Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2019

VIỆT NAM VÀ ĐỨC KHẲNG ĐỊNH TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC TRÊN NHIỀU LĨNH VỰC


VIỆT NAM VÀ ĐỨC KHẲNG ĐỊNH TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC TRÊN NHIỀU LĨNH VỰC
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đối tác chiến lược với Liên bang Đức, đối tác hàng đầu của Việt Nam ở châu Âu.
Trong khuôn khổ chuyến thăm làm việc tại Đức, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã có cuộc gặp với Phó Chủ tịch Quốc hội Liên bang Đức Hans-Peter Friedrich.
Tại cuộc gặp, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đối tác chiến lược với Liên bang Đức, đối tác hàng đầu của Việt Nam ở châu Âu. Phó Thủ tướng chuyển lời mời thăm Việt Nam của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đến Chủ tịch Quốc hội Liên bang Đức và cá nhân Ngài Hans Peter Friedrich.
Về hợp tác Quốc hội, Phó Thủ tướng đánh giá cao sự hợp tác hiệu quả giữa Quốc hội hai nước trong khuôn khổ song phương và đa phương; trao đổi đoàn cấp cao và giữa các Ủy ban chuyên trách, Nhóm nghị sỹ; tăng cường hiểu biết và chia sẻ về lập pháp, giám sát; ra quyết sách đối với các vấn đề quan trọng của quốc gia; và góp phần làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước. Phó Thủ tướng đề nghị Quốc hội Liên bang Đức tiếp tục ủng hộ cung cấp ODA cho Việt Nam.
Phó Chủ tịch Quốc hội Đức hoan nghênh chuyến thăm của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh góp phần thúc đẩy và tạo đà cho những bước phát triển mới trong quan hệ hai nước, đánh giá cao tầm quan trọng của mối quan hệ Đối tác chiến lược Việt - Đức và bày tỏ mong muốn mối quan hệ này tiếp tục phát triển sâu rộng. Phó Chủ tịch Quốc hội Friedrich cũng bày tỏ hài lòng về quan hệ hợp tác giữa Quốc hội hai nước không ngừng được củng cố và phát triển tốt đẹp trong thời gian qua.
Hai bên nhất trí tầm quan trọng của Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), cần thúc đẩy EU sớm ký và phê chuẩn EVFTA vì lợi ích của cộng đồng doanh nghiệp hai nước; đồng thời chia sẻ vai trò quan trọng của các cơ chế đa phương và tôn trọng luật pháp quốc tế trong việc duy trì hoà bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đánh giá cao Quốc hội Đức và Nhóm Nghị sỹ hữu nghị với ASEAN trong Quốc hội Đức đã luôn theo dõi sát tình hình Biển Đông, đồng thời đề nghị phía Đức tiếp tục có tiếng nói mạnh mẽ ủng hộ lập trường chính nghĩa của Việt Nam và ASEAN là giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, không sử dụng vũ lực, thực hiện đẩy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử ở Biển Đông (DOC) và sớm tiến tới Bộ Quy tắc COC.
Cũng trong khuôn khổ chuyến thăm làm việc tại Đức, ngày 20-02, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh đã có buổi làm việc với Bộ trưởng Kinh tế và Năng lượng Liên bang Đức, ông Peter Altmaier.
Tại buổi làm việc, hai bên đã trao đổi về các biện pháp tăng cường hợp tác thương mại và đầu tư, coi đây là trụ cột trong quan hệ đối tác chiến lược.
Phó Thủ tướng đánh giá cao việc Đức trong nhiều năm liền là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam trong EU và hoan nghênh các doanh nghiệp lớn của Đức đang đầu tư kinh doanh hiệu quả tại Việt Nam. Phó Thủ tướng cho rằng đầu tư của Đức vào Việt Nam vẫn còn tiềm năng lớn, so với mức gần 2 tỷ USD hiện nay.
Hai bên nhất trí tăng cường các biện pháp thúc đẩy mạnh mẽ trao đổi thương mại song phương, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam và Liên minh châu Âu sắp ký EVFTA. Phía Đức cũng cam kết sẽ tiếp tục thúc đẩy sớm ký và phê chuẩn EVFTA vì lợi ích cộng đồng doanh nghiệp hai nước.
Nhằm khuyến khích đầu tư của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Đức vào Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực thế mạnh của Đức như công nghiệp phụ trợ, công nghiệp thực phẩm, dược phẩm, thiết bị y tế, du lịch, đào tạo nghề song hành, năng lượng tái tạo, hai bên nhất trí cần đẩy mạnh trao đổi đoàn cấp bộ, ngành, nhất là các đoàn doanh nghiệp tham dự các hội chợ, triển lãm hàng hóa, dịch vụ.
Nhân dịp này, thay mặt Chính phủ Việt Nam, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh cảm ơn Chính phủ Đức đã cung cấp ODA cho Việt Nam trong những năm qua, khẳng định các dự án ODA của Đức đang góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam; đề nghị Đức tiếp tục quan tâm hỗ trợ Việt Nam thực hiện các dự án dạy nghề, thích ứng với biến đổi khí hậu, xử lý rác thải và các mảng hợp tác phục vụ cách mạng công nghệ 4.0, vốn là thế mạnh của Đức và Việt Nam đang có nhu cầu phát triển.
Bộ trưởng Kinh tế và Năng lượng Peter Altmaier đánh giá cao chuyến thăm Đức của Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh, đánh dấu việc thắt chặt quan hệ đối tác chiến lược Việt-Đức; đồng thời đánh giá cao tiềm năng hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước, vị thế của Việt Nam trong các liên kết kinh tế khu vực và quốc tế; cam kết cùng Việt Nam thực hiện tốt các dự án ODA đang được triển khai và các dự án mới, đáp ứng yêu cầu phát triển của hai nước trong giai đoạn hiện nay.
Ông Peter Altmaier cho rằng hai nước có nhiều hình thức hợp tác tốt như Ngôi nhà Đức tại Thành phố Hồ Chí Minh và cho biết sẽ sớm khai trương trong thời gian tới; đánh giá cao các điều dưỡng viên Việt Nam đã được đưa sang Đức theo dự án đào tạo điều dưỡng viên giữa hai nước; cam kết sẽ tiếp tục quan tâm hỗ trợ Việt Nam thực hiện các dự án đào tạo nghề như mô hình đã triển khai giữa hai bên; bày tỏ mong muốn tăng số lao động có tay nghề của Việt Nam sang Đức làm việc trong thời gian tới; tiếp tục bày tỏ quan tâm đến việc thành lập phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (AHK), coi đó là cầu nối hữu hiệu cho cộng đồng doanh nghiệp hai nước.
** Trong khuôn khổ chuyến thăm Liên bang Đức, chiều 20-02, tại Trụ sở Bộ Ngoại giao Đức, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã hội đàm với Bộ trưởng Ngoại giao Đức Heiko Maas.
Tại cuộc hội đàm, Bộ trưởng Ngoại giao Heiko Maas đánh giá cao chuyến thăm Đức lần này của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, nhấn mạnh đây là chuyến thăm quan trọng, nhiều ý nghĩa, tạo cơ sở để hai nước đưa quan hệ Đối tác chiến lược tiếp tục phát triển sâu rộng.
Bộ trưởng Ngoại giao Đức bày tỏ ấn tượng với những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam thời gian qua cũng như vai trò, vị trí quan trọng của Việt Nam trong ASEAN và tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng như những đóng góp ngày càng tích cực của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế.
Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nhất trí hai bên cần tăng cường trao đổi đoàn các cấp, chuyển lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng mời Tổng thống Cộng hoà Liên bang Đức thăm Việt Nam; khẳng định luôn coi trọng quan hệ Đối tác chiến lược với Đức, coi Đức là đối tác hàng đầu, đối tác ưu tiên tại khu vực.
Hai bên nhất trí củng cố và gia tăng nội hàm quan hệ đối tác chiến lược trên các lĩnh vực trong thời gian tới; nhất trí xây dựng kế hoạch hành động cụ thể nhằm làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược.
Phó Thủ tướng cảm ơn sự giúp đỡ của Đức trong các dự án hợp tác phát triển, trong đó tiếp tục thực hiện dự án Tuyến tàu điện ngầm số 2 tại Thành phố Hồ Chí Minh, các dự án về năng lương tái tạo; mong muốn Đức tiếp tục duy trì hỗ trợ ODA cho Việt Nam trong những lĩnh vực Đức có thế mạnh và Việt Nam có nhu cầu.
Hai bên bày tỏ vui mừng trước những bước phát triển khả quan của quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với kim ngạch hai chiều năm 2018 đạt trên 10 tỷ USD (tăng hơn 1 tỷ USD so với năm 2017) và việc Đức tiếp tục là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam tại Liên minh châu Âu (EU); bày tỏ hài lòng với việc Dự án Ngôi nhà Đức tại Thành phố Hồ Chí Minh đang tiến triển tốt đẹp, sau khi khánh thành sẽ là nơi hội tụ các doanh nghiệp Đức tại Việt Nam, góp phần thúc đẩy thương mại - đầu tư song phương.
Phía Đức đánh giá cao tầm quan trọng của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), khẳng định sẽ nỗ lực thúc đẩy việc sớm ký và phê chuẩn EVFTA trong thời gian sớm nhất.
Phía Đức vui mừng việc trường Đại học Việt - Đức tại Bình Dương, một dự án hải đăng trong hợp tác song phương, đang hoạt động hiệu quả và ủng hộ việc hai bên sớm thống nhất dự thảo nội dung Hiệp định ba bên về Trường Đại học Việt - Đức; nhất trí hợp tác với Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay; đồng thời sẵn sàng tăng cường hợp tác với Việt Nam về đào tạo, sử dụng điều dưỡng viên Việt Nam tại Đức; mong muốn thúc đẩy giao lưu văn hóa hai nước qua các hoạt động của Viện Goethe tại Việt Nam.
Ngoài ra, hai bên nhất trí sẽ tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực khác như tư pháp, quốc phòng, khoa học - kỹ thuật, hàng không…
Hai bên nhất trí phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế, đặc biệt là trong khuôn khổ Liên hợp quốc trong bối cảnh Đức sẽ đảm nhận Chủ tich EU trong 2020, đang đảm nhiệm vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và Việt Nam đang ứng cử vào vị trí này nhiệm kỳ 2020 - 2021, đồng thời đảm nhiệm trọng trách Chủ tịch ASEAN năm 2020.
Hai bên cũng chia sẻ quan điểm về nhiều vấn đề quốc tế và khu vực hai bên cùng quan tâm, nhất là ủng hộ tự do hoá thương mại và duy trì các cơ chế đa phương, tôn trọng luật pháp quốc tế vì hoà bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
Nhân dịp này, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã đến thăm, làm việc với các cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Đức./.
BTV/TTXVN
http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Thoi_su/2019/54211/Viet-Nam-va-Duc-khang-dinh-tang-cuong-hop-tac-tren-nhieu.aspx

Thứ Tư, 20 tháng 2, 2019

NHẬN DIỆN BẤT LIÊM ĐỂ "XÂY" ĐỨC LIÊM


NHẬN DIỆN BẤT LIÊM ĐỂ "XÂY" ĐỨC LIÊM
Cần, kiệm, liêm, chính được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bốn bài báo đăng trên báo Cứu quốc tháng 5, 6 năm 1949(1). 70 năm đã qua, tư tưởng Hồ Chí Minh về đức LIÊM vẫn nguyên giá trị. 
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Liêm là trong sạch, không tham lam”; liêm ngày nay rộng hơn ngày xưa, không chỉ gồm những người làm quan không đục khoét dân mà “mọi người đều phải Liêm”. Người cán bộ, người buôn bán, người có tiền, người cày ruộng,… đều phải có đức liêm. 
Trái với đức liêm là bất liêm. “Tham địa vị, tham tiền của, tham danh tiếng, tham ăn ngon là BẤT LIÊM”. Người buôn bán mà mua gian, bán lận là bất liêm; người có tiền mà cho vay cắt cổ, bóp họng đồng bào là bất liêm; người làm nghề mà nhân lúc khó khăn bắt chẹt đồng bào là bất liêm; người làm ruộng mà lấy cắp nước của láng giềng là bất liêm;…
Đối với người cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, trộm của công làm của tư là bất liêm; dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình, gặp việc phải mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm đều trái với LIÊM. Như thế, bất LIÊM của người cán bộ, theo tư tưởng Hồ Chí Minh có nội dung rộng, nó không chỉ là hành vi “đục khoét dân”, “ăn của đút lót”, “trộm của công” mà còn bao gồm các hành vi “lộng quyền”, “dìm người giỏi”, “háo danh”, “ngại khó ngại khổ” trong công việc. Hành vi bất liêm của người cán bộ là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, thói quan liêu, hách dịch, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái. Xem thế, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên là trái với liêm; sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên là bất liêm. 
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Do BẤT LIÊM mà đi đến tội ác trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp”. Người dẫn lời Khổng Tử: “Người mà không liêm, không bằng súc vật” và dẫn lời Mạnh Tử: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”. Những cán bộ dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm để có dịp là đục khoét, ăn của đút, lộng quyền, “dĩ công vi tư” sẽ có hại cho Đảng, cho dân, cho nước. Hành vi của những cán bộ bất liêm làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước, với chế độ mà nhân dân ta đang xây dựng, theo đó việc khơi dựng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bị suy giảm.
Những cán bộ đục khoét của dân, tham ô, tham nhũng rất khó nhận diện nhưng không khó để vạch mặt chỉ tên, nếu thanh tra, kiểm tra được tiến hành tốt. Kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian vừa qua đã cho thấy rõ điều đó. Song những cán bộ ngại khó ngại khổ, thiếu trách nhiệm trong thực thi chức trách, tham danh tiếng (háo danh), không minh bạch trong công tác cán bộ,… sẽ khó nhận diện dẫn đến khó xử lý. “Ăn của đút lót” là một hành vi mà cho đến nay việc nhận diện, xử lý chưa cho kết quả nhiều. Cần nhận rõ rằng, những hành vi đó trái với đức LIÊM, những cán bộ đó là BẤT LIÊM nên cần phải đấu tranh như đấu tranh phòng, chống tham ô, tham nhũng và nên xác định nó là một nội dung quan trọng trong đấu tranh phòng chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. 
Để làm trong sạch đội ngũ, để làm lành mạnh nền hành chính quốc gia, để cho người dân “bớt khổ” trong quá trình làm ăn, sinh sống của mình. cần đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống “ăn của đút lót” - “tham nhũng vặt” Một nền hành chính minh bạch, với đội ngũ cán bộ thanh liêm, “không đòi bôi trơn” sẽ tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho việc phát huy mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ đất nước. Nếu “tham nhũng vặt” không được đấu tranh, ngăn chặn sẽ làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước.
XÂY ĐỨC LIÊM, ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG BẤT LIÊM
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, để xây dựng đức liêm, phòng chống bất liêm, “cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân”. 
Nghĩa là, cán bộ phải gương mẫu, đi đầu trong việc tu dưỡng, rèn luyện và phát huy đức liêm ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi công việc. Cán bộ luôn liêm khiết sẽ là tấm gương sáng để mọi người noi theo tu dưỡng, rèn luyện đức liêm để cả xã hội đều liêm. “Cán bộ thi đua thực hành liêm khiết, thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong nhân dân”. Lời chỉ dạy của Người về nêu gương trong thực hành đức liêm càng làm cho thấy tầm quan trọng của việc nêu gương đối với cán bộ, đảng viên mà Đảng ta đang khơi dựng hiện nay. Cán bộ, đảng viên cần nhận rõ trọng trách chính trị xã hội của mình để chú tâm gương mẫu tu dưỡng, rèn luyện đức liêm.
 Nhưng cũng có khi “quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, nêu cao liêm chính, không chịu đút lót, thì quan “dù không liêm cũng phải hóa ra LIÊM”. Như thế, góp phần để cán bộ liêm chính thì mỗi công dân phải thực hành chữ LIÊM, thực hành liêm chính trong thực hiện chức phận công dân, trong các quan hệ xã hội của mình, nhất là trong quan hệ với những người có chức quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “mọi người đều phải Liêm”, người buôn bán, người có tiền, người cày ruộng, người làm nghề, người cờ bạc,… đều phải có đức liêm. Người không tham lam thì mới có thể ngăn chặn người khác không tham, mình không liêm sao có thể đòi hỏi người khác phải liêm. Nếu mọi người làm việc gì cũng dùng phong bì, phong bao để nhanh được việc thì khó có thể loại bỏ được sự bất liêm trong cán bộ, công chức, viên chức. Vì thế, để cuộc đấu tranh phòng chống sự tha hóa về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên đạt hiệu quả cao, cần phải loại bỏ hành vi “đút lót”, “chạy chọt” trong đời sống xã hội nước ta hiện nay. Đây là một cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn, phức tạp bởi vì đút lót, bôi trơn đang như là một “thói quen” trong đời sống xã hội và những cán bộ suy thoái về đạo đức, lối sống đã, đang lợi dụng thói quen xã hội này để trục lợi, làm giàu. Người dân không đút lót sẽ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính và cán bộ thực hành liêm chính sẽ loại bỏ thói quen đút lót của người dân. Một nhà nước của nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân, một chính phủ kiến tạo phải là một nhà nước, một chính phủ mà tất thảy mọi cán bộ, công chức phải liêm chính.
Để xây dựng đức LIÊM, đấu tranh phòng chống BẤT LIÊM, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra bốn biện pháp: Một là, cán bộ phải gương mẫu, tự mình liêm khiết để làm gương cho nhân dân noi theo. Hai là, nhân dân biết phát huy quyền hạn của mình để giúp cán bộ thực hiện đức liêm. Ba là, thực hành tuyên truyền giáo dục để mọi người nhận thức rằng bất liêm là điều xấu, có tội với dân với nước, từ đó mà tu dưỡng đức liêm. Bốn là, xử lý nghiêm minh với những con người bất liêm.
Để đấu tranh phòng chống sự bất liêm trong cán bộ, đảng viên phải dựa vào dân, phát huy vai trò của nhân dân trong kiểm tra, giám sát, “phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hiện chữ LIÊM”. Muốn thế, cần không ngừng nâng cao ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, bồi dưỡng và phát huy năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội, ý thức dân chủ xã hội của nhân dân để trên cơ sở đó mà tổ chức và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đức liêm cho cán bộ. Để phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đức liêm cho cán bộ, đội ngũ cán bộ phải tin dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân, trước hết cấp ủy đảng phải có những biện pháp cụ thể, phù hợp để nhân dân bày tỏ chính kiến của mình. Gần dân, sát dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân về đức liêm của đội ngũ cán bộ là quán triệt quan điểm “dân là gốc”. 
Bên cạnh đó, chú trọng xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành vi, những con người bất liêm, cho dù họ là ai. Qua đó, cảnh tỉnh mọi người tránh xa hành vi bất liêm, đồng thời tạo dựng niềm tin xã hội. Kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta thời gian gần đây đã làm gia tăng niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý xã hội của Nhà nước. Khi niềm tin được củng cố thì đồng thuận xã hội gia tăng, đó là một trong những điều kiện phát huy sức mạnh của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đồng thời, để mọi người đều liêm, trước hết cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục làm cho mọi người nhận thức rõ rằng bất liêm là “ăn cắp”, là xấu, để mà tránh xa nó. Bằng mọi cách làm cho mọi người dân, trong đó có cả cán bộ hiểu rõ rằng lòng tự hào, tự tôn dân tộc phải thể hiện ở sự liêm chính. Quá trình phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là quá trình từng bước loại bỏ hành vi trái với liêm, đấu tranh không khoan nhượng với những con người bất liêm như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ”.
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t. 5, tr.631 - 645.
PGS.TS. Phạm Xuân Hảo
http://tuyengiao.vn/theo-guong-bac/nhan-dien-bat-liem-de-xay-duc-liem-118942

GÁC LẠI QUÁ KHỨ, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI!


GÁC LẠI QUÁ KHỨ, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI!
(TG)- Cách đây 40 năm, ngày 17-2-1979, Trung Quốc đã huy động 60 vạn quân, với 9 quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh độc lập, 6 trung đoàn với 550 xe tăng, 4 sư đoàn và trung đoàn pháo binh, phòng không với 2.559 khẩu pháo, trong đó có nhiều dàn phóng hỏa tiễn bất ngờ tiến công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam, gây ra cuộc chiến vô cùng tàn khốc và những xung đột quân sự dai dẳng suốt 10 năm sau đó. 
Quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc luôn là vấn đề nóng bỏng trong suốt mấy ngàn năm lịch sử của dân tộc Việt Nam; dù ở thời đại nào và chế độ nào, giống hay khác nhau đều mang tính thời sự, phức tạp và nhạy cảm. Điểm nổi bật xuyên suốt là “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”.
Trong thời hiện đại, qua gần 70 năm, kể từ khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam (18-1-1950 - 18-1-2019), quan hệ giữa hai nước cũng trải qua nhiều bước thăng trầm. Cách đây 40 năm, ngày 17-2-1979, Trung Quốc đã huy động hơn 60 vạn quân tiến công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam, gây ra cuộc chiến vô cùng tàn khốc và những xung đột quân sự dai dẳng suốt 10 năm sau đó. Trước hành động quân sự của Trung Quốc, với truyền thống yêu nước và ý chí quật cường, cả dân tộc Việt Nam đã đoàn kết một lòng, kiên quyết đánh bại hành động gây chiến tranh, buộc quân Trung Quốc phải rút khỏi Việt Nam ngày 18-3-1979, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc.

Phát huy truyền thống nhân văn, nhân đạo, bang giao hòa hiếu, Việt Nam đã làm hết sức mình, thực hiện gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, phấn đấu cho lợi ích của mỗi quốc gia và nguyện vọng nhân dân hai nước, ra sức xây dựng quan hệ Việt Nam - Trung Quốc ngày càng tốt đẹp. Bước ngoặt của việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc được đánh dấu bằng Hội nghị Thành Đô từ ngày 3 đến ngày 4-9-1990. Tại hội nghị này, lãnh đạo cao nhất của Đảng, Chính phủ Việt Nam và của phía Trung Quốc đã ký kết Kỷ yếu hội nghị đồng thuận bình thường hóa quan hệ hai nước.
Tiếp đó, vào tháng 11-1991, Trung Quốc và Việt Nam đã thực hiện bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.
Kể từ đây, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc phát triển nhanh chóng. Nhận thức về tầm quan trọng của mối quan hệ ổn định, hữu nghị giữa hai nước láng giềng xã hội chủ nghĩa và vận mệnh sống còn của hai đảng cầm quyền hai nước hết sức gần gũi, gắn bó: “Sơn thủy tương liên, lý tưởng tương thông, văn hóa tương đồng, vận mệnh tương quan”, lãnh đạo cấp cao hai bên đã thường xuyên tiếp xúc, trao đổi và liên tục củng cố trong khuôn khổ quan hệ hai nước. Hai nước đã xác định phát triển quan hệ theo phương châm 16 chữ vàng “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và nhất trí cùng nhau trở thành “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.
Đặc biệt, từ khi hai nước thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện năm 2008, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đã không ngừng mở rộng, ngày càng đi vào chiều sâu trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hóa. Hiếm có đối tác nào của Việt Nam có nhiều cơ chế giao lưu, hợp tác sâu rộng giữa hai Đảng, Chính phủ, Quốc hội và giữa các tổ chức chính trị xã hội, địa phương như Trung Quốc. Sau khi bình thường hóa quan hệ, hai nước đã nỗ lực đẩy mạnh quan hệ chính trị; gác lại và tránh nhắc tới những bất đồng, xung đột trong quá khứ để hướng đến tương lai.
Về ngoại giao chính thức, Việt Nam luôn cam kết tuân theo “phương châm 16 chữ vàng”, là láng giềng tốt của Trung Quốc. Việt Nam và Trung Quốc sẽ kiềm chế những xung đột, tranh chấp trên biển Đông, không để ảnh hưởng đến quan hệ giữa hai nước. Trong đó, thành tựu trong quan hệ chính trị - ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc là tiền đề cho quan hệ chính trị giữa hai nước được tiếp tục củng cố và duy trì đà phát triển tích cực. Các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao giữa hai Đảng, hai nước được duy trì thường xuyên. Qua đó, lãnh đạo cấp cao hai nước đạt được nhiều nhận thức chung quan trọng về việc làm sâu sắc hơn nữa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc, tạo sự phát triển quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư của hai quốc gia.
Trên lĩnh vực kinh tế, quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Trung Quốc được khôi phục và phát triển nhanh chóng. Với nhiều hiệp định, thỏa thuận hợp tác đầu tư về kinh tế hoặc có liên quan đến kinh tế, quan hệ kinh tế Việt Nam - Trung Quốc tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ. Trung Quốc trở thành một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam với kim ngạch hai chiều tăng mạnh; chênh lệch cán cân thương mại đang dần được cải thiện. Tổng kim ngạch thương mại giữa hai nước từ 32 triệu USD năm 1991 lên 22,5 tỷ USD năm 2009; năm 2014, đạt hơn 55 tỷ USD; đặc biệt, năm 2018, đã đạt khoảng 100 tỷ USD (gấp gần 3.200 lần so với năm 1991). Đến đầu năm 2018, Trung Quốc đã trở thành bạn hàng lớn nhất của Việt Nam; vừa là nguồn nhập khẩu vừa là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp tăng mạnh và Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ rau quả lớn nhất của Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào thương mại song phương giữa hai nước.
Từ con số không, đầu tư của Trung Quốc đến năm 2014 đã đạt tổng số vốn đăng ký xấp xỉ 8 tỷ USD, đưa Trung Quốc lên vị trí thứ 9 trong tổng số 101 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Trong năm 2017, Trung Quốc vươn lên trở thành nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn thứ 4 vào Việt Nam, chưa kể nguồn đầu tư gián tiếp, thông qua trung gian.Các doanh nghiệp Trung Quốc tham gia đầu tư ngày càng nhiều tại Việt Nam.
Hợp tác về quân sự, quốc phòng và an ninh được đẩy mạnh. Hai bên phấn đấu cho sự thống nhất một cách đầy đủ, tự giác nhằm thực hiện phương châm chung của lãnh đạo hai Đảng là giải quyết mọi vấn đề bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế và các hiệp định khu vực đã ký như Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau. Riêng với hai quân đội, cam kết với nhau không sử dụng vũ lực quân sự để xử lý những gì còn khác biệt về vấn đề Biển Đông. Đây là nội dung không bao giờ thiếu và đều được nhất trí trong các cuộc gặp giữa lãnh đạo hai quân đội. Đó là nguyên tắc và chúng ta luôn luôn nỗ lực giữ gìn để Biển Đông sóng yên biển lặng, giữ vững chủ quyền và hòa bình bền vững cho đất nước. Hai bên đã phối hợp chặt chẽ triển khai thực hiện các văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc, tăng cường quản lý an ninh, an toàn khu vực biên giới; đạt được những nhận thức chung về kiểm soát bất đồng, duy trì hòa bình, ổn định trên biển và đang tích cực thúc đẩy các cơ chế đàm phán về các vấn đề trên biển.
Trên lĩnh vực văn hóa, thể thao, y tế, khoa học kỹ thuật... giữa hai nước cũng đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ. Hai nước đã triển khai nhiều hoạt động giao lưu hữu nghị giữa nhân dân hai nước, các cuộc gặp gỡ giữa các bộ, ngành và địa phương, nhất là giữa các địa phương khu vực biên giới, giữa các thế hệ trẻ hai nước được tổ chức thường xuyên với quy mô lớn, đã góp phần tăng cường sự hiểu biết và củng cố nền tảng hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Hợp tác văn hóa, du lịch, giáo dục và đào tạo tiếp tục được đẩy mạnh. Trung Quốc là quốc gia dẫn đầu về lượng du khách nước ngoài đến Việt Nam. Năm 2017, có hơn 4 triệu lượt du khách Trung Quốc, tăng 48,6%, chiếm hơn 30% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam (riêng 10 tháng đầu năm 2018, đã có gần 4,2 triệu lượt khách Trung Quốc thăm Việt Nam, tăng 28,8% so với cùng kỳ năm trước). Trong khi đó, hằng năm có khoảng 3 triệu lượt du khách Việt Nam sang Trung Quốc. Việt Nam có hơn 13 nghìn sinh viên đang học tập tại Trung Quốc và Trung Quốc cũng có hàng nghìn sinh viên đang học tập tại Việt Nam.
Trên thực tế, chưa đầy 20 năm sau khi bình thường hóa quan hệ, với thiện chí gác lại quá khứ, hướng tới tương lai và xuất phát từ lợi ích lâu dài, hai nước đã giải quyết thành công 2 trong 3 vấn đề do lịch sử để lại hết sức phức tạp trong quan hệ hai nước. Đó là ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ (25-12-2000) và hoàn thành toàn bộ công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền (31-12-2008). Còn vấn đề Biển Đông đòi hỏi cả hai nước cùng nỗ lực kiên trì tháo gỡ khó khăn. Những diễn biến trong những năm gần đây trên Biển Đông càng cho thấy sự cần thiết phải tôn trọng lợi ích chính đáng, giải quyết vấn đề bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Hai bên cần thực hiện có hiệu quả nhận thức chung quan trọng của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước và “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc”; thúc đẩy các cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Hai bên cần tiếp tục thực hiện nghiêm túc, đầy đủ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thực hiện tiến trình quản lý, giải quyết tranh chấp, xung đột ở Biển Đông để hướng tới hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), góp phần thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Trung Quốc ngày càng phát triển cũng như bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không trên Biển Đông và ở khu vực.
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, cả hai Đảng, hai nước Việt Nam và Trung Quốc đều đứng trước những thời cơ và thách thức mới trong công cuộc đổi mới, cải cách mở cửa và phát triển đất nước. Việt Nam đang ra sức nỗ lực thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trung Quốc đang đẩy mạnh triển khai mục tiêu xây dựng xã hội khá giả toàn diện vào năm 2020. Hơn bao giờ hết, hai bên đều cần môi trường hòa bình, ổn định, phục vụ mục tiêu chiến lược phát triển ở mỗi nước. Việt Nam chân thành mong muốn Trung Quốc phát triển thành công, có vai trò tích cực trong việc bảo vệ hòa bình, ổn định và thúc đẩy sự thịnh vượng ở khu vực châu Á nói riêng và trên phạm vi toàn cầu nói chung. 
Nhân 40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới phía Bắc lùi vào lịch sử, chúng ta nhìn lại chặng đường đã qua và cùng gác lại quá khứ để hướng tới một chặng đường mới cho quan hệ hai nước. Trước sau như một, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Trung Quốc; chân thành mong muốn quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc ngày càng phát triển đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững trong bối cảnh nhiều khu vực trên thế giới đang đầy rẫy phức tạp, diễn biến khó lường. Hai bên cần tiếp tục thúc đẩy hợp tác thực chất, tăng cường sự tin cậy chính trị giữa hai Đảng, hai nước. Cùng đó, các bộ, ngành và địa phương hai nước cần cùng nhau cố gắng thực hiện hiệu quả Chương trình hành động triển khai quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc, đáp ứng nguyện vọng và đem lại lợi ích cho nhân dân hai nước. Để củng cố nền tảng vững chắc cho quan hệ hai nước, hai bên cần tích cực có nhiều hoạt động thiết thực nhằm tăng cường tình cảm hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước, đặc biệt giữa thế hệ trẻ hai nước. Tương lai của mỗi nước cũng như hòa bình, ổn định và phồn vinh của khu vực đòi hỏi quan hệ Việt Nam - Trung Quốc phải phát triển ổn định, lành mạnh.
Tuy nhiên, cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới phía Bắc năm 1979 cũng nhắc nhở chúng ta rằng: chỉ cho phép chúng ta “gác lại quá khứ”, để hướng tới tương lai mà không được phép “khép lại quá khứ”. Phải tiếp tục thấu suốt bài học đề cao cảnh giác, tự lực tự cường - bài học muôn thủa trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước của cha ông. Chúng ta phải “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc... bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hoá dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”(1). Đồng thời, tỉnh táo ngăn chặn và đẩy lùi những tư tưởng và hành động quá khích biểu tình, bạo loạn gây phương hại tới mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam - Trung Quốc, phá vỡ môi trường hoà bình, ảnh hưởng tới tiến trình phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của đất nước./.
PGS. TS. Nguyễn Xuân Tú
 Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
------------------
1.                      Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự Thật, H, 2016, tr. 147-148.

http://tuyengiao.vn/dien-dan/van-de-quan-tam/gac-lai-qua-khu-huong-toi-tuong-lai-119017

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...