuộc chiến thầm lặng”, “Lãnh đạo phục vụ cho ai”… Những thông tin hoả mù mà các đối tượng tung ra đã tiếp cận đến không ít người dân, tạo ra những nhận thức sai lệch, ảnh hưởng xấu đến sự nghiệp cách mạng hiện nay.
Thẳng thắn đánh giá, dưới tác động của nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan khác nhau, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã suy thoái, biến chất khiến cho sức mạnh của Đảng bị ảnh hưởng. Chính vì vậy, xây dựng, chỉnh đốn Đảng được xác định là nhiệm vụ trọng tâm hiện nay. Nếu không xây dựng, chỉnh đốn Đảng hoặc xây dựng, chỉnh đốn Đảng không quyết liệt, không mang lại hiệu quả thì đây sẽ là một nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong, sống còn của Đảng, của chế độ.
Trước thực trạng đó, các đối tượng thù địch, chống đối liên tục chĩa mũi nhọn tấn công công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của ta. Thông qua việc chống phá, một mặt các đối tượng tạo cơ hội cho những phần tử thoái hoá, biến chất trong nội bộ Đảng có điều kiện hoạt động; mặt khác, các đối tượng tạo ra sự hoài nghi trong quần chúng nhân dân.
Mục đích của chúng là làm cho nội bộ Đảng suy yếu từ bên trong, mất khả năng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, từ đó dẫn đến việc thay đổi thể chế chính trị. Việc xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được các đối tượng thực hiện thông qua nhiều hướng khác nhau, với những luận điệu hết sức thâm độc.
Thứ nhất, xuyên tạc bản chất công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Các đối tượng rêu rao luận điệu: “Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết thời, không còn khả năng lãnh đạo nên phải “vẽ” ra cái gọi là chỉnh đốn Đảng để vớt vát niềm tin của người dân”, “xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ là vở kịch để đấu đá nội bộ”…
Rõ ràng, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng không phải đến hiện tại mới được đặt ra. Trong suốt sự nghiệp cách mạng, Đảng và Bác Hồ luôn đề cao vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh loại bỏ những tiêu cực, sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm để nâng cao sức mạnh của Đảng.
Đây là cuộc cách mạng để làm trong sạch nội bộ, thanh loại những cán bộ, đảng viên bị mất tính Đảng, không còn xứng đáng đứng trong hàng ngũ của Đảng. Việc đấu tranh, xử lý đảng viên sai phạm là vô cùng đau xót nhưng nó là vấn đề chúng ta bắt buộc phải làm.
Và hơn hết, việc nhìn thẳng vào sự thật, loại bỏ những phần tử tiêu cực ra khỏi bộ máy chính là con đường để nâng cao sức mạnh, tính chiến đấu của Đảng, đảm bảo khả năng lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng hiện nay.
Thứ hai, xuyên tạc quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Các đối tượng cho rằng việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một “bộ phim dài tập chưa có hồi kết” vì đây là việc làm do Đảng “tuỳ hứng” vẽ ra, là hành động để “đánh bóng” tên tuổi, lừa dối người dân. Các đối tượng quy kết việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng sẽ chẳng thể thành công vì bản chất của Đảng Cộng sản là sai trái, chỉ khi Đảng Cộng sản không còn nắm quyền, khi đó những sai phạm mới được chấm dứt.
Các đối tượng cho rằng Đảng chẳng thể tự mình phát hiện những sai phạm trong nội bộ, việc xử lý cán bộ, đảng viên chẳng qua chỉ là cách “chữa cháy” khi báo chí và nhân dân phanh phui ra sai phạm... Để truyền tải những thông tin sai lệch này đến người dân, các đối tượng tích cực lợi dụng các sự kiện nóng, những vụ án liên quan đến công tác cán bộ được đông đảo người dân quan tâm để từ đó lồng ghép những nhận định, đánh giá chủ quan, sai lệch.
Thứ ba, các đối tượng xuyên tạc những kết quả đã đạt được trong công tác xây dựng, chỉnh đống Đảng, đấu tranh chống những sai phạm trong nội bộ của chúng ta.
Thời gian qua, với quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta sẵn sàng công khai những khuyết điểm, yếu kém của bản thân; sẵn sàng đối diện với những sai phạm và kiên quyết đấu tranh loại bỏ những phần tử tiêu cực, phai nhạt lý tưởng, thoái hoá, biến chất ra khỏi bộ máy.
Những kết quả đã đạt được trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là điều đáng ghi nhận. Tuy nhiên, với mưu đồ chống đối một cách bất chấp, các đối tượng không từ bất kỳ thủ đoạn nào, miễn là có thể làm suy yếu sức mạnh của Đảng, làm mất niềm tin của người dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng. Khi Đảng công bố những sai phạm, đưa cán bộ ra xử lý, các đối tượng sẽ rêu rao luận điệu: bản chất Đảng Cộng sản là sai trái nên hễ kiểm tra chỗ nào là chỗ đó phát hiện sai phạm. Khi Đảng làm rõ những sai phạm của các quan chức cấp cao thì các đối tượng sẽ dè bỉu và quy chụp cho rằng đây là kết quả của việc “đấu đá nội bộ”. Ấy vậy nhưng khi không có sai phạm nào bị phát hiện thì các đối tượng lại quay ngoắt, vu khống Đảng bao che cho sai phạm.
Các đối tượng lấy sai phạm của một vài cá nhân để quy chụp cho bản chất của cả một Đảng, một chế độ, từ đó phủ nhận những thành quả đã đạt được trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vu khống bản chất của Đảng là tiêu cực. Tập trung vào những tiêu cực, sai phạm, ra sức thổi phồng, bóp méo, cố tình tảng lờ những kết quả tích cực đã đạt được để tạo ra tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Ngay trong vụ đại án AVG đang được xét xử, khi mà nhiều quan chức cấp cao của Bộ Thông tin và Truyền thông bị đưa ra xử lý; chúng ta cũng có thể dễ dàng thấy được bản chất “lưỡi không xương trăm đường lắt léo” của các đối tượng chống đối.
Với những luận điệu được đưa ra, các đối tượng đã gieo rắc tư tưởng hoài nghi vào người dân, gây chia rẽ mất đoàn kết dân tộc. Suy cho cùng, mọi thông tin, luận điệu sai trái được các đối tượng đưa ra đều nhằm mục đích là làm suy yếu sức mạnh của Đảng, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước, cổ suý tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thay đổi thể chế chính trị, đưa Việt Nam phát triển theo hướng tư bản.
Hoạt động chống phá của các đối tượng thù địch, chống đối, cơ hội chính trị là vô cùng thâm độc. Vì vậy, cần chủ động nhận diện và tích cực đấu tranh với những thông tin sai trái trên để bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng.

LẠI DIỄN TRÒ “GIẢI THƯỞNG NHÂN QUYỀN”



Theo nếp cũ, cứ dịp cuối năm cũ, đầu năm mới, một số tổ chức chống phá ở hải ngoại lại vẽ trò bình chọn và trao “giải thưởng nhân quyền”.
Để gây chú ý, chúng không ngừng tung hô giải thưởng “có giá trị” cả vật chất lẫn tinh thần, sau đó tự lập “hội đồng” đưa ra các ứng viên nhận giải. Những ứng viên này là những cái tên nhẵn mặt trên mạng, có hồ sơ phạm pháp, chống phá Nhà nước Việt Nam, nhiều đối tượng thành phần bất hảo, từng chấp hành án phạt tù, nay lại chứng nào tật nấy, tiếp tục hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, chống chính quyền nhân dân.
Để cổ suý cho giải thưởng, tổ chức khủng bố Việt Tân rêu rao: “Để tuyên dương tinh thần đấu tranh cho dân sinh dân quyền của nhà hoạt động Lê Đình Lượng, Đảng Việt Tân đã thiết lập Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng”… Sau thời gian tung hứng, những ứng viên được nêu tên với những mỹ từ hài hước, rằng “được bình chọn cao, tín nhiệm lớn”.
Chốt lại, giải thưởng Nhân quyền năm 2019 được trao cho một số nhân vật như mục sư Nguyễn Trung Tôn, chức danh được ghi khi xướng giải là “cựu Chủ tịch Hội Anh em dân chủ” cùng với 2 “nhà hoạt động” khác là Nguyễn Đặng Minh Mẫn và Lê Công Định.
Giải thưởng Nhân quyền vốn rất thiêng liêng, vì mục đích cao cả, dành cho những người có đóng góp lớn vì sự tiến bộ trong bảo đảm quyền con người ở các quốc gia, vùng lãnh thổ hay ở phạm vi khu vực và thế giới. Thế nhưng, điều kỳ quặc là lâu nay, một số tổ chức nhân danh “bảo vệ quyền con người” lại làm điều vừa trái đạo lý, vừa trái pháp lý khi dựng lên cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” để trao cho những kẻ phá hoại xã hội, phá hoại cuộc sống của người dân ở các nước mà kẻ đó sinh ra hoặc đang sinh sống, trú ngụ.
Cứ nhìn những người được các tổ chức này trao giải, nhiều người không nhịn được cười, không hiểu là họ đang diễn hề hay làm trò kỳ quặc gì. Riêng với “giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng”, đây là chiêu trò tấu hài mà chúng diễn nhiều năm nay.
Lê Đình Lượng– một đối tượng phạm tội bị TAND cấp cao tuyên y án 20 năm tù về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Tổ chức phản động Việt Tân thường tô vẽ cho giải thưởng này với những ngôn từ khôi hài: “giải thưởng Nhân quyền Lê Đình Lượng sẽ là một nỗ lực đóng góp cụ thể vào công cuộc tranh đấu cho nhân quyền và tự do của dân tộc Việt Nam”!
Hồi năm 2018, họ xướng tên 3 “nhà hoạt động nhân quyền” gồm Hoàng Đức Bình, Trần Thị Nga, Phạm Đoan Trang. Bình chính là đối tượng phạm tội, bị toà phúc thẩm tuyên y án 7 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ” và 7 năm tù về tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.
Theo HĐXX, Hoàng Đức Bình thường xuyên đăng tải, chia sẻ trên Facebook cá nhân những thông tin, tài liệu tuyên truyền nói xấu chế độ, cổ vũ phong trào đa nguyên, đa đảng. Lợi dụng sự cố môi trường biển miền Trung, với tư cách Phó chủ tịch “Phong trào Lao động Việt”, Hoàng Đức Bình đã xúc tiến, thành lập “Hiệp hội ngư dân miền Trung” với ý đồ tạo dựng tổ chức ngoại vi, tập hợp lực lượng, lôi kéo giáo dân, ngư dân miền Trung tham gia vào tổ chức, tìm chọn “hạt nhân” kích động biểu tình, phá rối an ninh trật tự…
Một đối tượng như Bình gây sách nhiễu, phá hoại chính sách phát triển kinh tế và gây mất ổn định trật tự tại địa phương, hành vi đó làm ảnh hưởng cuộc sống của người dân, xâm phạm đến các quyền mà người dân được hưởng, nay lại được Việt Tân dựng lên trao thưởng vì “có thành tích trong đấu tranh cho nhân quyền” thì đủ hiểu tiêu chí đó là gì.
Hồ sơ phạm tội của Bình lại được viết rất màu mè là “một nhà hoạt động tranh đấu bảo vệ quyền lợi cho người lao động, bảo vệ môi trường, giúp dân khiếu kiện Formosa”. Tương tự, Trần Thị Nga, đối tượng bị TAND tỉnh Hà Nam tuyên phạt 9 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” thì được vôi ve thành “bà vẫn tham gia các cuộc biểu tình ôn hòa, phản đối Formosa xả thải hủy diệt môi trường”.
Còn Phạm Đoan Trang – đối tượng có các bài viết, cuốn sách sai trái, đi ngược lợi ích đất nước, nhân dân thì được tô màu “là một những người phát động chiến dịch bảo vệ cây xanh Hà Nội”, lý lịch “đã tổ chức các lớp đào tạo về báo chí, chính trị học, chính sách công quyền cho các nhà hoạt động xã hội dân sự tại Việt Nam” và “tham gia chiến dịch “cứu dân cứu biển” sau tai họa môi trường ở miền Trung”…
Lâu nay, Việt Tân và các tổ chức, hội nhóm phản động vẫn bấu víu “giải thưởng nhân quyền”, lập ra vô số những tên gọi khác nhau mà không hiểu rằng, trò hề đó chính là sự xúc phạm nghiêm trọng đến giá trị nhân quyền.
Có thể kể tới các giải thưởng mà các tổ chức này đưa ra như: “giải thưởng Hellman/Hammet” của tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW), “giải thưởng Stephanus” của Hiệp hội quốc tế nhân quyền tại Ðức; “giải thưởng quốc tế Gruber” của Nghiệp đoàn luật sư quốc tế, rồi “giải nhân quyền Gwangju”...
Ngoài ra, hội nhóm lập ra “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” tại Mỹ còn công bố trao giải thưởng “nhân quyền Việt Nam” cho những đối tượng như Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Lê Quốc Quân… Vậy, mưu đồ của “giải thưởng nhân quyền” trên là gì? Với  những đối tượng càng chống phá Nhà nước, chống phá nhân dân Việt Nam thì lại càng được “lên bục nhận thưởng” với “hội đồng giám khảo” là những thành phần bất hảo như vậy thì động cơ, mưu đồ này không khó để nhận biết.
Thông qua giải thưởng, các tổ chức này vừa tạo dư luận, vừa giúp đỡ về vật chất cho các đối tượng chống phá trong nước, đồng thời tạo cớ để khuếch trương thanh thế, từ đó để nhận được sự hỗ trợ tài chính từ các tổ chức đứng sau.
Hãy điểm danh những đối tượng “lên bục nhận thưởng” trước đây như Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Lê Quốc Quân, Tạ Phong Tần, Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Văn Hải (blogger Ðiếu cày"), Phan Thanh Hải (blogger "Anh ba Sài Gòn"), Nguyễn Ngọc Như Quỳnh... và vừa rồi là Hoàng Đức Bình, Trần Thị Nga, Phạm Đoan Trang.
Rõ ràng, việc cổ suý, trao giải cho những đối tượng chống Nhà nước, chống nhân dân chính là một chiêu bài bịp bợm của những tổ chức thù địch với Việt Nam. Họ cố gắng tô vẽ cho các đối tượng này qua các danh hão như “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền”, “tù nhân lương tâm”, “công dân yêu nước”... nhưng họ không thể che đậy được ý đồ chống phá Ðảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam, đây là hành vi vừa lợi dụng tự do báo chí, tự do ngôn luận, dân chủ, nhân quyền để tiến hành hoạt động nhằm gây bất ổn chính trị ở trong nước.
Xét đến cùng thì việc trao các loại “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng đã đề cập ở trên chính là một thủ đoạn, một yếu tố cấu thành của kịch bản trong chiến lược “diễn biến hoà bình”, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Điều đáng nói là những đối tượng được “xướng tên” như vậy không biết đấy là điều hổ thẹn, vẫn tỏ ý đắc chí, như thể làm được công lao gì ghê gớm lắm. Phản dân, hại nước, thực sự thì những người nhận giải thưởng đó có khác gì con rối, trò chơi, bị người khác dùng làm trò tiêu khiển mà không ý thức được rõ là lòng tự trọng – điều tối thiểu cũng chẳng còn, nói gì làm điều cao xa!
Thực tế, việc giở trò trao giải thưởng cho các đối tượng phạm pháp như vậy, lại vin cớ “ngày quốc tế về nhân quyền” là sự xúc phạm đến giá trị của Tuyên ngôn, đến lương tri nhân loại.

THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC VỤ ÁN CHÂU VĂN KHẢM, BÔI NHỌ, CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC



Hồ Chí Minh đã tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án Châu Văn Khảm cùng đồng phạm về hành vi khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân.
Không khó để thấy, nhiều đối tượng cơ hội chính trị và các hội nhóm núp dưới bóng bảo vệ nhân quyền đã liên tục đưa ra các thông tin sai lệch về vụ án, vu khống bản chất Nhà nước ta và đưa ra những yêu sách phi lý liên quan đến việc xét xử các bị cáo trong vụ án.
Những ngày gần đây, trên các trang mạng như Việt Tân, Hội anh em dân chủ, Chân trời mới Media cùng các trang báo có nội dung tiếng Việt như BBC, RFA đưa ra nhiều bài viết chứa nội dung sai lệch về vụ án Châu Văn Khảm cùng đồng phạm khủng bố nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. 
Đặc biệt, các đối tượng còn viện dẫn thông tin, số liệu mang tính mơ hồ, quy chụp, phi thực tế của cái gọi là Tổ chức Theo dõi Nhân quyền để xâm phạm đến lợi ích quốc gia của Việt Nam, tạo ra tâm lý hoang mang trong dư luận.
Xuyên tạc, hướng lái bản chất vụ án: phương thức chống phá nguy hiểm
Việc hướng lái, chính trị hoá một vụ án hình sự không phải là điều mới. Trong bối cảnh hiện nay, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã biến việc này trở thành một phương thức để chống phá chính quyền. 
Các đối tượng triệt để tận dụng các vụ án liên quan đến nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia và nhóm các tội phạm chức vụ để từ đó xuyên tạc bản chất vụ án, thổi phồng, làm sai lệch nội dung vụ án, tô vẽ khiến cho vụ án trở nên ly kỳ. Trên cơ sở này, các đối tượng đưa ra những quan điểm, lập luận mang tính chủ quan, phiến diện, tấn công gây phương hại đến Việt Nam.
Nằm trong phương thức chung, vụ án Châu Văn Khảm và đồng phạm bị đưa ra xét xử về hành vi khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân cũng được các đối tượng triệt để sử dụng. Đặc biệt, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị người Việt đã có sự bắt tay, câu móc chặt chẽ với các cá nhân, tổ chức nước ngoài (những người có cái nhìn phiến diện về Việt Nam) để tiến hành công kích, đả phá chính quyền.
Pháp luật hình sự Việt Nam quy định cụ thể: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và theo quy định của Bộ luật Hình sự phải bị xử lý về mặt hình sự. Hay nói một cách khác, tất cả các hành vi tội phạm đều được quy định cụ thể, rõ ràng trong Bộ luật Hình sự; một người không thể bị xử lý hình sự nếu hành vi của họ không bị coi là tội phạm và được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự. 
Vậy nhưng các đối tượng chống đối cố tình đưa thông tin sai lệch, tự cho mình quyền coi thường, đứng trên pháp luật phủ nhận các quy định luật pháp của Việt Nam.  Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều này thông qua các bài nói, bài viết được các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, các thế lực thù địch đưa ra.
Về vụ án Châu Văn Khảm, cái gọi là Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đã đưa ra những thông tin sai trái như: “Việt Nam là một nước thường xuyên sử dụng luật hình sự để trừng phạt những người phê phán ôn hòa, đi ngược lại công pháp quốc tế” hay “Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiểm soát quyền lực rất chặt chẽ trong hơn 40 năm qua và sẽ không cho phép bất kỳ sự đối lập chính trị nào”. 
Chưa dừng lại ở đây, các đối tượng này còn lợi dụng vấn đề Châu Văn Khảm có quốc tịch Australia để thực hiện chiêu bài “dương đông, kích tây” với mong muốn phía Australia tham gia vào vụ án. Các đối tượng cho rằng: “Cần cấp thiết tạo sức ép ngoại giao để bảo vệ quyền lợi của một công dân Australia cao tuổi đã nghỉ hưu đang bị cầm tù tại Việt Nam”. 
Chính Elaine Pearson, Giám đốc Australia của cái gọi là Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đã nói: “Chính quyền Việt Nam cần tiếp nhận một hệ thống chính trị đa nguyên”. Không khó để nhận thấy, các cá nhân, tổ chức này đang có cái nhìn phiến diện, thậm chí là thù hằn đối với chế độ chính trị của Việt Nam.
Vậy bản chất thực sự đằng sau đó là gì?
Đó chính là mưu đồ chống phá chế độ XHCN, hướng lái chính trị theo con đường đa nguyên, đa đảng, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản tại Việt Nam, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo lệ thuộc các nước tư bản. Trong đó, bước đầu tiên các đối tượng thực hiện là vươn vòi “bạch tuộc”, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. 
Hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế
Các đối tượng liên tục cáo buộc Việt Nam vi phạm luật pháp quốc tế. Vậy nhưng thực tế, chính bản thân các đối tượng mới là những người vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế cũng như pháp luật của Việt Nam.
Hiện nay, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị người Việt đang cổ suý tư tưởng “núp bóng”, dựa dẫm vào bên ngoài. Chưa dừng lại ở đây, nhiều đối tượng còn giả danh dân chủ, nhân quyền để tạo cớ cho các thể lực bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước. Hành động này cho thấy bản chất “bất trung” với Tổ quốc. 
Trên phương diện luật pháp quốc tế, việc tìm cách can thiệp, giúp sức cho người khác can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác được ghi nhận trong Hiến chương liên hợp quốc.
Ở một khía cạnh khác, có thể thấy các đối tượng đang vi phạm quyền tự quyết của Việt Nam. Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị quy định: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá” . 
Vậy nhưng trên thực tế, các đối tượng núp dưới bóng dân chủ, nhân quyền lại liên tục đả phá chế độ XHCN, xuyên tạc thể chế chính trị mà Việt Nam đã lựa chọn. Thậm chí, các đối tượng này còn liên lạc với các Nhà nước có thể chế chính trị đối lập với Việt Nam để tìm cách chống phá, làm sụp đổ chế độ chính trị của Việt Nam. Đây là hành vi cần phải được vạch trần, lên án.
Trong Tuyên bố về những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc (theo Nghị quyết 2625 (XXV) của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24-10-1970 ) quy định: “Bất kỳ hành động nào nhằm mục đích làm chia rẽ toàn bộ hoặc một phần sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia hoặc sự độc lập chính trị của quốc gia đó là không phù hợp với những mục đích và nguyên tắc của Hiến chương”. 
Qua đây, một lần nữa có thể thấy, các đối tượng chống phá Việt Nam không chỉ vi phạm pháp luật Việt Nam mà còn đi ngược lại những quy định chung của luật pháp quốc tế. Mọi hành vi xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam đều phải bị xử lý một cách nghiêm khắc trước pháp luật.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ QUYẾT TÂM CHÍNH TRỊ TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG



Lợi dụng tình hình dư luận xã hội đang bức xúc về tệ nạn tham nhũng và công tác quản lý kinh tế; công tác xây dựng Đảng, ngăn chặn đẩy lùi tham nhũng của Đảng còn những mặt hạn chế, khuyết điểm, một số người đã tung ra luận điểm: “Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo không thể đấu tranh chống tham nhũng thành công”.
Nhưng sự thật từ hiệu quả và sự chuyển biến mạnh mẽ trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm” ở Việt Nam thời gian qua, điển hình là vụ án AVG cùng nhiều vụ án trọng điểm do Trung ương chỉ đạo vừa qua là dẫn chứng sinh động bác bỏ luận điệu sai trái đó.
Tham nhũng không phải là “căn bệnh kinh niên" của chế độ một đảng lãnh đạo
Họ cho rằng: Tham nhũng là căn bệnh kinh niên của chế độ độc đảng cầm quyền vì “Đảng vừa đá bóng, vừa thổi còi”; vì xã hội thiếu dân chủ nên không thể chống tham nhũng thành công; đã nhiều lần phát động chống tham nhũng, nhưng đều không thành công, tệ nạn lại càng gia tăng... Từ đó, họ kết luận cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) của Đảng Cộng sản Việt Nam không thể thành công.
Cần phải khẳng định rằng, những luận điệu trên không có cơ sở khoa học và hoàn toàn sai lầm về mặt lý luận và thực tiễn. Lịch sử Việt Nam và thế giới cho thấy, bất kỳ quốc gia, dân tộc nào muốn tồn tại, phát triển đều phải có chính đảng của mình hoặc phải chọn lấy chính đảng thích hợp với mình. Sự lựa chọn ấy chỉ được coi là đúng đắn, khi một mặt phải bắt nguồn sâu xa từ thực tiễn đất nước, từ truyền thống của dân tộc, từ ước vọng tha thiết của nhân dân; mặt khác, phải phù hợp với quy luật phát triển khách quan của xã hội, với xu thế vận động tất yếu của nhân loại tiến bộ. Theo đó, rõ ràng tệ tham nhũng không phải là những hiện tượng phản ảnh bản chất của chế độ. Nó cũng không phải là những căn bệnh nảy sinh do chế độ một đảng lãnh đạo dẫn đến mất dân chủ như một số người vẫn thường rêu rao.
Quốc gia dân tộc nào cũng vậy, trong từng thời điểm đều do một đảng cầm quyền. Khi đảng nào cầm quyền thì người đứng đầu và các chức vụ quan trọng của chính quyền nhà nước đều là người của đảng đó; đường lối, chủ trương của đảng cầm quyền sẽ chi phối đường lối, chính sách của quốc gia. Dù là chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì nạn tham nhũng, suy thoái vẫn xảy ra, kể cả các nước phát triển có hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh, có trình độ quản lý kinh tế, xã hội cao.
Đảng Cộng sản Việt Nam, từ khi ra đời, lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền, cán bộ, đảng viên của Đảng tuyệt đại đa số đều là những nhà cách mạng tự nguyện từ bỏ lợi ích bản thân, xả thân chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Nhiều tấm gương hy sinh oanh liệt của các nhà lãnh đạo, các cán bộ, đảng viên, mãi mãi lưu danh trong lịch sử vẻ vang của Đảng và dân tộc. Tuy nhiên, ngay từ đó, trong cuộc đấu tranh một sống, một chết dưới ách thống trị tàn bạo của chính quyền thực dân phong kiến, cũng đã có những người không chịu nổi thử thách gian nguy, tự rời bỏ hàng ngũ cách mạng, thậm chí đầu hàng địch, phản bội cách mạng. Những người thiếu kiên trung với cách mạng, có biểu hiện dao động, cầu an, Đảng đã thải loại họ. Nhưng đó chỉ là những trường hợp hết sức cá biệt. Đảng không vì thế mà yếu đi. Đảng càng trong sạch và ngày càng phát triển vững mạnh, được các tầng lớp nhân dân tin tưởng, tôn vinh vai trò lãnh đạo và tình nguyện chiến đấu dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng.
Ở Việt Nam, thời kỳ kháng chiến chống thực dân, đế quốc đã xuất hiện và phủ định đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập như một tất yếu khách quan. Năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã lãnh đạo nhân dân đứng lên khởi nghĩa, giành chính quyền, thiết lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đảng đặt quyền lợi quốc gia, dân tộc lên trên hết, nên trong những ngày đầu gìn giữ chính quyền và độc lập dân tộc, Đảng đã tuyên bố tự giải tán, mở rộng Chính phủ dân tộc với sự tham gia của nhiều đảng phái đối lập, như: Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân đảng); Việt Cách (Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội)… Nhưng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, các tổ chức đảng phái hoặc phản động “bán nước, cầu vinh”, hoặc không đưa ra được đường lối đúng đắn, không vì lợi ích của quốc gia, dân tộc nên lần lượt bị chính nhân dân loại bỏ.  Khi quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng cuốn gói chạy theo. Được sự tiếp tay của đế quốc Mỹ, nhiều đảng phái đã được chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm thành lập ở miền Nam Việt Nam. Song, do mục đích chính trị của những đảng phái này là phá hoại tổng tuyển cử, thống nhất nước nhà, đi ngược lại lợi ích của nhân dân lao động nên nhân dân Việt Nam đã đoàn kết đấu tranh loại bỏ những đảng phái chính trị đó. Cũng có một thời kỳ khá dài, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam đã tồn tại hai đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai đảng này chưa bao giờ đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, mà đều ủng hộ, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sau này hoàn toàn tự nguyện giải tán.  
Có một thực tế, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN), biết bao cán bộ, đảng viên ngày đêm ở nơi xa xôi biển đảo, biên cương canh giữ chủ quyền đất nước; nhiều cán bộ, đảng viên dũng cảm chiến đấu trên mặt trận thầm lặng, giữ gìn an ninh chính trị và cuộc sống yên bình cho nhân dân; những cán bộ, đảng viên trực tiếp sản xuất vất vả trong nhà máy, trên đồng ruộng; những cán bộ, đảng viên lao động trí óc ngày đêm miệt mài nghiên cứu, sáng tạo... đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp chung, không tính toán thiệt hơn, không đòi hỏi sự ưu ái cho riêng mình.
Chống tham nhũng-quyết liệt, kiên trì và hiệu quả
Thời gian qua, công tác đấu tranh PCTN, suy thoái ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đạt những kết quả bước đầu quan trọng cả trong nhận thức và hành động. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, thể chế quản lý kinh tế-xã hội và PCTN tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tương đối đồng bộ, toàn diện. Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác đấu tranh PCTN; đồng thời Quốc hội, Chính phủ cụ thể hóa nghị quyết, chỉ thị của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần đấu tranh đẩy lùi tình trạng tham nhũng, suy thoái. Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về PCTN được quan tâm, vai trò của báo chí trong PCTN bước đầu được phát huy, tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân. Vai trò, trách nhiệm, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong PCTN được nâng lên.
Việc xây dựng và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách về công tác tổ chức, cán bộ để PCTN được quan tâm. Cải cách hành chính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và đạt những kết quả tích cực. Việc minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên đã được coi trọng thực hiện. Công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng, lãng phí, suy thoái được đẩy mạnh, tạo chuyển biến rõ nét. Tổ chức và hoạt động của cơ quan, đơn vị chuyên trách về PCTN từng bước được kiện toàn, phát huy hiệu quả.
Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý nghiêm minh, nhất là những vụ án nghiêm trọng được Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh; bước đầu khắc phục tình trạng án treo về tội phạm tham nhũng; từng bước chú trọng công tác thu hồi tài sản tham nhũng. Tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, với 11 hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã diễn ra, trong đó có đến 5 Hội nghị Trung ương (6, 7, 8, 9 và 11) có nội dung xử lý, kỷ luật cán bộ sai phạm, gần 60.000 cán bộ, đảng viên đã bị xử lý kỷ luật. Trong số 70 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý bị xử lý kỷ luật có cả Ủy viên Bộ Chính trị; Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; nguyên Phó thủ tướng; bộ trưởng và nguyên bộ trưởng; bí thư tỉnh ủy; nguyên bí thư tỉnh ủy...
“Nhổ cỏ”-cuộc chiến lâu dài
Đảng Cộng sản Việt Nam, một chính đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã và đang không ngừng xây dựng và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trên thực tế trong nền chính trị nhất nguyên. Nền chính trị nhất nguyên ở Việt Nam là do nhân dân Việt Nam lựa chọn từ chính thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng CNXH. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động Việt Nam. Đó là độc lập, tự do cho dân tộc; là quyền tự quyết dân tộc, quyền bình đẳng với mọi quốc gia khác trong việc lựa chọn con đường phát triển của mình; là quyền tự do lập hiến và lập pháp, lựa chọn và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; là quyền bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các thành phần kinh tế; quyền tự do làm giàu theo pháp luật, phát huy dân chủ gắn liền với giữ vững kỷ cương xã hội; là sự tiến bộ trong giáo dục, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu vì sự tiến bộ và phát triển toàn diện của con người… Những thành tựu không thể phủ nhận đó đã khẳng định và ngày càng củng cố vững chắc hơn vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Như thế, luận chứng vì xã hội Việt Nam thiếu dân chủ do Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo nên không thể chống tham nhũng thành công là thiếu căn cứ, không thuyết phục. Cần có cách đánh giá khách quan cả mặt làm được và mặt chưa làm được của cuộc đấu tranh chống tham nhũng những năm vừa qua, kể từ Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI đến nay. Rõ ràng, mấy năm gần đây, tệ nạn tham nhũng chưa bị đẩy lùi, nhưng đã ngăn chặn được sự lây lan. Điều đó nói lên, cuộc đấu tranh PCTN vừa qua tuy chuyển biến chậm, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra, nhưng đã có kết quả buớc đầu. Đó là điều không thể phủ nhận. Viện dẫn một luận chứng không đúng sự thật để kết luận rằng, cuộc đấu tranh PCTN hiện nay của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện đảng cầm quyền, độc tôn lãnh đạo cách mạng Việt Nam không thể thành công là điều phi lý.
Cũng cần khách quan khẳng định rằng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng có lúc phạm phải sai lầm, khuyết điểm; nhưng với bản chất của một đảng chân chính, một đảng cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện, Đảng đã sớm nhận ra khuyết điểm và chủ động đưa ra các chủ trương, giải pháp khắc phục hiệu quả. Hiện nay, trong đấu tranh PCTN, Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã nhận diện rất cụ thể những biểu hiện suy thoái, xác định mục tiêu, quan điểm, các nhóm giải pháp và việc tổ chức thực hiện. Qua đó thể hiện Đảng xác định quyết tâm chính trị, cả xã hội có sự chuyển mình, cả hệ thống chính trị cùng toàn dân, toàn quân quyết tâm vào cuộc đấu tranh PCTN.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Còn những việc làm, mà chưa làm được thì xin đồng bào nguyên lượng. Vì nếu có nấu cơm cũng 15 phút mới chín, huống chi là sửa chữa cả một nước đã 80 năm nô lệ, người tốt có, người xấu có, một đám ruộng có lúa lại có cỏ, muốn nhổ cỏ thì cũng vài ba giờ mới xong”(1). Theo đó, cuộc đấu tranh PCTN của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như việc “nhổ cỏ” đòi hỏi phải có thời gian, không thể một sớm, một chiều có thể khắc phục triệt để tệ tham nhũng. Với quyết tâm chính trị cao của Đảng và hệ thống chính trị, cùng sự đồng lòng, đoàn kết, đồng thuận của nhân dân, cuộc chiến chống tham nhũng, lãng phí dù còn nhiều khó khăn, vất vả, nhưng chúng ta tin rằng sự nghiệp ấy sẽ ngày càng thành công!
----------------------
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.75

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...