Thứ Tư, 4 tháng 12, 2019

HÃY DỪNG VIỆC QUY KẾT, ĐỔ LỖI CHO CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN ĐÃ LỖI THỜI



 (ĐCSVN) – Chủ nghĩa Mác – Lênin luôn là nỗi ám ảnh của một số học giả và thế lực thù địch trong và ngoài nước, họ cho rằng lý luận về chủ nghĩa xã hội là sai lầm, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lạc hậu, lỗi thời. Nhưng sự thật hiển nhiên thực tiễn và lý luận không thể chối cãi: Chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết khoa học, cách mạng và nhân văn.
 Vin vào cớ chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời từ những tiền đề kinh tế - xã hội của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ở châu Âu và sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô Viết ở Liên Xô và Đông Âu cũng như sự điều chỉnh, thích nghi của các nước tư bản phát triển nhờ tận dụng thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, nhất là thành tựu của cuộc mạng công nghiệp lần thứ tư, một số học giả trong và ngoài nước đã vội cho rằng lý luận về chủ nghĩa xã hội là sai lầm, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lạc hậu, lỗi thời; Việt Nam muốn phát triển cần phải “thay máu cho hệ tư tưởng”, cần phải có một lý luận khác phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, v.v..
Chúng ta không hề ngạc nhiên trước những luận điệu xuyên tạc ấy bởi “điệp khúc này” đã tua đi tua lại nhiều lần kể từ ngày học thuyết Mác còn là “một bóng ma ám ảnh châu Âu” cho đến khi trở thành hệ tư tưởng thống trị phong trào công nhân quốc tế từ những năm 70 của thế kỷ XIX; là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của các Đảng Cộng sản và công nhân trong sự nghiệp đấu tranh chống các thế lực thù địch, giành thắng lợi và hệ thống chủ nghĩa xã hội thế giới ra đời, phát triển trong suốt thế kỷ XX đến hiện nay. Sự thật hiển nhiên không thể chối cãi: Chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết khoa học, cách mạng và nhân văn. Đây là điểm khác biệt căn bản mà các học thuyết của các bậc tiền bối và cùng thời với C.Mác không thể có được bởi có học thuyết dựa trên thế giới quan duy vật nhưng phương pháp tư duy lại siêu hình; có học thuyết có phương pháp tư duy biện chứng nhưng quan điểm lại duy tâm, tôn giáo hoặc rơi vào chủ nghĩa xã hội không tưởng dù có một số quan điểm tiến bộ, nhân văn. Vượt lên trên mọi thiên kiến và các rào cản, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã phát hiện ra quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; trong đó chỉ rõ quy luật phát triển của lịch sử, xã hội là do những mâu thuẫn nội tại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất dẫn đến những mâu thuẫn của xã hội biểu hiện ở đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội. Với quan điểm duy vật biện chứng, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã chấm dứt sự lũng đoạn của chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, chủ nghĩa duy vật siêu hình trong giải thích các hiện tượng xã hội và lịch sử, tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người.
Bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin không những được thể hiện ở giá trị lớn lao của phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa nhân đạo trong hai phát kiến vĩ đại của C.Mác: Quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, mà còn thể hiện trong quá trình hình thành, phát triển học thuyết ấy với tư cách là sản phẩm phát triển chín muồi của các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, ở việc C.Mác phát hiện ra vai trò, sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân, là người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản và xây dựng chế độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Điều này là khách quan bởi lịch sử xã hội loài người là một quá trình lịch sử - tự nhiên, cái mới sẽ thay thế cái cũ, tiến bộ sẽ thay thế thoái bộ; chủ nghĩa xã hội sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản như chủ nghĩa tư bản đã từng thay thế chủ nghĩa phong kiến. Không ai có thể đảo ngược quy luật. Phải chăng những người xuyên tạc, muốn hạ bệ chủ nghĩa Mác - Lênin, đã run sợ trước bản chất khoa học, cách mạng và sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác - Lênin?
Lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới đã khẳng định sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin với tư cách là công cụ nhận thức vĩ đại để nhận thức và cải tạo thế giới. Điều này thể hiện ở chỗ:
- Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất từ trước đến nay chỉ ra mục tiêu, con đường, lực lượng, chiến lược, sách lược và phương pháp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người; xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công; đem lại cuộc sống hoà bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho người dân.
- Chủ nghĩa Mác - Lênin đã tìm ra các quy luật vận động, phát triển của lịch sử xã hội loài người, bóc trần những “bí mật” của các hình thái kinh tế - xã hội, chỉ ra động lực và chủ thể phát triển của lịch sử chính là con người và sản xuất vật chất - cơ sở quyết định sự tồn tại, phát triển của xã hội. Dù ai có xuyên tạc hoặc cố tình bôi đen chủ nghĩa Mác - Lênin thì sự thật ấy vĩnh viễn không thể thay đổi. Đây là cơ sở khoa học để luận giải sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự tất thắng của chủ nghĩa cộng sản.
- Chủ nghĩa Mác - Lênin là sự thống nhất biện chứng giữa học thuyết duy vật với phương pháp biện chứng, giữa lý luận và thực tiễn, giữa tính đảng và tính khoa học, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin luôn là một học thuyết mở, sống động, có khả năng tự đổi mới, tự phát triển trong dòng tư duy, trí tuệ của nhân loại, luôn thu nạp những thành tựu, tinh hoa trí tuệ mới nhất, tiến bộ nhất của nhân loại để không ngừng phát triển. Chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là học thuyết giáo điều, kinh viện bởi linh hồn sống động của nó là phép biện chứng duy vật không bao giờ chấp nhận, thỏa hiệp với quan điểm duy tâm, tôn giáo, phương pháp tư duy siêu hình.
Năm tháng đã đi qua, một số luận điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin có thể không còn phù hợp với thực tiễn ngày nay; đó cũng là lẽ đương nhiên, nhưng tinh hoa của phép biện chứng duy vật, quan niệm duy vật về lịch sử, học thuyết giá trị thăng dư và chủ nghĩa nhân văn với khát vọng giải phóng con người cùng với hệ thống tư tưởng cốt lõi của nó là những giá trị vĩnh hằng, sống mãi. Chính giá trị bền vững này mà chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động của các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam, nhờ có nó mà đứng trước những biến động của thời cuộc, Đảng ta vẫn tự tin khẳng định: Lịch sử loài người đang trải qua những khúc quanh co, phức tạp, song loài người tất yếu sẽ đi lên chủ nghĩa cộng sản.
Các học thuyết, trào lưu tư tưởng hiện nay đã, đang và có thể sẽ đưa ra những quan điểm, học thuyết mới với nhiều cách tiếp cận, kiến giải khác nhau về thế giới, song cho đến nay, chưa có một học thuyết nào có đủ sức, tâm, tầm, tuệ để có thể thay thế học thuyết khoa học, cách mạng và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, dù điểm này, điểm khác ở một số học thuyết ấy có giá trị nhất định.
Qua các biến cố thăng trầm của lịch sử, chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô Viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ; song chính nó đã và đang chứng minh tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, rằng trong thời đại ngày nay, bất cứ một Đảng Cộng sản nào, cá nhân lãnh tụ của Đảng Cộng sản nào, nếu vi phạm những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, chà đạp thô bạo lên giá trị khoa học, cách mạng của học thuyết Mác - Lênin, thì Đảng Cộng sản ấy, cá nhân lãnh tụ của Đảng Cộng sản ấy phải trả giá đắt. Những phát minh của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã chứng minh “C.Mác đúng”; loài người không thể có tương lai, nhân loại không thể phát triển nếu không có chủ nghĩa Mác - Lênin soi sáng, dẫn đường. Thực tiễn công cuộc đổi mới ở Việt Nam và một số nước chủ nghĩa xã hội trong thế kỷ XXI là minh chứng khẳng định chân lý ấy.
Sự thật khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin không lỗi thời, chỉ có những người vận dụng nó lỗi thời hoặc mắc những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình xây dựng đất nước. Đó cũng là điều khó tránh khỏi vì xây dựng chủ nghĩa xã hội là công việc vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi thời gian, trí tuệ, kinh nghiệm, công sức và tiền của. Với đường lối đổi mới sáng tạo, hơn 30 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; chúng ta có cơ ngơi và tiền đồ xán lạn như ngày hôm nay. Thực tiễn sinh động ấy đã bác bỏ quan điểm quy kết chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời và nó cũng mách bảo rằng, ai đó đừng vì chút lợi trước mắt mà cố tình quay lưng lại với lịch sử dân tộc, đừng a dua, hùa theo bọn người xấu để chống lại chế độ, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân Việt Nam. Hãy dừng việc quy kết, đỗ lỗi cho chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, lạc hậu.
Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin dẫn lại lời khẳng định của Giắccơ Đêriđa, một học giả tư sản, một triết gia hiện đại phương Tây có uy tín từng tuyên bố: Chủ nghĩa Mác không lỗi thời, loài người cần phải trở về với C.Mác, phải tìm thấy chân lý từ học thuyết của C.Mác; học giả này quả quyết: Loài người “không có tương lai nếu không có C.Mác, nếu không có các di sản của Mác”[1]. Điđiê Êribông - nhà chính luận Pháp khẳng định: Sức sống mãnh liệt của học thuyết Mác là bất diệt, vai trò dẫn đường thời đại mới chính là chủ nghĩa Mác[2], không có C.Mác, chúng ta không thể có tương lai. Theo kết quả một cuộc thăm dò dư luận do Đài BBC tiến hành trên Internet công bố ngày 1 tháng 10 năm 2000 thì C.Mác đã được bình chọn là nhà tư tưởng vĩ đại của thiên niên kỷ.
Đối với nước ta, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Đảng và nhân dân ta giành được trong gần 9 thập kỷ qua đã khẳng định thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều đó khẳng định tính đúng đắn của chân lý: Ngày nay, học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin là chắc chắn nhất, sâu sắc nhất và chân chính nhất, là “cẩm nang thần kỳ” cần thiết để dân tộc ta đi đến thắng lợi cuối cùng: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa./.


[1] Giắccơ Đêriđa, Những bóng ma của Mác, Nxb Chinh trị quốc gia và Tổng cục II - Bộ Quốc phòng xuất bản, Hà Nội, 1994, tr.16.
[2] Báo Người quan sát, số ra ngày 17/10/1993.

TÔN GIÁO VỚI CÁC VẤN ĐỀ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI"



 (ĐCSVN) – Hội thảo khoa học “Tôn giáo với các vấn đề về quyền con người” góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam qua việc chỉ rõ những luận điểm đổi mới nhận thức về tôn giáo thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng thời gian gần đây.
Ngày 26/11 tại Hà Nội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học “Tôn giáo với các vấn đề về quyền con người” nhằm mục đích chỉ rõ quyền con người thể hiện trong giáo thuyết các tôn giáo; nêu bật việc thực hiện hoá quyền con người trong đời sống tôn giáo và đời sống xã hội của các tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay; bước đầu đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm phát huy giá trị quyền con người của các tôn giáo trong đời sống tôn giáo và đời sống xã hội trên cơ sở tuân thủ pháp luật và giáo luật.
Hội thảo góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam qua việc chỉ rõ những luận điểm đổi mới nhận thức về tôn giáo thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng thời gian gần đây, đặc biệt là Nghị quyết số 24/NQ-TW về Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới (năm 1990), Nghị quyết số 25 – NQ/TW về công tác tôn giáo (năm 2003) và Chỉ thị số 18/CT-TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác tôn giáo trong tình hình mới (năm 2018) như: đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới; phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hoá và đạo đức của tôn giáo; khai thác và phát huy nguồn lực xã hội của tôn giáo…
Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Duy Bắc, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, việc nhận diện đầy đủ và cập nhật các quan điểm, nhận định, giáo thuyết của tôn giáo về quyền con người trong tương quan quyền và giới hạn quyền mà chính sách, luật pháp của các chính phủ quy định để có cái nhìn so sánh, tham chiếu, định hướng tạo nên một quan điểm chung, thống nhất về quyền con người, quyền tự do tôn giáo là một việc làm cần thiết.
Việt Nam được biết đến là một trong những quốc gia đa tôn giáo. Không khí dân chủ và tự do tôn giáo không chỉ thể hiện trên các văn bản pháp quy của Đảng và Nhà nước Việt Nam mà bằng thực tế sống động đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay: sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá sôi động; các tôn giáo đều có sự phát triển về số lượng tín đồ, chức sắc, nhà tu hành; cơ sở thờ tự được xây dựng mới nhiều; các tôn giáo đều được tự do quan hệ quốc tế qua đó góp phần tạo lập vị thế, uy tín của mình đối với các tổ chức tôn giáo trên thế giới.
Các ý kiến cùng 27 bài viết tham gia Hội thảo xoay quanh các nội dung: Lý luận chung về quyền con người và quyền tự do tôn giáo; quan điểm của các tôn giáo về quyền con người; đánh giá về quyền con người và quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
Ở nhóm nội dung thứ nhất, các ý kiến nhấn mạnh vấn đề bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo. Theo đó, việc giải quyết quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam có nhiều thay đổi từ năm 1990 đến nay. Bên cạnh việc coi tự do tôn giáo là một quyền hiến định, Việt Nam đã có khung pháp luật về quyền này khá rõ ràng. Nhà nước luôn tạo điều kiện và hỗ trợ người dân thực hành quyền tự do tôn giáo.
Do vậy, các tôn giáo ở Việt Nam đang được sống đời sống tôn giáo và đời sống xã hội ngày một phấn khởi hơn, sống động hơn trong bầu không khí chung của sự đồng thuận xã hội ngày một mở rộng.
Nhóm nội dung thứ hai đi sâu phân tích sự đa diện và tổng thể quyền con người theo quan điểm của các tôn giáo lớn; các nội dung cụ thể về quyền con người trong giáo thuyết của các tôn giáo như quyền được sống và bảo đảm sự sống, quyền bình đẳng giới, quyền trong tình yêu và hôn nhân, quyền tự do cá nhân,…
Qua đó thấy rằng, dù không trực tiếp bàn đến quyền con người theo cách tiếp cận hiện đại nhưng giáo thuyết của nhiều tôn giáo đều đụng chạm đến những khía cạnh khác nhau của quyền con người. Những quan điểm đó ảnh hưởng nhất định đến cách tiếp cận và thực thi quyền con người ở một số quốc gia hiện nay.
Nhóm nội dung thứ ba chú trọng làm rõ sự tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tôn giáo là chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước, không những nêu rõ trong các văn bản pháp luật mà còn được bảo đảm trên thực tế với nhiều kết quả đáng ghi nhận, được đông đảo người dân Việt Nam đồng tình và cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức đầy đủ hơn và sâu sắc hơn về quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội, về thực hiện quyền con người không được xâm phạm lợi ích quốc gia dân tộc và lợi ích hợp pháp của người khác. Từ đó, chức sắc và tín đồ các tôn giáo luôn hướng về cộng đồng, lợi ích quốc gia; đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc, kích động, vu cáo của các thế lực xấu về quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam./.

TỰ DO LÀ TỰ DO NÀO



Không lấy gì làm ngạc nhiên, khi một lần nữa một tổ chức nước ngoài lại có những nhận xét, đánh giá hết sức thiếu thực tiễn, chụp mũ, đặt điều về các vấn đề liên quan đến Việt Nam. Lần này là tự do Internet.
Sự tăng trưởng thần kỳ
Ngày 5/11/2019, Freedom House - một tổ chức phi chính phủ quốc tế có trụ sở tại Washington D.C, Mỹ - đưa ra báo cáo về tự do Internet, trong đó ngang ngược, vô lối xếp Việt Nam vào danh sách các nước không có tự do Internet.
Trước sự đặt điều vô lý, trắng trợn ấy, ngày 7/11, tại họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao Việt Nam, Phó Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Ngô Toàn Thắng “hoàn toàn bác bỏ những đánh giá này của Freedom House”. Ông Thắng khẳng định: “Việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận và tiếp cận thông tin là chính sách nhất quán của Việt Nam, được quy định trong Hiến pháp, pháp luật và được thực hiện đầy đủ trên thực tế”. Thực tế, Việt Nam luôn chủ trương thúc đẩy sự phát triển Internet nhằm phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đáp ứng đầy đủ nhu cầu trao đổi thông tin, học tập và làm việc của người dân.
“Hơn 20 năm qua, với tốc độ phát triển nhanh chóng của Internet, Việt Nam đã vươn mình ra thế giới và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Internet đã trở thành một công cụ kết nối vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của người dân Việt Nam. Bên cạnh đó, chi phí sử dụng Internet tại Việt Nam thuộc hàng thấp nhất trong khu vực, tạo điều kiện thuận lợi cho đông đảo người dân tiếp cận và sử dụng. Thực tế, Việt Nam hiện là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng, sử dụng Internet nhanh nhất thế giới”- ông Thắng khẳng định.
Đó là điều rõ ràng, không thể chối cãi. Xin đưa ra những con số cụ thể cho thấy những bước tiến vượt bậc trong việc sử dụng Internet ở Việt Nam, tự bản thân nó sẽ nói rõ nhiều điều mà không cần bất kỳ sự bình luận nào. Kể từ khi chính thức kết nối mạng thông tin toàn cầu vào ngày 19/11/1997, đến năm 2003, Internet băng rộng ADSL chính thức có mặt trên thị trường, tạo ra những cú hích đột biến cho phép người dùng truy nhập Internet tốc độ cao, đồng thời giá cước Internet giảm mạnh chưa từng có (từ 10%-40%), kích thích nhu cầu người dùng tăng trưởng mạnh mẽ - gấp nhiều lần so với con số khoảng 200.000 người dùng thuở ban đầu.
Năm 2009, Internet cáp quang FTTH được triển khai với tốc độ truy cập mạng tăng đáng kể so với ADSL. Cùng thời điểm này, mạng 3G của VinaPhone được khai trương, mở ra kỷ nguyên Internet cho di động tại Việt Nam. Từ năm 2010, Internet Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc với xu hướng chuyển dịch từ dịch vụ cáp đồng sang cáp quang. Việt Nam nằm trong top đầu những quốc gia có lượng người dùng Internet nhiều nhất trên thế giới… Tính đến năm 2017, Việt Nam có gần 64 triệu người dùng Internet, chiếm 67% dân số cả nước. Tại thời điểm đó, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên thế giới, đứng thứ 6/35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á.
Trong “Báo cáo Digital Marketing 2019” công bố hồi tháng 7/2019 cho biết, Việt Nam hiện có hơn 64 triệu người dùng Internet. Người dùng Việt Nam dành trung bình tới 6 giờ 42 phút mỗi ngày để tham gia các hoạt động liên quan tới mạng Internet. Người dùng Việt Nam dành trung bình 2 giờ 32 phút để dùng mạng xã hội, 2 giờ 31 phút để xem các stream hoặc các video trực tuyến và 1 giờ 11 phút để nghe nhạc. 94% là tỷ lệ người dùng Internet ở Việt Nam sử dụng Internet hàng ngày…
Rõ ràng, chỉ cần nhìn vào số liệu khô khan thống kê kể trên cũng đủ thấy những sự tự do không thể chối cãi trong bức tranh hơn 20 năm hình thành, phát triển Internet ở Việt Nam. Điều đáng nói hơn, Internet đã tác động tích cực đến mọi mặt của đời sống xã hội, đến nhiều lĩnh vực khác nhau, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội từng bước tăng trưởng nhanh chóng, bền vững.
Vì vậy, có thể khẳng định chắc chắn rằng, báo cáo của Freedom House vào ngày 5/11/2019 là hết sức vô lối, vẫn không ngoài ý thức xuyên tạc, chống phá thường xuyên, liên tục, trên nhiều mặt trận, trong đó có vấn đề tự do thông tin, tự do Internet. Đấy là chưa kể đến việc người dùng Internet ở Việt Nam có thể tự do chia sẻ, bày tỏ thông tin, quan điểm cá nhân thông qua Internet, nhất là qua các trang web, mạng xã hội. Trong khi đó, nhiều cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp ở Trung ương và địa phương quan tâm, chú trọng việc sử dụng Internet, mạng xã hội để làm việc, giải quyết thủ tục hành chính, liên hệ, trao đổi trực tiếp với người dân…
Không có thứ tự do vô lối
Xin được đưa thêm những ví dụ hết sức sinh động khác để chứng minh rằng, các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin, tự do Internet luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam coi trọng, bảo đảm thực thi một cách xuyên suốt, nhất quán. Việc bảo đảm các quyền tự do cơ bản của con người ở Việt Nam dựa trên cơ sở pháp luật quốc tế, phù hợp với tình hình thực tiễn chính là động lực của sự nghiệp đổi mới đất nước. Sự tự do trong sử dụng Internet ở Việt Nam đã có tác động tích cực, đóng góp lớn vào quá trình phát triển của đất nước.
Trong khi tình hình thế giới biến động phức tạp, khó lường về nhiều mặt thì sự phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam vẫn luôn đạt mức tăng trưởng khả quan so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, trong 9 tháng đầu năm 2019, GDP tăng 6,98% - mức tăng cao nhất trong vòng 9 năm qua. Lạm phát tiếp tục được kiểm soát ở mức thấp, bình quân 9 tháng tăng 2,5% - mức tăng thấp nhất trong 3 năm qua. Vốn FDI thực hiện cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, ước đạt 14,2 tỷ USD, tăng 7,3%. Thu ngân sách nhà nước tăng cao (10,1%), bội chi còn 3,4% GDP, nợ công còn dưới 57% GDP... Đó là những số liệu minh chứng một cách thuyết phục về sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, cũng như môi trường đầu tư thuận lợi, an toàn, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là sự xuất hiện của ngày càng nhiều các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới…
Thực tế, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, để phù hợp với tình hình thực tiễn, trong bối cảnh “thế giới phẳng” toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam đã điều chỉnh, bổ sung, xây dựng nhiều đạo luật mới, đề cao, tôn trọng các quyền cơ bản, chính đáng của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do Internet. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Hay như trong các luật được ban hành thời gian gần đây, như Luật Báo chí (năm 2016); Luật Tiếp cận thông tin (năm 2016); Luật An ninh mạng (năm 2018)… vấn đề tự do ngôn luận luôn được tôn trọng và bảo đảm.
Có thể khẳng định chắc chắn rằng, không một quốc gia nào trên thế giới lại cho phép các thế lực thù địch, phản động, chống phá tụ tung tự tác, tác oai tác quái, xấc xược, đặt điều vu khống nói xấu đất nước, chế độ, lãnh tụ. Không một quốc gia nào tự do để các phần tử xấu vi phạm pháp luật, ngăn cản, chống phá sự phát triển đất nước cũng như những quyền và lợi ích hợp pháp của dân tộc, của người dân, đi ngược lại sự phát triển của thế giới. Thực tế, quyền tự do Internet luôn được đặt trong khuôn khổ pháp luật. Đơn cử như Ủy ban châu Âu đã ban hành luật về bảo vệ sự riêng tư toàn cầu nhằm hạn chế hoạt động của Internet, mạng xã hội vi phạm quyền riêng tư của công dân của các nước thành viên. Trong khi đó, Trung Quốc chặn tất cả các mạng xã hội, trong đó có Facebook, Google nhằm ngăn chặn người dùng truy cập các trang web đồi trụy hoặc có nội dung nhằm mục đích chính trị. Hàn Quốc, Thái Lan yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ Internet phải kiểm duyệt, ngăn chặn các tài khoản, clip có “nội dung không phù hợp” trên các mạng xã hội. Chính Quốc hội Mỹ cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm xử lý, ngăn chặn việc lợi dụng Internet, mạng xã hội để khủng bố, kích động bạo lực hay là vi phạm sở hữu trí tuệ...
Rõ ràng, không chỉ Việt Nam, quốc gia nào trên thế giới cũng có những biện pháp quyết liệt để đấu tranh chống lại các mặt trái trên không gian mạng, cụ thể là trên Internet. Không có một quốc gia nào cho phép các hành vi tội phạm công nghệ cao được tồn tại trên Internet để phá hoại kinh tế, cản trở các hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, các tập đoàn kinh tế của Việt Nam, của những người dân vô tội. Thế nên, việc phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các đối tượng lợi dụng Internet vi phạm quyền và lợi ích của Nhà nước và công dân là việc làm hiển nhiên. Điều đó rõ ràng phù hợp với luật pháp quốc tế và pháp luật của các quốc gia khác... Việc không có tự do trên không gian mạng đã được khu biệt, giới hạn rõ là nghiêm cấm các mặt trái do Internet gây ra, trái với bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc, cản trở sự phát triển xã hội, xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước.
Chính Các Mác và Ph.Ăng-ghen cũng khẳng định rằng: “Quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa do chế độ kinh tế đó quyết định”; tương ứng với những thời đại khác nhau và những cơ sở kinh tế - xã hội khác nhau thì quyền cũng khác nhau. Theo đó, quan niệm về tự do ngôn luận không bất biến, mà biến đổi trong lịch sử. Và trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, những quyền tự do cơ bản của con người, như tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do Internet vẫn luôn phải bảo đảm dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế và đặc thù mỗi quốc gia, chứ không thể có thứ nhân danh để tự do vô lối, chống đối, phá hoại.
Tự do là quyền của con người, nhưng đó không phải là sự tự do vô lối, tùy tiện, vô chính phủ, mà nó chỉ được bảo đảm khi con người nhận thức đúng đắn quy luật khách quan và hành động phù hợp luật pháp. Rõ ràng, không thể có một thứ tự do là muốn làm gì thì làm. Tự do buộc phải hình thành, tồn tại trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, cá nhân và Nhà nước. Tự do Internet cũng không là ngoại lệ./.

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH



 (ĐCSVN) – Muốn phê phán, phản bác đúng các loại quan điểm sai, trái thù địch thì trước hết phải nhận diện cho đúng các loại quan điểm ấy, đồng thời, người làm báo phải có dũng khí, bản lĩnh để nhận diện và đấu tranh thể hiện qua từng trang viết…
Tại cuộc Tọa đàm “Nâng cao chất lượng bài viết phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên Tạp chí Tuyên giáo” mới đây do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức, các đại biểu đã có nhiều ý kiến đóng góp kinh nghiệm quý từ thực tiễn.
Nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng
Theo đồng chí Lê Huy Nam, Tổng biên tập Tạp chí Tuyên giáo, trước các hoạt động chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động cùng những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” (Nghị quyết 35).
Nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 35, một trong những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm được đồng chí Võ Văn Thưởng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh tại Hội nghị Báo cáo viên các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương tháng 7/2019, đó là: Phát huy vai trò của báo chí truyền thông trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch…
Là cơ quan ngôn luận của Ban Tuyên giáo Trung ương, Tạp chí Tuyên giáo đã tổ chức bài viết phê phán, phản bác quan điểm sai trái, thù địch đã thực hiện trong suốt hơn 60 năm qua kể từ khi số đầu tiên phát hành. Phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nhiệm vụ được quy định cụ thể trong Quyết định của Ban Tuyên giáo Trung ương về chức năng, nhiệm vụ của Tạp chí.
Chỉ tính từ đầu năm 2018 đến nay, Tạp chí đã đăng tải hơn 200 bài viết trực tiếp và gián tiếp tham gia đấu tranh phê phán, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, tập trung vào  những chủ đề, vấn đề: Bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; khẳng định con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; phân tích, lý giải kinh tế thị trường định hướng XHCN và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; quyết tâm đổi mới tư duy, phát triển lý luận của Đảng ta; quyết tâm của Đảng trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; quyết tâm bảo vệ chủ quyền, biển, đảo của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta; phê phán, phản bác các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên; chống các biểu hiện lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để nói xấu chế độ; phê phán các biểu hiện coi thường những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc; đấu tranh với các biểu hiện lợi dụng danh nghĩa phản biện xã hội để chống lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, lợi dụng những mặt trái, mặt tiêu cực của xã hội để đả kích, phê phán chế độ; đấu tranh phê phán, phản bác những biểu hiện xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử cách mạng, lịch sử đất nước…  
Các tuyến bài phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên cả hai ấn phẩm in và điện tử được thể hiện dưới những thể loại - dạng bài viết chính luận, bình luận, phản ánh hoặc phiếm chỉ…
Phải nhận diện cho đúng để đấu tranh, phản bác
Nhà báo lão thành Hà Đăng cho rằng, muốn phê phán, phản bác đúng các loại quan điểm sai trái thù địch thì trước hết phải nhận diện cho đúng các loại quan điểm ấy. Vậy thế nào là sai trái, thế nào là thù địch? Giữa sai trái và thù địch, liệu có lằn ranh nào ngăn cách? Có thể có những quan điểm sai trái nhưng không hẳn là thù địch. Nhưng đã là quan điểm thù địch thì đương nhiên không thể không sai trái. Ở đây ta không xếp vào loại quan điểm sai trái, thù địch việc phê bình, chỉ trích, thậm chí phê phán gay gắt các sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước nhưng trong tinh thần xây dựng chứ không phải chống đối, phá phách, cơ hội chủ nghĩa…
Ông khẳng định, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thực chất là đấu tranh về chính trị, lý luận. Mũi nhọn phải chĩa vào các thế lực thù địch, dù núp bóng hay công khai lộ diện. Bài viết không phải để các thế lực chống đối, thù địch đọc và nghe mà là để giáo dục, thuyết phục đông đảo quần chúng, bạn đọc nhận rõ bộ mặt thật quan điểm sai trái, thù địch ấy, từ đó trang bị cho họ vũ khí đấu tranh, chống lại nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta...
Xác định rõ tính chất, mức độ để đấu tranh, ngăn ngừa
Theo đồng chí Nguyễn Quang Vinh, Phó Cục trưởng Cục truyền thông Công an nhân dân, Bộ Công an, cần xác định rõ tính chất và mức độ của từng đối tượng, phần tử để có thái độ, biện pháp đấu tranh phù hợp. Trong quá trình đấu tranh, rất cần có sự chung tay, phối hợp giữa các lực lượng trong phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, các thế lực cơ hội, phản động, có tư tưởng lệch lạc về chính trị.
Cùng quan điểm này, Phó Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng Trần Văn Hiệp chia sẻ, từ thực tế của tỉnh, để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, trước hết phải nắm bắt thông tin, sau đó mới tiếp cận vận động để hiểu rõ tính chất, mức độ, nội dung rồi mới có thể phản bác ngăn ngừa. Đồng chí cho rằng, cách làm này sẽ tạo thế chủ động trong phản bác, không bị động chờ có bài xuyên tạc, chống phá mới phản bác. Việc nhanh chóng tiếp xúc đối tượng, giải thích vận động là để kịp thời kéo họ trở lại, không để tư tưởng của họ bị lung lay dao động…
Phó Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng cho rằng, mục tiêu trước mắt mà các thế lực thù địch quyết phá là làm cho tư tưởng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân bị dao động, lung lay. Vì vậy, muốn làm tốt công tác tư tưởng ngoài xã hội thì trước hết phải làm tốt công tác tư tưởng trong đảng viên từng chi bộ. Từ đảng viên chi bộ sẽ lan tỏa ra gia đình và lan tỏa ra xã hội, cho nên việc cung cấp các luận điểm, luận cứ, thực tiễn khoa học đấu tranh phản bác trong bản tin nội bộ là rất cần thiết và hiệu quả cũng khá rõ ràng.
Xác minh, xử lý, không để kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân
Đồng chí Đỗ Thắng, Phó Trưởng phòng Báo chí Xuất bản, Ban Tuyên giáo Thành uỷ TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của các cấp ủy, tổ chức đảng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần tích cực trong việc ngăn chặn, đấu tranh, xử lý các đối tượng đăng tải thông tin sai trái, xấu, độc trên internet và mạng xã hội. Bước đầu các tổ chức Đảng, nhất là ở cấp chi bộ ở Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh đều quan tâm, nắm bắt hoạt động của cán bộ, đảng viên trên mạng xã hội; thường xuyên nhắc nhở, lãnh đạo cán bộ đảng viên sử dụng internet, mạng xã hội có trách nhiệm, đăng tải, chia sẻ thông tin chính thống, tích cực, tham gia phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu, độc.
Với kinh nghiệm xử lý, ngăn chặn sự kích động, chống phá của các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội thời gian qua trên địa bàn tỉnh, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Tĩnh Nguyễn Thị Hà Tân cho rằng, trước hết, cần thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quán triệt, tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với người dân. Hai là, tăng cường công tác quản lý Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, địa bàn nhất là những địa bàn, lĩnh vực nhạy cảm, dự báo tiềm ẩn về an ninh trật tự, không để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, kích động. Ba là, thường xuyên làm tốt công tác theo dõi, nắm bắt dư luận xã hội, kịp thời kiến nghị, đề xuất giải quyết những vấn đề phát sinh ngay từ cơ sở. Bốn là, khi có vụ việc phức tạp, phát sinh được dư luận quan tâm, cần kịp thời tham mưu cơ quan thẩm quyền chỉ đạo, vào cuộc xác minh, xử lý, không để kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân, đồng thời thực hiện nghiêm quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí; không tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, kích động chống phá. Năm là, các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân cần thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về bảo mật thông tin; tuyệt đối không để lộ lọt thông tin, bí mật nhà nước, gây hệ lụy lớn đối với tình hình an ninh chính trị...
Nâng cao bản lĩnh người làm báo
Năm 2020, là năm có nhiều sự kiện quan trọng của đất nước trong đó có việc chuẩn bị Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng lần thứ 13 của Đảng. Đây là thời điểm các thế lực thù địch ra sức chống phá, với nhiều thủ đoạn tinh vi, quyết liệt.
Vì vậy, theo đồng chí Trần Thanh Lâm, Vụ trưởng Vụ Báo chí – Xuất bản, Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị trong thời gian tới, để báo chí phát huy tốt vai trò phê phán, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cần nhất quán nguyên tắc hoạt động của các cơ quan báo chí đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, luôn luôn đi đầu trong việc bảo vệ Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách pháp luật của Nhà nước, đảm bảo tính tư tưởng, tính nhân dân, tính chân thực, tính chiến đấu, tính đa dạng, có trách nhiệm hình thành dư luận xã hội lành mạnh, đoàn kết trong nhân dân; kiên quyết đấu tranh các quan điểm sai trái, thù địch; khắc phục biểu hiện thương mại hoá, biểu hiện lệch lạc, tiêu cực khác.... Tiếp tục nâng cao nâng cao nhận thức cho các cơ quan báo chí về vai trò, tầm quan trọng, biểu dương các điển hình tiêu biểu trong việc tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, chống âm mưu diễn biến hòa bình trên lĩnh vực văn hoá, trong đó chú trọng phát huy vai trò quan trọng của các cơ quan báo chí chủ lực như Báo Nhân dân, Đài Truyền hình Việt Nam, TTXVN, Đài Tiếng nói Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, Quân đội Nhân dân, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tạp chí Tuyên giáo, cũng như các cơ quan báo Đảng ở Trung ương và địa phương…
Bên cạnh đó, cần chú trọng biểu dương các điển hình tiên tiến nhằm cổ vũ, động viên, tạo ảnh hưởng lan toả, hiệu ứng trong xã hội trên mặt trận đấu tranh quan điểm, sai trái của các thế lực thù địch, từ đó trở thành phong trào lớn trong toàn xã hội. Triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, lực lượng, phương tiện nâng cao hiệu quả đấu tranh, bảo vệ nền tảng, tư tưởng của Đảng, coi đây là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, nội dung các tuyến bài viết cần tập trung các vấn đề nóng các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng chống phá. Đồng thời đa dạng hóa hình thức thông tin tuyên truyền, định hướng hệ giá trị, bồi dưỡng bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam cho thế hệ trẻ; chú trọng bồi dưỡng, nâng cao trình độ, bản lĩnh cho người làm báo…/.

CẦN TỈNH TÁO TRƯỚC NHỮNG THỦ ĐOẠN KÍCH ĐỘNG TRÊN INTERNET


Thời gian qua, nhiều vụ việc cho thấy tổ chức khủng bố “Việt Tân” đã lợi dụng triệt để sự phát triển của Internet, nhất là mạng xã hội để tuyên truyền, công kích, lôi kéo người dân tham gia các hội, nhóm trá hình trên không gian mạng. Nhóm này luôn sử dụng danh nghĩa phản biện xã hội, đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền, xây dựng xã hội dân sự, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ... nhưng thực chất là để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng, thái độ thù địch của một bộ phận nhân dân.
Cụ thể trong vụ án trên, Đỗ Hoàng Điềm đã sử dụng facebook mang tên “Hoang Nguyen” rồi kết bạn với Trần Văn Quyền thông qua mạng xã hội này. Điềm đã hướng dẫn Quyền sử dụng các ứng dụng mạng xã hội khác và chỉ cho Quyền tìm đọc các vấn đề chính trị xã hội ở Việt Nam, gợi sự bất mãn với chính quyền để lôi kéo Quyền tham gia tổ chức khủng bố “Việt Tân”.
Còn Châu Văn Khảm sử dụng mạng xã hội facebook với tên “Khảm Châu” để giải đáp các thắc mắc về tổ chức “Việt Tân” trên trang facebook “Việt Tân”. Sau khi Châu Văn Khảm bị bắt, trang facebook “Việt Tân” tán phát nhiều tài liệu, có nội dung phản ánh sai lệch sự việc, vu cáo, bịa đặt, nói xấu Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đồng thời, tán phát nhiều “thư ngỏ” có nội dung kêu gọi các tổ chức được cho là vì tự do, dân chủ, nhân quyền lên tiếng, can thiệp buộc Chính phủ Việt Nam trả tự do cho Châu Văn Khảm. Đây là những chiêu trò xuyên tạc nhằm chống phá cách mạng Việt Nam của tổ chức khủng bố “Việt Tân”, người dân cần hết sức cảnh giác trước sự bịa đặt của các đối tượng này.
Mới đây, tháng 8/2019, trên cơ sở khuyến nghị của lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF) về chống rửa tiền và tài trợ khủng bố, trên cơ sở đề nghị của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Bộ Công an đã công bố danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố. Ngoài “Tổ chức khủng bố Việt Tân” và “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” (là tổ chức liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố), Bộ Công an còn bổ sung thêm danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố và tài trợ khủng bố do Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc chỉ định./.
http://dangcongsan.vn/phap-luat/canh-giac-ngan-chan-kip-thoi-hanh-vi-chong-pha-cua-to-chuc-khung-bo-viet-tan-542211.html

NGĂN CHẶN KỊP THỜI HÀNH VI PHÁ HOẠI CỦA TỔ CHỨC KHỦNG BỐ “VIỆT TÂN”



 Sau khi thành lập, “Việt Tân” đã tổ chức tuyển dụng, huấn luyện cho thành viên cách thức sử dụng vũ khí, vật liệu nổ; tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại, bắt cóc, thủ tiêu con tin…; tiến hành các chiến dịch đưa các nhóm vũ trang với hàng trăm đối tượng từ Thái Lan xâm nhập qua Lào, Campuchia về Việt Nam để lập “mật cứ”, tiến hành hoạt động bạo loạn, khủng bố nhưng đã bị các cơ quan chức năng của Việt Nam, Lào ngăn chặn, vô hiệu hóa.
Hiện, “Việt Tân” tiếp tục tuyển dụng, huấn luyện, chỉ đạo thành viên xâm nhập về Việt Nam kích động biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn, thủ tiêu, bắt cóc con tin; đưa người ra nước ngoài đào tạo, huấn luyện, tổ chức các khóa đào tạo trực tuyến về phương thức, hoạt động khủng bố, phá hoại; tán phát lên mạng Internet hướng dẫn cách chế tạo bom xăng để phục vụ hoạt động khủng bố, phá hoại, ám sát…
Tương tự như vụ án Châu Văn Khảm, để thực hiện mục tiêu chống phá, “Việt Tân” đã nhiều lần cho các thành viên xâm nhập trái phép về Việt Nam. Năm 2007, Nguyễn Hải, Nguyễn Ngọc Đức, Nguyễn Quốc Quân, Nguyễn Thị Thanh Vân, Trương Leon là các thành viên của “Việt Tân” đã xâm nhập về Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ chỉ đạo “cơ sở nội địa” làm, phát tán truyền đơn có nội dung kích động biểu tình, phá rối án ninh, bạo loạn nhằm gây hoang mang quần chúng nhân dân. Nhóm đối tượng này bị lực lượng chức năng ngăn chặn kịp thời, đưa ra xét xử vào tháng 5/2008.
Một vụ việc khác tinh vi hơn là đối tượng Phạm Minh Hoàng (thành viên của “Việt Tân” tại Pháp) về Việt Nam trà trộn vào làm giảng viên hợp đồng của một trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian tại đây, Hoàng đã viết 33 bài viết có nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam rồi gửi cho tổ chức khủng bố Việt Tân đăng phát trên mạng internet nhằm mục đích kích động, lôi kéo người dân biểu tình. Năm 2011, Hoàng phải hầu tòa vì những hành vi phạm tội của mình.
Ngoài ra, từ tháng 8/2009 đến tháng 11/2011, tổ chức khủng bố “Việt Tân” đã đưa 17 đối tượng làm cơ sở trong nước nhiều lần sang Thái Lan, Campuchia, Lào, Philippine và Mỹ để được các “lãnh đạo của Việt Tân” huấn luyện. Ngày 2/8/2011, khi các đối tượng nhập cảnh về Việt Nam thì bị Cơ quan An ninh Bộ Công an phát hiện, bắt giữ.

ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG CÓ PHẢI LÀ "MỆNH LỆNH" ĐỔI MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC?



 (ĐCSVN) - Phải là người Việt Nam yêu nước thực sự mới thấm thía hết được giá trị của những thành quả mà nhân dân ta đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam gần chín thập kỷ qua, mới có thể nhận thức được đâu là “mệnh lệnh” đích thực của đất nước và quyết tâm phấn đấu theo “mệnh lệnh” đó.
Hiện nay, trong khi nhân dân ta đang có những hoạt động sôi nổi tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội càng ráo riết, quyết liệt chống phá cách mạng Việt Nam. Chiêu trò “đa nguyên, đa đảng” lại được chúng phát động, tung lên dồn dập trên các phương tiện thông tin, truyền thông, trên internet, mạng xã hội với thái độ hằn học và giọng điệu thù địch. Chúng ra sức kêu gọi và yêu sách nhân dân ta phải thiết lập một “chế độ dân chủ đa nguyên”, coi đó là một “mệnh lệnh” của đất nước hiện nay! Chúng lớn tiếng xằng bậy rằng, “đất nước sẽ tàn tạ đến nỗi tàn tật”, nếu vẫn chấp nhận “chế độ cộng sản”!
Những người đưa ra luận điệu trên xem ra cũng chẳng hiểu gì về lịch sử Việt Nam và cũng chưa hiểu, hay cố tình làm sai lệch nội dung bản chất “mệnh lệnh” của đất nước Việt Nam lúc này.
Mọi người đều biết, những thập kỷ đầu thế kỷ XX qua sự “sàng lọc” dữ dội của lịch sử, dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người duy nhất dẫn dắt mình đi đến độc lập, tự do, hạnh phúc thực sự. Thực tiễn cũng chứng tỏ, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là đội tiền phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và của toàn thể dân tộc Việt Nam, là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Năm 1945, Đảng lãnh đạo toàn dân tộc, toàn thể nhân dân ta đứng lên khởi nghĩa, giành chính quyền, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong những ngày đầu giữ chính quyền, Đảng đã tự tuyên bố giải tán và Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã mở rộng thành phần cho mọi tổ chức, chính đảng cùng tham gia...
Lịch sử Việt Nam hiện đại cũng đã có và cũng đã phủ định đa đảng. Song điều quan trọng là, toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam và hoạt động của Nhà nước Việt Nam mới là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nền chính trị của nước ta vẫn là nền chính trị nhất nguyên. Chế độ chính trị đó là do nhân dân ta lựa chọn từ những trải nghiệm trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống xâm lược và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho dân tộc và toàn thể nhân dân lao động thực sự được làm chủ cuộc sống của mình, được sống cuộc đời tự do, hạnh phúc.
Không thể phủ nhận những hy sinh, mất mát to lớn của nhiều thế hệ người Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm nên kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc ở thế kỷ XX, và vững bước đi lên trên con đường xã hội chủ nghĩa với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Tinh thần anh dũng hy sinh và lao động sáng tạo của dân tộc ta là tấm gương để nhân dân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới noi theo; là điểm sáng được bạn bè thế giới ngưỡng mộ và lạc quan tin tưởng vào tương lai phát triển phồn thịnh của Việt Nam.
Đó là sự thật. Nó đó đã, đang và vẫn diễn ra, hoàn toàn bác bỏ những luận điệu muốn bóp méo, xuyên tạc, phủ định thành quả của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nó đập tan mọi luận điệu thù địch, chống đối, cố tình nói xằng rằng “đất nước sẽ tàn tạ đến nỗi tàn tật”, nếu dân tộc Việt Nam vẫn chấp nhận “chế độ cộng sản độc tài”!
Thực chất luận điệu đòi thiết lập “chế độ dân chủ đa nguyên”, coi đó là “mệnh lệnh” của đất nước là nhằm hướng lái nền chính trị nước ta sang chính trị tư sản. Điều tệ hại dẫn đến sẽ là: Đất nước diễn ra cảnh hỗn loạn, mất ổn định, đổ vỡ nền kinh tế, rơi vào thảm họa như đã từng xảy ra ở một số nước. Thảm họa đó chắc chắn sẽ giáng cả lên đầu nhân dân. Và nhân dân chỉ là cái cớ cho sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái.
Họ đã mượn ở đâu cái cụm từ “mệnh lệnh” của đất nước khi cho rằng thực hiện đa nguyên chính trị là “mệnh lệnh” của đất nước hiện nay. Ở đây vừa cho thấy họ chẳng hiểu thế nào là “mệnh lệnh” của nước ta hiện nay, lại vừa cho thấy sự méo mó và dã tâm cố tình lái nguyện vọng, lợi ích của dân tộc ta theo một hướng khác. Họ đã cố tình không thấy, không biết thực chất mục tiêu, động lực và “mệnh lệnh” - như họ nói” của nhân dân ta hiện nay là: Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; xây dựng nền tảng để sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Phải là người Việt Nam yêu nước thực sự mới thấm thía hết được giá trị của những thành quả mà nhân dân ta đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam gần chín thập kỷ qua, mới có thể nhận thức được đâu là “mệnh lệnh” đích thực của đất nước và quyết tâm phấn đấu theo “mệnh lệnh” đó./.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...