Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2019

ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC - DI SẢN QUÝ BÁU CỦA BÁC HỒ
1. Đại đoàn kết dân tộc giữ vai trò hàng đầu trong tư tưởng của Bác.
Thống kê và phân tích những bài viết, bài nói của Bác đã được công bố trong Hồ Chí Minh toàn tập cho thấy Bác đã đề cập vấn đề đoàn kết trong 839 bài viết, chiếm tỷ lệ 43%; sử dụng từ đoàn kết, đại đoàn kết tới 1.809 lần. Trong đó có những bài được nhắc nhiều như: 16 lần trong “Sửa đổi lối làm việc”, 17 lần trong “Bài nói tại buổi khai mạc Đại hội thống nhất Việt Minh - Liên Việt, 19 lần trong diễn văn kỷ niệm Quốc khánh 2-9-1957. Trong Di chúc, Bác đã sử dụng 8 lần từ đoàn kết với ba vấn đề: 1) Đại đoàn kết toàn dân tộc và việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. 2) Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng. 3) Đoàn kết quốc tế, hữu nghị và hợp tác.
Tư tưởng đại đoàn kết của Bác thể hiện nhất quán từ lý luận đến thực tiễn. Đại đoàn kết là một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Nhiệm vụ ấy được quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, thể hiện trong lời phát biểu của Bác khi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam ngày 3-3-1951, Bác đã tuyên bố trước toàn thể dân tộc: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc ”.         
Ngay từ khi tìm thấy con đường cứu nước, Bác đã rất chú ý đặt nền móng cho sự hình thành Mặt trận dân tộc thống nhất bằng việc tập hợp quần chúng nhân dân vào những tổ chức yêu nước phù hợp với từng giới, từng ngành nghề, lứa tuổi, tôn giáo và hơn nữa phù hợp với từng thời kỳ phát triển của cách mạng. Là thực thể của tư tưởng, chiến lược đại đoàn kết dân tộc, Mặt trận dân tộc thống nhất đã được xây dựng trên nền tảng liên minh công, nông, trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã quy tụ được cả dân tộc, tập hợp được toàn dân kết thành một khối vững chắc.      
Tại Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 10-9-1955, Bác khẳng định: "Lịch sử trong những năm qua đã tỏ rõ lực lượng đoàn kết của nhân dân là vô địch. Mặt trận Việt Minh đã giúp Cách mạng Tháng Tám thành công. Mặt trận thống nhất Việt Minh - Liên Việt đã giúp kháng chiến thắng lợi. Chúng ta có thể tin chắc rằng: Với sự cố gắng của mỗi người và sự ủng hộ của toàn dân, Mặt trận Tổ quốc sẽ làm tròn nhiệm vụ vẻ vang là giúp xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh". Phát biểu tại lớp bồi dưỡng cán bộ về công tác mặt trận ngày 8-1-1962, Người chỉ rõ: “Chính sách mặt trận là một chính sách rất quan trọng. Công tác mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Mặt trận dân tộc thống nhất vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam”.
2. Thực hiện tư tưởng của Bác, Đảng ta xác định: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân, trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng nguồn lực các thành phần kinh tế của toàn xã hội. Đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng được thực hiện bằng nhiều hình thức, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.       
Đoàn kết dân tộc luôn có vị trí chiến lược quan trọng trong tình hình mới. Mục tiêu lớn đặt ra cho công tác dân tộc là thực hiện phát triển kinh tế - xã hội, từng  bước cải thiện và nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân. Đại hội XII của Đảng đánh giá: Khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được mở rộng, củng cố và tăng cường trong bối cảnh đất nước có nhiều khó khăn, thách thức. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân đã đổi mới cả về nội dung và phương thức hoạt động; phát huy ngày càng tốt hơn vai trò tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; cùng Đảng, Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Thường xuyên tổ chức các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước.
3. Di nguyện thiêng liêng của Bác. Khi Bác vĩnh biệt thế giới này vẫn đau đáu một nỗi niềm “…mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết, phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh…”.  Nghị quyết Đại hội XII của Đảng khẳng định phương hướng, nhiệm vụ: Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Yếu tố quan trong bậc nhất tạo nên năng lực nội sinh là đổi mới, tăng cường tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở:
Một là, phải khơi dậy và phát huy đến mức cao nhất tinh thần tự tôn dân tộc, sức mạnh dân tộc, quyết tâm chấn hưng đất nước, không bỏ lỡ thời cơ vận hội, không chậm chạp trong khi thế giới đang biến động gia tốc. Đặt lợi ích chung của dân tộc, của đất nước và con người lên hàng đầu, lấy đó làm cơ sở để xây dựng các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
Hai là, đổi mới tăng cường đại đoàn kết, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, xóa bỏ mọi thành kiến, mặc cảm, hận thù trong quá khứ, tập hợp đoàn kết mọi lực lượng, mọi người Việt Nam ở trong nước và định cư ở nước ngoài vào sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước. Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, khuyến khích làm giàu chính đáng theo pháp luật, đẩy mạnh hơn nữa chính sách đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo. Phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoạt động giám sát, phản biện chính sách, vai trò tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động và người sử dụng lao động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp phải được quan tâm đổi mới; nâng cao hiệu quả.
Ba là, đoàn kết quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, sẵn sàng là bạn với tất cả các nước. Đại doàn kết dân tộc là yếu tố nội sinh có ý nghĩa quyết định tạo lực và thế để vươn ra bên ngoài; ngược lại mở cửa hội nhập quốc tế là nhằm cho lực và thế ở trong nước ngày càng tăng.  
Bốn là, toàn dân chỉ trở thành sức mạnh vô địch khi được giác ngộ về mục tiêu chung và được tổ chức thành một khối vững chắc trong mặt trận thống nhất. Những năm gần đây, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết phát huy vai trò của mặt trận Tổ quốc trong xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, giám sát và phản biện của mặt trận Tổ quốc vàcác tổ chức đoàn thể nhân dân đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Hoạt động của mặt trận Tổ quốc trong thời gian tới cần hướng mạnh về cơ sở, về địa bàn dân cư, coi trọng củng cố mở rộng, nâng cao kiến thức, kỹ năng cho cán bộ làm công tác mặt trận. Đổi mới công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao chất lượng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng và nhân rộng các điển hình tiên tiến, tìm ra những nhân tố mới để tham mưu, kiến nghị với Đảng, Nhà nước bổ sung, hoàn chỉnh chủ trương, chính sách về công tác vận động quần chúng.          
Năm là, đại đoàn kết dân tộc đòi hỏi phải xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, một chế độ do dân làm chủ, một Nhà nước thực sự của dân do dân vì dân, một hệ thống chính trị tiên tiến, có hiệu lực, hiệu quả. Kiên quyết chống tệ nạn tham nhũng, quan liêu, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. Có nhiều cơ chế và biện pháp để các tổ chức đảng lắng nghe các ý kiến của nhân dân. Bác Hồ nói: Muốn quy tụ được cả dân tộc, Đảng phải vừa là đạo đức vừa là văn minh bởi Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại. Cán bộ, đảng viên nêu gương tốt nhân lên sự ủng hộ, tin cậy của nhân dân đối với Đảng - hạt nhân của khối đại đoàn kết dân tộc.

Trần Công Huyền

http://xaydungdang.org.vn/Home/tutuonghochiminh/2019/12688/Dai-doan-ket-dan-toc-Di-san-quy-bau-cua-Bac.aspx
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ ĐỒNG BỘ, PHÙ HỢP VỚI ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Đổi mới chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay là vấn đề lớn cần tổng kết, tiếp tục nghiên cứu, và có cách thức phù hợp. Giải quyết hiệu quả mối quan hệ trên, chúng ta mới tăng cường được vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng và bền vững của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
Nhìn lại 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”(1), đồng thời, Đại hội nghiêm khắc thừa nhận: “...còn nhiều vấn đề lớn, phức tạp, nhiều hạn chế, yếu kém cần phải tập trung giải quyết, khắc phục...”(2); Trong các mối quan hệ lớn hiện nay, Đại hội XII chỉ rõ: “Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế”(3).
Rõ ràng, thời kỳ mới cấp bách đòi hỏi chúng ta ngẫm thời cuộc lớn, soát xét lại mình, mở rộng tầm nhìn, chuẩn bị hành trang, tiếp tục chủ động và kiên định đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới toàn diện, đồng bộ, không thể rụt rè, do dự hay chờ đợi, cầu toàn. Trong toàn bộ công việc hệ trọng đó, việc đổi mới chính trị, càng đòi hỏi chúng ta về tầm nhìn mới, trước sứ mệnh mới, với mục tiêu mới, bằng sự chuẩn bị toàn vẹn thực lực mới và hành động với phương lược hành động mới. Vì, thời cơ, lúc này, chính là lực lượng; vì sự phát triển của quốc gia - dân tộc là yêu cầu tối cao; và vì, thời đại không chờ đợi chúng ta. 
Nhận thức đầy đủ, sâu sắc về tính đồng bộ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị 
Vấn đề đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế thực chất là vấn đề nhận thức và xử lý mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị hay ngược lại, cả về nhận thức, cả về hành động. Vậy, phải nhận thức như thế nào về mối quan hệ, tính đồng bộ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị?
Ngay trong khái niệm chính trị và đổi mới chính trị, trong nhận thức của chúng ta có một điểm dễ gây nhầm lẫn, đó là đổi mới chính trị hay đổi mới hệ thống chính trị? Khái niệm chính trị rộng hơn khái niệm hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị chỉ là hệ thống thiết chế tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, còn chính trị không chỉ là hệ thống thiết chế bộ máy, nó còn là các quan hệ chính trị, chính sách chính trị, mô hình chính trị. Khi nói đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế, phản xạ tự nhiên trong tư duy của cán bộ lãnh đạo, quản lý và do đó chi phối cả tư duy xã hội là chỉ thường khoanh vùng vào hệ thống chính trị, còn các yếu tố khác, cấu phần khác của chính trị không được nhận thức và chú trọng đầy đủ. Trong đó có công nghệ chính trị giải quyết một điểm nóng, một cuộc xung đột, một tình huống bất ổn xảy ra cần đến một công nghệ chính trị, ta chưa có sự hiểu biết cần thiết về vấn đề này và sự thực hành còn yếu kém. Trong công nghệ chính trị đó, nó không chỉ giải quyết các bất ổn định, cao hơn còn là khủng hoảng. Chẳng hạn, công nghệ bầu cử được các nước phát triển rất chú trọng, còn chúng ta mới thừa nhận là trong bầu cử không rơi vào trạng thái nhất nguyên, tức là bầu cử có số dư, còn vấn đề tranh cử, ứng cử viên tiếp xúc với cử tri, vấn đề tiếp xúc đối thoại, phản biện để tạo ra một môi trường xã hội dân chủ, tạo ra một không gian để cử tri lựa chọn những đại biểu xứng đáng còn rất hạn chế. Do công nghệ chính trị yếu nên ta cũng chậm thực hành văn hóa chính trị, một vấn đề rất quan trọng nhưng ta chưa làm được bao nhiêu. Đến Đại hội XII, Đảng ta mới khẳng định, đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị phải đồng bộ, trước đó, trong các văn kiện của Đảng, vấn đề này chưa rõ. Rõ ràng là phạm trù chính trị tương quan với phạm trù kinh tế. Nếu lấy một bên là phạm trù hệ thống chính trị và một bên là phạm trù kinh tế thì không lô-gíc. Nội hàm và ngoại diên của phạm trù chính trị rộng hơn rất nhiều so với khái niệm hệ thống chính trị. Như vậy, ngay trong nhận thức đã không đồng bộ, vì thế cũng không phù hợp. Do đó, nhận thức về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị phải đồng bộ là vấn đề rất quan trọng, chi phối nhận thức và xử lý các mối quan hệ khác. 
Thứ nhất, đồng bộ nói ở đây không phải là vấn đề thời gian, hiểu thế là máy móc, cơ học.
Kinh tế cực kỳ quan trọng, kinh tế phải đi trước. Đại hội VI (1986) đánh dấu công cuộc đổi mới, trước hết là đổi mới kinh tế, đặc biệt là đổi mới toàn diện nền kinh tế. Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (năm 1989), đưa ra những nguyên tắc của đổi mới mà tinh thần của những nguyên tắc đó là: Đổi mới phải dựa trên tiền đề ổn định, dựa trên tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động, cải thiện đời sống nhân dân, có được lợi ích của đổi mới, nhân dân sẽ ủng hộ.
Đó mới là ổn định tích cực. Ổn định là tiền đề, là điều kiện, đổi mới là phương thức, là con đường và phát triển là mục đích. Đó là quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển. 
Bất kể chế độ chính trị nào đều phải đổi mới nếu muốn tồn tại. Phát triển là mục tiêu, là điểm đến, là đích. Phát triển giờ đây là phát triển bền vững, phát triển gắn với hiện đại hóa, với hội nhập quốc tế với bảo vệ môi trường, tránh thảm họa toàn cầu.
Như vậy, tính đồng bộ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở đây gắn chặt với vị thế, vị trí ưu tiên của từng lĩnh vực. Tuy là đổi mới đồng bộ, nhưng thực tiễn phát triển đòi hỏi phải đổi mới kinh tế làm tiền đề đổi mới chính trị thận trọng, từng bước một.
Vậy thực chất của đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị đồng bộ với nhau là bảo đảm sự hài hòa giữa kinh tế với chính trị làm sao kinh tế đóng vai trò thúc đẩy, tạo ra cơ sở vật chất cho chính trị và chính trị đóng vai trò dẫn đường cho kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển, sự tương tác hài hòa của chúng chính là đồng bộ.
Thứ hai, đồng bộ mang tính toàn diện. 
Toàn diện trước hết là tư duy, cả đổi mới toàn diện tư duy kinh tế lẫn đổi mới toàn diện tư duy chính trị. Tiếp theo là đổi mới về thể chế. Từ năm 2016, chúng ta xác định trọng điểm, điểm nhấn đột phá giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là đổi mới chính trị trong khi vẫn tiếp tục phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế, đổi mới kinh tế để tạo ra tiềm lực vật chất cho xã hội, giai đoạn này lấy trọng điểm là đổi mới chính trị, trong đó có đổi mới thể chế chính trị. Thể chế ở đây là hệ thống luật pháp của Nhà nước và những hệ thống quy định luật lệ trong Đảng. Điều lệ Đảng phải được coi như bộ luật của Đảng. Nó quan trọng như Hiến pháp của Nhà nước, khi đó đảng viên vừa phải tuân theo Hiến pháp với tư cách là công dân, vừa tuân thủ Điều lệ Đảng với tư cách là đảng viên.
Thứ ba, đồng bộ về thiết chế, bộ máy.
Vấn đề này nan giải nhất, đụng đến cấu trúc lại hệ thống bộ máy chính trị. Nếu không được nhận thức và hành động đúng đắn, khoa học và quyết liệt, việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về việc tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức, quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ đơn thuần là sáp nhập về số học, cơ học. Vấn đề là, cấu trúc lại phải đi liền với chức năng mới, giải quyết tốt các mối quan hệ giữa các thiết chế ngang dọc, cấu trúc bên trong của hệ thống chính trị với chức năng được phân định rõ ràng của từng bộ phận cấu thành hệ thống chính trị mới. Qua đó, khắc phục được tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, công chức hóa, bộ máy cồng kềnh hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả.
Thứ tư, tính đồng bộ thể hiện ở chính sách, cơ chế và chế tài. 
Trong chính sách là cả một hệ thống lớn: chính sách kinh tế, chính sách chính trị, chính sách xã hội, chính sách văn hóa; chế tài không chỉ tồn tại ở đường lối chiến lược, chế tài biểu hiện như một chính sách: chính sách chính trị, chính sách công.
Đảng chỉ cần hệ thống những chuyên gia giỏi, không nên biến đảng viên thành công chức, lãnh đạo Đảng trở thành người quản lý hành chính, chỉ thị mệnh lệnh lãnh đạo theo kiểu hành chính. Từ lâu, V.I. Lê-nin đã chỉ ra: ra lệnh là dễ nhất nếu có chức có quyền, nhưng tệ hại nhất. Vì nó phạm vào dân chủ, làm thụ động con người, không trực tiếp kích thích được các nhân tố sáng tạo, trong khi chúng ta cần phát huy mọi năng lực sáng tạo của con người.
Thứ năm, tính đồng bộ bao hàm đồng bộ về điều kiện nhận thức đúng, giải pháp tốt.
Có cơ chế chính sách đúng, nhưng không đủ điều kiện thì khó có thể giải quyết tốt được mối quan hệ đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế. Điều kiện đó bao gồm cả điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần, nhất là điều kiện vật chất. Đã là điều kiện vật chất, phải tính đến phương thức phân bổ các nguồn lực tài chính. Từ đó, làm cho các giải pháp khả năng thành giải pháp hiện thực, làm cho tinh thần đổi mới, quyết sách chiến lược đổi mới đến hiện thực đổi mới.
Vấn đề đồng bộ có thể nhìn nhận từ khía cạnh xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại. Với truyền thống, ông cha ta biết bao nhiêu tinh hoa mà ta chưa ý thức hết, chưa khai thác hết. Hiện nay, rất cần làm sống lại những giá trị tinh hoa của truyền thống trong công thức “an dân trị quốc”, trong đó có vấn đề dùng người, tiến cử, lòng tự trọng, tự rút lui, vấn đề đạo làm quan,... Với hiện đại, đòi hỏi phải tiếp thu những cái hay cái tốt về lãnh đạo, cầm quyền, văn hóa chính trị của các nước, các chính đảng cả trong khu vực và trên thế giới để tìm kiếm sự đồng thuận khi hội nhập quốc tế sâu, rộng. Cùng với đó là tự mình làm phong phú, giàu có thêm cho mình bằng tinh hoa của nhân loại như Bác Hồ từng nói: Phương Tây có gì hay cũng học, phương Đông có gì hay cũng học, học cốt để làm phong phú mình chứ không sao chép bắt chước.
Tiếp tục giải quyết thấu đáo, hiệu quả mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
Thứ nhất, về kinh tế: Trên cơ sở tiếp tục đổi mới toàn diện về kinh tế để có một cơ sở đúng đắn cho việc hoạch định chính sách, đường lối kinh tế phát triển, cần tập trung mấy điểm sau đây:
- Củng cố vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước 
Muốn vậy, về mặt tư duy kinh tế cần xác định: chủ đạo không có nghĩa là độc quyền, không có nghĩa là ưu đãi tuyệt đối cho kinh tế nhà nước, mà chủ đạo trên cơ sở có thực lực, tự phát triển để có thực lực, để đủ sức cạnh tranh bình đẳng trên thương trường. Chủ đạo bằng thực lực, sức mạnh của chính mình chứ không phải bao cấp, ưu đãi, ỉ lại độc quyền vị thế để chèn ép các thành phần kinh tế khác. Kinh tế nhà nước phải đủ sức cạnh tranh một cách văn hóa, lành mạnh trên thương trường với tất cả các thành phần kinh tế khác, theo hành lang pháp lý.
- Tổ chức, sắp xếp lại kinh tế hợp tác, trong đó vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo hướng kinh tế dịch vụ, hợp tác sản xuất lớn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đẩy mạnh liên kết và hợp tác dựa trên quan hệ lợi ích, áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, phù hợp với cơ chế thị trường. Cơ chế, chính sách của Nhà nước tạo điều kiện phát triển kinh tế hợp tác xã trên cơ sở phát triển và phát huy vai trò của kinh tế hộ.
- Khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh với sở hữu hỗn hợp, nhất là các doanh nghiệp cổ phần.
- Tiếp tục đổi mới tư duy về kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì, kinh tế tư nhân đem lại lợi ích to lớn cho xã hội, trong khi chỉ cần Nhà nước thừa nhận, tạo hành lang pháp lý cho nó hoạt động. Kinh tế tư nhân ở đây không ai khác đó là người dân làm kinh tế - dân doanh. Đến lúc chúng ta cần bỏ tư duy xem tư nhân là phi xã hội chủ nghĩa; khắc phục nhanh và mạnh mẽ mâu thuẫn lô-gíc trong tư duy, đó là, một mặt, đề cao vai trò làm chủ của dân; mặt khác, lại dị ứng với thành phần kinh tế tư nhân. Khắc phục được lỗi lô-gíc này mới có thể thay đổi được thái độ đối với kinh tế tư nhân, từ đó tạo mọi điều kiện trong hành lang luật pháp, chính sách để kinh tế tư nhân phát triển đa dạng, phong phú.
Gắn liền với đó là, thực hiện liên kết kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân để tăng nguồn lực đầu tư tập trung trọng điểm, đồng thời khắc phục tình trạng manh mún, dàn trải, chia cắt, lãng phí. Kinh tế tư nhân liên kết với kinh tế nhà nước sẽ tạo thành thế và lực của nền kinh tế để giải quyết các vấn đề về việc làm, đời sống, an sinh, phúc lợi xã hội,... mở ra điều kiện và tạo động lực để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ hai, về chính trị: đổi mới chính trị đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế cần tập trung vào mấy trọng điểm sau:
Hiện nay, chúng ta đổi mới tương đối rõ nét và toàn diện về kinh tế, nhưng đổi mới chính trị còn chậm, thậm chí có khi còn do dự, lúng túng chưa thực sự thúc đẩy nhanh phát triển kinh tế. 
- Đổi mới toàn diện chính trị ở nước ta hiện nay, trước hết là “Tiếp tục nghiên cứu và tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ lý luận về Đảng cầm quyền”. Đây là vấn đề quan trọng nhất về chính trị hiện nay ở Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam - đảng duy nhất cầm quyền. Cầm quyền trong điều kiện thể chế pháp quyền, hệ thống chính trị nhất nguyên đòi hỏi Đảng làm rõ hơn nữa những vấn đề: Tư duy về Đảng cầm quyền; quan niệm về cầm quyền trong mối quan hệ với lãnh đạo, quản lý quản trị xã hội; nội dung cầm quyền; phương thức cầm quyền; thể chế cầm quyền; mô hình cầm quyền; điều kiện để cầm quyền; dự báo những nguy cơ có thể xảy ra đối với Đảng cầm quyền và chủ động tìm kiếm những giải pháp đẩy lùi nguy cơ, tranh thủ và tận dụng thời cơ phát triển đất nước.
- Giám sát và kiểm soát quyền lực cần được bắt đầu từ trong Đảng và đi liền với nó là dân chủ trong Đảng. Hồ Chí Minh coi thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Dân chủ trong Đảng tốt, xã hội sẽ dân chủ.
- Kiểm soát quyền lực: tạo ra một thói quen, một nhu cầu biết lắng nghe ý kiến của dân từ cơ sở, tiếng nói của người dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ, quan chức, công chức bắt đầu từ cơ sở. Cùng với đó, tìm cách khắc phục bệnh hình thức trong việc tiếp dân. Tỉnh nào cũng có văn phòng đại biểu Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội, có cả bộ máy, kinh phí định kỳ tiếp dân. Nếu làm tốt tất cả những quy trình trên, nền chính trị của chúng ta mới thực sự là chính trị hành động, chính trị có hiệu quả và đổi mới chính trị khi ấy mới đem lại lợi ích cho nhân dân. Vì vậy, chúng ta cần giải quyết tốt các vấn đề về thực hành dân chủ, nghiên cứu lý luận về Đảng cầm quyền và kiểm soát quyền lực. Tháo gỡ được những vấn đề này sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển chứ không cản trở, thậm chí không làm tổn hại đến kinh tế và như thế nhân dân được lợi từ đổi mới chính trị.
Giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đây là quan hệ giữa 3 chủ thể với chức năng nhiệm vụ khác nhau, với thẩm quyền, trách nhiệm khác nhau. Đảng có trọng trách lãnh đạo, dẫn dắt xã hội; Nhà nước có trọng trách về thể chế hóa, biến quan điểm đường lối của Đảng thành luật pháp, chính sách để thực hiện; nhân dân là chủ thể gốc của quyền lực. Nó là quan hệ giữa các chủ thể chính trị pháp lý được thể chế hóa, được hiến định. Vì vậy, trước hết, chúng ta phải nhận thức, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng - Nhà nước - Nhân dân.
Một thời gian rất dài, nói về xây dựng Đảng ta chỉ nói 3 mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đến Đại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức. Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng tiếp tục triển khai quyết liệt hơn, cụ thể hơn, rõ ràng hơn trong nghị quyết về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với 27 biểu hiện cụ thể để cán bộ, đảng viên và các tổ chức đảng tự soi chiếu, rèn luyện phấn đấu phòng, chống và khắc phục. Đây là bước tiến rất quan trọng về tính hợp pháp, hợp lý và tính chính đáng của Đảng cầm quyền. Tuy nhiên, đến lúc phải nhấn mạnh xây dựng Đảng về văn hóa chứ không chỉ dừng lại ở đạo đức, mặc dù đạo đức là cái cốt lõi của xã hội, nhưng trong văn hóa còn có khoa học, nghệ thuật. Trong văn kiện Đại hội XII cũng đã tiếp cận đến vấn đề văn hóa khi chỉ ra: “Xây dựng văn hóa vào trong chính trị và kinh tế. Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể; coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(4).
Như vậy, một khía cạnh nữa để đồng bộ giữa đổi mới chính trị với đổi mới kinh tế chính là vấn đề xây dựng Đảng về văn hóa. Nhất là văn hóa của người lãnh đạo quản lý, văn hóa của người đứng đầu, văn hóa của cấp ủy các cấp và không có cái văn hóa nào quan trọng hơn là văn hóa ứng xử với dân, văn hóa chịu trách nhiệm trước dân, cả xin lỗi, từ chức và tự xấu hổ.
Vấn đề chính trị và đổi mới chính trị không chỉ là đổi mới tư duy chính trị, xây dựng tầm nhìn chính trị, bản lĩnh chính trị,... còn là sự hành xử chính trị thực tiễn: bao quát thời cuộc, chiêm nghiệm sự vận động toàn cầu của các quốc gia, kiến tạo thể chế chính trị khách quan, khoa học, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, xây dựng thực lực chính trị, chế định những quyết sách chính trị, nâng cao văn hóa chính trị, con người chính trị, xác định và phát huy hệ động lực tổng hợp đổi mới chính trị của đất nước. Tiếp cận theo hướng này, từ nhận thức, tư duy đến hành động sẽ giải quyết tốt được mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, sẽ có một nền chính trị đoàn kết và thanh khiết theo tư tưởng Hồ Chí Minh - một chính trị mở đường, thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững./.
--------------------------------------------
(1), (2), (3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 65, 68
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 128 
Nguyễn Văn Vĩnh
PGS, TS, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2019/54264/Mot-so-van-de-ve-doi-moi-chinh-tri-dong-bo-phu.aspx
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” cũng khẳng định quan điểm cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Do đó, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay của Đảng ta, cần được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học và hiệu quả.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là một trong những khâu quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng ta. Đây là một công tác rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải có tính khoa học và nghệ thuật. Ngay từ những ngày đầu thành lập Chính quyền Xô-viết, V.I. Lê-nin đã rất coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và cho rằng công tác này có tính chất quyết định đối với sự thành công hay thất bại trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của một đảng, một nhà nước. V.I. Lê-nin từng viết trong bài “Những nhiệm vụ bức thiết của phong trào chúng ta” (năm 1900): “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”(1). 
Vận dụng một cách sáng tạo và phát triển những quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin về công tác cán bộ nói chung, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói riêng vào điều kiện của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cho rằng: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(2); “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”(3); đồng thời Người cũng rất coi trọng vai trò của người cán bộ: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”(4). 
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng đấu tranh giành chính quyền và sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhấn mạnh: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”(5). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ, nhân tài chính là tài sản quốc gia. Người viết: “Cán bộ là tiền vốn của Đoàn thể”(6). Cán bộ tốt chính là những hạt nhân của hoạt động cách mạng, không có cán bộ, nhân tài thì chắc chắn sẽ không thực hiện được công tác chung. Để có cán bộ tốt, theo Người, trước hết, cần phải chú trọng khâu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cụ thể là bồi dưỡng đạo đức và năng lực của cán bộ. Người nhấn mạnh: “Có tài phải có đức. Có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”(7). Trong hai tiêu chuẩn căn bản để định hướng công tác đào tạo, bồi dưỡng, Người đặc biệt quan trọng vấn đề đạo đức của người cán bộ, coi đạo đức là cái gốc của mọi phẩm chất nhân cách khác. Tài năng phải gắn liền với đạo đức cách mạng, là “hoa thơm” nở trong “vườn” đạo đức. Người ví đạo đức cách mạng cũng như “sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(8). 
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trước hết, cần bảo đảm nguyên tắc “thực tiễn sâu sắc”. Người cho rằng, phương thức đào tạo, huấn luyện phải cụ thể, thiết thực, phải căn cứ vào đặc điểm, yêu cầu của nghề nghiệp, trình độ cán bộ để tiến hành. Hồ Chí Minh chỉ thị học lý luận phải gắn liền với thực tiễn, tránh đào tạo chung chung, học “vẹt”, học thuộc lòng, “người biết lý luận mà không thực hành thì cũng vô ích”. Người rất quan tâm đến “lý luận phải liên hệ với thực tế”(9), Người viết: “Học tập lý luận thì nhằm mục đích học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận”(10). Thực tiễn không ngừng vận động, biến đổi, do vậy lý luận (nội dung đào tạo) càng phải thường xuyên đổi mới, bổ sung, phát triển, và như thế, cán bộ phải thương xuyên “học, học nữa, học mãi” (theo cách nói của V.I. Lê-nin).
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Khi vận dụng thì bổ sung, làm phong phú thêm lý luận bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn cách mạng của ta”(11). Nguyên tắc tính thực tiễn của Người còn thể hiện việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, lấy thực tiễn làm mục đích của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Từ thực tiễn công tác đào tạo, bồi dưỡng, không chỉ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho đủ đòi hỏi trong hiện tại mà công tác “huấn luyện” còn phải “nhìn xa, trông rộng” đón bắt được xu thế của cách mạng, chủ động tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho phù hợp với tình hình. Người viết: “Huấn luyện cán bộ là cốt để cung cấp cán bộ cho các ngành công tác: Đoàn thể, Mặt trận, Chính quyền, Quân đội.”(12). Trong Di chúcthiêng liêng để lại, Người rất quan tâm đến việc bồi dưỡng những thế hệ cách mạng cho đời sau, Người quan tâm đến thanh niên và nhắc nhở Đảng phải chú ý đến tầng lớp này, đào tạo, bồi dưỡng họ thành những người làm cách mạng chân chính. 
Thứ hai, bên cạnh tính thực tiễn trong công tác “huấn luyện”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao tính chủ thể và đối tượng trong “huấn luyện”. Khi huấn luyện cán bộ, cần phải nắm bắt được “ai huấn luyện” và “huấn luyện ai”. Theo Người không phải ai cũng có thể tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được, người làm công tác này phải thực sự là một tấm gương về đạo đức và chuyên công tác, đồng thời phải là người không ngừng học hỏi, tu dưỡng. “Người huấn luyện đào tạo phải làm kiểu mẫu về mọi mặt... Người huấn luyện nào mà cho mình biết đủ cả rồi thì người đó dốt nhất”. Mặt khác, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ mà không biết “huấn luyện ai” thì sẽ không có hiệu quả, “huấn luyện thì phải hiểu rõ người học để nâng cao khả năng và tẩy rửa khuyết điểm cho họ”(13).
Thứ ba, không ngừng đổi mới phương pháp công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa phương pháp với mục tiêu, nội dung, các hình thức tổ chức huấn luyện và tính thực tiễn của công tác huấn luyện. Theo Người, trong huấn luyện là “việc cốt yếu là làm cho người học hiểu thấu vấn đề. Nhưng hiểu thấu cũng có nhiều cách: có cách hiểu thật tỉ mỉ, nhưng dạy theo cách đó thì phải tốn nhiều thì giờ”... “Trái lại, nếu thì giờ ít, trình độ còn kém, mà cứ cặm cụi lo nghiên cứu tỉ mỉ..., không có ích lợi gì cả”(14). Trong công tác huấn luyện cần phải chú ý “cốt thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều” hay là “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”(15). Người rất phê phán kiểu làm qua loa, đại khái trong huấn luyện. Khi bàn về các hình thức tổ chức huấn luyện, theo Người, cần “mở lớp nào cho ra lớp ấy. Lựa chọn người dạy, người học cho cẩn thận. Đừng mở lung tung.”(16). Người cho rằng việc mở lớp “quá đông” dẫn đến trình độ học viên quá chênh lệch nhau, hoặc mở quá nhiều lớp sẽ không có hiệu quả, việc huấn luyện sẽ theo kiểu “bắt phu”, việc dạy và học sẽ theo kiểu “chuồn chuồn đạp nước”, người dạy theo kiểu “bịt lỗ”, năng lực kém “nói sai, có hại cho học sinh, nghĩa là có hại cho Đoàn thể”(17).
Thứ tư, quán triệt tinh thần học tập “học, học nữa, học mãi” của V.I. Lê-nin, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc học tập cần được thực hiện suốt đời, người dạy cũng như người học phải không ngừng học tập; đã làm cán bộ cách mạng là phải học và không ngừng học; đồng thời học phải đi đôi với “hành”; “hành” là để học. Người lấy gương của Khổng Tử để nói về tinh thần học tập, rèn luyện khẩu hiệu “Học không biết chán, dạy không biết mỏi” treo trong phòng họp chính là của Khổng Tử. Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng, song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học”(18). Người cho rằng phương châm học tập suốt đời là “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót lớn”(19).
Thứ năm, đánh giá, sử dụng cán bộ đúng với trình độ, năng lực của cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, trong vấn đề hiểu biết cán bộ (tức là đánh giá đúng cán bộ), tự mình phải hiểu mình, nếu không như thế thì không thể nhận rõ cán bộ tốt hay xấu. Hồ Chí Minh chỉ ra 4 căn bệnh mà con người ta hay phạm phải: “1. Tự cao tự đại; 2. Ưa người ta nịnh mình; 3. Do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người; 4. Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau. Phạm một trong bốn bệnh đó thì cũng như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấy rõ cái mặt thật của những cái mình trông”(20). Người cho rằng cần “phải trước hết sửa chữa khuyết điểm của mình. Nhìn người phải biện chứng, “biến hóa”, xem toàn diện, “ai mà hay khoe công việc, hay a dua, tìm việc nhỏ mà làm, trước mặt thì theo mệnh lệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh, hay công kích người khác, hay tự tâng bốc mình, những người như thế, tuy họ làm được việc, cũng không phải cán bộ tốt”(21). Theo Người: “Ai cứ cắm đầu làm việc, không ham khoe khoang, ăn nói ngay thẳng, không che giấu khuyết điểm của mình, không ham việc dễ, tránh việc khó, bao giờ cũng kiên quyết làm theo mệnh lệnh của Đảng, vô luận hoàn cảnh thế nào, lòng họ cũng không thay đổi, những người như thế, dù công tác kém một chút cũng là cán bộ tốt”(22).
Trong việc dùng cán bộ, Người cho rằng, “dùng người như dùng gỗ”; tùy tài mà dùng người; đừng ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn; chớ ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực; chớ ham dùng những người tính tình hợp với mình mà không có năng lực... “Vì những bệnh đó, kết quả những người kia đã làm bậy, mình cũng cứ bao dung, che chở, bảo hộ, khiến cho chúng ngày càng hư hỏng. Đối với những người chính trực thì bới lông tìm vết để trả thù. Như thế là cố nhiên là hỏng danh giá của người lãnh đạo”(23). Dùng cán bộ đúng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, là:
- Độ lượng, không thành kiến, phải chí công vô tư.
- Tinh thần rộng rãi, gần gũi cả những người mình không ưa
- Phải sáng suốt. Có như vậy mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây mà xa cách cán bộ tốt.
- Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gũi mình.
- Để cho mọi người cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến; nếu “chỉ cho họ tâng bốc mình, là một hiện tượng rất xấu”, như thế là “nội bộ Đảng âm u”, cán bộ trong lòng uất ức, oán ghét, chán nản.
- Để cho mọi người có gan phụ trách. Nếu lãnh đạo khéo thì sẽ biến tài nhỏ hoá ra tài to; lãnh đạo không khéo thì tài to cũng hóa ra tài nhỏ.
- Không bao biện, không làm thay, phải để cán bộ tùy cơ ứng biến trên nhiệm vụ đã quyết định, làm cho họ không ỷ lại. “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo, “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”(24).
Như vậy, có thể thấy tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện một sự quan tâm đặc biệt đến công tác cán bộ. Toàn bộ tư tưởng của Người đã thể hiện một cách đầy đủ và sâu sắc từ việc xác định vị trí, tầm quan trọng của công tác cán bộ đến tính cụ thể, từ quá trình “huấn luyện” cán bộ đến đánh giá và sử dụng cán bộ. Đó đang là vấn đề rất thiết thực mà mỗi cán bộ, đảng viên cần quán triệt, vận dụng vào thực tiễn tự rèn luyện đạo đức và năng lực.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong giai đoạn hiện nay
Có thể thấy, xuyên suốt một chặng đường cách mạng đầy gian nan, vất vả, hy sinh nhưng cũng rất hào hùng, oanh liệt của Đảng và nhân dân, Đảng ta luôn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Nhiều hội nghị Trung ương trực tiếp bàn về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Đại hội VI (tháng 12-1986) là một bước đột phá trong công tác cán bộ nói chung và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói riêng. Đại hội đã xác định: “Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải tuân theo một quy trình chặt chẽ. Đó là kết hợp giữa bồi dưỡng kiến thức ở các trường học với rèn luyện trong thực tiễn”(25), “Nhân tài không phải là sản phẩm tự phát, mà phải được phát hiện và bồi dưỡng công phu”(26). Bên cạnh việc xác định chủ trương đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Đảng còn quan tâm trực tiếp đến việc kiện toàn hệ thống các trường đào tạo cùng nội dung và phương pháp đào tạo nhằm mục đích chuẩn hóa việc đào tạo cán bộ theo tinh thần đổi mới. 
Đến Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ta chủ trương: “Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ theo quy hoạch. Đào tạo gắn với tiêu chuẩn từng chức danh và yêu cầu sử dụng cán bộ. Đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học. Đầu tư thích đáng cho việc đào tạo cán bộ đảng.”(27). Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta xác định: “Xây dựng, chỉnh đốn hệ thống các học viện, trường và trung tâm chính trị, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trước hết là đối với cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp.”(28). Chính việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã có những bước nhảy vọt về chất lượng và số lượng làm động lực cơ bản, đầu tiên giúp Đảng và nhân dân ta thu được nhiều thắng lợi, đưa đất nước từng bước ra khỏi khủng hoảng. Và có thể nói, đến nay, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã thu được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực, làm tiền đề cho đất nước ta tiến tới thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 
Sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 18-6-1997, của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, đội ngũ cán bộ các cấp có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên, nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ xảy ra ở nhiều nơi; sự liên thông giữa các cấp, các ngành còn hạn chế. Chúng ta còn thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, bất cập, việc thực hiện một số nội dung còn hình thức. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm được đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh. Đầu tư xây dựng đội ngũ làm công tác tổ chức, cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy cơ quan tham mưu còn nhiều đầu mối, chức năng, nhiệm vụ chưa thật sự hợp lý; phẩm chất, năng lực và uy tín của không ít cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu... 
Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Sự bùng nổ của khoa học - công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, kinh tế tri thức và xu hướng quốc tế hoá nguồn nhân lực vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với nước ta. Sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn hiện hữu, có mặt gay gắt hơn... Thời gian tới cũng là giai đoạn chuyển giao thế hệ từ lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và tại các nước xã hội chủ nghĩa, sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hoà bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước có thể chế chính trị khác nhau. Tình hình đó tác động mạnh mẽ, toàn diện, sâu sắc đến công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ.
Xuất phát từ yêu cầu mới của thực tiễn, ngày 19-5-2018, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ra Nghị quyết số 26-NQ/TW về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, trong đó nhấn mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững. Xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trực tiếp là của các cấp ủy, tổ chức đảng mà trước hết là người đứng đầu và cơ quan tham mưu của Đảng, trong đó cơ quan tổ chức, cán bộ là nòng cốt; phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và cơ quan truyền thông, báo chí trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân; phải thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ. 
Để tiếp tục thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra trong giai đoạn cách mạng hiện nay, trước hết, cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trong đó cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với từng chức danh, vị trí. Gắn quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh và đẩy mạnh thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị để rèn luyện qua thực tiễn ở các lĩnh vực, địa bàn khác nhau.
Kế hoạch này được lập ra trên cơ sở tiêu chuẩn về mặt kiến thức đã đề ra cho từng loại chức danh cán bộ trong từng tổ chức, nhưng phải có tính hiện thực. Từ mục tiêu đã định trong kế hoạch và căn cứ vào thực trạng đối tượng cán bộ đã lựa chọn mà đặt ra yêu cầu đối với từng cán bộ cho phù hợp trong từng giai đoạn nhất định (ai học gì, học ở đâu, bao giờ học, hình thức đi học, thời gian đi học...). Sau khi xác định được những cán bộ nằm trong kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, phải thống kê tổng hợp để nắm được số cán bộ cần được đào tạo, bồi dưỡng về từng mặt kiến thức, văn hóa, lý luận chính trị, kinh tế, kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ.
Thứ hai, ngoài việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tổ chức, đơn vị mình, người làm công tác cán bộ còn phải nắm được quan điểm, chủ trương, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng, Nhà nước để từ đó có kế hoạch cụ thể hơn trong công tác này, cán bộ nào cần được đi đào tạo một cách có hệ thống, chính quy; cán bộ nào cần đi bồi dưỡng các lớp ngắn hạn, các lớp tại chức, các lớp tập trung; ai cần được đi đào tạo trước, ai sau... Tất cả các kế hoạch này vừa phải thể hiện thành con số cụ thể, vừa phải thể hiện thành danh sách cụ thể. Điều quan trọng trong kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ không chỉ nêu ra được yêu cầu mà phải có biện pháp tích cực để thực hiện yêu cầu đó. Tận dụng những điều kiện sẵn có của địa phương, của ngành để có thể chủ động, tích cực hơn trong việc thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ (như chủ động, tích cực trong việc mở lớp). Đồng thời cùng với ban lãnh đạo các cơ quan, ban, ngành, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất về vật chất, tinh thần, thời gian cho các cán bộ được đưa đi đào tạo, bồi dưỡng. Xây dựng Chương trình quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và học tập ngoại ngữ. Quy định khung cơ chế, chính sách ưu đãi để phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài có trọng tâm, trọng điểm, nhất là các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ cho phát triển nhanh, bền vững. Xây dựng Chiến lược quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài theo hướng không phân biệt đảng viên hay người ngoài Đảng, người Việt Nam ở trong nước hay ở nước ngoài. 
Thứ ba, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là một khâu trong công tác cán bộ nên có liên quan mật thiết với các khâu khác, như đánh giá cán bộ; quy hoạch cán bộ; bố trí, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ. Do vậy, công tác đào tạo cán bộ không chỉ thực hiện ở khía cạnh lý luận mà còn bồi dưỡng năng lực thực tiễn cho cán bộ, như luân chuyển cán bộ, cử đi nghiên cứu thực tiễn, thăm quan học hỏi kinh nghiệm, kế hoạch kèm cặp... để có thể gắn liền công tác đào tạo với việc bố trí sử dụng cán bộ; cần thống nhất việc kiểm định chất lượng đầu vào đối với công chức, viên chức để các địa phương, cơ quan, đơn vị lựa chọn, tuyển dụng theo yêu cầu, nhiệm vụ; đồng thời, nghiên cứu phân cấp kiểm định theo lĩnh vực đặc thù và theo vùng, khu vực./.
-------------------------------------------------------
(1) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t. 4, tr. 473
(2), (3), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 309, 280, 309
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 313
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 356
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 346
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 292
(9), (10), (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 94, 95, 96
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 359
(13), (14), (15), (16), (17), (18), (19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 359, 357 - 358, 362, 363, 356, 361
(20), (21) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 317, 318
(22), (23), (24) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 318, 319, 320
(25), (26) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 134
(27) Văn kiện Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ Đại hội VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1994, tr. 62
(28) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 142
Nguyễn Thanh Giang
TS, Viện Lãnh đạo học và Chính sách công, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


TỰ CHỦ ĐẠI HỌC: KHÁI NIỆM VÀ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM
Trên thế giới, khái niệm tự chủ đại học phản ánh sự biến đổi mối tương quan giữa nhà nước và cơ sở đào tạo theo tinh thần phát huy truyền thống tự do học thuật của đại học và giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của cơ quan công quyền vào quản trị đại học về tổ chức, tài chính, nhân sự. Ở Việt Nam, tự chủ của cơ sở giáo dục đại học luôn là tự chủ có điều kiện, gắn với tự chịu trách nhiệm và được thể chế hóa từng phần nhằm đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của xã hội về phát triển nhân lực trong tình hình mới.
Khái niệm “Tự chủ đại học”
Trên thế giới, khái niệm “tự chủ đại học” (University autonomy) nói đến các mối quan hệ đang thay đổi giữa nhà nước và các trường đại học (N.V. Varghese, Michaela Martin, Thomas Estermann). Xu hướng thay đổi cơ bản là phát huy truyền thống tự do học thuật và giảm dần sự kiểm soát trực tiếp của các cơ quan công quyền đối với trường đại học. Từ góc độ này, tự chủ đại học là quyền tự do của thể chế đại học trong việc ra quyết định và thực thi các quyết định đối với các hoạt động nội bộ của đại học mà không có sự kiểm soát hay can thiệp của nhà nước và bất kỳ sự ảnh hưởng nào nếu có của nhà nước cũng đều phải dựa trên cơ sở pháp luật. Tự chủ đại học là tự chủ thể chế đại học với nghĩa là tự chủ của trường đại học và tự chủ này được thể chế hóa bởi hệ thống các chính sách, pháp luật của nhà nước. 
Ở Việt Nam, khái niệm “tự chủ” mới xuất hiện và phát triển trong quá trình đổi mới quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học theo tinh thần xã hội hóa bảo đảm thống nhất, kỷ cương quản lý nhà nước vừa phân cấp quản lý, tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học và thu hút sự tham gia của các bên liên quan. Tự chủ đại học ở Việt Nam là tự chủ theo quy định pháp luật, gắn với tự chịu trách nhiệm và được thể chế hóa từng phần trong từng lĩnh vực hoạt động của các cơ sở đại học. 
Tự chủ đại học trong đường lối, chính sách giáo dục năm 1979 – 2005
Thuật ngữ “tự chủ đại học”, mặc dù xuất hiện nhiều trong truyền thông đại chúng, nhưng chưa được sử dụng một cách chính thức trong đường lối, chính sách giáo dục ở Việt Nam giai đoạn 1979 - 2005. Nghị quyết số 14/1979/NQ-TW về cải cách giáo dục chưa nói đến “đổi mới giáo dục”, “tự chủ”, “tự chịu trách nhiệm” trong giáo dục. Nhưng Nghị quyết này sử dụng từ ngữ “cải cách giáo dục” 33 lần, trong đó nêu rõ ba mục tiêu của cải cách giáo dục là: (i) chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ lúc thơ ấu đến lúc trưởng thành, (ii) thực hiện phổ cập giáo dục trong toàn dân, (iii) đào tạo và bồi dưỡng với quy mô ngày càng lớn đội ngũ lao động mới. 
Nghị quyết số 04/1993/NQ-TW về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo sử dụng từ ngữ “cải cách giáo dục” 3 lần, sử dụng từ ngữ “cải cách” 12 lần, nhưng chưa sử dụng từ ngữ “tự chịu trách nhiệm, “trách nhiệm giải trình” và “tự do” trong giáo dục. Đặc biệt, Nghị quyết này đã 2 lần sử dụng từ ngữ “tự chủ”.
Luật Giáo dục (2005) có hiệu lực từ ngày 01-01-2006 chỉ 1 lần sử dụng từ ngữ “đổi mới” khi quy định một trong các nhiệm vụ của nhà giáo là “đổi mới phương pháp giảng dạy” (Điều 72, Khoản 4). Luật này chỉ 1 lần sử dụng từ ngữ “cải cách” nhưng không phải “cải cách giáo dục”nói chung mà cải cách nội dung chương trình của một cấp học (Điều 100, Khoản 1). 
Như vậy, đến năm 2005 từ ngữ “tự chủ đại học” (University autonomy) vẫn chưa được sử dụng trong Luật Giáo dục (2005), nhưng các trường đại học, trường trung cấp, trường cao đẳng được quy định là có “quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm”. Nhưng quyền tự chủ này luôn bị ràng buộc bởi các quy định pháp luật và điều lệ nhà trường mà trường đại học muốn thực hiện thì phải “xin” để được “cho”. Trên thực tế, đến năm 2012 Luật Giáo dục đại học mới được ban hành trong đó có Điều 32 quy định “Quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học” và đến năm 2014 Điều lệ trường đại học mới được ban hành. 
Tự chủ đại học theo Luật Giáo dục đại học (2012)
Luật Giáo dục đại học (2012) không một lần nào sử dụng từ ngữ “cải cách” và “đổi mới”, nhưng 8 lần sử dụng từ ngữ “tự chịu trách nhiệm” và đều gắn với “tự chủ” và 16 lần sử dụng từ ngữ “tự chủ”. Dù không trực tiếp sử dụng từ ngữ “tự chủ đại học”, nhưng Luật Giáo dục đại học (2012) có các quy định cụ thể liên quan như sau: 
Về khái niệm, tự chủ khác với nhiệm vụ và quyền hạn: Tương tự như Luật Giáo dục (2005), Luật Giáo dục đại học (2012) phân biệt nhiệm vụ, quyền hạn khác với quyền tự chủ và do vậy có các quy định phân biệt một cách tương ứng. Cụ thể Luật Giáo dục đại học (2012) có điều 28 quy định về “Nhiệm vụ và quyền hạn của trường cao đẳng, trường đại học, học viện”, điều 29 quy định về “Nhiệm vụ và quyền hạn của đại học” và Điều 32 quy định về “Quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học”.
Sáu lĩnh vực hoạt động được tự chủ với mức độ khác nhau: Theo Điều 32 Khoản 1, cơ sở giáo dục đại học tự chủ, mà không thấy kèm theo “tự chịu trách nhiệm”, trong các hoạt động chủ yếu chứ không phải tất cả các hoạt động thuộc sáu lĩnh vực là: (i) tổ chức và nhân sự, (ii) tài chính và tài sản, (iii) đào tạo, (iv) khoa học và công nghệ, (v) hợp tác quốc tế, (vi) bảo đảm chất lượng giáo dục đại học”. Vì các cơ sở giáo dục đại học đều tự chủ về tổ chức và nhân sự nên quy định tại Điều 14 Khoản 4 có lẽ là thừa khi chỉ nói đến cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài được tự chủ về cơ cấu tổ chức. Điều đặc biệt ở đây là việc thực hiện quyền tự chủ đại học ở mức độ nào được quy định gắn với năng lực, kết quả xếp hạng, kết quả kiểm định và nếu cơ sở giáo dục đại học không còn đủ năng lực thực hiện quyền cũng bị xử lý theo quy định của pháp luật (Điều 32, Khoản 2). Cần xem xét kỹ các quy định về từng lĩnh vực tự chủ như sau:
(i) Tự chủ tổ chức và nhân sự: Luật Giáo dục đại học (2012) không có quy định cụ thể nào về tự chủ trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, Điều 14, Khoản 4 quy định “Cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài được tự chủ về cơ cấu tổ chức”, còn các cơ sở giáo dục khác không rõ được tự chủ như thế nào về tổ chức và nhân sự. 
(ii) Tự chủ tài chính và tài sản: Về tự chủ tài chính, Điều 20, Khoản 4 quy định rõ người đứng đầu là hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học công lập, chủ tịch hội đồng quản trị cơ sở giáo dục đại học tư thục là chủ tài khoản… thực hiện quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm công khai, minh bạch về tài chính theo quy định của pháp luật. Về tự chủ tài sản, Điều 67, Khoản 1 quy định: “Cơ sở giáo dục đại học quản lý, sử dụng tài sản được hình thành từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng tài sản nhà nước; tự chủ, tự chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng tài sản hình thành từ các nguồn ngoài ngân sách nhà nước”. Quy định này cho thấy rõ “tự chủ” khác với “không tự chủ” về cả cách thức và đối tượng quản lý, sử dụng: tự chủ đại học chỉ quy định đối với tài sản hình thành từ các nguồn ngoài ngân sách nhà nước. 
(iii) Tự chủ đào tạo: Luật Giáo dục đại học (2012) có bốn điều 33, 34, 36 và 37 quy định tự chủ đại học về bốn nội dung hoạt động chủ yếu của lĩnh vực đào tạo. Cụ thể, về tự chủ mở ngành, chuyên ngành Điều 33, Khoản 2 quy định: Đại học quốc gia, các cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn quốc gia, chứ không phải tất cả các cơ sở giáo dục đại học được tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc mở ngành đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, ngành hoặc chuyên ngành đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ trong danh mục ngành, chuyên ngành đào tạo đã được phê duyệt thuộc lĩnh vực đào tạo của nhà trường khi có đủ năng lực đáp ứng các điều kiện theo quy định. Về tự chủ khác với chịu trách nhiệm trong tuyển sinh Điều 34, Khoản 1, Mục b quy định cơ sở giáo dục đại học tự chủ xác định chỉ tiêu tuyển sinh, chịu trách nhiệm công bố công khai chỉ tiêu tuyển sinh, chất lượng đào tạo và các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học. Điều 34, Khoản 2, Mục b quy định: cơ sở giáo dục đại học tự chủ quyết định phương thức tuyển sinh, thực ra là tự lựa chọn phương thức thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp giữa thi tuyển và xét tuyển và chịu trách nhiệm về công tác tuyển sinh. Về tự chủ xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo Điều 36, Khoản 1, Mục d quy định: cơ sở giáo dục đại học tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc xây dựng, thẩm định, ban hành (không thấy “thực hiện”) chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; Khoản đ quy định rõ: cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc xây dựng chương trình đào tạo và thực hiện chương trình đào tạo đã được kiểm định bởi tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục của Việt Nam bảo đảm theo quy định tại khoản này. Về tự chủ tổ chức và quản lý đào tạo Điều 37, Khoản 2 quy định cơ sở giáo dục đại học tự chủ, tự chịu trách nhiệm tổ chức và quản lý đào tạo theo khóa học, năm học và học kỳ. Tuy nhiên, Khoản 1 của điều này quy định: việc tổ chức và quản lý đào tạo được thực hiện theo niên chế hoặc tín chỉ. 
(iv) Tự chủ khoa học và công nghệ: Điều 41 có 9 khoản quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ sở giáo dục đại học, trong đó chỉ có Khoản 4 quy định “Tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc ký kết hợp đồng khoa học và công nghệ; thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ; đăng ký tham gia tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ”. Với quy định này cơ sở giáo dục đại học chỉ được tự chủ hoạt động khoa học và công nghệ ở ba nhiệm vụ, quyền hạn là: (i) ký kết hợp đồng, (ii) thực hiện nhiệm vụ và (iii) đăng ký tham gia tuyển chọn thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Có thể cần ghi nhận ở quy định này một điều khác biệt cơ bản của tự chủ đại học Việt Nam so với tự chủ đại học thế giới. Đó là tự do học thuật, tự do khoa học và công nghệ là sứ mệnh, nhiệm vụ của đại học. Do vậy vấn đề đặt ra chủ yếu phải là tạo cơ sở pháp luật hỗ trợ trường đại học hoàn thành tốt nhất hoạt động khoa học và công nghệ; chứ không cần phải có các quy định khác nhau về nhiệm vụ, quyền hạn và quyền tự chủ của đại học trong hoạt động khoa học và công nghệ. 
(v) Tự chủ hợp tác quốc tế: Luật Giáo dục đại học (2012) 17 lần sử dụng từ ngữ “hợp tác quốc tế”, trong đó chỉ một lần nói đến tự chủ hợp tác quốc tế. Đó là theo quy định tại Điều 32, cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc sáu lĩnh vực trong đó có “hợp tác quốc tế”. Luật này dành cả Chương 6 gồm sáu điều từ Điều 43 đến Điều 48 quy định “Hoạt động hợp tác quốc tế”, nhưng không có một quy định nào cụ thể hóa quyền tự chủ hoạt động trong lĩnh vực hợp tác quốc tế. 
(vi) Tự chủ bảo đảm chất lượng giáo dục đại học: Đây là lĩnh vực tự chủ thứ sáu đã được quy định tại Điều 32. Như để cụ thể hóa mối quan hệ giữa tự chủ và kiểm định chất lượng giáo dục đại học đã nêu trong Điều 32, Điều 53 quy định việc sử dụng kết quả kiểm định chất lượng giáo dục đại học làm căn cứ thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, có thể thấy quy định này vẫn chưa rõ về cách thức làm thế nào để kết quả kiểm định chất lượng là căn cứ thực hiện tự chủ đại học. Rất có thể cần tham khảo các quy định về kiểm định chất lượng, kỹ thuật các phương tiện giao thông để đưa ra các quy định rõ ràng, cụ thể và khả thi hơn theo hướng cơ sở giáo dục đại học nào được kiểm định bảo đảm chất lượng giáo dục đại học mới được quyền tự chủ đại học. 
Sự biến đổi, phát triển của tự chủ đại học năm 2005 – 2012
Qua phân tích các quy định của Luật Giáo dục (2005) và Luật Giáo dục đại học (2012) có thể nhận thấy mặc dù cả hai luật này đều chưa sử dụng từ ngữ “tự chủ đại học” nhưng nội hàm khái niệm này được phát triển rõ trước hết qua từ ngữ “đại học”. Năm 2005, tự chủ đại học được phản ánh qua các quy định cụ thể về tự chủ của trường đại học và quy định chung về tăng cường tự chủ của cơ sở giáo dục trong đó có cơ sở giáo dục đại học gồm trường cao đẳng, trường đại học và viện nghiên cứu khoa học đào tạo trình độ tiến sỹ. Đến năm 2012, dù vẫn chưa sử dụng từ ngữ “tự chủ đại học”, nhưng nội hàm khái niệm này đã được mở rộng cùng với “tự chủ của cơ sở giáo dục đại học” bao gồm trường cao đẳng, trường đại học, học viện, đại học (đại học vùng, đại học quốc gia), viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sỹ. Xem xét kỹ hơn có thể thấy, trong giai đoạn 2005 - 2012, thứ nhất, “tự chủ” luôn tiếp tục gắn với “tự chịu trách nhiệm” và được tăng cường cùng với quá trình vừa thống nhất và vừa phân cấp quản lý giáo dục. Thứ hai, tự chủ được mở rộng từ năm lĩnh vực là (i) đào tạo, (ii) công tác sinh viên, (iii) tổ chức và nhân sự, (iv) các nguồn lực và (v) hợp tác năm 2005 sang sáu lĩnh vực là (i) tổ chức và nhân sự, (ii) tài chính và tài sản, (iii) đào tạo, (iv) khoa học và công nghệ, (v) hợp tác quốc tế và (vi) bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Thứ ba, đến năm 2012 tự chủ đại học được mở rộng sang hai lĩnh vực mới trước đó chưa có quy định là lĩnh vực “khoa học và công nghệ” và “bảo đảm chất lượng giáo dục” đặc thù cho giáo dục đại học. Thứ tư, nội dung của từng lĩnh vực tự chủ đại học có lẽ đã bị giảm về mức độ cụ thể hóa, ví dụ năm 2005 Luật Giáo dục quy định trường đại học tự chủ trong hoạt động huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực, nhưng đến năm 2012 Luật Giáo dục đại học chỉ quy định tự chủ trong quản lý và sử dụng tài sản hình thành từ các nguồn ngoài ngân sách nhà nước. 
Trên thế giới khái niệm tự chủ đại học gắn liền với sự thay đổi mối quan hệ giữa nhà nước và trường đại học theo xu hướng phát huy truyền thống đại học là tự do học thuật và mở rộng tự chủ tổ chức, tự chủ tài chính và tự chủ nhân sự. Ở Việt Nam đến năm 2012, các chính sách giáo dục chưa sử dụng từ ngữ “tự chủ đại học” mà dùng nhiều từ ngữ như “tự chủ, quyền tự chủ, nguyên tắc tự chủ, cơ chế tự chủ, chế độ tự chủ và luôn gắn tự chủ với “tự chịu trách nhiệm” và “theo quy định pháp luật”. Do vậy, cần tiếp tục nghiên cứu để có thể nâng cao chất lượng và hiệu quả các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của đại học là tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế và bảo đảm chất lượng giáo dục ngang tầm yêu cầu mới của phát triển bền vững đất nước./. 
GS, TS. Lê Ngọc Hùng
Đại học quốc gia Hà Nội

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2019/54388/Tu-chu-dai-hoc-Khai-niem-va-chinh-sach-giao-duc-o.aspx

BÊ BỐI TUYỂN SINH ĐẠI HỌC GÂY CHẤN ĐỘNG NƯỚC MỸ

QĐND - Là một trong những nước đứng đầu thế giới về chất lượng giáo dục, nhưng Mỹ cũng chứng kiến những vụ gian lận thi cử gây chấn động dư luận. Mới đây, trong khuôn khổ chiến dịch Varsity Blues, cảnh sát Mỹ đã triệt phá đường dây gian lận đầu vào tại các trường đại học danh tiếng, như: Harvard, Yale hay Stanford. Đây là vụ bê bối được đánh giá là lớn nhất từ trước đến nay từng bị truy tố ở Mỹ.

Những mánh khóe gian lận  
Theo Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI), nâng điểm, làm giả bài thi, chứng từ, hồ sơ thí sinh là một trong những mánh khóe được áp dụng trong đường dây gian lận tuyển sinh giúp con cái giới giàu có, nổi tiếng ở Mỹ vào những trường đại học danh giá.
Nghi can hàng đầu trong đường dây gian lận này là William “Rick” Singer, 58 tuổi, lãnh đạo Công ty Tư vấn và Dự bị đại học Edge College & Career Network ở California. Người này đã nhận các tội liên quan đến vai trò điều hành đường dây gian lận thi cử với mức phí từ 100.000USD đến 2,5 triệu USD cho mỗi suất trúng tuyển. Các khoản thanh toán được che đậy dưới hình thức quyên góp từ thiện. “Chúng tôi giúp những gia đình giàu có nhất ở Mỹ chạy suất học cho con vào các trường danh tiếng. Người năng lực có thể tự đi vào bằng “cửa trước”. Còn “cửa sau” dành cho ai có điều kiện với giá gấp 10 lần và tôi đã mở ra cánh cửa này”, nghi can trên khai nhận.
Phía công tố cho biết, đường dây này hoạt động từ năm 2011 và bê bối chạy suất liên quan tới 200 trường đại học trên toàn nước Mỹ. Theo đó, đường dây của Singer hướng dẫn phụ huynh các mánh khóe như làm giả giấy chứng nhận y tế bị khuyết tật khi đứa trẻ tham gia kỳ thi chuẩn hóa xét tuyển vào đại học ở Mỹ gồm SAT hoặc ACT. FBI cho biết, các bậc cha mẹ cũng có thể lấy nhiều lý do để con của họ được thi tuyển tại những cơ sở mà giám thị đã bị mua chuộc. Phụ huynh cũng có thể trả từ 15.000USD đến 75.000USD cho công ty của Singer để tìm người thi hộ, chỉ đáp án hoặc sửa câu trả lời khi chấm thi. Ngoài ra, nhiều thí sinh còn được đặc tuyển với tư cách vận động viên có thành tích nổi bật dù không đủ năng lực. Chẳng hạn, một huấn luyện viên bóng đá nữ tại Đại học Yale được “lót tay” 400.000USD để nhận một sinh viên mà người này thậm chí còn không chơi môn thể thao nói trên.
Đến nay, nhà chức trách đã xác nhận 50 nhân vật nổi tiếng trong ngành giải trí và kinh doanh của Mỹ bị cáo buộc dính líu đến vụ bê bối tuyển sinh vào các trường đại học nổi tiếng của nước này. Trong số đó có nữ diễn viên nổi tiếng người Mỹ Lori Loughlin, 54 tuổi. Theo tòa án, diễn viên Loughlin cùng chồng đã đồng ý trả 500.000USD để giúp hai con gái họ có cơ hội được nhận vào Đại học Southern California.
Hiện công tác điều tra về đường dây chạy suất này vẫn đang được tiến hành. Tòa dự kiến sẽ tuyên án vào ngày 19-6 tới. Nếu bị kết tội, “ông trùm” đường dây gian lận thi cử William “Rick” Singer sẽ đối mặt 65 năm tù và án phạt hơn 1 triệu USD với các tội danh khác, gồm: Lừa đảo, rửa tiền và cản trở công lý.
Phần nổi trong tảng băng chìm
Vụ bê bối trên bị lật tẩy trong bối cảnh các bậc phụ huynh ở Mỹ lo ngại về tình trạng cạnh tranh căng thẳng để có được một suất vào đại học, cũng như bức xúc về các đặc quyền dành cho giới nhà giàu ở nước này. Bê bối này cũng tác động khá lớn tới tâm lý của giáo viên và học sinh, những người đang ngày ngày giảng dạy và học tập nghiêm túc. Connor Finn, một học sinh đang đợi phản hồi từ các trường đại học mà mình nộp đơn cũng cảm thấy khá bức xúc: “Em đã phải học rất nỗ lực để giành được điểm A cho các môn, thế mà có những người bỏ ra hàng nghìn USD để có được kết quả mà người khác phải rất nỗ lực mới có mà chẳng phải cố gắng”.
Trong một bài viết đăng trên tờ New York Times, tác giả Rainesford Stauffer tiết lộ, vụ bê bối chỉ là một phần nổi trong tảng băng chìm vì từ lâu, việc tuyển sinh đại học dường như đã trở thành một ngành công nghiệp hợp pháp tại Mỹ. Theo ông Rainesford Stauffer, rất nhiều gia đình giàu có tại Mỹ sẵn sàng “phá luật” để giúp con em mình lọt vào các trường đại học thuộc tốp đầu thông qua diện “học bổng” dành cho các vận động viên dù con họ chưa từng chơi một môn thể thao nào thời trung học. Điều đáng phẫn nộ, theo Stauffer, đó là việc chạy điểm dường như đã trở thành một ngành công nghiệp siêu lợi nhuận, “hợp pháp” và diễn ra ngang nhiên vào mỗi mùa tuyển sinh tại Mỹ. Tuy nhiên, theo ông, điểm số là thứ có thể mua được, trong khi sự sáng tạo và đam mê thì không.
BÌNH NGUYÊN

http://www.qdnd.vn/thoi-su-quoc-te/doi-song-quoc-te/be-boi-tuyen-sinh-dai-hoc-gay-chan-dong-nuoc-my-568739

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ THỰC HIỆN LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

Cho đến nay, cả nước đã hoàn thành nhiệm vụ tuyển chọn, gọi thanh niên nhập ngũ năm 2019. Số lượng thanh niên nhập ngũ trong cả nước lên đến hàng vạn người. Cũng như nhiều năm trước, trong đợt tuyển quân năm nay đã có nhiều thanh niên tốt nghiệp đại học, có việc làm, thu nhập ổn định nhưng vẫn làm đơn tình nguyện nhập ngũ.

Cá biệt có gia đình hai anh em cùng làm đơn xin được nhập ngũ trong một đợt. Trả lời phỏng vấn báo chí trong dịp lên đường nhập ngũ, nhiều thanh niên đã bày tỏ những suy nghĩ chân thành của mình: “Ngay từ khi còn nhỏ, em đã mong được mặc bộ quân phục màu xanh, làm anh Bộ đội Cụ Hồ”. Có người thì nói: “Em luôn mong muốn có dịp được sống trong quân ngũ để rèn luyện những phẩm chất cao quý của thanh niên… tiếp tục phát huy truyền thống của dân tộc ta”. Có người chia sẻ: “Bảo vệ chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của dân tộc là trách nhiệm, vinh dự của thế hệ trẻ… Chúng em hiểu trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc của thế hệ trẻ, nhất là trong tình hình hiện nay”.
Thế nhưng trên internet, mạng xã hội đã có kẻ lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tán phát thông tin xấu độc. Chẳng hạn, có kẻ viết: “Chính sách nghĩa vụ quân sự thực chất là chạy đua vũ trang”; “ Thời bình sao phải tuyển nhiều lính như thời chiến?”; “Sao không tập trung vào phát triển kinh tế, chống tham nhũng?”... Những “phản biện” nói trên công bằng mà nói, có thể do thiếu hiểu biết về đường lối, chính sách quốc phòng, về Luật Nghĩa vụ quân sự của Đảng và Nhà nước ta. Nhưng đã có kẻ xấu lợi dụng dịp này để xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Mục đích của họ là phá hoại mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, đặc biệt là với quân đội.
Đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta có cơ sở lịch sử, chính trị, pháp lý minh bạch. Trước hết, đó là vì dân tộc ta phải thường xuyên chống lại các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ. Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta cho thấy, không có một thế kỷ nào nhân dân ta không phải chống lại các cuộc chiến tranh xâm lược.
Ngay từ thời kỳ phong kiến, các triều đại trong lịch sử Việt Nam đã có chính sách “ngụ binh ư nông”(2). Chính sách này ra đời trong bối cảnh-một đất nước đất không rộng, người không đông, lại thường xuyên bị các thế lực nước ngoài xâm lược. Chính sách “ngụ binh ư nông” là sự kết hợp nhiệm vụ duy trì lực lượng quốc phòng với sản xuất, sẵn sàng chuyển hóa lực lượng quân sự từ sản xuất sang chiến đấu khi cần thiết và ngược lại, chuyển lực lượng chiến đấu về sản xuất trong thời bình.  
Trong bối cảnh quốc tế và khu vực ngày nay đã có nhiều thay đổi, tuy nhiên, Việt Nam vẫn đứng trước nhiều nguy cơ đe dọa về độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ... Ngày nay, những nguy cơ, thách thức cũ vẫn còn đó thì lại có thêm những nguy cơ, thách thức mới. Đó là bảo vệ chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và hạnh phúc của nhân dân. Gắn liền với nguy cơ, thách thức đó là phương thức chống phá của các thế lực thù địch-đó là chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. Về kỹ thuật, đó là việc các thế lực thù địch sử dụng internet, mạng xã hội làm phương thức chống phá mới.
Ứng phó với tình hình đó, đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng và Nhà nước ta đã có những điểm mới. Văn kiện Đại hội XII của Đảng ta xác định: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền”… Chính sách và chiến lược quốc phòng của Đảng ta là “tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh”; “xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc... Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước”.
Đảng và Nhà nước ta cũng đã công khai hóa chính sách quốc phòng của Nhà nước ta. Đó là: “Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ, thể hiện ở chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế, giải quyết mọi bất đồng và tranh chấp với các quốc gia khác bằng biện pháp hòa bình. Việt Nam chủ trương từng bước hiện đại hóa quân đội, tăng cường tiềm lực quốc phòng chỉ nhằm duy trì sức mạnh quân sự ở mức cần thiết để tự vệ.
Việt Nam chủ trương không tham gia các tổ chức liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác”.(3)
Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua là sự thể chế hóa Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân” (Điều 15); “Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng” (Điều 16).
Luật Nghĩa vụ quân sự quy định nghĩa vụ quân sự là “Nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân;… Công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định của luật này” (Điều 4).
Luật Nghĩa vụ quân sự nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc-chế độ trong tình hình mới. Về mặt lý luận cũng như thực tế, thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự không làm tăng quân số tuyệt đối, không nhằm chạy đua vũ trang… mà chỉ nhằm luân chuyển nhân lực từ dân sự sang quân sự và ngược lại (đó là những đợt ra quân theo định kỳ hằng năm).
Ý kiến “phản biện” rằng: “Thời bình sao phải tuyển nhiều lính như thời chiến?”; “Sao không tập trung vào phát triển kinh tế, chống tham nhũng?”, nếu không nói là một luận điệu chính trị xấu độc thì cũng thể hiện sự hiểu biết ấu trĩ về nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nói chung, của Quân đội ta nói riêng trong thời bình.
Thực tế cho thấy, ngay trong thời chiến, Quân đội ta vẫn dành một lực lượng nhất định tham gia sản xuất (phục vụ quốc phòng và dân sinh)… Hiện nay, không ít đơn vị quân đội đang làm đồng thời cả hai nhiệm vụ-kinh tế và quốc phòng, như một số đơn vị quân đội làm kinh tế, tự đáp ứng một phần nhu cầu, giảm thiểu gánh nặng ngân sách cho Nhà nước. Hoặc các bệnh viện quân đội vừa là một cơ sở y tế trong hệ thống y tế quốc gia, vừa làm nhiệm vụ sẵn sàng phục vụ cứu chữa trong thời chiến. Trong thời bình, ở những bệnh viện này, không chỉ cán bộ, chiến sĩ quân đội được chữa trị mà còn có cả những bệnh nhân dân sự… nhất là những bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo.
Trên lĩnh vực phòng, chống thiên tai, quân đội luôn là lực lượng nòng cốt và có không ít cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ cứu hộ-cứu nạn, giúp nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai trên khắp mọi miền Tổ quốc.
Thực tế cho thấy, trong những năm qua, các thế lực thù địch thường lợi dụng những vấn đề kinh tế-xã hội khó khăn, như ô nhiễm môi trường, những sơ hở trong quản lý kinh tế-dịch vụ công… để kích động người dân chống lại chính quyền. Hành vi “bất tuân dân sự”-là kịch bản trong đó, những phần tử cầm đầu tập hợp lực lượng, tụ tập đông người, biểu tình gây rối… từng bước đi đến bạo loạn, lật đổ chế độ xã hội, chuyển hóa xã hội hiện hữu sang con đường tư bản chủ nghĩa, lệ thuộc vào ngoại bang. Vì vậy, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị tư tưởng ngày càng quyết liệt. Trên mặt trận ấy, các cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam lại là một trong những lực lượng tiên phong...
Mục tiêu của cách mạng Việt Nam ngày nay là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Điều kiện và tiền đề để thực hiện mục tiêu đó là giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và ổn định xã hội. Thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự là góp phần đưa dân tộc ta đi đến mục tiêu đó.
TS CAO ĐỨC THÁI (1)
(1) - Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
(2) - Là chính sách trong các triều đại: Nhà Đinh, Lê sơ, Lý, Trần.
(3) - Sách trắng quốc phòng (Việt Nam) Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.


Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...