Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2019

CHÍNH SÁCH ĐỒNG MINH TRONG CHIẾN LƯỢC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG CỦA MỸ VÀ NHỮNG ĐIỀU CHỈNH HIỆN NAY



Trong hơn một thập niên trở lại đây, khu vực châu Á - Thái Bình Dương luôn nằm trong ưu tiên chiến lược của Mỹ. Để thực hiện chiến lược châu Á  - Thái Bình Dương, một trong những chính sách đối ngoại hữu hiệu hỗ trợ Mỹ là củng cố, tăng cường quan hệ vốn có với các nước đồng minh về an ninh, quân sự - điểm tựa vững chắc của Mỹ ở khu vực. Và việc điều chỉnh chính sách đồng minh ở mỗi giai đoạn có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, duy trì vai trò, ảnh hưởng của Mỹ trước những biến động phức tạp, khó lường của khu vực.
Điểm tựa vững chắc cho chiến lược “tái cân bằng” châu Á - Thái Bình Dương
Ngày 17-11-2011, Tổng thống Mỹ B. Ô-ba-ma đã phát biểu trước Quốc hội Ô-xtrây-li-a nhân chuyến thăm nước này về tầm quan trọng và ưu tiên hàng đầu của Mỹ đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là cam kết về an ninh quân sự. Tiếp đó, tháng 1-2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ L. Pa-ne-ta (L. Panetta) đã ban hành một bản hướng dẫn chiến lược mới, chính thức xác định việc “tái cân bằng” khu vực châu Á - Thái Bình Dương là một ưu tiên chủ chốt của Mỹ. Theo Báo cáo “Duy trì sự lãnh đạo toàn cầu của Mỹ: Các ưu tiên cho thế kỷ XXI”, các lợi ích an ninh, chính trị, kinh tế của Mỹ liên quan chặt chẽ với các diễn biến ở khu vực. Do đó, trong khi quân đội Mỹ tiếp tục đóng góp vào an ninh toàn cầu, Mỹ sẽ cần phải “tái cân bằng” châu Á - Thái Bình Dương, bởi Mỹ là “một quốc gia Thái Bình Dương”, quan hệ của Mỹ với các nước đồng minh và các đối tác chủ chốt ở châu Á vốn rất quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của khu vực, và trên hết là lợi ích của Mỹ tại khu vực là không thể bỏ qua. 
Thực tế chứng minh trong hơn nửa thế kỷ qua, các nước đồng minh của Mỹ đã góp phần bảo đảm hòa bình và an ninh khu vực, định hình môi trường tăng trưởng kinh tế; thúc đẩy sự hiện diện, tăng cường sự lãnh đạo khu vực của Mỹ tại những thời điểm xuất hiện các thách thức an ninh truyền thống. Vì vậy, theo Cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống B. Ô-ba-ma, T. Đô-ni-lân (T. Donilon), một trong những trụ cột chiến lược của Mỹ là tiếp tục củng cố quan hệ với các nước đồng minh truyền thống. Mỹ cần dựa vào những “chân kiềng” đồng minh vững chắc. Các liên minh hiệp ước của Mỹ với Nhật Bản, Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a, Phi-líp-pin và Thái Lan là “điểm tựa” cho bước ngoặt chiến lược của Mỹ “trở lại” châu Á - Thái Bình Dương.
Theo đó, Chính quyền của Tổng thống B. Ô-ba-ma nhấn mạnh tới chính sách đồng minh với những bước triển khai cụ thể và khá toàn diện: Tăng cường các mối quan hệ đồng minh an ninh song phương với các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a, Thái Lan, Phi-líp-pin trên cơ sở duy trì đồng thuận về chính trị với các giá trị cốt lõi của quan hệ đồng minh; bảo đảm quan hệ đồng minh linh hoạt và có tính thích nghi để đối phó thành công với những thách thức mới cũng như tận dụng cơ hội mới; bảo đảm khả năng phòng thủ và hạ tầng thông tin để có thể răn đe bất cứ sự khiêu khích của các nhà nước và thực thể phi nhà nước.
Bước vào những năm đầu thế kỷ XXI, tại khu vực Đông Bắc Á, Mỹ coi sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên là các mối đe dọa đối với an ninh quốc gia của Mỹ. Xem xét từ ý nghĩa truyền thống, đồng minh Mỹ - Hàn Quốc chủ yếu là ứng phó với “mối đe dọa từ CHDCND Triều Tiên”, song cùng với sự điều chỉnh chiến lược châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ thúc đẩy điều chỉnh theo hướng đồng minh Mỹ - Hàn Quốc hỗ trợ và kết nối với đồng minh Mỹ - Nhật Bản, răn đe cả CHDCND Triều Tiên và Trung Quốc. Mỹ tăng cường thực hiện cam kết an ninh với các nước đồng minh này, đồng thời thúc đẩy nâng cấp quan hệ đồng minh, xây dựng cơ chế phối hợp ba bên Mỹ - Nhật Bản - Hàn Quốc, tham gia khuôn khổ an ninh khu vực Đông Bắc Á.
Trong liên minh Mỹ - Nhật Bản - “hòn đá tảng” của Mỹ trong việc bảo đảm hòa bình và ổn định trong khu vực - hai bên chia sẻ tầm nhìn chung về trật tự khu vực ổn định với các quy tắc rõ ràng, từ tự do hàng hải đến thị trường mở và cạnh tranh công bằng. Mỹ ký kết một thỏa thuận mới bảo đảm sự hiện diện thường trực của các lực lượng quân đội Mỹ tại Nhật Bản, mở rộng các hoạt động tình báo, giám sát và trinh sát nhằm ngăn chặn và phản ứng nhanh trước những thách thức về bảo mật, cũng như chia sẻ thông tin để giải quyết các mối đe dọa không gian mạng. Đồng thời, Mỹ ủng hộ Nhật Bản thay đổi cách diễn giải Hiến pháp, qua đó dỡ bỏ sự hạn chế đối với việc thực hiện phòng vệ tập thể. 
Tương tự như vậy, liên minh của Mỹ với Hàn Quốc trở nên mạnh mẽ hơn và tích hợp nhiều hoạt động. Hai bên đã tiến hành đàm phán sửa đổi và ký kết Hiệp ước an ninh mới. Mỹ tiếp tục xây dựng năng lực cho lực lượng quân đội Hàn Quốc trong việc chuyển giao Quyền chỉ huy thời chiến (OPCOM); duy trì lực lượng quân sự của Mỹ tại nước này; tăng cường diễn tập, bố trí trang bị vũ khí. Đặc biệt, Mỹ thúc đẩy việc ký kết triển khai Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao (THAAD) giai đoạn cuối với Hàn Quốc. Mỹ triển khai hệ thống này nhằm hợp nhất toàn diện các hệ thống phòng thủ tên lửa của mình ở Đông Bắc Á, nâng cao năng lực cảnh báo sớm mang tính chiến lược.
Tại Đông Nam Á, Mỹ tăng cường liên minh với Phi-líp-pin và Thái Lan. Mỹ coi quan hệ với Phi-líp-pin đóng vai trò quan trọng đối với nỗ lực bảo đảm ổn định, thịnh vượng ở Tây Thái Bình Dương. Tháng 7-2011, Hạ viện Mỹ thông qua Nghị quyết số 352, trong đó nhắc lại việc Mỹ sẵn sàng cung cấp khí tài quân sự để hiện đại hóa quân đội Phi-líp-pin. Với Tuyên bố Ma-ni-la (tháng 11-2011), Mỹ và Phi-líp-pin khẳng định tầm quan trọng của quan hệ đồng minh chiến lược cũng như chia sẻ lợi ích chung trong việc duy trì tự do hàng hải và tôn trọng luật pháp quốc tế. Trên cơ sở Đối thoại chiến lược Mỹ - Phi-líp-pin (tháng 1-2012) nhấn mạnh mở rộng liên minh nhằm đối phó với các thách thức của thế kỷ XXI, Mỹ thông qua các chương trình hỗ trợ quân sự, bảo đảm an ninh tại Phi-líp-pin. Tháng 4-2014, nhân chuyến thăm Phi-líp-pin của Tổng thống B. Ô-ba-ma, hai bên ra tuyên bố thỏa thuận quốc phòng song phương mới cho phép quân đội Mỹ tăng cường sự hiện diện lưu động tại Phi-líp-pin.
Với Thái Lan - đối tác hiệp ước lâu đời nhất của Mỹ ở châu Á, Mỹ và Thái Lan đã ký kết “Tuyên bố tầm nhìn chung đồng minh quốc phòng Mỹ - Thái Lan” (năm 2012), tái khẳng định Thái Lan là đồng minh ngoài NATO của Mỹ với bốn nội dung chính: Đối tác xây dựng an ninh trong khu vực Đông Nam Á; hỗ trợ giữ vững ổn định khu vực châu Á - Thái Bình Dương; sẵn sàng và nâng cao mức độ song phương và đa phương; phát triển, phối hợp và hợp tác Mỹ - Thái Lan ở các cấp.
Mỹ cũng mở rộng liên minh với Ô-xtrây-li-a từ quan hệ đối tác Thái Bình Dương sang đối tác Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Đây thực sự là mối quan hệ đối tác mang tính toàn cầu. Mỹ tiến hành bố trí lực lượng quân sự và trang thiết bị hiện đại ở Ô-xtrây-li-a; thiết lập hệ thống trinh sát, do thám vũ trụ hiện đại để giám sát các hoạt động quân sự ở khu vực. Theo Bộ Quốc phòng Mỹ, kể từ khi công bố chiến lược “tái cân bằng” châu Á - Thái Bình Dương, thủy quân lục chiến của Mỹ đã được huy động đến Đác-uyn (Ô-xtrây-li-a). Cụ thể, tháng 4-2012, 200 lính thủy đánh bộ Mỹ đã tới Đác-uyn; tháng 4-2013 là 250 lính, tháng 4-2014 là 1.150 lính(1). Ngoài ra, Mỹ còn chi 70 triệu USD đã được cam kết để thực hiện triển khai lực lượng không quân Mỹ ở Ô-xtrây-li-a(2). Chính quyền của Tổng thống B. Ô-ba-ma nhấn mạnh các nỗ lực gia tăng sự hiện diện luân phiên của thủy quân lục chiến Mỹ ở Đác-uyn nhằm giúp gìn giữ hòa bình và ổn định trên toàn khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tăng cường khả năng của các lực lượng quân đội Mỹ và Ô-xtrây-li-a phản ứng nhanh, ứng phó với các thách thức trong khu vực. 
Tiếp tục đề cao vai trò hệ thống đồng minh ở khu vực
Tại Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) được tổ chức ở Việt Nam (tháng 11-2017), Tổng thống Mỹ Đ. Trăm đã đề cập đến thuật ngữ “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” trong chiến lược xây dựng một khu vực “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở”. Cụm từ tiếp tục xuất hiện nhiều lần trong Chiến lược An ninh quốc gia Mỹ (NSS) như một điểm nhấn trong chiến lược mới của Mỹ đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương trên cơ sở tiếp tục khẳng định vai trò của khu vực đối với lợi ích quốc gia của Mỹ. Và một trong những nội dung chính của chính sách “tái cân bằng” châu Á - Thái Bình Dương được tiếp tục thực hiện dưới thời Tổng thống Đ. Trăm, đó là tăng cường các mối quan hệ đồng minh song phương truyền thống; kiềm chế sức mạnh quân sự của các cường quốc trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc, thông qua các liên minh quân sự thân cận truyền thống này.
Trong bản Chiến lược An ninh quốc gia được đưa ra vào tháng 12-2017(3), Tổng thống Đ. Trăm tiếp tục đề cao vai trò của hệ thống đồng minh ở khu vực. Chiến lược Quốc phòng năm 2018 cũng xác định, Mỹ sẽ củng cố quan hệ với các nước đồng minh và với các đối tác ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương thành một cấu trúc an ninh liên kết có khả năng ngăn chặn hành động xâm lược, duy trì ổn định và bảo đảm tự do tiếp cận các môi trường chung(4). Còn trong bài phát biểu tại Đối thoại Sang-gri La (tháng 6-2018), Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ G. Ma-tít (J. Mattis) tóm tắt chiến lược Ấn Độ Dương  - Thái Bình Dương của Chính quyền của Tổng thống Đ. Trăm có nội dung then chốt về việc mở rộng khả năng tương tác và thiết lập một mạng lưới các đồng minh làm việc cùng nhau để tăng cường sự tin tưởng lẫn nhau giữa các quân đội.
Triển khai trên thực tế, Chính quyền của Tổng thống Đ. Trăm điều chỉnh chính sách an ninh, quân sự theo hướng cứng rắn hơn với việc thay đổi về cấu trúc an ninh - quân sự do Mỹ đứng đầu và tính chất mối quan hệ đồng minh trong khu vực. Với mục tiêu “Nước Mỹ trước tiên” (America First) xuyên suốt trong chính sách của Tổng thống Đ.  Trăm, Mỹ thiết lập “mạng lưới an ninh có nguyên tắc”. Đây thực chất là việc tạo dựng một tập hợp lực lượng giữa những nước cùng có mối lo ngại về “sự trỗi dậy” của Trung Quốc, về vấn đề hạt nhân chưa thể kiểm soát được của CHDCND Triều Tiên, vẫn cần sự can dự của Mỹ. Tuy nhiên, đối với các nước đồng minh khu vực, Mỹ thực hiện một số điều chỉnh.
Một là, yêu cầu các nước đồng minh phải gánh vác trách nhiệm cao hơn trước những bất ổn trong khu vực, đồng thời chia sẻ chi phí cho việc bảo đảm an ninh của những nước này thông qua tăng chi phí cho lực lượng đồn trú của Mỹ ở khu vực. 
Nhìn lại lịch sử hình thành các hiệp ước đồng minh an ninh quân sự do Mỹ ký kết nói chung, cũng như dưới thời Tổng thống B. Ô-ba-ma nói riêng có thể thấy rõ, việc bảo đảm an ninh và ổn định phát triển cho các đồng minh là một nội dung tất yếu trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Trong nhiều năm, Mỹ đã thiết lập tại khu vực vai trò trung tâm, là cái “ô bảo trợ an ninh” đối với các nước đồng minh thông qua việc cam kết hỗ trợ những khoản chi phí quốc phòng khổng lồ. Tuy nhiên, trước bối cảnh Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ, cần bảo đảm thế và lực không bị suy yếu, Chính quyền của Tổng thống Đ. Trăm đã chọn phương cách buộc các nước đồng minh phải chia sẻ nhiều hơn trách nhiệm trong các vấn đề khu vực, giảm thiểu gánh nặng chi phí cho các hoạt động an ninh, quốc phòng mà Mỹ cam kết trước đó. Chính sách này vừa tạo điều kiện cho các nước đồng minh khẳng định sự lớn mạnh về an ninh, quân sự, vừa tăng cường năng lực cần thiết ứng phó trước các mối đe dọa của khu vực. Ngoài ra, việc giảm chi phí cam kết an ninh, quốc phòng giúp Mỹ tập trung hơn vào các hạng mục khác, như nâng cấp sức mạnh quân sự quốc gia.
Mỹ khuyến khích Nhật Bản gánh vác vai trò quốc tế lớn hơn mặc dù hiện nay nước này có đóng góp chi phí quốc phòng lớn nhất cho Mỹ. Mỹ cũng yêu cầu Hàn Quốc tăng chi phí cho việc đóng quân và triển khai THAAD ở Hàn Quốc. Tháng 3-2019, Mỹ và Hàn Quốc đã ký thỏa thuận chính thức về việc chia sẻ chi phí để duy trì hoạt động của lực lượng quân đội Mỹ tại Hàn Quốc (USFK). Theo thỏa thuận, Hàn Quốc sẽ tăng 8,2% chi phí đóng góp để duy trì hoạt động của USFK. Trước đó, Hàn Quốc cũng đã nhất trí chi 1.040 tỷ uôn (920 triệu USD) trong năm 2019 cho các hoạt động của USFK gồm 28.500 binh sĩ Mỹ, tăng từ mức 960 tỷ uôn của năm 2018(5).
Hai là, trấn an các đồng minh trước mối nghi ngại về cam kết bảo trợ an ninh của Mỹ đối với khu vực, về tầm quan trọng của các đồng minh trong chính sách đối ngoại của Mỹ, cũng như trước sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực.
Vị trí dẫn dắt của Mỹ tại khu vực, trong đó có việc bảo đảm an ninh và mang lại sự ổn định cho các đồng minh dường như bị lung lay sau những tuyên bố về “Nước Mỹ trước tiên” của Tổng thống Đ. Trăm. Những đòi hỏi có phần cứng rắn và gay gắt của Mỹ đối với các đồng minh trong việc đóng góp về viện trợ quân sự hay hậu thuẫn trong các trường hợp cần thiết đã gây một số phản ứng từ chính các nước này. Chưa kể, dấu hiệu xói mòn những cam kết bảo trợ an ninh tập thể của Mỹ khiến cho các nước đồng minh của Mỹ có thiên hướng chuyển sang hợp tác với Trung Quốc.
Thực tế này buộc Chính quyền của Tổng thống Đ. Trăm phải có những động thái mang tính xoa dịu tâm lý của các nước đồng minh thông qua các hoạt động ngoại giao. Tháng 11-2017, Tổng thống Đ.  Trăm có chuyến công du châu Á đầu tiên kể từ khi lên nắm quyền nhằm nhấn mạnh cam kết về mối liên minh và đối tác lâu dài, đồng thời tái khẳng định sự lãnh đạo của Mỹ. Ngoài ra còn có các chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ R.  Ti-lơ-xơn (R. Tillerson) đến Hàn Quốc (tháng 3-2017), Phi-líp-pin, Thái Lan (tháng 8-2017); Ngoại trưởng Mỹ M.  Pom-peo (M.  Pompeo) tới Hàn Quốc, Nhật Bản (tháng 10-2018). Đáng chú ý, mới đây Tổng thống Đ. Trăm đã có chuyến thăm Nhật Bản (tháng 5-2019) nhằm củng cố vững chắc quan hệ đồng minh, mà một trong những nội dung quan trọng là thống nhất các chiến lược an ninh tại châu Á - Thái Bình Dương. 
Bên cạnh đó, Mỹ tiếp tục chứng minh vai trò và tầm ảnh hưởng của mình thông qua các khoản hỗ trợ về quân sự và tài chính với chương trình đầu tư trị giá gần 120 triệu USD năm 2018 dành cho kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng tại khu vực. Một cam kết trong vòng 5 năm cũng được Mỹ đưa ra với tên gọi “Sáng kiến Trấn an châu Á”(ARIA) có trị giá lên đến 1,5 tỷ USD cho giai đoạn 2019 - 2023 với thông điệp trấn an các đồng minh, đối tác bằng cam kết hỗ trợ, hợp tác lâu dài, nghiêm túc, đáng tin cậy(6).
Ba là, tăng cường các liên minh đa phương thông qua các đồng minh vốn có để tìm kiếm thêm đối tác nhằm cạnh tranh trực diện với Trung Quốc, ủng hộ sáng kiến mô hình liên kết mới trong khu vực.
Thể hiện rõ nét của chính sách này là việc Mỹ lấy “tứ giác kim cương” bao gồm Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Ô-xtrây-li-a làm nòng cốt nhằm đối trọng với Sáng kiến “Vành đai, Con đường” (BRI) của Trung Quốc. Nhóm “bộ Tứ” là một cơ chế đối thoại an ninh được thiết lập từ năm 2007 trên nền tảng các cơ chế an ninh ba bên Mỹ - Nhật Bản - Ô-xtrây-li-a và Mỹ - Nhật Bản - Ấn Độ, nhưng chưa được vận hành thực chất. Trong bối cảnh Trung Quốc trỗi dậy, quyết tâm mở rộng tầm ảnh hưởng với các chiến lược lớn về “kết nối hai đại dương” và Sáng kiến BRI, va chạm trực diện lợi ích của bốn quốc gia này tại khu vực khiến cho liên kết an ninh bốn bên được khởi động lại bên lề Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS) được tổ chức ở Phi-líp-pin tháng 11-2017. Trong nhóm này, Nhật Bản và Ô-xtrây-li-a là hai đồng minh chiến lược của Mỹ, còn Ấn Độ không chỉ là cường quốc lớn tại châu Á, mà còn là một nhân tố được xem là có tính cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc tại khu vực. 
Bốn là, tiếp tục thực hiện cơ chế hóa quan hệ với các đồng minh, tích cực tăng cường các biện pháp quân sự tại khu vực.
Các cơ chế hiện có, như Đối thoại ba bên Mỹ - Nhật Bản - Hàn Quốc, Mỹ - Nhật Bản - Ô-xtrây-li-a, Mỹ - Ấn Độ - Ô-xtrây-li-a; Đối thoại cấp bộ trưởng quốc phòng, ngoại giao “2+2” Mỹ - Nhật Bản, Mỹ - Ô-xtrây-li-a, Mỹ - Ấn Độ; Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ  - ASEAN;... được Mỹ tiếp tục duy trì, thúc đẩy.
Đối với những biện pháp quân sự mạnh mẽ, Chính quyền của Tổng thống Đ. Trăm đề cao tầm quan trọng của hoạt động tuần tra tự do hàng hải (FONOP) ở Biển Đông. Bên lề Diễn đàn đối thoại Sang-gri La ở Xin-ga-po (tháng 6-2017), Đô đốc H. Ha-ri (H. Harris) khẳng định, FONOP là hoạt động “hợp thức hóa luật pháp quốc tế”. Từ tháng 5-2017 đến tháng 1-2019, Mỹ đã tiến hành 10 FONOP ở Biển Đông. 
Về diễn tập quân sự, Mỹ duy trì các cuộc tập trận song phương và đa phương với các đồng minh khu vực, như các cuộc tập trận “Hổ mang vàng” với Thái Lan (tháng 2-2019), “Balikatan” với Phi-líp-pin (tháng 4-2019). Tháng 3-2019, Mỹ và Hàn Quốc tiến hành cuộc tập trận phối hợp mới mang tên “Đồng minh” thay cho các cuộc tập trận chung “Đại bàng non” và “Giải pháp then chốt” đã chấm dứt trước đó để thúc đẩy đàm phán ngoại giao về phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên. Bên cạnh đó, hải quân Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ô-xtrây-li-a tiến hành cuộc tập trận “Đội tiên phong Thái Bình Dương” (Pacific Vanguard) (tháng 5-2019). 
Mỹ cũng đã thực hiện các thương vụ hỗ trợ các đồng minh chủ chốt. Tháng 5-2019, Mỹ thông qua thương vụ trị giá hơn 600 triệu USD bán tên lửa phòng không cho Hàn Quốc và Nhật Bản. Cụ thể, Mỹ bán cho Hàn Quốc 94 tên lửa hạm đối không SM-2, 12 hệ thống dẫn đường với tổng trị giá 313,9 triệu USD; đồng ý bán 160 tên lửa phòng không AMRAAM và thiết bị dẫn đường liên quan cho Nhật Bản trị giá 317 triệu USD(7). 
Tóm lại, chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Chính quyền của Tổng thống Đ. Trăm về cơ bản có tính kế thừa từ chiến lược “tái cân bằng” châu Á - Thái Bình Dương của chính quyền tiền nhiệm trong chính sách đối với các đồng minh khu vực. Qua đó, Mỹ tiếp tục giành được sự ủng hộ, hợp tác ở mức độ khác nhau từ các nước đồng minh. Tuy nhiên, việc triển khai chính sách này có tác động cả tích cực lẫn tiêu cực đến các đồng minh, và cùng với sự gia tăng cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc, môi trường an ninh khu vực sẽ còn đứng trước nhiều thách thức, tác động mạnh mẽ đến an ninh, lợi ích và chính sách đối ngoại của nhiều nước. Vì vậy, Chính quyền của Tổng thống Đ. Trăm sẽ phải đối mặt với thực tế rằng, các nước trong khu vực nói chung, các nước đồng minh của Mỹ nói riêng sẽ có những điều chỉnh, lựa chọn những điều kiện thuận lợi để tiếp tục mở rộng quan hệ với Mỹ và cả với Trung Quốc nhằm phục vụ lợi ích quốc gia của mình./.
------------------------------------------
(1) Australian Defence Facilities: “US Marine Rotational Force-Darwin”, Nautilus Institute, September 30, 2013, http://nautilus.org/briefing-books/australian-defence-facilities/us-marine-rotationalforce-darwin/
(2) “Fact Sheet: The Fiscal Year 2014 Federal Budget and the Asia-Pacific,” The White House, April 12, 2013, http://www.whitehouse.gov/sites/default/files/docs/asia_pacific_rebalance_factsheet_20130412. pdf
(3) The White House: National Security Strategy of the United States of America, năm 2017
(4) Summary of the 2018 National Defense Strategy of The United States of America, Sharpening the American Milirary’s Competitive Edge, 2017
(5) “Mỹ và Hàn Quốc ký thỏa thuận chia sẻ chi phí quốc phòng”, Thông tấn xã Việt Nam, ngày 8-3-2019
(6) Thông điệp kép từ Đạo luật Sáng kiến Trấn an châu Á của Mỹ, http://nghiencuuquocte.org/2019/01/04/thong-diep-kep-tu-dao-luat-sang-kien-tran-an-chau-a-cua-my/, ngày 4-1-2019
(7) “Mỹ thông qua thương vụ hơn 600 triệu USD bán tên lửa cho Hàn Quốc và Nhật Bản”, Thông tấn xã Việt Nam, ngày 18-5-2019
Nguyễn Thu PhươngNCS, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

PHÁT TRIỂN ĐỒNG BỘ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, KHOA HỌC TỰ NHIÊN VÀ CÁC HƯỚNG CÔNG NGHỆ ƯU TIÊN Ở NƯỚC TA TRONG BỐI CẢNH MỚI HIỆN NAY



Vấn đề phát triển đồng bộ và gắn kết chặt chẽ các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ luôn được các nước trên thế giới quan tâm khi hoạch định chính sách phát triển khoa học và công nghệ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, quan điểm về phát triển đồng bộ, gắn kết liên ngành và bảo đảm sự công bằng trong chính sách của Nhà nước đối với các ngành khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội và nhân văn trong tương quan với khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ luôn được Đảng và Nhà nước ta nhấn mạnh trong các chiến lược phát triển khoa học và công nghệ.
Quan điểm chỉ đạo của Đảng về phát triển đồng bộ các ngành khoa học
Ngay từ rất sớm, Đảng ta đã nhận thức về tầm quan trọng của việc phát triển đồng bộ các ngành khoa học, thúc đẩy mối liên kết giữa khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ để tạo nền tảng vững chắc và toàn diện cho khoa học và công nghệ nước nhà thực hiện sứ mệnh đối với đất nước và nhân dân.
Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 20-4-1981, của Bộ Chính trị, “Về chính sách khoa học và kỹ thuật thống nhất cho cả nước” - nghị quyết đầu tiên về chính sách khoa học và kỹ thuật trong thời kỳ đất nước mới thống nhất, đã chỉ rõ, phải kết hợp chặt chẽ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội; hết sức chú trọng nghiên cứu ứng dụng và triển khai đồng thời, quan tâm đầy đủ đến nghiên cứu cơ bản có định hướng. Mười năm sau, trong thời kỳ đất nước bắt đầu đổi mới, Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30-3-1991, của Bộ Chính trị “Về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới” tiếp tục nhấn mạnh, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật cần phối hợp chặt chẽ với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp trong việc giải quyết những nhu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
Quan điểm rõ nét nhất được thể hiện trong Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 31-10-2012, của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, “Về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Theo đó, khi chỉ ra định hướng phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Đảng ta đã nhận định cần phát triển đồng bộ các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ; chú trọng phát triển một số lĩnh vực liên ngành giữa khoa học tự nhiên với khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn phục vụ phát triển bền vững.
Đường lối và quan điểm chỉ đạo sáng suốt đó của Đảng đã trở thành kim chỉ nam định hướng cho Chính phủ và Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc hoạch định chính sách, thiết kế và tổ chức thực hiện các kế hoạch, chương trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ở tầm quốc gia. Các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ được cân đối để đầu tư phát triển dựa trên nguyên tắc tôn trọng đặc thù và phát huy được vai trò, tầm quan trọng của từng lĩnh vực, có tính đến sự kết hợp liên ngành và xuyên ngành để tạo nên hiệu ứng tổng hợp, đồng thời nâng cao tiềm lực và trình độ của cả nền khoa học và công nghệ, đóng góp thiết thực cho các mục tiêu phát triển đất nước trong từng thời kỳ.
Với tinh thần đó, nhiều sáng kiến, đề án, chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia đã được đề xuất và tổ chức thực hiện trong kế hoạch trung hạn và dài hạn. Trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, giai đoạn 2011  - 2015 có 5 chương trình nghiên cứu (KX) và giai đoạn 2016 - 2020 có 2 chương trình được triển khai thực hiện, tập trung vào các vấn đề trọng yếu của khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị(1). Trong khoa học tự nhiên, tất cả các lĩnh vực cơ bản nhất, như toán học, vật lý, hóa học, khoa học sự sống, khoa học trái đất, khoa học biển đều có các chương trình trọng điểm cấp quốc gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thực hiện đến năm 2020 hoặc năm 2025(2). Việc đầu tư cho nghiên cứu cơ bản luôn được chú trọng và thực hành theo các chuẩn mực quốc tế thông qua Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED), một thiết chế tài chính do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý và điều hành, được cộng đồng khoa học trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài đánh giá cao.
Trong khoa học kỹ thuật và công nghệ, các chương trình trọng điểm cấp quốc gia được thiết kế và triển khai trong hầu khắp các lĩnh vực công nghệ và kinh tế - kỹ thuật then chốt, số lượng chương trình luôn nhiều hơn hai lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn và khoa học tự nhiên do có tác động trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế. Giai đoạn 2011 - 2015 có 10 chương trình khoa học công nghệ (KC) và giai đoạn 2016 - 2020 có 6 chương trình được triển khai trong các lĩnh vực, như công nghệ thông tin; công nghệ vật liệu; công nghệ năng lượng; bảo vệ môi trường và phòng, chống thiên tai; biển, hải đảo và kinh tế biển; bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng(3). Bên cạnh đó, lĩnh vực công nghệ vũ trụ, công nghiệp hóa dược, công nghệ sinh học hoặc các nhiệm vụ đổi mới công nghệ, phát triển công nghệ cao và sản phẩm quốc gia đều có các chương trình, đề án riêng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thực hiện đến năm 2020 ở tầm quốc gia(4). 
Đặc biệt, để đón đầu các xu hướng công nghệ xuyên ngành thế hệ mới trong thời đại cách mạng công nghiệp mới, trong năm 2018, Bộ Khoa học và Công nghệ đã kịp thời phê duyệt bổ sung Chương trình trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn đến năm 2025 về hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0), trong đó khuyến khích nghiên cứu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ chuỗi khối, phân tích dữ liệu lớn, in-tơ-nét kết nối vạn vật, mạng di động 5G, rô-bốt và điện toán đám mây. 
Các thành tựu nổi bật trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ 
Khoa học xã hội và nhân văn đã luôn nỗ lực và bền bỉ phát triển hệ thống lý luận mới về vai trò của văn hóa, lịch sử, con người và các nhân tố tạo nên sự phát triển bền vững, tác động vào quá trình thay đổi nhận thức và hành vi, bồi đắp trí tuệ của con người Việt Nam trong xã hội hiện đại, bảo tồn và phát huy các giá trị tinh hoa của dân tộc, góp phần xây dựng các nền tảng của một xã hội văn minh và hội nhập với thế giới, tạo nên thế và lực mới cho đất nước.
Khoa học chính trị và kinh tế đã và đang cung cấp các luận cứ sâu sắc và kịp thời trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; đổi mới đồng bộ thể chế kinh tế, chính trị và xã hội; có nhiều đóng góp thiết thực trong việc bảo đảm sự ổn định chính trị của đất nước trong điều kiện mới và đề xuất các chủ trương, chính sách lớn về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Các công trình nghiên cứu về Biển Đông, đánh giá và dự báo kịp thời cục diện chính trị và ngoại giao trong khu vực, phục vụ đắc lực cho công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và an ninh, quốc phòng.
Các lĩnh vực mang tính đặc thù, như khảo cổ học và lịch sử, dân tộc và tôn giáo, văn hóa và con người, văn học và ngôn ngữ học cũng đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Có thể kể tên một số công trình có giá trị khoa học và thực tiễn rất cao, như nghiên cứu tổng thể về văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ; chỉnh lý, bảo quản và phát huy giá trị di tích Hoàng thành Thăng Long. Đặc biệt, trong 5 năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu, đồ sộ về tầm vóc tri thức và ảnh hưởng đã được xây dựng, như Bộ Lịch sử Việt Nam - bộ quốc sử chính thống cung cấp thông tin toàn diện và chuyên sâu về lịch sử quốc gia; Bộ Địa chí quốc gia Việt Nam (Quốc chí) - thư tịch cung cấp thông tin toàn diện và hệ thống về đất nước, văn hóa, con người Việt Nam; Bách khoa toàn thư Việt Nam - bộ từ điển tra cứu toàn diện về các vấn đề văn hóa, khoa học và kỹ thuật nhằm nâng cao tri thức cho quảng đại quần chúng nhân dân; Dịch thuật Kinh điển phương Đông - bộ sách tinh hoa về các tác phẩm kinh điển phương Đông có ý nghĩa lịch sử và thời đại, mang giá trị dân tộc và nhân văn sâu sắc.
Khoa học tự nhiên đã có tiến bộ vượt bậc về lượng và chất trong những năm gần đây. Số lượng công trình công bố quốc tế của các nhà khoa học Việt Nam tăng trung bình 26% mỗi năm(5), đặc biệt tăng cao trong các lĩnh vực toán học, vật lý. Đây cũng là hai lĩnh vực Việt Nam luôn đứng ở tốp đầu các nước ASEAN. Các nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng tạo ra nhiều kết quả nổi bật trong lĩnh vực hóa học, cơ học, khoa học thông tin và máy tính, sinh học nông nghiệp, y sinh dược học; nhiều nhà khoa học trẻ Việt Nam nhận được các giải thưởng khoa học danh giá trong nước và quốc tế. Các nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học trái đất và môi trường đã góp phần nâng cao năng lực dự báo, phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai, biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
Nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên còn có đóng góp rất quan trọng trong việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, đặc biệt là bậc sau đại học; củng cố nền tảng, năng lực nghiên cứu và đội ngũ cán bộ khoa học tài năng trong các trường đại học, viện nghiên cứu. Với sự đầu tư đúng hướng của Nhà nước, chúng ta đã dần tạo lập được môi trường học thuật tiên tiến và lành mạnh trong nước, thu hút nhiều nhà khoa học trẻ được đào tạo ở nước ngoài về nước tiếp tục phát triển các trường phái nghiên cứu tiên phong, hình thành được các tập thể khoa học mạnh có trình độ quốc tế (điển hình như Viện Toán học, Viện Vật lý, Viện Vật liệu, Viện Công nghệ sinh học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam; Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Đại học khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội; Viện ITIMS, Viện AIST, Viện Vật lý Kỹ thuật, Đại học Bách khoa Hà Nội...).
Khoa học kỹ thuật và công nghệ đã phát triển lên một tầm cao mới về năng lực và trình độ nghiên cứu, đóng góp ngày càng hiệu quả hơn cho phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Trong nông nghiệp, các nhà khoa học Việt Nam tạo được các giống cây trồng mới có năng suất và chất lượng vượt trội so với khu vực và thế giới, năng suất lúa cao gấp rưỡi Thái Lan và cao nhất ASEAN; năng suất hồ tiêu và cá tra (500 tấn/ha) đứng đầu thế giới; năng suất cà-phê và cao-su đứng thứ hai thế giới (chỉ sau Bra-xin và Ấn Độ). Nhiều tiến bộ kỹ thuật và quy trình công nghệ mới được ứng dụng rộng rãi trong trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản sau thu hoạch và chế biến, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khoa học và công nghệ đóng góp trên 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, 38% sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, góp phần đưa Việt Nam vào nhóm các nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về gạo, cà-phê, hồ tiêu, cao-su, điều nhân.
Trong công nghiệp và dịch vụ, các chuyên gia công nghệ trong nước đã đủ năng lực thiết kế, chế tạo các thiết bị cơ khí chính xác, siêu trường, siêu trọng, giàn khoan dầu khí tự nâng ở vùng nước sâu; thiết kế, thi công các loại cầu vượt sông khẩu độ lớn, hầm đường bộ, nhà cao tầng, nhà máy nhiệt điện, thủy điện quy mô lớn. Công nghệ thông tin và truyền thông thế hệ mới, công nghệ số được ứng dụng rộng trong các ngành dịch vụ ngân hàng, hàng không, bưu chính, viễn thông. Nhiều công nghệ cao, như điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, mạng di động 5G đã và đang được phát triển. Hệ tri thức Việt số hóa - hệ sinh thái số do người Việt làm chủ, có năng lực tích hợp mọi tri thức, thông tin, dữ liệu công cộng, tài nguyên số của Việt Nam, sẽ được đưa vào sử dụng, phục vụ quảng đại người dân và doanh nghiệp trong thời gian tới.
Trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng, nhiều công nghệ và kỹ thuật tiên tiến đã được áp dụng trong chẩn đoán và điều trị, giúp nâng cao rõ rệt chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh, giảm chi phí cho người dân và xã hội. Dù là nước đang phát triển, Việt Nam đã nằm trong tốp 3 nước ASEAN và 43 nước trên thế giới tự sản xuất được vắc-xin, thành công trong công tác phòng ngừa và thanh toán các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm; làm chủ được các kỹ thuật và công nghệ y học hiện đại ở trình độ cao, như ghép tạng và đa tạng, thụ tinh nhân tạo, ứng dụng tế bào gốc và kỹ thuật sinh học phân tử... Trình độ y học của Việt Nam trong một số lĩnh vực đã phát triển ngang tầm các nước tiên tiến, thậm chí đã thu hút được nhiều bác sĩ nước ngoài tới Việt Nam để học hỏi kinh nghiệm.
Trong quốc phòng và an ninh quốc gia, nhiều loại vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật công nghệ cao được thiết kế, chế tạo mới và cải tiến; các hệ thống giám sát và kiểm soát an toàn, an ninh thông tin trên không gian mạng được xây dựng. Theo báo cáo của Bộ Quốc phòng, 85% số vũ khí, trang bị kỹ thuật của Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng có nguồn gốc từ kết quả nghiên cứu trong nước, đáp ứng các yêu cầu tác chiến.
Tiếp tục phát triển đồng bộ khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và các hướng công nghệ ưu tiên trong bối cảnh mới
Trong những năm tới, cần tiếp tục đầu tư phát triển đồng bộ các ngành khoa học nhằm tạo “cú hích” đưa nền khoa học và công nghệ nước nhà lớn mạnh hơn nữa, đủ năng lực hoàn thành các sứ mệnh gắn với ba mục tiêu quốc gia cơ bản là: 1- Đóng góp cho sự phát triển bền vững đất nước thông qua thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nhiều việc làm có giá trị gia tăng và thu nhập cao; 2- Bảo đảm an toàn, an ninh cho người dân và đất nước, đặc biệt là vấn đề an ninh phi truyền thống, an ninh không gian mạng, củng cố sức mạnh quốc phòng và giữ vững chủ quyền dân tộc; 3- Bảo đảm cho người dân được hưởng đời sống có chất lượng cao và sự thịnh vượng. 
Trong tương lai xa hơn, lực lượng khoa học và công nghệ nước nhà cần phấn đấu phát triển lên một tầm mức sao cho đủ năng lực thực hiện các sứ mệnh toàn cầu, chủ trì và tham gia giải quyết các thách thức chung, như biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng và lương thực, chống khủng bố và tội phạm công nghệ cao xuyên quốc gia. Trước mắt, với nguồn lực có hạn của một nước đang phát triển, khoa học và công nghệ cần tập trung đóng góp cho việc hoàn thành các mục tiêu quốc gia về phát triển.
Đối với khoa học xã hội và nhân văn, cần tiếp tục bảo đảm cung cấp được luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước, giữ vững an ninh chính trị, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền đất nước và bồi đắp, phát huy các giá trị văn hóa, xã hội và con người Việt Nam. Với khoa học tự nhiên, cần hướng tới xây dựng được nền tảng khoa học tự nhiên hiện đại, phấn đấu đạt trình độ hàng đầu khu vực và thứ hạng cao trên thế giới ở một số lĩnh vực Việt Nam có thế mạnh. Với khoa học kỹ thuật và công nghệ, cần tiến tới làm chủ, ứng dụng và phát triển được các công nghệ có khả năng ảnh hưởng quyết định đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới mang thương hiệu Việt Nam có chất lượng và tính cạnh tranh cao, không chỉ phục vụ tốt nhu cầu của người dân trong nước mà còn chinh phục được thị trường khu vực và toàn cầu.
Để đạt được các mục tiêu nói trên, cần tiếp tục kế thừa và phát huy các quan điểm chỉ đạo của Đảng về vấn đề phát triển cân đối, đồng bộ và toàn diện các ngành khoa học. Với quy mô và trình độ của một nền kinh tế còn ở mức trung bình thấp so với thế giới, nhu cầu ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu khoa học và công nghệ vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là rất lớn, đòi hỏi chúng ta phải tập trung ngay cho các ngành nghiên cứu ứng dụng, đổi mới và phát triển công nghệ. Tuy nhiên, các thách thức lớn thời hiện đại, như mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường, suy kiệt tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái về đạo đức và văn hóa không chỉ cần các đột phá công nghệ mà còn đòi hỏi các giải pháp từ khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn. Các công nghệ mới thời Cách mạng công nghiệp lần thứ tư chỉ thực sự trở nên hữu ích khi con người biết sử dụng công nghệ vào các mục đích phù hợp. 
Đó là lý do chúng ta cần một tầm nhìn chiến lược cho những thập niên tới và có kế hoạch đầu tư hợp lý cho các ngành nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn song song với các ưu tiên trong nghiên cứu ứng dụng để phát triển công nghệ nhằm xây dựng được một nền tảng vững chắc cho “ngôi nhà” khoa học và công nghệ Việt Nam, đóng góp cho sự phát triển thịnh vượng và bền vững của đất nước./.
-----------------------------------------------
(1) Giai đoạn 2016 - 2020: Chương trình KX01 nghiên cứu các vấn đề trọng yếu của khoa học xã hội và nhân văn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; chương trình KX02 nghiên cứu về khoa học lý luận chính trị
(2) Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển toán học đến năm 2020; chương trình phát triển vật lý đến năm 2020; chương trình phát triển khoa học và công nghệ trong bốn lĩnh vực: hóa học, khoa học sự sống, khoa học trái đất, khoa học biển giai đoạn 2017 - 2025
(3) Chương trình KC01 về nghiên cứu phát triển công nghệ thông tin phục vụ Chính phủ điện tử; KC02 về công nghệ vật liệu; KC05 về công nghệ năng lượng; KC08 về bảo vệ môi trường và phòng, chống thiên tai; KC09 về biển, hải đảo, kinh tế biển; KC10 về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cộng đồng
(4) Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia về công nghệ vũ trụ; chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm quốc gia về phát triển công nghiệp hóa dược; các đề án về phát triển công nghệ sinh học trong ba lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, thủy sản và công nghiệp chế biến; chương trình Đổi mới công nghệ quốc gia; chương trình quốc gia về phát triển công nghệ cao; chương trình phát triển sản phẩm quốc gia
(5) Trong 10 năm qua, số lượng các công bố quốc tế thuộc Scopus của Việt Nam tăng gấp 5 lần, từ 1.764 bài công bố năm 2009, lên đến 8.234 năm 2018. Trong các năm gần đây, số liệu lần lượt là: năm 2015 có 4.159 bài báo khoa học, năm 2016: 5.863 bài, năm 2017: 6.578 bài (nguồn tra cứu: Scopus, tháng 5-2019)
Chu Ngọc AnhỦy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ

HOTGIRL KHỦNG BỐ HỒNG THUẬN LÀ AI?




Khi các bạn xem những hình ảnh về Trinity Hồng Thuận, điều đầu tiên các bạn nhìn thấy là một người trẻ trung, xinh đẹp và rất bắt mắt. Và lại còn cuốn hút hơn khi thấy những hình ảnh gợi cảm có phần khoe hàng của Hồng Thuận. Đó là một nhan sắc biết bao nhiêu người ao ước có được, và muốn sở hữu nó, nhờ có vẻ đẹp đó mà Hồng Thuận đã có nhiều thuận lợi trong các công việc cá nhân, cũng như các mục đích khác. Điều này cho thấy vẻ đẹp có lợi thế trong khi giải quyết các công việc. Tuy nhiên, người ta thường nói “Cái đẹp nó đè bẹp cái nết” câu nói này đúng hoàn toàn với Hồng Thuận khi nhan sắc thì có nhưng Hồng Thuận lại có những hành động với quê hương, đất nước, với nhân dân không hề có một chút nết nào cả.
Vậy Hồng Thuận  là ai, và là người như thế nào, và tại sao lại được tổ chức phản động Việt Tân xem như là “Ngọn cờ ” trong tiến hành các hoạt động chống lại Đảng và Nhà nước, sau đây là những thông tin về hoạt động của Trinity Hồng Thuận:
Họ tên: Phạm Trinnity Hồng Thuận Đắc, tên gọi khác là Phạm Hồng Thuận, Phạm Trinity, tên đảng trong tổ chức Việt Tân: Lý Như Tâm; Sinh ngày: 15/01/1988, quê gốc trước khi bỏ trốn khỏi Việt Nam tại tỉnh  Khánh Hòa, hiện nay Hồng Thuận là Bí thư chi bộ tổ chức khủng bố Việt Tân, Facebook: Trinity Hồng Thuận; Bloger Hồng Thuận.
Phạm Hồng Thuận tham gia chống đối từ rất sớm. Năm 2005 khi  mới 17 tuổi Trinity Hồng Thuận đã tham gia biểu tình phản đối chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Phan Văn Khải. Trinity Hồng Thuận được biết đến và nổi lên từ đó, được bọn phản động để ý và có các hành động cổ vũ. Hai năm sau, năm 2007 Phạm Hồng Thuận gia nhập và được tổ chức phản động Việt Tân kết nạp, ngay sau đó Phạm Hồng Thuận liền có hành động chống đối khi đọc “Bản tuyên bố phản đối Việt Nam trở thành thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc” tại buổi sinh hoạt Cộng đồng người Việt tại Nam California. Phạm Hồng Thuận còn đại diện cho Cộng đồng người Việt tại Nam California tiếp xúc với Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền”, vi phạm tự do tôn giáo.

Sau những hành động đó, Phạm Hồng Thuận được biết đến nhiều hơn dần dần được tổ chức phản động Việt Tân giao cho nhiều trọng trách tiến hành các hoạt động chống đối không chỉ ngoài nước mà còn tìm cách núp bóng các tổ chức Phi Chính phủ vào nước ta để hoạt động phản động, cụ thể:
Trinity Hồng Thuận được giao phụ trách chương trình “thế kỷ của chúng ta” của đài “Chân trời mới” một cơ quan ngôn luận của tổ chức phản động Việt Tân, là thành viên “Đoàn thanh niên Phan Bội Châu” và “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường” (tổ chức ngoại vi của “Việt tân”). Cùng với đó còn tích cực tham gia vào các cuộc  biểu tình trái pháp luật  đòi trả tự do cho Nguyễn Quốc Quân, phản đối Trung Quốc chiếm Hoàng Sa – Trường Sa.
Năm 2009 Trinity Hồng Thuận nhập cảnh Việt Nam cùng với số sinh viên trường ĐH Hà Nội tổ chức các hoạt động xã hội tại thôn Dy, huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội và lôi kéo số sinh viên trên thành lập “Liên hội sinh viên chống tệ nạn buôn người”  trái phép hoạt động như một tổ chức NGO để thông qua đó chúng có thể tập hợp, lôi kéo lực lượng vào tổ chức phản động của chúng. Điển hình đó là việc nghệ sĩ Thành Lộc một nghệ sĩ khá nổi tiếng của Việt Nam đã có những dính lứu liên quan đến hoạt động củaTrinity Hồng Thuận và tổ chức Việt Tân. Gần đây nhất trên trang Facebook cá nhân của mình Trinity Hồng Thuận luôn đăng những tin bài có nội dung bênh vực cho những kẻ phạm pháp như: Trần Thị Nga, Nguyễn Văn Đài, Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điền….
Tại sao Trinity Hồng Thuận lại được tổ chức phản động Việt Tân giao nhiểu hoạt động chống đối như vậy ???
Cùng với Hà Đông Xuyến là hai thành viên nữ nổi bật nhất của tổ chức khủng bố Việt Tân, Trinity Hồng Thuận ngày càng được những nhân vật cốt cán của tổ chức này ưu ái và tín nhiệm. Có lẽ do ngoại hình khá bắt mắt, Trinity Hồng Thuận luôn được có mặt trong những buổi họp báo, tiệc tùng với các thành viên Trung ương của Việt Tân và một số nhân vật trong chính giới Mỹ./.
 Theo Sân Đình

TRÒ HỀ CỦA ĐÁM TÀN QUÂN BA QUE XỎ LÁ Ở HẢI NGOẠI VÀ CÁI GỌI LÀ “LỄ TƯỞNG NIỆM ANH HÙNG ĐÔNG TIẾN”



Ngày 11/8/2019, đám tàn binh, thất tướng ngụy Sài Gòn ở Canada tổ chức cái gọi là “lễ tưởng niệm anh hùng Đông Tiến”. Đúng là trò hề của đám tàn quân hiện đang tử thủ ở “vùng 6 chiến thuật Toronto”! Thường nghe: nàng Tây Thi nước Việt thì dù ai khéo chê đến đâu cũng không thể che mờ vẻ đẹp trầm ngư (cá phải e thẹn mà lặn mất); nàng Chung Vô Diệm ở nước Tề thì dù ai khéo khen đến mấy cũng chẳng thể bào chữa cho cái vẻ bề ngoài ma chê, quỷ hờn của một xú nữ. Nghĩa là, sự thật thì chẳng bao giờ có thể thay đổi được bản chất vốn có của nó. Lão chăn bò luận về việc này như sau:

Hoàng Cơ Minh là tên ngụy tặc đã thoát thân sang Hoa Kỳ sau ngày 30/4/1975, cái ngày mà bọn tay sai, bán nước ngụy Sài Gòn chính thức bị khai tử bởi quân đội và nhân dân Việt Nam anh hùng. Hắn đã kịp đu càng để đến với nước Mỹ. Ngày 30/4/1980, Hoàng Cơ Minh, nguyên Chuẩn tướng, Phó đề đốc phụ tá hành quân, Tư lệnh vùng 2 Duyên hải của ngụy Sài Gòn cùng một số tay chân đã tổ chức họp báo ra mắt “Mặt trận Quốc gia giải phóng Việt Nam”.
Với sự ủng hộ của các thế lực thù địch, Hoàng Cơ Minh và một số sỹ quan cao cấp của ngụy quyền tiếp tục thành lập “Việt Nam canh tân cách mạng Đảng” (gọi tắt là Việt Tân).Tổ chức này lấy cờ ba sọc của ngụy Sài Gòn làm “cờ mặt trận”, lấy cờ màu xanh có bông mai trắng 6 cánh làm “cờ đảng”; soạn thảo “hiến chương của mặt trận”; xuất bản “báo kháng chiến” và đặt trụ sở tổng vụ hải ngoại ở Mỹ; tìm cách móc nối với chính quyền Thái Lan, coi đó là bàn đạp để huấn luyện phiến quân, xâm nhập về nước.

Đáng chú ý, qua điều tra, lực lượng An ninh Việt Nam làm rõ tổ chức phản động lưu vong này còn vạch ra chương trình hoạt động gồm 5 giai đoạn, từ tập hợp lực lượng ở nước ngoài cho đến tổ chức đánh chiếm một số xã, ấp, vô hiệu hoá chính quyền cấp cơ sở… rồi đồng loạt nổi dậy lật đổ chính quyền. Để triệt phá tổ chức phản động này, chuyên án HM29 được xác lập…
Tài liệu của cơ quan An ninh thể hiện, từ năm 1982-1983, Hoàng Cơ Minh đã bí mật chuyển về Việt Nam “báo kháng chiến” và các loại tài liệu kích động chống đối chính phủ nhằm khuếch trương lực lượng ở nước ngoài, chuẩn bị cho các cuộc xâm nhập về nước thực hiện giai đoạn 3 trong kế hoạch của chúng.
Theo đó, từ tháng 5/1985 – 12/1986, Hoàng Cơ Minh phát động 2 cuộc hành quân có tên gọi “Đông Tiến I” và “Đông Tiến II”, xuất phát từ các căn cứ qua biên giới Thái Lan vào đất Lào, Campuchia để về Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai cuộc xâm nhập này đều bị lực lượng An ninh Việt Nam nắm bắt được và phối hợp với lực lượng vũ trang Lào truy quét. Trong trận đánh cách biên giới Việt Nam 50km, Hoàng Cơ Minh đã bỏ mạng trong đám loạn quân.

Rõ ràng là Hoàng Cơ Minh và Việt Tân là những kẻ đi ngược lại với ý chí và khát vọng tự do, độc lập của nhân dân Việt Nam; chúng chính là lực lượng tay sai cho Washington trong cái gọi là “kế hoạch thời hậu chiến”. Chúng cay cú vì bị nhân dân ta phá bỏ toàn bộ lợi lộc của cái “kiếp” làm tay sai cho giặc Mỹ (sỹ quan cấp úy trở lên có tiêu chuẩn rất cao, được cấp xe Jeep…); Chúng muốn khôi phục lại “công cụ bán nước VNCH” để được hưởng đặc quyền, đặc lợi như đã từng làm trước 1975. Chúng ráo riết chuẩn bị lực lượng và manh động mang quân sang Thái Lan, vượt biên giới Lào hòng tìm kiếm cơ hội vào Việt Nam để móc nối, xây dựng lực lượng khủng bố để nhằm mục đích lật đổ chế độ ta, nhưng chúng đã thất bại hoàn toàn. “Chiến dịch Đông Tiến II” đã bị lực lượng vũ trang Việt Lào tiêu diệt ngay từ trứng nước; Hoàng Cơ Minh phải trả giá bằng mạng sống của y.
Từ những lẽ trên, có thể khẳng định là lũ ba que xỏ lá ở hải ngoại tổ chức cái gọi là “lễ tưởng niệm anh hùng Đông Tiến” thực chất chỉ là trò bịp bợm, lừa lọc kiều bào hải ngoại nhẹ dạ cả tin về giấc mơ lật đổ Cộng sản Việt Nam để vơ vén kiếm tiền thực hiện chiêu trò chống cộng mà thôi! 44 năm rồi đất nước vẫn tiến lên, người nhận ra lầm lỗi đã ăn năn hối lỗi trở về góp sức xây dựng đất nước, còn những kẻ như Việt Tân cũng mãi mãi chỉ ôm ảo vọng kiếp vong nô không thể mở to mắt ra để khái trí, thông nhục được.
 Dương Vương Kinh

TRÁCH NHIỆM KHI SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI



Ngày 13-8 vừa qua, Phòng Cảnh sát hình sự (Công an Hà Nội) ra quyết định tạm giữ một số đối tượng để làm rõ hành vi đòi nợ thuê, liên quan vụ việc một giám đốc doanh nghiệp bị nhóm đối tượng này cưỡng đoạt số tiền hàng trăm triệu đồng. 
Trong số các đối tượng bị tạm giữ, dư luận đặc biệt quan tâm đến Đ.V.Q, vốn được biết là một youtuber khá đình đám. Cụ thể, Đ.V.Q. thường xuyên livestream (phát sóng và tương tác trực tiếp) trên facebook nhằm khoe khoang của cải, tiền vàng, cùng các hình xăm trổ khắp người và phát ngôn “văng mạng” theo kiểu xã hội đen. Không chỉ có quan hệ mật thiết với các “giang hồ mạng”, Đ.V.Q còn thể hiện rõ bản chất lưu manh côn đồ bằng việc kêu gọi, tập hợp nhiều thành phần bất hảo trong xã hội để tổ chức các hoạt động phi pháp như cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê. Tuy nhiên, điều đáng nói là dù thường xuyên đăng tải những nội dung phản cảm, thậm chí bạo lực, cổ súy hành vi vi phạm pháp luật nhưng trang facebook cá nhân và kênh youtube của Đ.V.Q lại thu hút rất đông người theo dõi, cổ vũ, trong đó phần lớn là giới trẻ.
Sự việc của Đ.V.Q khiến nhiều người liên hệ đến các trường hợp tương tự như: Ngày 18-4-2017, “thánh chửi” Dương Minh Tuyền bị xử phạt 32 tháng tù giam về các tội gây rối trật tự công cộng và hủy hoại tài sản; tháng 4-2019 Khá “bảnh” (tức Ngô Bá Khá) bị khởi tố về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc; tháng 7-2019, “Long 9 ngón” (tức Nguyễn Sĩ Cầu) bị khởi tố về tội cưỡng đoạt tài sản;... Điểm chung của các đối tượng này là đều khá nổi trên mạng xã hội vì sở hữu kênh youtube có lượng người theo dõi đông, dù hầu hết các clip đăng tải đều chứa nội dung nhảm nhí, trái thuần phong mỹ tục, kích động bạo lực. Sự cổ súy, ủng hộ của một nhóm người trên mạng xã hội đã tạo “vòng hào quang giả tạo”, khiến các đối tượng này ngày càng trở nên tự đắc, ngang ngược, tự cho mình quyền được phát ngôn cũng như hành xử tùy tiện, bất chấp chuẩn mực đạo đức xã hội cũng như quy định của pháp luật. Thậm chí, với mục đích câu like (yêu thích), câu view (lượt xem), các đối tượng sẵn sàng thực hiện nhiều hành vi điên cuồng, vi phạm pháp luật, như đánh người, đốt xe,...
Nguy hại hơn cả, sự lan tỏa từ những clip xấu độc được sản xuất bởi một số phần tử bất hảo như vậy giống như những “mầm bệnh” nguy hiểm, có tốc độ lây lan nhanh trên môi trường mạng xã hội, tác động tiêu cực đến cộng đồng. Với một số người, nhất là người trẻ thiếu kỹ năng sống, thiếu kinh nghiệm, dễ bị tâm lý đám đông dẫn dắt, rất có thể trở nên sùng bái các đối tượng giang hồ, bất hảo, từ đó ảnh hưởng tiêu cực suy nghĩ và hành vi cá nhân.
Hiện nay, với sự vào cuộc tích cực của các cơ quan chức năng, nhiều clip xấu độc đã bị gỡ bỏ, song mỗi ngày qua trên mạng in-tơ-nét lại xuất hiện thêm các clip có nội dung xấu. Vì vậy, mỗi cá nhân phải tự hình thành “bộ lọc” của bản thân, để khi tham gia mạng xã hội biết chủ động loại trừ các nội dung không phù hợp, đồng thời nếu phát hiện những nội dung độc hại cần có biện pháp ngăn chặn như báo cáo với nhà cung cấp dịch vụ, cảnh báo cho cộng đồng,... Chính ý thức, trách nhiệm của từng cá nhân khi tham gia mạng xã hội sẽ góp phần ngăn chặn tội phạm, bảo vệ an ninh trật tự và hình thành thái độ sống lành mạnh trong cộng đồng.
Theo Nhân dân


THỰC HIỆN KHÁT VỌNG "BẮC NAM SUM HỌP MỘT NHÀ" THEO DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH



Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa tròn 50 năm, song khát vọng và nỗ lực hoạt động của Người trong hành trình đấu tranh vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước vẫn trường tồn. 50 năm sau, sức mạnh toàn dân đoàn kết - kết tinh bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và sức mạnh nội sinh dân tộc Việt dưới sự lãnh đạo của Đảng ta để thực hiện thắng lợi hoài bão của Người vẫn đồng hành cùng dân tộc trên hành trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
HOÀI BÃO CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ MỘT NƯỚC VIỆT NAM HÒA BÌNH, ĐỘC LẬP VÀ THỐNG NHẤT

Độc lập, tự do, hoà bình và thống nhất đất nước là khát vọng cháy bỏng của mọi người dân Việt Nam yêu nước; là mục tiêu phấn đấu, thể hiện rõ trong mọi thời điểm và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Vì vậy mà, trong những thời điểm khác nhau, phát biểu ở các diễn đàn khác nhau, nhưng hoài bão của Người về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất đều thể hiện sự nhất quán, xuyên suốt, đó là: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”[1](12/1920); “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” (9/1945); “Kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”(1946), “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” (7/1966); “Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào/Bắc Nam sum họp/Xuân nào vui hơn” (Thơ mừng xuân 1969); “Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà” (Di chúc, 1969),v.v..
Trong hành trình hoạt động cách mạng và đấu tranh để đạt được hoài bão đó, Người đã không chỉ đến với chủ nghĩa Mác- Lênin mà còn truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin về Việt Nam - vào trong phong trào công nhân và phong trào đấu tranh yêu nước; chuẩn bị về mọi mặt và sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; đào tạo đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa hồng vừa chuyên; tập hợp, cổ vũ, động viên quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh cách mạng trong Mặt trận dân tộc thống nhất, trong các đoàn thể chính trị, các hình thức hội phù hợp yêu cầu từng giai đoạn cách mạng để nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc…
Ngay sau khi ra đời ngày 3/2/1930, trong Cương chính trị đầu tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đường lối cách mạng Việt Nam là trải qua hai giai đoạn: trước hết là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau đó tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển của chế độ tư bản chủ nghĩa, thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở nước ta. Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tập hợp quần chúng, đã lãnh đạo và đưa quần chúng ra đấu tranh với tinh thần và ý chí “toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Người đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mùa Thu năm 1945, sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đồng thời, khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và dân tộc. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[2] trong bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945.
Tuy nhiên, trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp và trước nguy cơ mất nước một lần nữa; trân trọng giá trị thiêng liêng của độc lập, tự do và không cam tâm làm nô lệ, với tinh thần và ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, hưởng ứng lời hịch cứu nước của Người: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”, toàn thể nhân dân Việt Nam đã quyết tâm “thà hy sinh tất cả, nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[3]. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp đầy khó khăn, thử thách ấy, không chỉ đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn, Người và Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, cổ vũ, động viên đồng bào và chiến sĩ cả nước kiên trì kháng chiến và kiến quốc; từng bước giành thắng lợi và và kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bằng một "Điện Biên Phủ chấn động địa cầu".
Ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Theo tinh thần của Hiệp định, cuộc tổng tuyển cử tự do, thống nhất hai miền Nam - Bắc sẽ được thực hiện vào năm 1956. Tuy nhiên, thực hiện học thuyết Trurman; lo ngại sự sụp đổ dây chuyền của khu vực Đông Nam Á bởi cộng sản, Mỹ đã phá hoại hiệp định Giơnevơ, can thiệp vào miền Nam Việt Nam, dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam. Vậy là, khát vọng về một nước Việt Nam độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất - non sông liền một dải của Người và toàn thể nhân dân ta chưa thể trở thành hiện thực.
Tiếp tục thực hiện khát vọng độc lập, tự do và thống nhất đất nước, để tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã căn cứ vào tình hình quốc tế, trong nước, so sánh thế và lực giữa ta và địch, nắm vững phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng (cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc) phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước.
Trong khi tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã liên tục thay đổi các chiến lược chiến tranh ở miền Nam, âm mưu và tìm mọi cách chia rẽ hai miền Nam - Bắc; ngày càng mở rộng quy mô cuộc chiến tranh, tăng cường xây dựng chế độ ngụy quyền Sài Gòn, xây dựng quân đội ngụy và tăng cường đội quân của các nước chư hầu vào tham chiến; tăng cường đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân, nhằm hủy diệt cơ sở vật chất và tinh thần của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Trước tình hình và nhiệm vụ mới, Đảng ta và Hồ Chí Minh đã một mặt nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ trong việc hoạch định đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tạo sức mạnh tổng hợp để đánh Mỹ và thắng Mỹ; đồng thời, tăng cường đoàn kết, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, phát huy sức mạnh của dân tộc và thời đại. Mặt khác, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, cổ vũ đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm xây dựng, bảo vệ vững chắc hậu phương miền Bắc, chi viện cho miền Nam đánh Mỹ; giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhiệm vụ xây dựng hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đấu tranh giải phóng miền Nam, để miền Nam ruột thịt, với vị trí là tiền tuyến lớn, trực tiếp đương đầu với đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai luôn nhận được sự chi viện không ngừng nghỉ sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc.
Sau phong trào Đồng Khởi 1959-1960, cách mạng miền Nam ngày càng phát triển... Quân dân ta đã lần lượt đánh bại hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đơn phương” và “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Trong bối cảnh đó, tháng 3/1965, Tổng thống Mỹ Johnson đã quyết định thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở Việt Nam. Tình hình cách mạng miền Nam diễn biến hết sức phức tạp, chiến tranh lan rộng ra cả nước, vận mệnh dân tộc đứng trước thử thách thức nghiêm trọng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra ngày càng quyết liệt. Để khẳng định niềm tin và quyết tâm đánh thắng Mỹ, ngày 17/7/1966, trong Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa (…), song nhân dân việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do”[4], nêu cao tinh thần và thúc giục quân dân cả nước quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Trên toàn miền Nam, quân dân ta đã giành được những thắng lợi quan trọng sau gần hai năm trực tiếp đương đầu với quân Mỹ, quân đồng minh và quân đội Việt Nam cộng hòa. Tuy gặp nhiều tổn thất, song đế quốc Mỹ chưa chịu từ bỏ chiến tranh xâm lược ở miền Nam. Chúng tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc…
Trong những năm tháng đó, thực tiễn cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng ở miền Nam, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự chi viện về mọi mặt của hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam đã chứng minh rằng, càng mở rộng chiến tranh, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ngày càng lún sâu vào “đường hầm không lối thoát”. Bởi rằng, dù đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam và phá hoại, hủy diệt miền Bắc xã hội chủ nghĩa, song chúng cũng “không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng” với với sự đồng tâm, đồng chí, đồng lòng của một dân tộc quyết tâm thực hiện khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Không áp lực nào ngăn cản được sự thật, ngăn cản được tinh thần và ý chí của nhân dân hai miền Nam- Bắc đấu tranh cho hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất nước nhà. Tinh thần, quyết tâm của quân dân cả nước về nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước được thể hiện rõ trong từng quyết sách của Trung ương Đảng, trong nghị quyết của Quốc hội, đặc biệt trong bản Di chúc lịch sử Người để lại trước khi đi xa.
Trong Di chúc của Hồ Chí Minh, khát vọng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và niềm tin tất thắng về cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta được Người nhắc đến nhiều lần, cháy bỏng hơn bao giờ hết: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”; “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải rút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”; “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”; “Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ và góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc”[5]…
Bản Di chúc vốn không dài; nội dung Người viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng không nhiều, song chữ “nhất định” được lặp lại trong từng câu, thể hiện khát vọng cháy bỏng và niềm tin tưởng tuyệt đối của Người vào thắng lợi của nhân dân ta vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và thống nhất.
GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC THEO DI HUẤN CỦA NGƯỜI
Khát vọng và niềm tin của Người đã trở thành lời thề thiêng liêng của cả dân tộc khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa. Trước anh linh của Người, quyết tâm thực hiện hoài bão của Người, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta thề: “Gương cao mãi mãi ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước để thỏa lòng mong ước của Người”[6].
Trong những năm sau đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta từng bước giành được thắng lợi quan trọng trên các chiến trường. Giữa tháng 6/1972, chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Ních xơn thất bại nghiêm trọng và đứng trước nguy cơ bị phá sản. Trong bối cảnh đó, Mỹ đưa B.52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng nhằm "phá hủy khả năng của Bắc Việt Nam ủng hộ các lực lượng ở Nam Việt Nam". Tuy nhiên, chiến thắng của trận “Điện Biên Phủ trên không” 12 ngày đêm cuối năm 1972 của quân dân Hà Nội đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”.
“Mỹ đã cút”, nhưng để thực hiện trọn vẹn lời hứa “đánh cho ngụy nhào”, đồng bào và chiến sĩ cả nước đã không ngừng tiến lên, kiên trì thực hiện hoài bão của Người. Vẫn có Người bên cạnh soi đường, dẫn lối; có nguồn sức mạnh nội lực của khát vọng hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc cổ vũ, động viên, chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế - Đà Nẵng và cuối cùng là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm của nhân dân ta. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân năm 1975 đã giành thắng lợi hoàn toàn, cả nước đã thống nhất, non sông liền một dải, làm thỏa lòng mong ước của Người. Tâm nguyện của Người trong Di chúc và khát vọng của toàn dân tộc về một nước Việt Nam thống nhất đã trở thành hiện thực.
50 năm sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa và 50 năm thực hiện Di chúc của Người (1969-2019), toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đoàn kết một lòng, phát huy những bài học kinh nghiệm trong chiến tranh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tiếp tục thực hiện hoài bão của Người trong Di chúc: “Còn non, còn nước, còn người, Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!” và cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta không chỉ đề ra, đảm bảo sự đồng bộ, nhất quán giữa đường lối chiến lược và chủ trương, chính sách cụ thể; giữa chỉ đạo chiến lược và hình thức, bước đi cụ thể trong mỗi kỳ Đại hội về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ mà còn tiếp tục bồi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự do, thống nhất đất nước của mỗi người dân Việt Nam yêu nước trong Mặt trận Tổ quốc để nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, những thành tựu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh,v.v.. của Việt Nam, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế là không thể phủ nhận và ngày càng được khẳng định trên trường quốc tế.
Trong xu thế toàn cầu hóa, tình hình quốc tế và trong nước ngày càng có những diễn biến phức tạp, với nhiều vận hội, thời cơ đi liền khó khăn, thách thức. Các thế lực phản động, thù địch không ngừng thực hiện âm mưu, chiến lược “diễn biến hòa bình”, với nhiều thủ đoạn mới ngày càng tinh vi và xảo quyệt, quyết liệt và thâm độc. Trong khi đó, sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã làm giảm sút niềm tin của nhân dân với Đảng, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ,v.v.. Tinh hình và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới càng phải đòi hỏi mỗi người phải thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của Người, thực hiện lời căn dặn của Người về độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và phát huy sức mạnh của khối toàn dân đoàn kết để dựng xây và bảo vệ non sông, gấm vóc Việt Nam liền một dải.
Càng gian nan, thử thách, nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt được tạo ra bởi khối đại đoàn kết toàn dân tộc; được nuôi dưỡng bởi ngọn nguồn văn hóa Việt Nam, bởi lịch sử anh hùng, bất khuất qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước; được tiếp nối, phát huy cao độ và thăng hoa trong thời đại Hồ Chí Minh - thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc sẽ lại càng được nhân lên, kết dính bởi nhân dân - bởi thế trận lòng dân vững chắc. Nguồn sức mạnh đại đoàn kết dân tộc đó được trao truyền bởi bao thế hệ người Việt Nam yêu nước luôn tràn đầy khát vọng và niềm tin chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”; được bổ sung, phát triển không ngừng dưới sự lãnh đạo của Đảng; được chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, dẫn lối sẽ tiếp thêm sức mạnh cho nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và ngày một phát triển phồn vinh “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, lời thề năm xưa trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đem hết sức mình, tiếp tục phấn đấu thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa cao đẹp mà Người đã vạch ra cho giai cấp công nhân và nhân dân ta, đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho đồng bào”[7] và nguyện "suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Người, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, rèn luyện mình thành những chiến sĩ trung thành với Đảng, với dân, xứng đáng là đồng chí, là học trò của HỒ CHỦ TỊCH. Noi gương Người, toàn thể nhân dân ta, thanh niên ta nguyện ra sức trau dồi mình thành những con người mới, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội mới, mang lá cờ bách chiến bách thắng của HỒ CHỦ TỊCH tới đích cuối cùng"[8] sẽ trở thành mệnh lệnh trái tim, khẩu hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.
Trên tinh thần đó, mỗi cấp ủy Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với phòng, chống và ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII để luôn xứng đáng với vai trò “là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân” như Người mong muốn. Mỗi cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần phải tự giác thực hiện Quy định 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QĐ/TW của Ban Bí thư khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp”, Quy định số 55-QĐ/TW ngày của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”, Quy định 08 về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương",v.v.. nhất là Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, góp phần vào thành công Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội lần thứ XIII của Đảng. 
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị xã hội và các tổ chức chính trị - xã hội cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng về “lấy dân làm gốc” và “dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”; triển khai thực hiện Quyết định số 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị quy định “Về việc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”, Quy định 124-QĐ/TW của Ban Bí thư khóa XII về “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên”,v.v.. Trong đó, Mặt trận phải thực sự thể hiện rõ vai trò tập hợp, mở rộng, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức, tổ chức hoạt động; nâng cao hiệu quả việc tập hợp, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở tiếp tục phát huy dân chủ, sức sáng tạo, ý thức tự lực, tự cường, tự hào, tự tôn dân tộc và đồng thuận xã hội. Tăng cường khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời, phát huy dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi và nêu cao vai trò của các cá nhân tiêu biểu, người có uy tín trong các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,v.v.. để mỗi người dân có thể phát huy khả năng sáng tạo của mình, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước ngày một phồn vinh, nhân dân được ấm no, hạnh phúc như Hồ Chí Minh mong muốn./.

TS. Văn Thị Thanh Mai
Ban Tuyên giáo Trung ương

----------------- 


[1] Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t.1, tr. 94

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.4, tr.3

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.4, tr.534

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.15, tr.130

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.15, tr.611-623

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.15, tr.627

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.15, tr.628
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.15, tr.629-630

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...