Thứ Hai, 9 tháng 9, 2019

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN ĐƯỢC MỐI QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - CUBA



QĐND - Thời gian qua, các thế lực thù địch bên ngoài, cả một số người trẻ tuổi trong nước thông qua mạng xã hội tìm cách phủ nhận mối quan hệ giữa hai đất nước anh em Việt Nam-Cuba. Họ tìm cách gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa hai dân tộc, phủ nhận vai trò và sự giúp đỡ chí tình của nhân dân Cuba trong kháng chiến cứu nước và trong xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam; cũng như sự giúp đỡ về vật chất, tinh thần mà nhân dân Việt Nam đã dành cho Cuba.
Đó là những luận điệu thù địch nhằm xuyên tạc lịch sử, phá vỡ mối quan hệ gắn bó bền chặt giữa hai dân tộc vốn được Nhà nước và nhân dân hai nước gìn giữ, vun đắp bấy lâu nay.
"Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu mình", câu nói bất hủ của Chủ tịch Cuba Fidel Castro đã in sâu vào trái tim các thế hệ người Việt Nam, thể hiện sâu sắc tình anh em, tình đồng chí keo sơn giữa Việt Nam-Cuba trong những năm tháng chiến tranh ác liệt và trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước hiện nay. Quan hệ đoàn kết, anh em giữa Việt Nam và Cuba do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Fidel Castro đặt nền móng được thúc đẩy ngày càng phát triển lớn mạnh không ngừng. Ngay sau ngày cách mạng Cuba thành công (1-1-1959), Cộng hòa Cuba là quốc gia Mỹ Latin đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam (2-12-1960), đồng thời công nhận Phái đoàn đại diện thường trú của Mặt trận (7-1962) và thành lập Ủy ban toàn quốc đoàn kết với miền Nam Việt Nam (25-9-1963); công nhận về mặt ngoại giao Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (20-12-1965) và cũng là nước đầu tiên cử Đại sứ bên cạnh Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng (3-1969). Những năm thập niên 1970 của thế kỷ trước, trong thời kỳ gian khổ nhất cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, dù cuộc sống còn khó khăn, song Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba luôn đồng hành, chắt chiu dành cho Việt Nam sự ủng hộ lớn nhất cả về vật chất lẫn tinh thần; đã bán hàng vạn tấn đường lấy ngoại tệ gửi cho Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam đánh Mỹ; gửi nhiều kỹ sư, công nhân, bác sĩ và nhân viên y tế cùng thuốc men, dụng cụ y tế giúp chữa trị cho người dân Việt Nam. 
Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam lần đầu tiên vào tháng 9-1973, bất chấp tình hình nguy hiểm, Chủ tịch Fidel Castro đã đến tận khu giải phóng Quảng Trị. Thay mặt nhân dân Cuba, Chủ tịch Fidel Castro tặng Việt Nam 5 công trình kinh tế-xã hội (KT-XH) có giá trị vật chất rất lớn, gồm: Khách sạn Thắng Lợi, Trại bò giống Ba Vì, tuyến đường Sơn Tây-Xuân Mai (Hà Nội), Bệnh viện Việt Nam-Cuba (Đồng Hới, Quảng Bình), Xí nghiệp gà Lương Mỹ(1). Trong đó, việc đưa Bệnh viện Việt Nam-Cuba hiện đại nhất lúc bấy giờ vào hoạt động mở ra chặng đường mới trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Trong suốt thập niên 1980-1990, dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, đặc biệt là chống lại chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ, Cuba tiếp tục viện trợ thuốc men, vacxin, lương thực cho Việt Nam.
Đáp lại tình cảm to lớn của nhân dân Cuba đã dành cho Việt Nam, khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu sụp đổ, Mỹ siết chặt cấm vận, Cuba đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, trong hoàn cảnh đó, Việt Nam đã dành cho đất nước anh em Cuba sự ủng hộ hết lòng, đã gửi gạo, quần áo, đồ dùng học tập và nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu sang giúp nhân dân Cuba. Từ đó đến nay, Việt Nam tiếp tục viện trợ lương thực, thực phẩm, máy móc và trang thiết bị giúp nước bạn, đồng thời tích cực vận động các quốc gia trên thế giới kêu gọi Mỹ bỏ bao vây cấm vận Cuba.
Những năm qua, Việt Nam và Cuba đã thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác kinh tế song phương trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là nông nghiệp, dầu khí, viễn thông, giáo dục và y tế… Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ hai của Cuba tại khu vực châu Á và châu Đại Dương. Tổng kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam-Cuba năm 2018 đạt mức gần 350 triệu USD và có khả năng tăng hơn nữa bởi trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cuba Miguel Mario Diáz Canel hồi tháng 11-2018, hai bên đã ký nhiều văn bản, thỏa thuận hợp tác, tạo căn cứ pháp lý cho hợp tác kinh doanh trước mắt cũng như lâu dài. Trong đó, Hiệp định Thương mại mới giữa Việt Nam và Cuba khi được ký kết sẽ đưa quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước lên ngang tầm quan hệ chính trị đặc biệt sẵn có, tạo cơ sở để nâng kim ngạch thương mại hai chiều lên 500 triệu USD trong vòng 5 năm tới. Phía Cuba cũng chủ động đề xuất doanh nghiệp Việt Nam tham gia đầu tư vào các lĩnh vực tiềm năng, như: Công nghiệp, du lịch, công nghệ sinh học và các lĩnh vực ưu tiên phát triển tại Đặc khu phát triển kinh tế Mariel (ZEDM) và lĩnh vực mới như sản xuất vaccine, dược phẩm. Trong hành trình xúc tiến đầu tư vào ZEDM, Cuba đã chọn Việt Nam là đối tác đầu tiên được cấp phép đầu tư 100% vốn nước ngoài để phát triển khu công nghiệp được khởi công vào tháng 11-2018.
Về quan hệ chính trị, ngoại giao, hai nước luôn nỗ lực duy trì, phát triển quan hệ song phương ngày càng tốt đẹp, gắn bó mật thiết với sự tin cậy cao, thể hiện qua việc thường xuyên trao đổi đoàn ở các cấp trên tất cả các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội cũng như giao lưu nhân dân, nhất là cơ chế hợp tác liên chính phủ giữa hai nước; nhất quán ủng hộ lẫn nhau trên các diễn đàn quốc tế, nhất là tại Liên hợp quốc. Trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Cuba vào tháng 3-2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) đã khẳng định: Với nhân dân Việt Nam, hai tiếng Cuba đồng nghĩa với biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng, khí phách hiên ngang, ý chí quật cường, niềm tin mãnh liệt vào lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quan hệ Việt Nam-Cuba là quan hệ anh em, đồng chí thân thiết, chân thành, trong sáng và đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ ở mỗi nước, đã được thử thách, rèn luyện qua hơn nửa thế kỷ đến ngày nay và đang tiếp tục phát triển tốt đẹp, trở thành biểu tượng của thời đại. 
Gần 60 năm qua, dù tình hình thế giới và khu vực có những biến đổi sâu sắc, với những diễn biến phức tạp, khó lường; song Đảng, Nhà nước, nhân dân hai nước luôn kiên trì và quyết tâm đưa mối quan hệ hợp tác lên tầm cao mới nhằm kế thừa, phát huy mạnh mẽ truyền thống tốt đẹp mà hai dân tộc đã dày công vun đắp, phấn đấu đưa quan hệ giữa hai nước trở thành mối quan hệ đặc biệt, không có tiền lệ, là hình mẫu của quan hệ quốc tế(2). Với đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây", Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam mãi ghi nhớ tình cảm sâu đậm, sự giúp đỡ vô giá mà nhân dân Cuba đã dành cho nhân dân Việt Nam, đồng thời luôn coi việc đoàn kết, ủng hộ và hợp tác với Cuba là mệnh lệnh của trái tim, là chủ trương nhất quán không bao giờ thay đổi. Thực tiễn những năm qua đã chứng minh rằng, chủ trương đó luôn được bảo đảm thực hiện với tinh thần và trách nhiệm cao nhất. Đó cũng là minh chứng sinh động nhất đập tan mọi luận điệu xuyên tạc mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước, phủ nhận vai trò, sự giúp đỡ của nhân dân Cuba với Việt Nam và tình cảm đặc biệt mà nhân dân Việt Nam dành cho đất nước Cuba anh em trong xây dựng và phát triển đất nước những năm qua và trong thời gian tới. 
Quan hệ đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam và Cuba do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Fidel Castro đặt nền móng mãi mãi là biểu tượng bất diệt của chủ nghĩa quốc tế trong sáng, vô tư và thủy chung, là niềm tự hào của các thế hệ sau này của nhân dân hai nước. Được xây dựng, vun đắp từ tình cảm, trí tuệ và sức lực của hai dân tộc, được thử thách qua những năm tháng khó khăn nhất của lịch sử, quan hệ Việt Nam-Cuba trở thành tài sản vô giá và nguồn cổ vũ lớn lao cho sự nghiệp cách mạng ở mỗi nước; là nhân tố quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở hai quốc gia.    
_____________________________________________
(1),(2). Nguyễn Văn Toàn, Việt Nam-Cuba: Hình mẫu của quan hệ quốc tế, Thế giới & Việt Nam online, ngày 31-12-2016a


Thứ Tư, 4 tháng 9, 2019

SỰ BỊA ĐẶT NGU XUẨN VỀ HỒ CHỦ TỊCH



Hồ Chí Minh - người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và người cha già của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc. Cả cuộc đời của Người chỉ sống để cống hiến cho sự nghiệp cách mạng với mục đích duy nhất là đem lại cuộc sống ấm no, tự do và hành phúc cho tất cả quần chúng nhân dân. Người đã một mình bôn ba khắp năm châu, bốn biển; trải qua không biết bao nhiêu gian nan, khó khăn, thử thách để đến với con đường cứu nước; Người đã không chỉ chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng mà còn góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của các quốc gia trên thế giới. Vậy mà… không biết từ đâu ra, có thông tin trên những trang Blog rằng: Báo Anh coi “Hồ Chí Minh là một trong những trùm diệt chủng tàn ác nhất thế kỷ 20”, với những lời lẽ xuyên tạc, bịa đặt sự thật một cách ngu xuẩn, ngớ ngẩn về Người. Chúng to mồm khẳng định “ông Hồ Chí Minh vừa có tên trong danh sách những kẻ diệt chủng tàn ác nhất thế kỷ 20, theo bình chọn của Daily Mail - tờ báo có lượng phát hành hàng đầu nước Anh”. Làm sao một tờ báo có thời lượng phát hành hàng đầu nước Anh lại có thể khẳng định và cho xuất bản một bài báo với những điều bịa đặt, xuyên tạc động trời như thế được? Đó là điều không thể, khi mà quan hệ của Việt Nam - Anh đang trên đà phát triển tốt đẹp với trên 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.
Một con người đã phải luôn ngày đêm khao tâm, khổ tứ, không ăn, không ngủ, trằn trọc vì nước vì dân; không màng đến hạnh phúc riêng của cá nhân mà chỉ đau đáu vì hạnh phúc của hàng triệu người con nước Việt. Vậy mà, chúng lại dám liệt kê Người vào danh sách với những tội đồ của nhân loại như Pol Pot, Hitler… Đúng là hết chỗ nói…
Với những cống hiến đó của mình, sử sách dân tộc Việt luôn dùng những mỹ từ như: “vị cha già dân tộc'”, “lãnh tụ kính yêu” hay “anh hùng kiệt xuất”… là hoàn toàn đúng đắn. Mà xin thưa rằng, những mỹ từ đó không chỉ người dân Việt Nam, mà người dân trên khắp quả địa cầu này đều dùng để nói về Người. Ghi nhận những công lao to lớn của Người, khóa họp Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24 tại Paris (20/10 - 20/11/1987) đã thông qua Nghị quyết 24C/18.65 về kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là “Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”, vào năm 1990. Thế mà, chúng lại tung tin cho rằng “hệ thống truyền thông CS còn bịa đặt thông tin nói rằng Hồ Chí Minh được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới”. Điều này càng thể hiện rõ hơn nhận thức kém cỏi, kiến thức què quặt của người viết. Chúng tôi, những người con Nước Việt không bao giờ tự tiện bịa đặt ra những điều không có. Cũng qua đây, tôi xin giới thiệu toàn văn bản dịch của Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam về Nghị quyết của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) về kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho người viết “mục sở thị nhé”. Đây là văn kiện quan trọng của một tổ chức quốc tế lớn thuộc Liên hợp quốc, ghi nhận những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; là niềm tự hào chung của dân tộc Việt Nam và của cả bầu bạn quốc tế.
Nhận thấy việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh các nhân vật trí thức lỗi lạc và các danh nhân văn hóa trên phạm vi quốc tế góp phần thực hiện các mục tiêu của UNESCO và đóng góp vào sự hiểu biết trên thế giới.
Nhắc lại Nghị quyết số 18 C/4.351 thông qua tại khóa 18 Đại hội đồng UNESCO về việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh của các danh nhân và việc kỷ niệm các sự kiện lịch sử quan trọng đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại, 

Ghi nhận năm 1990 sẽ đánh dấu 100 năm kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, 

Nhận thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, 
Nhận thấy những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là sự kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc mong muốn được khẳng định bản sắc văn hóa của mình và mong muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.
Khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng việc tổ chức các hoạt động cụ thể để tưởng niệm Người, qua đó làm cho mọi người hiểu rõ tầm vóc vĩ đại của những tư tưởng và những cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người. Đề nghị Tổng giám đốc UNESCO triển khai các biện pháp thích hợp để kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức nhân dịp này, đặc biệt là những hoạt động sẽ diễn ra ở Việt Nam”. 
Nghị quyết quan trọng này khẳng định những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã, góp phần quan trọng vào việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc…
Trong Nghị quyết này, Đại hội đồng UNESCO cũng khuyến nghị các nước thành viên “cùng tham gia kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng việc tổ chức các hoạt động cụ thể để tưởng niệm Người, qua đó làm cho mọi người hiểu rõ tầm vóc vĩ đại của những tư tưởng và những cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người”, đồng thời đề nghị ông Tổng giám đốc UNESCO “triển khai các biện pháp thích hợp để kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức nhân dịp này, đặc biệt là những hoạt động sẽ diễn ra ở Việt Nam”. Tấm gương và đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tinh hoa văn hoá của nhân loại, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta; là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi theo. Trước yêu cầu tăng cường công tác tư tưởng trong tình hình mới, Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương khoá IX đã quyết định triển khai chỉ đạo điểm cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đến ngày 07-11-2006, Bộ Chính trị (khóa X) đã ban hành Chỉ thị 06-CT/TW về Tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đây là một chủ trương lớn, vừa mang tính cấp bách trong bối cảnh tình hình hiện nay, vừa có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là chủ trương “ý Đảng hợp lòng dân”
Sau hơn 4 năm thực hiện, với sự chỉ đạo thường xuyên, chặt chẽ của các cấp ủy và tổ chức đảng; sự tham gia tích cực của cán bộ, đảng viên và nhân dân, cuộc vận động đã đạt được kết quả bước đầu, góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Kết quả triển khai cuộc vận động đã khẳng định việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là rất quan trọng và cần thiết, chẳng những đáp ứng yêu cầu cấp bách trước mắt mà còn có ý nghĩa cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Điều này, thực tiễn trong những năm qua đã chứng minh một cách rõ ràng. Vậy mà, những kẻ không hiểu biết lại lên tiếng bảo: Trong những năm gần đây, CSVN vẫn đang tiếp tục “kêu gào và bắt buộc người dân phải ra sức học tập, làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Trên thực tế, những chiến dịch phong thánh cho Hồ Chí Minh đã nhanh chóng bị phá sản từ đầu.”
Nhận thấy hiệu quả tích cực mà cuộc vận động mang lại, ngày 14 tháng 5 năm 2011, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số Số: 03-CT/TW về Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Việc thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị được đẩy mạnh, đi vào nền nếp, gắn với nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước và từng cấp, từng ngành. Ở nhiều địa phương, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị đã xuất hiện những cách làm mới thiết thực, hiệu quả, nhiều điển hình tiên tiến gắn với các phong trào thi đua yêu nước ở cơ sở, đặc biệt là phong trào xây dựng nông thôn mới
Những thành tựu đạt được trong những năm tiến hành Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và hơn 3 năm thực hiện Chỉ thị 03 về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã khẳng định sự cần thiết của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác trong toàn Đảng, toàn dân. Với quyết tâm cao, tôi dám tin chắc rằng, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục đạt được những kết quả quan trọng, để cho những kẻ xuyên tạc, bịa đặt thấy được thế nào là sự thật, thế nào là Hồ Chí Minh./.

BẢN CHẤT CỦA CÁI GỌI LÀ QUỐC GIA HÓA QUÂN ĐỘI



Cùng với việc đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội được xác định tại Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị đang ra sức truyền bá quan điểm đòi “quốc gia hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, cho rằng: “Quân đội bao giờ cũng là của quốc gia, không phải là của một đảng phái hay một thể chế chính trị nào”, “Quân đội chỉ trung thành với Hiến pháp” và yêu cầu “Luật hóa mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của quân đội” theo kịch bản “Cách mạng pháp luật” của phương Tây... Một số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta cũng ngộ nhận về quan điểm này, cho rằng đã có lúc quân đội ta là “Quân đội quốc gia”. 
Thực chất của quan điểm “quốc gia hóa quân đội” là đòi quân đội phải trung lập, “phi đảng hóa”, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm cho quân đội mất định hướng chính trị, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy bị suy yếu, bị tha hóa biến chất và mất sức chiến đấu; đồng thời làm cho Đảng không nắm được quân đội, dẫn đến mất vai trò đảng cầm quyền, đưa đất nước lâm vào tình trạng mất ổn định và suy thoái. 
Lịch sử chiến tranh và quân đội đã chứng minh và khẳng định: Quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị để tiến hành đấu tranh vũ trang nhằm thực hiện mục đích chính trị nhất định. Bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy của quân đội phụ thuộc vào quan điểm, đường lối chính trị của giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị tổ chức ra quân đội. Không có quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị. V. I. Lê-nin đã chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản..., bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động” (1). 
Ở các nước tư bản thực hiện chế độ đa đảng, các đảng có thể cầm quyền về thực chất là những hình thái tổ chức khác nhau đại diện cho các “tập đoàn lợi ích” khác nhau của giai cấp tư sản. Thực tiễn cho thấy, ở các nước tư bản, các đảng phái có thể thay nhau cầm quyền, song bộ máy Nhà nước cũng như quân đội đều được tổ chức và hoạt động theo thể chế chính trị của xã hội tư bản, đều phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản. Quân đội tư sản không chỉ được sử dụng để bảo vệ lợi ích quốc gia, mà còn để đàn áp sự phản kháng của nhân dân lao động bị áp bức. Hiện ở Mỹ có “quân đội tư nhân” lớn nhất thế giới là đội quân đánh thuê của Công ty Blackwater do tỷ phú Erick Prince lập ra, với quân số hàng trăm ngàn, có cả máy bay, tàu chiến và vũ khí hạng nặng, được coi là lực lượng thiện chiến ở Áp-ga-ni-xtan, I-rắc và có “khả năng lật đổ” nhiều chính phủ trên thế giới. Tuy nhân danh là “Bảo vệ lợi ích và giá trị Mỹ”, nhưng về thực chất, hoạt động của đội quân đó do các ông trùm tư bản điều khiển và bảo vệ thể chế chính trị của xã hội tư bản. 
Cách mạng Tháng Mười năm 1917 là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử nhân loại đã dẫn tới sự ra đời của Nhà nước kiểu mới - Nhà nước XHCN, gắn liền với sự ra đời của quân đội kiểu mới - quân đội của giai cấp công nhân và nhân dân lao động do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ nước Cộng hòa Xô-viết còn non trẻ, V. I. Lê-nin rất quan tâm xây dựng Hồng quân vững mạnh làm nòng cốt bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, Người đặc biệt chú trọng việc Đảng Cộng sản nắm vững quyền lãnh đạo đối với quân đội, coi đó là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhờ kiên định nguyên tắc đó, Hồng quân và nước Cộng hòa Xô-viết đã vượt qua những thử thách nghiệt ngã của thời kỳ nội chiến chống các thế lực phản cách mạng cùng sự can thiệp của 14 nước đế quốc, tiếp tục vượt qua những gian khổ hy sinh to lớn trong Đại chiến Thế giới lần thứ II, làm nên những chiến thắng vĩ đại, khẳng định sức mạnh vô địch của quân đội kiểu mới và sức sống mãnh liệt của Tổ quốc XHCN, tác động to lớn đến sự phát triển của phong trào cách mạng trên thế giới. 
Quân đội nhân dân Việt Nam là một quân đội kiểu mới mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, đồng thời có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Những thuộc tính bản chất của quân đội kiểu mới được thể hiện tập trung rõ nét ở lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và CNXH; ở chức năng, nhiệm vụ của đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất; ở cơ sở chính trị-xã hội luôn gắn bó máu thịt với nhân dân; ở nguyên tắc tổ chức và hoạt động, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy mang tính cách mạng và khoa học; trong đó vấn đề quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đối với bản chất và sức mạnh chiến đấu của quân đội là nguyên tắc và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Thực tiễn gần 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta đã chứng minh và khẳng định: Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội là nguyên tắc quan trọng hàng đầu, bảo đảm cho quân đội ta luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là lực lượng chính trị - lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc XHCN và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. 
Đúng là có lúc Đảng ta rút vào hoạt động bí mật, trong tình thế hiểm nghèo phải thực hiện kế sách nhân nhượng để thêm bạn bớt thù, bộ máy Nhà nước có người của lực lượng Việt quốc, Việt cách và người không đảng phái, quân đội ta có lúc mang tên Quân đội quốc gia Việt Nam (1946-1950), nhưng Đảng ta vẫn giữ vững sự lãnh đạo đối với quân đội. Tháng 1-1946, BCHTW Đảng quyết định thành lập Trung ương Quân ủy để tăng cường sự lãnh đạo đối với quân đội và cuộc kháng chiến. Tháng 5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký một số sắc lệnh quan trọng như Sắc lệnh số 71/SL, Sắc lệnh số 47/SL, Sắc lệnh số 60/SL. Theo các sắc lệnh đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp (lúc đó là ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Bí thư Trung ương Quân ủy) được giao trọng trách là Tổng chỉ huy quân đội và dân quân toàn quốc, Chủ tịch Quân sự ủy viên hội là cơ quan quân sự tối cao có nhiệm vụ điều khiển quân đội toàn quốc; trong quân đội từ cấp trung đội đến cấp trung đoàn có Chính trị viên, cấp chiến khu có Chính trị ủy viên do Chủ tịch nước ký quyết định bổ nhiệm. Điều này thể hiện sâu sắc bản lĩnh và trí tuệ của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa kiên định nguyên tắc chiến lược, vừa mềm dẻo về sách lược để lãnh đạo dân tộc vượt qua hiểm nguy, giành thắng lợi vẻ vang.
Trong khi truyền bá quan điểm “quốc gia hóa quân đội”, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối và nguyên tắc xây dựng quân đội của Đảng ta, bài xích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thúc đẩy khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của người chỉ huy, hạ thấp vai trò và tiến tới bãi bỏ hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chính ủy (chính trị viên), cơ quan chính trị và chế độ công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội. Có thể nói, quan điểm đòi “quốc gia hóa quân đội” của các thế lực thù địch rất hiểm độc, tập trung công kích thẳng vào một đặc trưng bản chất có ý nghĩa sống còn của quân đội kiểu mới.
Sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng về chiến lược và phải trả ngay những giá rất đắt nếu ngộ nhận về quan điểm “quốc gia hóa quân đội”, mất cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm “phi đảng hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô-viết cho chúng ta bài học rất sâu sắc về vấn đề này. Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, đáng chú ý là khi ông M.Goóc-ba-chốp làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô (1985-1991), những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mắc những sai lầm rất nghiêm trọng về chiến lược, nhất là xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Chỉ trong khoảng hai năm từ 1987-1989, gần 50% cán bộ cơ quan chiến lược của quân đội và khoảng 30% tướng lĩnh bị cho ra quân, trên 100 cán bộ lãnh đạo chính trị cấp chiến dịch-chiến lược bị cách chức với lý do “tư tưởng bảo thủ, yếu kém, không ủng hộ cải tổ”(!). Chính Nguyên soái Sa-pô-xni-cốp trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô, với những toan tính cá nhân cơ hội, thực dụng đã trực tiếp tham gia khởi xướng và thực thi việc “phi đảng hóa” Quân đội Liên Xô. Ngày 23-8-1991, ông ta đã trở cờ, tuyên bố rời bỏ Đảng Cộng sản Liên Xô và tiếp đó buộc mọi quân nhân là đảng viên cộng sản phải trả thẻ đảng. Ngày 29-8-1991, M.Goóc-ba-chốp ra lệnh giải tán các cơ quan chính trị và từ 1-9-1991 chấm dứt mọi hoạt động của Đảng trong Quân đội Liên Xô. Đó là nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô-viết vào cuối năm 1991. Mặc dù lúc đó Quân đội Liên Xô còn 3,9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược, nhưng do bị biến chất về chính trị nên mất sức chiến đấu, không thể bảo vệ được Tổ quốc XHCN.
Từ những bài học sâu sắc được đúc kết trong thực tiễn, trước những diễn biến phức tạp của tình hình và sự phát triển của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN trong thời kỳ mới, với bản lĩnh và trí tuệ được tôi luyện và kiểm nghiệm nghiêm ngặt trong đấu tranh cách mạng, chúng ta không thể chấp nhận quan điểm “quốc gia hóa quân đội”; trái lại càng phải đặc biệt coi trọng giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Đây là một vấn đề chiến lược và mang tính cấp thiết, không chỉ có ý nghĩa quyết định đối với sức mạnh chiến đấu của quân đội, mà còn liên quan trực tiếp đến sự an nguy của đất nước và sự sống còn của chế độ XHCN.

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2019

GIÁO DỤC LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG VĂN HÓA CHO THẾ HỆ TRẺ THEO DI CHÚC CỦA BÁC



Công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh thiếu nhi có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng, củng cố tình cảm, niềm tin, bản lĩnh chính trị, qua đó xây dựng thế hệ trẻ có hoài bão, lý tưởng, khát vọng và trách nhiệm để xứng đáng làm chủ nước nhà theo Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong Di chúc, ngay sau phần nói về Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Người nhấn mạnh: Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa "hồng" vừa "chuyên". Vì vậy, công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh thiếu nhi có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng, củng cố tình cảm, niềm tin, bản lĩnh chính trị, qua đó xây dựng thế hệ trẻ có hoài bão, lý tưởng, khát vọng và trách nhiệm để xứng đáng làm chủ nước nhà theo Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thực hiện lời di huấn của Người, Đảng ta luôn đánh giá cao vai trò, vị trí của thanh niên trong các giai đoạn của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng luôn đặt niềm tin vững chắc vào thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới đất nước. Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; chú trọng chỉ đạo xây dựng tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động, xứng đáng là cánh tay đắc lực và đội hậu bị tin cậy của Đảng.
50 năm qua, các lớp thế hệ thanh niên luôn là lực lượng xung kích trên tất cả các mặt trận quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá…đất nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và các thế hệ thanh niên Việt Nam tiếp tục một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ, anh dũng chiến đấu, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; làm nên chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", phong trào “Ba sẵn sàng” ở miền Bắc và “Năm xung phong” ở miền Nam là những minh chứng hào hùng về lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng, lòng kiên trung và ý chí quyết tâm của thanh niên Việt Nam.
Ngay sau ngày toàn thắng, non sông thống nhất, đất nước bước vào công cuộc tái thiết. Đoàn viên, thanh niên cả nước đã bắt tay vào những nhiệm vụ mới, quyết tâm biến chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong kháng chiến thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khẩu hiệu “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” tiếp tục là ngọn đuốc soi đường cho thanh niên. Với tinh thần “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”, các bạn trẻ đã tình nguyện đi xây dựng kinh tế mới, thi đua lao động vượt mức kế hoạch, thi đua tiết kiệm, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, thi đua quyết thắng, thi đua học tập và xây dựng tập thể học sinh xã hội chủ nghĩa, cùng với cả nước vượt qua khủng khoảng kinh tế xã hội, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới…. Dấu ấn của thanh niên đã được ghi lại trên công trình thanh niên cộng sản thủy điện Hòa Bình và biết bao công trình thanh niên khác ở khắp mọi miền đất nước.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đoàn Thanh niên đã phát động nhiều phong trào để giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống cho thanh thiếu nhi, điển hình như “Thanh niên lập nghiệp, tuổi trẻ giữ nước”, “Tiến quân và khoa học kỹ thuật”, “Thanh niên tình nguyện”... Và hôm nay, đoàn viên thanh niên cả nước đang hăng hái thi đua, thực hiện hai phong trào hành động cách mạng: “xung kích, tình nguyện phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ Tổ quốc” và “đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”. Nhiều chương trình tham gia phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh được triển khai, phát huy hiệu quả to lớn như xóa cầu khỉ; xây dựng cầu giao thông nông thôn, miền núi; xây dựng làng thanh niên lập nghiệp, đảo thanh niên; triển khai các dự án đưa trí thức trẻ tình nguyện về nông thôn, miền núi. Phong trào “tuổi trẻ chung tay xây dựng nông thôn mới”, “thanh niên tham gia xây dựng văn minh đô thị” được triển khai rộng khắp, có hiệu quả, được cấp ủy, chính quyền và nhân dân ghi nhận.
Thực tiễn công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân có cách làm sáng tạo, thường xuyên và liên tục, trong đó nổi bật là sự chủ động đầu tư lựa chọn nội dung phù hợp với đặc thù của địa phương, đơn vị, sự sáng tạo trong việc đề ra giải pháp phù hợp với yêu cầu của việc học tập Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị.
“Học tập và làm theo lời Bác” đi vào chiều sâu, lan tỏa đến từng đoàn viên, thanh thiếu nhi, các cấp bộ Đoàn trong cả nước đã định hướng các hoạt động với nhiều hình thức đa dạng phù hợp với từng đối tượng, trong đó: Đối với đội viên, thiếu nhi, tập trung vào các hoạt động giáo dục truyền thống lịch sử, đạo đức lối sống, định hướng giá trị học tập tốt, rèn luyện tốt. Tập trung các giải pháp sáng tạo thực hiện phong trào “Thiếu nhi Việt Nam làm theo 5 điều Bác Hồ dạy” gắn với chương trình hoạt động Đội; tổ chức các hoạt động vì đàn em, ngày cùng hành động “Vì đàn em thân yêu”; Đại hội “Cháu ngoan Bác Hồ”, Liên hoan “Thiếu nhi làm nghìn việc tốt”, Ngày hội “Thiếu nhi vui khỏe, tiến bước lên Đoàn”, Hội thi “Em yêu Tổ quốc Việt Nam”... Đối với đoàn viên, thanh niên khu vực trường học: Học sinh các trường trung học phổ thông, trung tâm Giáo dục thường xuyên, trường dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp học tập về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với giáo dục công dân, đạo đức nghề nghiệp, thực hiện tốt phong trào “Khi tôi 18”, danh hiệu “Học sinh 3 tốt”, “Học sinh 3 rèn luyện”. Đối với sinh viên các học viện, các trường đại học, cao đẳng tích cực học tập, nghiên cứu khoa học, phát huy khả năng tìm tòi, tính sáng tạo gắn với chuyên ngành học tập; đổi mới phương pháp học tập, trung thực trong thi cử; thực hiện có hiệu quả phong trào “Sinh viên 5 tốt”. Giảng viên, giáo viên trẻ thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Nhà giáo trẻ tiêu biểu”, nâng cao chất lượng giảng dạy, tự nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực nghiên cứu khoa học. Đối với đoàn viên, thanh niên khu vực công nhân lao động: Thanh niên công nhân sản xuất trực tiếp thực hiện phong trào “4 nhất”, phát huy vai trò xung kích trong lao động sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, nâng cao tinh thần trách nhiệm cùng với doanh nghiệp giải quyết những vấn đề khó khăn tại đơn vị. Cán bộ, công chức, viên chức: thực hiện phong trào “3 trách nhiệm” gắn với việc hoàn thành tốt mục tiêu nhiệm vụ, tích cực tham gia cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí, nêu cao ý thức trách nhiệm hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Y, bác sĩ trẻ thực hiện cuộc vận động “Thầy thuốc trẻ tiêu biểu” gắn với rèn luyện y đức, y nghiệp, tham gia tích cực các hoạt động xã hội. Đối với đoàn viên, thanh niên khu vực địa bàn dân cư: Xung kích xây dựng văn minh đô thị, nông thôn mới, góp phần giảm nghèo bền vững, đẩy mạnh phong trào xây dựng khu phố, ấp “An toàn - Sạch đẹp - Văn minh - Nghĩa tình” gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, vận động thanh niên thực hiện tốt Luật Nghĩa vụ quân sự, tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội trong thanh thiếu niên, triển khai thực hiện hiệu quả chương trình “Đoàn tham gia xây dựng nông thôn mới”. Đối với đoàn viên, thanh niên khu vực lực lượng vũ trang: Phát huy vai trò nòng cốt trong tham gia bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội thông qua phong trào “Thi đua học tập và thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy Công an Nhân dân”; phong trào “Thanh niên Lực lượng vũ trang xung kích, sáng tạo, vươn tới những đỉnh cao”.
Nhìn lại 50 năm thực hiện Di chúc của Người về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, có thể thấy ràng, việc chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thanh niên thành lớp người vừa “hồng”, vừa “chuyên” là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quan trọng của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, gia đình, nhà trường và xã hội. Trách nhiệm ấy phải được cụ thể hóa thành những chủ trương, chính sách, giải pháp cụ thể, phù hợp và phải được thực hiện thường xuyên, kiên trì.
Trong thời gian tới, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xác định một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm nhằm tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ theo Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ thể như sau:
Thứ nhất, coi trọng công tác giáo dục lý tưởng cách mạng thông qua tuyên truyền, giáo dục, học tập, nghiên cứu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng vào thực tiễn công tác và đời sống thanh niên. Đổi mới cách thức tuyên truyền, học tập, triển khai các Nghị quyết của Đảng, của Đoàn trong đoàn viên, thanh niên như: học tập trực tuyến, thi trắc nghiệm, thi tự luận trên Internet, xây dựng phim ngắn, bản đồ tư duy tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết... Tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị trong đoàn viên, thanh niên gắn với các dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện quan trọng của đất nước bằng nhiều hình thức phong phú như: diễn đàn, tọa đàm, ngày hội thanh niên, liên hoan tuyên truyền ca khúc cách mạng, xem phim lịch sử, triển lãm... để bồi đắp lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, khát vọng vươn lên cho thế hệ trẻ. Định kỳ tổ chức và mở rộng đối tượng tham gia Hội thi Olympic các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh các cấp và Hội thi cấp toàn quốc mang tên “Ánh sáng soi đường”, nhân rộng các hình thức thi, tìm hiểu trên mạng internet. Kiên trì tổ chức học tập 6 bài học lý luận chính trị trong đoàn viên.
Thứ hai, thường xuyên và đa dạng hóa các hoạt động tuyên truyền, giáo dục thanh thiếu nhi về truyền thống vẻ vang của Đảng, của Đoàn, giáo dục truyền thống cách mạng, lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc cho thanh thiếu nhi; chú trọng giáo dục thanh niên qua nêu gương điển hình tiên tiến, người tốt, việc tốt. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đây là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, liên tục trong công tác giáo dục của Đoàn, trong đó đề cao trách nhiệm nêu gương, tự giác học trước, làm theo trước của cán bộ đoàn chủ chốt các cấp, nêu cao tinh thần tiên phong, gương mẫu rèn luyện tác phong và thực hiện lề lối công tác; xây dựng và triển khai các giá trị tiêu chí, chuẩn mực trong hành vi, lối sống, ứng xử của thanh thiếu nhi trên nền các giá trị cốt lõi của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Xây dựng tủ sách, chuyên trang online “Bác Hồ với thanh thiếu nhi”. Tiếp tục triển khai sâu rộng Chương trình “Thắp sáng ước mơ tuổi trẻ Việt Nam”, tổ chức tuyên dương thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác các cấp, tuyên dương thanh niên tiêu biểu trên các lĩnh vực: Sinh viên 5 tốt, Người thợ trẻ giỏi, Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu, cán bộ đoàn giỏi, thanh niên nông thôn làm kinh tế giỏi... Thường xuyên tổ chức các hoạt động về nguồn, đến với địa danh lịch sử, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc, tôn tạo và phát huy giá trị các khu di tích lịch sử, di tích văn hóa để giáo dục truyền thống cho thanh thiếu nhi. Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền ca khúc cách mạng; định kỳ 2 năm tổ chức Liên hoan tuyên truyền ca khúc cách mạng với chủ đề “Giai điệu Tổ quốc”. Tiếp tục tổ chức thắp nến tri ân các anh hùng liệt sỹ. Tăng cường tổ chức các cuộc thi tìm hiểu lịch sử Việt Nam như “Tự hào Việt Nam”, “Nhà sử học nhỏ tuổi”.
Thứ ba, chú trọng giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức cảnh giác cách mạng cho đoàn viên, thanh niên; tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Chủ động cung cấp thông tin, trang bị kiến thức, phương pháp, kỹ năng để thanh niên tự phòng ngừa, tự sàng lọc, tự đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, chống phá. Ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, tăng sức đề kháng cho thanh niên trước sự chống phá của các thế lực thù địch; tham gia bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ an ninh tư tưởng, an ninh văn hóa trên không gian mạng, nhất là mạng xã hội. Thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội và định hướng dư luận trong thanh niên thông qua mạng lưới thăm dò dư luận, đối thoại trực tiếp, ứng dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội. Xây dựng cơ chế cung cấp thông tin thường xuyên, kịp thời để mỗi đoàn viên trong tổ chức đều là người có thể truyền tải thông điệp giáo dục thanh thiếu nhi. Thường xuyên cập nhật kiến thức mới, bồi dưỡng, đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên của Đoàn. Tăng cường phối hợp với các cấp, các ngành tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, đấu tranh, phê phán, uốn nắn nhận thức lệch lạc, biểu hiện sai trái trong cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu nhi.
Thứ tư, tiếp tục tận dụng ưu thế của các công cụ, phương tiện truyền thông hiện đại, mạng xã hội, hệ thống báo chí, xuất bản của Đoàn trong giáo dục thanh thiếu nhi. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, tập hợp, kết nối, giáo dục và định hướng thanh niên qua các phương tiện truyền thông hiện đại, mạng xã hội được xác định là giải pháp quan trọng trong đổi mới phương thức giáo dục của Đoàn, trong đó chú trọng tuyên truyền yếu tố tích cực, người tốt, việc tốt, hành động đẹp trên mạng xã hội. Xây dựng các bộ công cụ tuyên truyền, các sản phẩm truyền thông trên Internet, các ứng dụng trên mạng xã hội và các thiết bị di động thông minh có nội dung tuyên truyền, giáo dục lý tưởng cách mạng theo hướng trẻ trung, sinh động, phù hợp với thị hiếu của thanh thiếu nhi. Tổ chức một số cuộc thi qua mạng xã hội.
Thứ năm, coi trọng giáo dục bằng hành động, qua thực tiễn phong trào. Trong thời gian tới, các cấp bộ đoàn phát huy thanh niên xung kích trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị và tập trung triển khai 3 phong trào hành động cách mạng: “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc” trong từng nhóm đối tượng, tiếp tục duy trì các phong trào đặc thù. Toàn Đoàn triển khai 3 chương trình đồng hành với thanh niên: “Đồng hành với thanh niên trong học tập”; “Đồng hành với thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp”; “Đồng hành với thanh niên rèn luyện và phát triển kỹ năng trong cuộc sống, nâng cao thể chất, đời sống văn hóa tinh thần”, góp phần phát triển thanh niên toàn diện, khẳng định vai trò của Đoàn trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của thanh niên. Thu hút, tập hợp, giáo dục thanh niên qua phong trào góp phần phát huy tính tích cực chính trị - xã hội của thanh niên, tạo môi trường thực tiễn rộng lớn, phong phú để giáo dục, rèn luyện, phát huy thanh niên.
Thứ sáu, chăm lo củng cố xây dựng tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thực sự vững mạnh về tư tưởng chính trị, tổ chức và hành động, xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, coi trọng công tác cán bộ đoàn, đào tạo đội ngũ kế cận của Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn tiên phong, bản lĩnh, có tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, năng động và sáng tạo, không suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chú trọng nâng cao chất lượng đoàn viên, nhất là chất lượng tư tưởng chính trị và tính tiên phong, bản lĩnh của thanh niên. Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng cho đoàn viên, thanh niên về Đảng; tổ chức cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên tích cực đấu tranh bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, phòng chống tham nhũng, lãng phí, góp ý đảng viên, phòng chống suy thoái về đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với hình thức phù hợp, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng. Tiếp tục triển khai các giải pháp thực hiện cuộc vận động “Đoàn viên phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam”, Đoàn trực tiếp rèn luyện đảng viên trẻ, cung cấp cán bộ trẻ cho Đảng.
Thứ bảy, thường xuyên làm tốt công tác tham mưu với các cấp ủy đảng, chính quyền thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030”; Quyết định số 1501-QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng, giai đoạn 2015 - 2020”. Từ đó phát huy vai trò trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị đối với việc giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên. Tham mưu cho người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền các cấp, đại biểu Quốc hội định kỳ gặp gỡ, đối thoại với các đối tượng thanh niên; tham dự các hoạt động của thanh niên, qua đó nắm bắt tình hình, giải quyết các tâm tư, kiến nghị, nguyện vọng của thanh niên một cách kịp thời, tạo niềm tin, động viên, cổ vũ, xây dựng ý thức trách nhiệm trong thanh niên đối với các vấn đề chính trị xã hội.
Thứ tám, chủ động mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế; chú trọng phát triển quan hệ đi vào chiều sâu, thiết thực; không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quốc tế của Đoàn; đẩy mạnh việc nâng cao nhận thức, hỗ trợ trang bị kiến thức, kỹ năng để đoàn viên, thanh niên chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Ưu tiên phát triển hợp tác thanh niên với các nước láng giềng, ASEAN, các nước có vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước, các tổ chức, cơ chế hợp tác đa phương mà Việt Nam là thành viên. Thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực: phát triển thanh niên (đào tạo lãnh đạo trẻ, công dân tích cực, công dân toàn cầu); môi trường và phát triển bền vững; tình nguyện vì cộng đồng; khởi nghiệp sáng tạo; phát triển doanh nghiệp xã hội. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về tình hình quốc tế, các vấn đề quốc tế, toàn cầu cho đoàn viên, thanh niên.

QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN, BÁO CHÍ, TIẾP CẬN THÔNG TIN VỚI NGHĨA VỤ CÔNG DÂN



Pháp luật Việt Nam đã tương thích với luật quốc tế về quyền con người; tôn trọng và bảo đảm quyền con người nói chung, quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin nói riêng. Quyền và nghĩa vụ công dân trong thực hiện quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin không chỉ thống nhất, mà còn là điều kiện, tiền đề cho nhau. Công dân muốn được hưởng đầy đủ các quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin thì phải có nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ xã hội, Nhà nước, các quyền và lợi ích của người khác
1. Mối quan hệ giữa quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin với nghĩa vụ công dân. Trong tất cả các văn kiện pháp luật của quốc tế và Việt Nam, khái niệm “quyền” luôn bao gồm: quyền và nghĩa vụ. Trong đó, tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản được ghi nhận trong bản Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (1948) và được thể chế trong “Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị” (1966) đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người hưởng thụ quyền tự do ngôn luận, báo chí. Theo đó, người dân có quyền tự do ngôn luận, quyền được sử dụng các phương tiện báo chí, thông tin, mạng internet, các trang mạng xã hội không trái với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, người sử dụng quyền này có nghĩa vụphải tuân thủ quy định của pháp luật và chấp nhận những hạn chế quyền. Việc thực hiện những quyền này phải kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt và việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội.
Ở Việt Nam, “quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”1 đã được quy định trong Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) và được cụ thể hóa trong nhiều đạo luật, nghị định, như: Luật Báo chí (2016), Luật Tiếp cận thông tin (2016), Nghị định 72/2013/NĐ-CP, ngày 15-07-2013 của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng,… và thực thi nghiêm túc, tạo không khí dân chủ trong xã hội2. Điều đó khẳng định và thể chế hóa quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền sáng tạo tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí, v.v. Quyền tiếp cận thông tin của công dân được quy định rộng rãi hơn; đó không chỉ là một quyền thụ động do cơ quan nhà nước công khai thông tin theo nhận thức của mình, mà còn là quyền chủ động, được đòi hỏi các cơ quan, tổ chức nhà nước đáp ứng. Trên không gian mạng, Nhà nước ta đã có những quy định về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin. Theo đó, công dân có quyền được sử dụng các dịch vụ trên internet, trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật và có nghĩa vụ tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin; phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng xã hội, v.v.
Tuy nhiên, cũng như các quyền khác của con người, việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin phải do pháp luật quy định và trong khuôn khổ pháp luật; quy định rõ mối quan hệ giữa quyềnvới nghĩa vụ công dân; “không được xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”3. Vì thế, việc hạn chế các quyền này “theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”4 là một tất yếu. Những hành vi đăng, phát thông tin xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân,... đều bị pháp luật xử lý. Đi liền với quyền tiếp cận thông tin là những quy định về phân loại những thông tin mà người dân được tiếp cận và những thông tin cơ quan, tổ chức không được phép cung cấp. Như vậy, “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”5; “nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt” hoặc “một số hạn chế nhất định” theo quy định của pháp luật Việt Nam hoàn toàn tương thích, phù hợp với luật quốc tế về quyền con người.
Hiện nay, quyền tự do ngôn luận, báo chí ở Việt Nam không những được bảo đảm tốt mà còn là nhân tố tích cực trong cuộc đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong xã hội. Nhiều vụ tham nhũng lớn được báo chí phanh phui, trước khi cơ quan chức năng phát hiện, như: vụ án Trịnh Xuân Thanh bắt nguồn từ bài báo “Xe tư gắn biển xanh” là một minh chứng. Những năm gần đây, các tổ chức đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc tham gia tích cực việc giám sát, phản biện đối với chính sách của Nhà nước. “Quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới”, tham gia phản biện, giám sát của cá nhân, tổ chức được Đảng, Nhà nước ta tôn trọng, khuyến khích. Tuy nhiên, vấn đề là phản biện ở đâu và động cơ phản biện như thế nào để đảm bảo tính khách quan; tránh hiện tượng “bôi đen” xã hội, bị kẻ xấu lợi dụng gây tổn hại cho người dân, xã hội và đất nước.
2. Kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, báo chí. Những năm gần đây, xuất hiện cái gọi là “đấu tranh bất bạo động”, “bất tuân dân sự”, “hội chứng đám đông” của một số “người bất đồng chính kiến”, v.v. Những hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam của những “người bất đồng chính kiến” được các hãng thông tấn, báo chí phương Tây “tăng âm”, phát tán với các bình luận bao che, cổ súy cho các hành vi phạm tội của họ với luận điệu lặp đi, lặp lại rằng: Việt Nam đang “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận, báo chí, internet”; “vi phạm quyền con người”, v.v. Điều này hoàn toàn phi lý và ngang ngược. Vì, pháp luật Việt Nam không có quy định về cái mà báo chí phương Tây gọi là những “người bất đồng chính kiến”. Do đó, cũng không có quy định pháp luật nào về tội danh đối với “người bất đồng chính kiến”; không có quy định nào về những ý kiến “bất đồng” hay ý kiến khác với Nhà nước là hành vi phạm tội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, một số người lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự chụp cho mình cái mác “người bất đồng chính kiến” để viết, phát tán những nội dung xuyên tạc sự thật, chống phá chế độ xã hội, Nhà nước trên mạng internet, v.v. Điển hình là: Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điển, Trần Hoàng Phúc, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,… và họ đã nhận những bản án thích đáng về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 88, Bộ luật Hình sự (1999). Đó là minh chứng cho cái giá phải trả của việc lợi dụng tự do ngôn luận, báo chí để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam. Trước Tòa, họ biện luận rằng: họ chỉ là những “người bất đồng chính kiến”, đấu tranh hợp pháp, bằng “bất bạo động” và điều này hoàn toàn không vi phạm pháp luật(!) Thực tế chứng minh điều ngược lại. Những người này đã đăng tải nhiều video/clip trên internet, phỉ báng chính quyền, phao tin bịa đặt, xuyên tạc sự thật; lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trong xã hội. Nói cách khác, những “người bất đồng chính kiến” bị pháp luật xử lý là vì hành vi vi phạm pháp luật của chính họ.
Thực tế trên thế giới còn cho thấy, những vụ bạo động lật đổ chế độ thường diễn ra theo chuỗi: bắt đầu bằng đấu tranh “bất bạo động”, “bất tuân dân sự”, phát triển thành gây rối về an ninh trật tự dựa trên “hội chứng đám đông” và cuối cùng là gây bạo loạn lật đổ chính quyền từ cục bộ đến cả nước. Không loại trừ những kẻ cầm đầu kêu gọi lực lượng nước ngoài can thiệp. Đây là “kịch bản kinh điển” của những hoạt động lật đổ chế độ ở một số quốc gia trên thế giới trong những thập niên gần đây.
Ở nước ta, quyền tự do ngôn luận, nhất là quyền sử dụng mạng internet đã và đang bị các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng triệt để để vu cáo, bội nhọ vai trò lãnh đạo cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá chế độ xã hội và Nhà nước ta. Những luận điệu cho rằng: “Chế độ Hà Nội là độc tài toàn trị”, Đảng Cộng sản Việt Nam “chiếm quyền” của dân, “đứng trên pháp luật”,… là một sự vu khống trắng trợn, hoàn toàn sai trái cả về thực tế và lý luận. Cũng như pháp luật của tất cả các quốc gia trên thế giới và pháp luật nói chung, pháp luật về quyền tự do ngôn luận nói riêng luôn luôn có mục tiêu bảo vệ chế độ xã hội. Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị ghi rõ: mọi dân tộc đều có quyền tự quyết; xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa. Quy định này đã mặc nhiên thừa nhận các dân tộc có quyền tự quyết lựa chọn chế độ chính trị; quyền và nghĩa vụ công dân đều do pháp luật của mỗi quốc gia quy định. Hơn nữa, pháp luật luôn mang tính chính trị, lịch sử và đặc thù về văn hóa. Ở nước ta, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Hiến định tại Điều 4, Hiến pháp (2013) và được Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân ta, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ghi nhận. Đảng ta không chỉ là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội mà còn có chức năng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Về thể chế chính trị của nước ta, Điều 2, Hiến pháp (2013), quy định: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”6. Những thông tin, luận điệu cổ súy “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, lấy mô hình “tam quyền phận lập” phương Tây làm đối chứng để bác bỏ thể chế của Nhà nước ta không chỉ là một thủ đoạn bôi nhọ chế độ ta, mà còn ấu trĩ trong nhận thức về sự đa dạng các mô hình xã hội trên thế giới hiện nay.
Như vậy, cả về lý luận, pháp lý và thực tế cho thấy: pháp luật Việt Nam đã tương thích với luật quốc tế về quyền con người; tôn trọng và bảo đảm quyền con người nói chung, quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin nói riêng. Quyền và nghĩa vụ công dân trong thực hiện quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin không chỉ thống nhất, mà còn là điều kiện, tiền đề cho nhau. Công dân muốn được hưởng đầy đủ các quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin thì phải có nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ xã hội, Nhà nước, các quyền và lợi ích của người khác. Ngược lại, các quyền này có thể bị hạn chế hoặc tước bỏ nếu có hành vi vi phạm pháp luật.

1 - Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb CTQG, H. 2014, tr. 18.
2 - Tính đến tháng 6-2017, cả nước có 982 cơ quan báo, tạp chí được cấp phép hoạt động; trong đó: 193 báo in, 639 tạp chí, 150 báo điện tử. Số lượng người truy cập internet ước khoảng 64 triệu; Việt Nam đứng thứ 16 trong 20 quốc gia có số lượng người truy cập internet nhiều nhất châu Á.
3 - Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb CTQG, H. 2014, tr. 15.
4, 5, 6 - Sđd, tr. 14, 15, 8-9.

http://tuyengiao.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/quyen-tu-do-ngon-luan-bao-chi-tiep-can-thong-tin-voi-nghia-vu-cong-dan-112795

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG QUÂN ĐỘI



Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, những năm qua, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, nhiệm vụ này càng phải được coi trọng, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, hiệu quả.
Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và rèn luyện, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động. Chính vì vậy, hơn 70 năm qua, Quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thể hiện rõ bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, xứng đáng là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là học thuyết khoa học và cách mạng, vũ khí sắc bén của giai cấp công nhân và nhân loại để đấu tranh chống giai cấp bóc lột, giải phóng mình, thực hiện sứ mệnh lịch sử là đánh đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, mang lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân lao động. Vì vậy, từ khi ra đời, chủ nghĩa Mác - Lê-nin luôn bị chủ nghĩa đế quốc, các phần tử phản động ra sức chống phá, phủ nhận. Đối với nước ta, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị lợi dụng những hạn chế trong quản lý, điều hành đất nước, cùng các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên, tăng cường chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng bằng nhiều hình thức, thủ đoạn ngày càng trắng trợn, tinh vi, thâm độc hơn, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Họ rêu rao rằng, chủ nghĩa Mác – Lê-nin chỉ có giá trị ở cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đến nay không còn phù hợp nữa; sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu là minh chứng cho sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, v.v. Từ đó, họ ngụy biện rằng chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, với mục đích đối lập chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là một luận điệu rất nguy hiểm, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, v.v.
Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, sự chống phá của các thế lực phản động, thù địch cũng không nằm ngoài sự chống phá của chúng đối với cách mạng Việt Nam, nhằm thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội, tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Để thực hiện được mục tiêu đó, các thế lực thù địch tập trung tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, Cương lĩnh của Đảng,… làm cho cán bộ, chiến sĩ từng bước phai nhạt, dẫn đến xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; thiếu niềm tin, phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, v.v. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội đang là yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi các cấp, các ngành, tổ chức, lực lượng phải quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.
Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp, cả về tổ chức, lực lượng, nội dung, hình thức, phương tiện để nâng cao hiệu quả đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Trong đó, công tác giáo dục chính trị được đặt lên hàng đầu, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị, quân sự, quốc phòng của Đảng; những kiến thức cơ bản về văn hóa - xã hội, nhiệm vụ của Quân đội, đơn vị. Đồng thời, nhận diện rõ các quan điểm sai trái, âm mưu, thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng của các thế lực thù địch; luận giải, làm rõ những giá trị bền vững, tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu lý tưởng: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Các cơ quan, đơn vị tổ chức được nhiều hoạt động, thu hút được đông đảo lực lượng tham gia đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực phản động, thù địch. Nhiều webside, blog của tổ chức, cá nhân phục vụ tốt cho công tác thông tin, tuyên truyền, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch. Báo chí Quân đội đã tích cực mở các chuyên trang, chuyên mục, với nhiều bài viết sắc sảo, tính chiến đấu cao, có cơ sở lý luận và thực tiễn thuyết phục, được dư luận đồng tình, ủng hộ. Quán triệt, thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị (khóa XII), Chỉ thị 87-CT/QUTW, ngày 08-7-2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc với nhiều cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả. Các cơ quan thông tấn, báo chí Quân đội mở chuyên trang, chuyên mục riêng về nội dung này, với nhiều bài viết chuyên sâu về tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Đặc biệt, chuyên mục “Lời Bác Hồ dạy ngày này năm xưa” đã góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong Quân đội và xã hội, v.v. Công tác thông tin tuyên truyền, văn hóa - văn nghệ có nhiều đổi mới, giữ vững định hướng, bám sát và phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị của đất nước, Quân đội, đáp ứng ngày càng tốt hơn đời sống văn hóa, tinh thần của bộ đội. Qua đó, góp phần bồi đắp lý tưởng cách mạng, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; ngăn chặn, hạn chế sự tác động của quan điểm sai trái, thông tin xấu độc đến bộ đội, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.
Thời gian tới, các thế lực phản động, thù địch, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước tiếp tục triệt để tận dụng mạng xã hội, internet để tán phát tài liệu chống phá quyết liệt nền tảng tư tưởng, đường lối, Cương lĩnh, nhân sự của Đảng; nói xấu lãnh tụ, cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội; thổi phồng những hạn chế, tồn tại trong phát triển kinh tế, quản lý xã hội, tiêu cực; lợi dụng những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và những vấn đề liên quan đến bảo vệ chủ quyền lãnh thổ để công kích Đảng, chế độ, v.v. Qua đó, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội, nhằm từng bước chuyển hóa bản chất cách mạng của Quân đội ta. Do vậy, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần quán triệt, triển khai hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về nhiệm vụ này1; tập trung thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Một lànâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, làm cho cán bộ, đảng viên và bộ đội nhận thức sâu sắc những nguyên lý cơ bản, giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội; bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tình đoàn kết quân dân; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Các cơ quan, đơn vị cần quán triệt, triển khai nghiêm Chỉ thị 23-CT/TW, ngày 09-02-2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”. Theo đó, đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo, tiếp tục nghiên cứu đổi mới chương trình, nội dung giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Trước hết là, đổi mới hệ thống chương trình, giáo trình, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên các môn khoa học xã hội và nhân văn, bảo đảm đội ngũ này thực sự kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có phương pháp giảng dạy hiện đại; gắn lý luận với thực tiễn, cập nhật kiến thức mới, khắc phục sự trùng lắp, khép kín, thiếu liên thông giữa các chương trình, các cấp học, bậc học. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị ở đơn vị cơ sở trong tình hình mới”; duy trì nghiêm chương trình, kế hoạch giáo dục chính trị hằng năm của các đối tượng, các chế độ đọc báo, nghe đài, xem thời sự, Ngày Đảng, Ngày Chính trị và văn hóa tinh thần, v.v. Phát huy vai trò của các nhà khoa học, các cơ quan, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục, đào tạo, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, góp phần làm sáng tỏ, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đồng thời, làm cơ sở khoa học đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái, luận điệu tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch.
Hai làgắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính trong công tác tư tưởng, lý luận, tạo ra sức đề kháng trước những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch. Các cơ quan, đơn vị chủ động tuyên truyền nhân rộng gương “người tốt, việc tốt”, các điển hình tiên tiến về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; lấy tuyên truyền về những thành tựu kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống cho nhân dân làm chủ đạo, đảm bảo tính khách quan, toàn diện cả những mặt tích cực và những mặt còn hạn chế trong xã hội. Đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực phải trên tinh thần xây dựng, lấy “xây” làm chính và lấy “xây” để “chống”, lấy mặt tích cực đẩy lùi tiêu cực. Trong tuyên truyền cần chỉ rõ sự đổ vỡ của nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu là do đảng cộng sản của những nước đó đã vận dụng học thuyết Mác – Lê-nin một cách cứng nhắc, giáo điều, duy ý chí nên dẫn đến sai lầm, chứ không phải do chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã lỗi thời, lạc hậu. Đặc biệt, trước những khó khăn, khủng hoảng kinh tế thế giới gần đây, thì chủ nghĩa Mác, nhất là học thuyết kinh tế của C. Mác được nhiều quốc gia nghiên cứu, vận dụng; khẳng định, tư tưởng của C. Mác vẫn còn nguyên giá trị và sức sống bền vững trong thế kỷ XXI.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” gắn với thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị (khóa XII), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kết hợp chặt chẽ phong trào “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong Quân đội” với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, v.v. Từ đó, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, lòng tin với Đảng, với chế độ và các giá trị chân, thiện, mỹ, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ luôn hướng tới cái đúng, cái đẹp, đẩy lùi cái sai trái, cái xấu; giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Nhiệm vụ quan trọng hiện nay là, kiên quyết đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực phản động, thù địch; chủ động khắc phục, ngăn ngừa những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, không để lộ, lọt thông tin, các ấn phẩm xấu độc xâm nhập vào đơn vị, bảo đảm cho Quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Ba làđa dạng hóa hình thức thông tin tuyên truyền, tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trước hết, các cơ quan báo chí, xuất bản, nhất là các báo, tạp chí điện tử, trang điện tử tổng hợp phải tích cực, chủ động đi trước trong cuộc đấu tranh này. Bám sát các sự kiện, nắm bắt thủ đoạn chống phá của các thế lực địch để có bài viết cung cấp thông tin chính xác, định hướng dư luận. Tăng cường xây dựng chuyên trang, chuyên mục, chương trình, thời lượng đăng tải các tin, bài đấu tranh phản bác, vạch rõ tính chất phản động, phản khoa học của những quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc, nhằm chia rẽ Đảng, Nhà nước và nhân dân với Quân đội của các thế lực thù địch. Các đơn vị văn học, nghệ thuật tập trung xây dựng, tuyên truyền những hình mẫu lý tưởng cách mạng, nhân văn, ca ngợi, xây đắp những chuẩn mực, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, cổ vũ cho xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc,… làm cho những phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng tỏa sáng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đồng thời, phát huy vai trò đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền miệng, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, chính thống tới mọi cán bộ, chiến sĩ; hình thành các trang web cá nhân của lực lượng nòng cốt, mở rộng, phát triển các bloger để phối hợp đấu tranh trực diện với luận điệu tuyên truyền sai trái trên không gian mạng. Nghiên cứu, ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin để cải tiến, nâng cao hiệu quả đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa; chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật để chặn lọc thông tin mạng, không để các thế lực thù địch lợi dụng internet chống phá.
Bốn làtăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng gắn với đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Nhiệm vụ này phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, quản lý, điều hành trực tiếp của bí thư cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp. Để đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo trong toàn quân, Quân ủy Trung ương đã ban hành Chỉ thị 823-CT/QUTW, ngày 10-9-2017 về “Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong Quân đội”. Trên cơ sở đó, đồng thời bám sát sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 94 Quân ủy Trung ương, hướng dẫn của cơ quan chức năng thuộc Tổng cục Chính trị, cấp ủy các cấp đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh sát, đúng, hiệu quả. Cơ quan chính trị các cấp nêu cao tinh thần trách nhiệm trong tham mưu, hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thực hiện; chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch, vận dụng sáng tạo các hình thức, phương pháp trong đấu tranh tư tưởng, tránh hình thức, đơn giản; phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, thu hút đông đảo các đối tượng tham gia; chấp hành nghiêm quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí; quy chế sử dụng internet, thông tin tuyên truyền, v.v.
Năm làthường xuyên coi trọng xây dựng lực lượng nòng cốt; bảo đảm tốt phương tiện kỹ thuật, công nghệ cho công tác thông tin tuyên truyền, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thời gian qua, việc tổ chức, hoạt động của lực lượng nòng cốt trong đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận được các đơn vị, nhất là ở các nhà trường, cơ quan báo chí quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, bước đầu đạt hiệu quả tốt. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, các đơn vị tập trung xây dựng, bồi dưỡng, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động của lực lượng này. Đó là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ lý luận cao, khả năng diễn đạt, luận chiến thuyết phục, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Chú trọng nâng tầm lý luận sắc sảo, kinh nghiệm tổ chức lực lượng,... cho đội ngũ những nhà khoa học, cán bộ chủ trì, chủ chốt ở các viện nghiên cứu, các học viện, nhà trường, các cơ quan, đơn vị, đội ngũ phóng viên, biên tập viên của các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản. Đồng thời, quan tâm đầu tư, trang bị phương tiện kỹ thuật, công nghệ đấu tranh trên không gian mạng, bảo đảm kinh phí, chế độ chính sách phù hợp đối với lực lượng này, v.v.
Đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội là cuộc chiến đấu lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, các cấp, các ngành, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội.
1 - Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X), ngày 01-8-2007 “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”; Chỉ thị 34-CT/TW, ngày 17-4-2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) “Về tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa”; Chỉ thị 20-CT/TW, ngày 18-01-2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XII) về tiếp tục tăng cường, nâng cao chất lượng nghiên cứu, biên soạn, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng, v.v.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...