Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2019

PHƠI BÀY BẢN CHẤT CỦA LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CHO RẰNG: “CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN ĐÃ LỖI THỜI, LẠC HẬU…”


PHƠI BÀY BẢN CHẤT CỦA LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CHO RẰNG: “CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN ĐÃ LỖI THỜI, LẠC HẬU…”[1]
            
Hiện nay, trên những trang mạng xã hội và các website không chính thống, các thế lực thù địch đang tập trung, ráo riết chống phá cách mạng Việt Nam bằng những luận điệu sai trái, thù địch. Một trong những nội dung xuyên tạc, chống phá là cho rằng “Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, hoàn toàn không phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đã và đang cáo chung”.
Đây là một dạng quan điểm thù địch do bản thân nó đã chứa đựng nội dung sai lầm về thực tiễn và khoa học, đồng thời đó là quan điểm mang tính chất đối lập về lợi ích và lập trường giai cấp mà chủ thể của nó thường là những kẻ đối lập về lập trường tư tưởng; đối lập về lợi ích giai cấp, quốc gia, dân tộc.
Để đạt được mục tiêu “tối thượng” là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch, phản động tập trung phản kích, phủ định những giá trị trường tồn Chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trong cuốn sách "1999 - chiến thắng không cần chiến tranh", Tổng thống Mỹ Richard Milhous Nixon đã xác định "Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng".
Để đánh phá vào Chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng ta và của xã hội ta, tạo ra một "khoảng trống tư tưởng" trong cán bộ, đảng viên, nhân dân ta, từ đó tạo điều kiện thuận lợi du nhập hệ tư tưởng tư sản vào quần chúng, vào nội bộ ta, các thế lực thù địch, phản động tập trung mọi cố gắng để chứng minh sự "lỗi thời" của Chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng còn vu cáo Đảng ta đã "đem Chủ nghĩa Mác - Lênin áp dụng máy móc, gượng ép vào Việt Nam", đồng thời quảng cáo cho mô hình "xã hội dân chủ". 
Chúng nuôi dưỡng, kích động các khuynh hướng cơ hội, hữu khuynh, dao động... trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng để nhằm tạo ra sự phân hóa, phân liệt, đối lập, xung đột trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm, tâm lý của xã hội. Các thế lực thù địch cho rằng “Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lạc hậu, lỗi thời, đã và đang bị cáo chung”.
Trên thực tế, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc vai trò của Chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình cách mạng Việt Nam. Theo Người, Chủ nghĩa Mác - Lênin không những là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Nghiên cứu lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rõ con đường Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và Người đã nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin một cách cơ bản, hệ thống, hoàn toàn không rập khuôn, máy móc. Ngày 12-7-1946, trả lời trong cuộc họp báo tại biệt thự Roa-yan Mông-xô, Hồ Chí Minh đã nói: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa.
Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”. Hồ Chí Minh không bao giờ “tách mình” ra khỏi Các Mác, Ăngghen và Lênin để đưa ra các quan điểm riêng mà như Người nói là “cố gắng vận dụng” tư tưởng của các nhà kinh điển đó, “nhưng vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”.
Thực tế đã và đang khẳng định rằng, Chủ nghĩa Mác - Lênin từ khi ra đời đến nay đã thể hiện rõ bản chất khoa học và cách mạng, giá trị và sức sống bền vững của nó. Nhiều chính khách, nhà khoa học ở cả trong và ngoài nước có những bài nói, bài viết, công trình nghiên cứu khoa học khẳng định Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn giữ nguyên ý nghĩa và tầm quan trọng trong bối cảnh hiện nay.
Một số học giả tư sản đã thừa nhận, tinh thần của Các Mác vẫn tỏa sáng và dù muốn hay không người ta vẫn phải dựa vào Các Mác mới có thể phân tích đúng chủ nghĩa tư bản đương đại. Đời sống xã hội đương đại mặc dù rất phức tạp, trải qua biết bao biến cố thăng trầm, quanh co, khúc khuỷu, vẫn không đi ngoài những quy luật phổ biến đã được Các Mác tổng kết.
Thực tiễn đổi mới thành công ở Việt Nam, Trung Quốc trong hơn hai thập kỷ qua; sự vững vàng của cách mạng Cuba trước sự bao vây, cấm vận, chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, cũng như sự trỗi dậy của phong trào cánh tả theo xu hướng xã hội chủ nghĩa ở các nước châu Mỹ Latinh trong những năm gần đây đã khẳng định sức sống mãnh liệt và sự lan tỏa của Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Chúng ta khẳng định rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin với tư cách lý luận và phương pháp nhận thức thế giới, cải tạo thế giới vẫn giữ nguyên giá trị. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, Học thuyết giá trị thặng dư và lý luận về chủ nghĩa xã hội, trong đó Học thuyết giá trị thặng dư được các nhà khoa học coi đó là “hòn đá tảng” của Chủ nghĩa Mác. 
Và cho đến nay, các học thuyết đó vẫn là cơ sở rất quan trọng để xem xét, phân tích sự phát triển của thời đại. Điều đó giải thích vì sao giữa lúc cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu diễn ra vào năm 2008 - 2009, một số nhà tư bản ở Ý, Anh, Đức... lại đổ xô đi mua bộ “Tư bản” của Mác để nghiên cứu với hi vọng tìm lối thoát cho cuộc khủng hoảng.
Giáo sư người Anh Francis Wheen - một trong những nhà khoa học chuyên nghiên cứu về Mác đã viết: "Các Mác chưa bị chôn cất dưới đống đổ nát của bức tường Béc-lin. Thực tế, có lẽ chính lúc này, Các Mác càng cho thấy tầm giá trị lớn của ông. Các Mác đã tỏ ra là nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ XXI". 
Từ ngày 18 đến 21-6-2013, tại Gwangju Nam (Hàn Quốc) Ủy ban Tư vấn quốc tế (IAC) và trang mạng UNESCO “Memory of the World” đã đưa Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và tập đầu tiên trong Bộ Tư bản của Các Mác (xuất bản năm 1867) vào danh sách Trí nhớ của nhân loại (Memory of the World) của UNESCO. UNESCO giải thích sự lựa chọn rằng, cả hai văn bản này đều có ảnh hưởng to lớn đến tất cả “phong trào xã hội”... 
Chính vì thế, bảo vệ học thuyết Mácxít trước sự xuyên tạc, vu cáo của các thế lực thù địch, những người thiếu thiện chí, không chỉ là bảo vệ lý tưởng xã hội, mà còn là bảo vệ quyền lợi thiết thực của dân tộc trong thời kỳ mới.



[1] Bài viết của TS Lê Hoàng Việt Lâm, đăng trên Báo Công an nhân dân điện tử, ngày 25/12/2018

Thứ Tư, 13 tháng 2, 2019

NHỮNG CHUYỂN BIẾN TIẾN BỘ VỀ GIÁO DỤC
VỚI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
Một trong những chỉ số quan trọng để minh chứng việc bảo đảm quyền con người ở các quốc gia có được thực thi và đi vào cuộc sống hay không là việc tạo điều kiện, cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được quyền học hành, nâng cao trình độ, đặc biệt là người dân tộc thiểu số (DTTS), người yếu thế trong xã hội. Những năm qua, Việt Nam đã có nhiều chính sách, giải pháp thiết thực, phù hợp để tăng cường bảo đảm các điều kiện học tập và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực vùng DTTS.
Những chuyển biến tích cực trong công tác giáo dục DTTS ở Việt Nam không những góp phần bảo đảm quyền văn hóa cho mọi người dân, mà còn là minh chứng sinh động nhằm phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu giáo dục của nước ta, trong đó có thành tựu nổi bật của công tác giáo dục DTTS. 
Hiện thực hóa khát vọng “ai cũng được học hành” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, trong đó có 53 DTTS, với 13,4 triệu người, chiếm 14,6% dân số cả nước. Đa số người DTTS cư trú ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây duyên hải miền Trung, chiếm 3/4 diện tích của cả nước. Đây là những nơi núi cao, địa hình chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, nhưng đồng thời cũng là địa bàn có vị trí chiến lược, xung yếu về quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái.
Dưới chế độ thực dân, phong kiến trước đây, hầu hết người DTTS ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa quanh năm suốt tháng chỉ biết quẩn quanh nơi rừng sâu núi thẳm, sống tự cấp tự túc, không được đến trường, đến lớp nên rơi vào cảnh mù chữ, ít có kiến thức, hiểu biết về mọi mặt của đời sống xã hội. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công không chỉ là bước ngoặt vĩ đại đưa dân tộc Việt Nam bước sang trang sử mới, mà cũng là thời điểm giúp đồng bào các DTTS từng bước được tiếp cận với ánh sáng tri thức văn hóa của dân tộc và nhân loại. Khi trả lời các nhà báo nước ngoài dịp đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
“Ham muốn tột bậc” của Bác Hồ cũng là mục tiêu cao cả, khát vọng cháy bỏng của Đảng, Nhà nước Việt Nam hơn bảy thập niên qua, đó là làm cho mọi người dân, nhất là đồng bào DTTS “ai cũng được học hành”. Từ khi lập Đảng, lập quốc đến nay, trong các văn kiện đại hội của Đảng và các bản Hiến pháp, bao giờ Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng đề cập đến việc tạo cơ hội bình đẳng, điều kiện thuận lợi cho nhân dân nói chung, các DTTS nói riêng được quyền tiếp cận, hưởng thụ môi trường, dịch vụ giáo dục cơ bản để không ngừng nâng cao kiến thức, trình độ, góp phần bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
http://file.qdnd.vn/data/images/0/2019/02/10/dieuthuy/t49.jpg?dpi=150&quality=100&w=575
Trường phổ thông vùng cao Việt Bắc nơi đào tạo nguồn cán bộ là người dân tộc thiểu số. Ảnh minh họa. Nguồn: qdnd.vn
Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH). Việc quan tâm chăm lo sự nghiệp giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho đồng bào DTTS ở biên giới, miền núi không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ của Đảng, Nhà nước đối với những người dân ở khu vực “phên giậu” Tổ quốc, mà còn là vấn đề vừa có ý nghĩa chiến lược, vừa là nhiệm vụ thường xuyên để góp phần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc và nâng cao sức mạnh nội sinh cho đất nước.
Trên cơ sở quán triệt nguyên tắc về chính sách dân tộc “Bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc và giúp nhau cùng phát triển”, những năm qua, cùng với đẩy mạnh phát triển KT-XH, xóa đói giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội, cấp ủy, chính quyền các địa phương đã chú trọng chăm lo công tác giáo dục ở vùng đồng bào DTTS. Xuất phát từ đặc điểm lịch sử dân tộc và điều kiện địa lý, địa hình ở các nơi không giống nhau, Việt Nam đã thành lập nhiều mô hình trường học đáp ứng nhu cầu học tập cho người DTTS, như: Trường thanh niên dân tộc, trường vừa học vừa làm, trường thiếu sinh quân, trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú, trường dự bị đại học dân tộc… Những mô hình này đã được đại diện UNESCO ghi nhận là một trong những nỗ lực, sáng tạo của Việt Nam nhằm tạo cơ hội cho mọi người DTTS được đến trường đến lớp, góp phần xóa nạn mù chữ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Chú trọng chăm lo nguồn đào tạo nhân lực là người DTTS
Mọi chủ trương, chính sách chỉ có ý nghĩa khi đi vào thực tiễn và được thực tiễn kiểm chứng. Thành công của công tác giáo dục DTTS ở Việt Nam được thể hiện sinh động qua những “con số biết nói”. Hiện nay, 100% xã vùng DTTS và miền núi có trường THCS, tiểu học và hầu hết các xã có trường, điểm trường và lớp học mầm non; cả nước có 315 trường phổ thông dân tộc nội trú ở 49 tỉnh, thành phố với tổng số 109.245 học sinh nội trú. Trong đó, số trường phổ thông dân tộc nội trú đạt chuẩn quốc gia chiếm khoảng 40%. Ngoài ra còn 975 trường phổ thông dân tộc bán trú, 5 trường đào tạo dự bị đại học dân tộc.
Theo ông Đỗ Văn Chiến, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, những năm qua, việc đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng DTTS, miền núi được Đảng, Nhà nước và các địa phương xác định là một trong những ưu tiên trong chiến lược phát triển KT-XH. Đến nay, đã có 51/53 DTTS có học sinh cử tuyển đi học đại học, học sinh là người DTTS ở vùng đặc biệt khó khăn được Nhà nước hỗ trợ chi phí ăn, ở, học. Mạng lưới trường, lớp giáo dục mầm non, trường phổ thông ở vùng DTTS, miền núi tiếp tục được củng cố, mở rộng. Trong đó mô hình trường phổ thông dân tộc nội trú đã góp phần to lớn trong tạo nguồn đào tạo cán bộ, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng ở vùng DTTS, miền núi, vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn trong suốt thời gian qua.
Một trong những việc làm thiết thực thể hiện sự quan tâm đối với giáo dục DTTS là nhiều địa phương đã đẩy mạnh triển khai việc dạy tiếng DTTS cho học sinh bản địa. Hiện tại 23 tỉnh, thành phố có đông đồng bào DTTS đang triển khai dạy và học 8 thứ tiếng DTTS, gồm: Tiếng Mông, Chăm, Khmer, Gia Rai, Ba Na, Ê Đê, Mơ Nông, Thái. Đây là minh chứng rõ nét trong việc góp phần bảo đảm quyền văn hóa cho các DTTS theo đúng tinh thần Hiến pháp 2013 đã hiến định: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”.
Nhờ chú trọng chăm lo, vun đắp sự nghiệp “trồng người” ở vùng DTTS, hiện nay tỷ lệ người DTTS biết chữ độ tuổi 15-60 đạt 93,44%. Cả nước có hơn 13.000 người DTTS có trình độ trên đại học, đại học, cao đẳng; hơn 78.000 người có trình độ trung học chuyên nghiệp. Vì vậy, tỷ lệ cán bộ lãnh đạo các cấp là người DTTS trong hệ thống chính trị ngày càng tăng cao. Điển hình là trong 4 nhiệm kỳ Quốc hội liên tiếp gần đây, tỷ lệ đại biểu Quốc hội là người DTTS chiếm từ 15,6% đến 17,3%, cao hơn tỷ lệ người DTTS trên tổng số dân là 14,6%. Một trong những những nhân tố tiêu biểu được dư luận biết đến là chị Triệu Thị Huyền, dân tộc Dao ở thôn Khe Phưa, xã Minh An, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Sau khi tốt nghiệp đại học sư phạm, chị Huyền được đề cử và trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XIV khi mới 24 tuổi và là đại biểu trẻ nhất của Quốc hội nhiệm kỳ 2016-2021.
Ngoài việc chăm lo, hỗ trợ học sinh đi lại, ăn ở để học hành ngày càng tốt hơn, Nhà nước Việt Nam đã có những chính sách hỗ trợ thiết thực góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho các em. Trong số 19 ấn phẩm báo, tạp chí vừa được Thủ tướng Chính phủ quyết định cấp cho vùng DTTS và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2019-2021 có hai ấn phẩm dành riêng cho học sinh các DTTS. Đó là Chuyên đề “Măng non” của Báo Nhi đồng cấp cho trường tiểu học các xã vùng DTTS và miền núi; Chuyên đề “Thiếu nhi Dân tộc” của Báo Thiếu niên Tiền phong cấp cho trường THCS các xã vùng DTTS và miền núi, trường dân tộc nội trú, dân tộc bán trú cụm xã vùng DTTS và miền núi. Những tờ báo này được ví như cánh tay nối dài giữa Đảng, Nhà nước với những chủ nhân tương lai của đất nước ở vùng DTTS, miền núi; đồng thời góp phần cung cấp thông tin, truyền bá tri thức, hướng dẫn học sinh các DTTS thực hiện nếp sống văn minh, khoa học.
Những chuyển biến tiến bộ trong sự nghiệp giáo dục Việt Nam nói chung, công tác giáo dục DTTS nói riêng đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Trong lần thứ ba trở lại thăm Việt Nam vào tháng 8-2017, bà Irina Bokova, Tổng giám đốc UNESCO, đã khẳng định: “Tôi thấy Việt Nam có nhiều thay đổi, nhất là sự phát triển tích cực về kinh tế cũng như chất lượng giáo dục, trong đó có thành tựu về thúc đẩy sự công bằng, bình đẳng về giáo dục”.
PHÚC NỘI

http://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/thanh-tuu-nhan-quyen-viet-nam/nhung-chuyen-bien-tien-bo-ve-giao-duc-voi-dan-toc-thieu-so-o-viet-nam-566189

Thứ Ba, 12 tháng 2, 2019

XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP NHẰM CHẤN HƯNG NỀN GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM
Khái niệm và tầm quan trọng của xã hội học tập
Xã hội học tập (XHHT) là một xã hội mà mọi người đều được học, cần phải học và tự giác học thường xuyên, học suốt đời; mọi người được tiếp cận những cơ hội học tập thuận lợi và lấy tự học cùng với ý chí, nghị lực phấn đấu kiên trì của mình là chính để đem lại lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội; mọi người không phân biệt tuổi tác, ngành nghề, trình độ đều thấy học tập là nhu cầu của cuộc sống, luôn cần phải học và học suốt đời, học ở mọi nơi, mọi lúc.
Để đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời (HTSĐ) của người dân, các nhà trường, các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, các cơ quan truyền thông, mọi tổ chức và mọi người dân,... đều có trách nhiệm cung ứng các cơ hội học tập và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người được HTSĐ.
Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO), HTSĐ là tất cả các hoạt động học tập có chủ đích xuyên suốt cuộc đời của một cá nhân từ khi chào đời đến lúc rời xa cuộc sống, theo các phương thức giáo dục chính quy, không chính quy và phi chính quy. Trong thời đại chu kỳ thay đổi khoa học - công nghệ ngày càng rút ngắn và tuổi thọ ngày càng cao thì HTSĐ là tất yếu.
Học tập suốt đời vừa là quyền lợi, vừa là trách nhiệm của công dân. Công dân có quyền lựa chọn hình thức học tập phù hợp với năng lực, sở thích và điều kiện, hoàn cảnh của mình để nâng cao tri thức, hiểu biết, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế; học để có nghề nghiệp, có việc làm hiệu quả, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công việc; học để cống hiến được nhiều hơn, để làm cho mình và mọi người hạnh phúc; học để góp phần phát triển đất nước và nhân loại.
Trên thế giới, các quốc gia đang ngày càng quan tâm nhiều hơn đến việc xây dựng một “hệ thống giáo dục mạnh”. Trong đó, HTSĐ được đặc biệt chú trọng, bởi lẽ HTSĐ cung cấp khung vững chắc để phát triển nguồn nhân lực bền vững, từ đó tạo ra tăng trưởng kinh tế, phúc lợi xã hội và khuyến khích, thúc đẩy các cá nhân theo đuổi cơ hội học tập ở mọi giai đoạn của cuộc đời.
Thực tế ở nhiều quốc gia phát triển cho thấy, HTSĐ đã thực sự góp phần quan trọng vào việc xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn lực chung cho sự phát triển, cải thiện về môi trường kinh tế - xã hội cho cộng đồng, thay đổi diện mạo văn hóa cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Nhờ HTSĐ, mỗi cá nhân đều được nâng cao khả năng thích ứng, hòa nhập và phát triển nhân cách. Với những đối tượng nhạy cảm, như trẻ em gái, phụ nữ, người dân tộc thiểu số,... HTSĐ có ý nghĩa rất to lớn trong việc hỗ trợ về cơ hội, tạo ra động lực giúp họ học tập để cập nhật kiến thức, kỹ năng, cải thiện năng suất lao động, tạo thêm thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống, thay đổi thân phận và địa vị xã hội, góp phần tạo ra sự bình đẳng và tiến bộ hơn. 
Để phát triển nền giáo dục cả trong hiện tại và tương lai, xây dựng XHHT là nền tảng, là cốt lõi, trong đó xây dựng cơ hội HTSĐ vừa là phương châm, vừa là giải pháp, vừa là mục tiêu của sự nghiệp giáo dục. Nghĩa là cần phải xây dựng một hệ thống giáo dục sao cho bất cứ công dân nào có nhu cầu học tập đều tìm thấy cơ hội học tập thuận lợi, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh trong những thời gian và không gian khác nhau.
Vì những lý do trên có thể thấy rõ xây dựng XHHT, tạo cơ hội HTSĐ đang là xu thế tất yếu, là mục tiêu mang tính thời đại của mọi nền giáo dục trên thế giới.
Một số thành tựu trong xây dựng xã hội học tập
Trong chiến lược phát triển đất nước qua các thời kỳ lịch sử, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng sự học và trong thực tế đã có những chủ trương, chính sách lớn để tạo điều kiện cho người dân được học tập thường xuyên, HTSĐ.
Trong các văn kiện từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng nhất quán chủ trương thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội cho mọi người đều có thể được học tập suốt đời. Chủ trương trên của Đảng xác lập một quan niệm rõ ràng về XHHT với tư cách là một thể thống nhất giữa hệ thống giáo dục ban đầu (bao gồm trường, lớp và cơ sở giáo dục chính quy từ nhà trẻ, mẫu giáo đến đại học) và hệ thống giáo dục tiếp tục (với nhiều hình thức giáo dục chính quy và không chính quy tại các cơ sở đào tạo tại chức, cơ sở đào tạo ngoại ngữ, tin học, đào tạo và đào tạo lại qua các khóa học, lớp học ngắn hạn...).
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI chỉ rõ: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời.
Nhận thức rõ vai trò, vị trí, ý nghĩa của việc xây dựng XHHT, ngày 18-5-2005, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 - 2010” với tiêu chí tổng quát là tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời ở mọi lúc, mọi nơi, mọi trình độ; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục; mọi người, mọi tổ chức đều có trách nhiệm, nghĩa vụ trong học tập và tích cực tham gia xây dựng XHHT.
Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 11-CT/TW, ngày 13-4-2007, Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập. Tiếp theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 02/2008/CT-TTg, ngày 08-01-2008, Về đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập. Ngày 09-01-2013, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 - 2020” (Đề án) để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ xây dựng XHHT tại nước ta. Đề án đã nêu rõ: “mọi cá nhân có trách nhiệm học tập thường xuyên, suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để làm người công dân tốt; có nghề, lao động với hiệu quả ngày càng cao; học cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc; học để góp phần phát triển quê hương, đất nước và nhân loại”.
Quán triệt chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng XHHT, bảo đảm cho tất cả các công dân có cơ hội bình đẳng trong học tập, đào tạo, trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, các tổ chức, đoàn thể, đặc biệt là Hội Khuyến học Việt Nam tổ chức nhiều hoạt động thiết thực triển khai thực hiện Đề án. Một số hoạt động cụ thể được thực hiện, như xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai thực hiện Đề án; xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 6 đề án thành phần: 1- Đề án “Xóa mù chữ đến năm 2020”; 2- Đề án “Đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời trong các thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa, câu lạc bộ”; 3- Đề án “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng đến năm 2020”; 4- Đề án “Truyền thông về xây dựng xã hội học tập”;5- Đề án “Đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời cho công nhân lao động trong các doanh nghiệp”; 6- Đề án “Phát triển đào tạo từ xa”; tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng và thông qua việc tổ chức Tuần lễ hưởng ứng HTSĐ vào tuần đầu tháng 10 hằng năm để mỗi người dân nhận thức đầy đủ hơn, đúng đắn hơn về vai trò, ý nghĩa và lợi ích của HTSĐ, xây dựng XHHT đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, phát triển bền vững xã hội, nâng cao chất lượng đời sống của cộng đồng và cá nhân; tổ chức những chương trình giáo dục mở trên sóng phát thanh, truyền hình (như Chương trình hướng dẫn ôn tập và luyện thi đại học và Chương trình dạy tiếng Anh trên VTV2; Chương trình dạy tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài trên VTV4; Chương trình giáo dục các kỹ năng sống trên VTV3; các chương trình Chào buổi sáng, đời sống thường ngày trên VTV đã giúp cho người dân có được những kiến thức về chăn nuôi, trồng trọt, thực hiện pháp luật, bảo vệ môi trường, chăm sóc sức khỏe người dân; Chương trình học tiếng Anh Obla Air trên trên kênh VOV2 (Kênh Văn hóa, Xã hội và Giáo dục) và VOV5 (Hệ Phát thanh Đối ngoại Quốc gia); kênh Truyền hình Giáo dục quốc gia phát sóng trên kênh truyền hình VTV7 với mục tiêu “Vì một xã hội học tập”, cung cấp các tri thức đa dạng cho nhiều tầng lớp khán giả khác nhau,...).
Các cấp ủy, chính quyền và đoàn thể các địa phương trong cả nước đã quan tâm, chỉ đạo triển khai thực hiện Đề án với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, như xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Đề án cụ thể, phù hợp với đặc điểm của mỗi địa phương; thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Đề án; ban hành chỉ thị, nghị quyết của tỉnh/thành ủy, hội đồng nhân dân tỉnh/thànhphố về việc thực hiện Đề án; tổ chức nhiều hoạt động thiết thực triển khai thực hiện Đề án.
Ngoài vai trò chủ đạo của ngành giáo dục - đào tạo, các ngành văn hóa, thể thao và du lịch, thông tin và truyền thông, lao động - thương binh và xã hội, nội vụ, tài chính,..; các tổ chức, đoàn thể: Hội Khuyến học, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,...; các cơ quan thông tấn, báo chí, truyền thông trên địa bàn tỉnh đã tham gia tích cực trong việc xây dựng XHHT ở địa phương. Nhiều địa phương đã có giải pháp tuyên truyền về vai trò, tác dụng của HTSĐ, xây dựng XHHT thiết thực, tạo ấn tượng sâu sắc và có tác động mạnh mẽ đến nhận thức của các tầng lớp nhân dân; chỉ đạo cụ thể hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng; xây dựng các mô hình học tập; đa dạng hóa nội dung, hình thức học tập; tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, các lớp phổ biến kiến thức phục vụ nhu cầu HTSĐ của mọi tầng lớp nhân dân.
Kể từ khi triển khai Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 - 2010” đến nay, chúng ta đã có hơn 13 năm triển khai thực tế nhiệm vụ xây dựng XHHT và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, cụ thể: mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên được củng cố và phát triển, đặc biệt là mạng lưới các trung tâm học tập cộng đồng phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi lứa tuổi. Hiện cả nước có 695 trung tâm giáo dục thường xuyên, bao gồm 74 trung tâm cấp tỉnh, 621 trung tâm cấp huyện (32 trung tâm giáo dục thường xuyên và 589 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên); 11.019 trung tâm học tập cộng đồng (đạt 98,7%). Trong đó có 4.713 trung tâm học tập cộng đồng kết hợp với trung tâm văn hóa, thể thao xã (42,8%); 2.854 trung tâm ngoại ngữ - tin học, trong đó: 66 trung tâm ngoại ngữ - tin học công lập và 2.706 trung tâm ngoại ngữ - tin học ngoài công lập và 82 trung tâm ngoại ngữ - tin học có vốn đầu tư nước ngoài.
Chỉ tính riêng từ năm 2013 đến nay, toàn quốc đã có hơn 100 triệu lượt người tham gia học tập các chuyên đề tại các trung tâm học tập cộng đồng; gần 5 triệu lượt người học ngoại ngữ và hơn 1 triệu lượt người học bồi dưỡng tin học ứng dụng; hơn 2 triệu lượt người tham gia học nghề ngắn hạn; hơn 235 nghìn người theo học lớp xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ. Số lượt cán bộ, công chức được đào tạo bồi dưỡng đạt hơn 3,2 triệu lượt người (tăng khoảng 24% so với giai đoạn 2006 - 2010).
Bên cạnh các kết quả đạt được, vẫn còn tồn tại những khó khăn, bất cập không nhỏ đối với công tác xây dựng XHHT ở Việt Nam, một số chỉ tiêu chưa đạt được so với kế hoạch đề ra trong Đề án, cụ thể như: 
Một số địa phương chưa quan tâm đến việc học tập của người lớn, xây dựng XHHT; sự phối hợp giữa các cơ quan, sở, ngành, tổ chức, đoàn thể trong việc triển khai thực hiện Đề án ở một số địa phương chưa thực sự chặt chẽ, thường xuyên và hiệu quả;
Công tác tuyên truyền về khuyến học, khuyến tài, xây dựng XHHT ở một số nơi, nhất là cấp cơ sở vẫn còn hạn chế cả nội dung lẫn hình thức;
Tỷ lệ huy động người học xóa mù chữ còn thấp và kết quả không bền vững (ở những vùng đặc biệt khó khăn), hiện tượng tái mù chữ còn khá lớn, công tác điều tra cơ bản về số người mù chữ hằng năm của các địa phương chưa được coi trọng, số lượng báo cáo không cập nhật và thiếu chính xác, ảnh hưởng đến việc xây dựng kế hoạch, thực thi chính sách;
Phong trào học tập trong cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ở các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang chưa mạnh. Một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa tự giác học tập để nâng cao trình độ, còn tâm lý ngại học. Chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức chưa gắn với yêu cầu công việc, vị trí việc làm, chức danh mà cán bộ, công chức đảm nhiệm;
Nhiều địa phương chưa chủ động gắn đào tạo nghề với phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc làm, công tác kiểm tra, đánh giá, thông tin, báo cáo không kịp thời, thiếu chính xác.
Giải pháp thúc đẩy xây dựng xã hội học tập
Để bảo đảm cho sự thành công của chủ trương xây dựng XHHT ở Việt Nam, trong thời gian tới, các địa phương cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức về HTSĐ, xây dựng XHHT.
- Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mọi người dân về ý nghĩa, tác dụng của việc HTSĐ, xây dựng XHHT dưới nhiều hình thức khác nhau, như xây dựng các chuyên đề trên phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí, tổ chức các hội thảo, diễn đàn về HTSĐ và xây dựng XHHT.
- Phát động phong trào thi đua học tập thường xuyên, HTSĐ rộng khắp nhằm thúc đẩy việc học tập trong mỗi gia đình, mỗi dòng họ, mỗi cộng đồng dân cư. Mọi người đều coi học tập là nhu cầu cần thiết.
- Nhân rộng các mô hình “Gia đình học tập”, “Dòng họ học tập”, “Cộng đồng học tập” và “Đơn vị học tập” theo hướng thiết thực, hiệu quả, nhằm phát triển mạnh hơn nữa phong trào HTSĐ trong mọi gia đình, dòng họ, cộng đồng và cơ quan, tổ chức. Lựa chọn và đề xuất các thành phố tham gia mạng lưới các thành phố học tập toàn cầu của UNESCO. 
- Tổ chức tuần lễ HTSĐ hằng năm với các hoạt động đa dạng, phong phú, thiết thực và hiệu quả.
Thứ hai, củng cố, phát triển mạng lưới các cơ sở giáo dục thường xuyên và các thiết chế giáo dục ngoài nhà trường.
- Rà soát, đánh giá tình hình hoạt động của các cơ sở giáo dục thường xuyên. Trên cơ sở đó quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.
- Nâng cao năng lực hoạt động của các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên cấp huyện sau khi sáp nhập theo hướng thực hiện nhiều nhiệm vụ: giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp và dạy nghề, bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng ngắn hạn và tư vấn, hỗ trợ các trung tâm học tập cộng đồng.
- Củng cố mô hình hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng theo hướng kết hợp với nhà văn hóa, thư viện, bưu điện văn hóa xã. Các lớp học của trung tâm học tập cộng đồng được tổ chức linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho mọi người cùng tham gia (tổ chức tại các thôn, bản, tại nhà dân...).
- Tăng cường cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị dạy học cho các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng dạy và học. Tổ chức nghiên cứu, thí điểm tại mỗi đơn vị cấp huyện có từ 2 đến 3 mô hình trung tâm học tập cộng đồng hoạt động hiệu quả, phát triển bền vững để làm điểm cho các trung tâm học tập cộng đồng nghiên cứu, học tập và có thể xem xét, nhân rộng.
- Mở rộng mạng lưới quy mô hoạt động của các trung tâm ngoại ngữ, tin học; xây dựng và phát triển các cộng đồng học tập ngoại ngữ; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân, nhà đầu tư tham gia hoạt động, đầu tư, thành lập các trung tâm ngoại ngữ - tin học.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế giáo dục ngoài nhà trường.
Thứ ba, đổi mới quản lý giáo dục thường xuyên. 
- Đổi mới việc quản lý nhà nước đối với việc xây dựng XHHT. Các cơ quan quản lý, các cơ sở giáo dục đóng vai trò là người tổ chức phát động phong trào học tập thường xuyên, HTSĐ; có các biện pháp khuyến khích người dân học tập nhằm thúc đẩy phong trào.
- Tăng cường phân cấp quản lý trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trung tâm học tập cộng đồng phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi trung tâm theo quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, ngày 14-2-2015, của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.
- Tăng cường hiệu lực quản lý hoạt động của các trung tâm ngoại ngữ - tin học, bảo đảm tất cả các trung tâm hoạt động theo đúng quy chế và các quy định của pháp luật;
- Tăng cường quản lý, giám sát các cơ sở liên kết đào tạo, kể cả liên kết với cơ sở giáo dục của nước ngoài thực hiện đúng quy định của Nhà nước.
Thứ tư, đổi mới chương trình giáo dục thường xuyên theo hướng đa dạng, linh hoạt, mềm dẻo đáp ứng nhu cầu của người học.
- Xây dựng chương trình xóa mù chữ và biên soạn tài liệu học tập hướng tới các đối tượng thiệt thòi trong xã hội: người dân tộc thiểu số; phụ nữ, trẻ em gái; người lao động nghèo, người khuyết tật; bảo đảm người học có các kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc viết, tính toán bằng tiếng Việt; có các hiểu biết đơn giản cần thiết về con người, về thế giới tự nhiên và xã hội phù hợp, thiết thực với cuộc sống sinh hoạt, lao động sản xuất; giúp người học có các cơ hội tiếp cận với các bậc học cao hơn, thoát khỏi cuộc sống nghèo khó, lạc hậu.
- Tổ chức lựa chọn hoặc xây dựng, biên soạn chương trình bồi dưỡng tin học, chương trình bồi dưỡng tiếng Anh phù hợp với từng nhóm đối tượng và điều kiện cụ thể của địa phương.
- Đối với chương trình giáo dục thường xuyên đáp ứng nhu cầu người học: Phát triển chương trình, tài liệu học tập theo hướng đa dạng phù hợp với tính chất vùng miền, nhu cầu và đặc điểm của người học; đa dạng hóa các hình thức học tập, người học có thể học theo hình thức tập trung, không tập trung, tự học, tự học có hướng dẫn, học tập qua in-tơ-nét.
- Tăng cường năng lực đào tạo từ xa cho các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình dạy và học, phát triển học liệu điện tử và xây dựng các hệ thống học trực tuyến (e-learning) hỗ trợ cho học viên có thể học từ xa, tự học, tạo điều kiện thuận lợi cho người học có thể HTSĐ.
Thứ năm, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên cho giáo dục thường xuyên.
- Xây dựng kế hoạch tổng thể về phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý cho giáo dục thường xuyên. Giáo viên ở các cơ sở giáo dục thường xuyên gồm giáo viên cơ hữu và giáo viên hợp đồng thỉnh giảng. Đối với giáo viên cơ hữu chỉ cần có số lượng tối thiểu đủ để tổ chức và quản lý các lớp học, số còn lại là giáo viên hợp đồng thỉnh giảng.
- Bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, hướng dẫn viên của các cơ sở giáo dục thường xuyên có đủ trình độ và năng lực (tính chuyên nghiệp) về điều tra nhu cầu học tập, xây dựng chương trình học, tổ chức lớp học, vận động sự tham gia của cộng đồng...
- Nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên đáp ứng nhiệm vụ tổ chức bồi dưỡng thường xuyên cho đội cán bộ, công chức và giáo viên.
Thứ sáu, huy động các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia xây dựng XHHT.
- Củng cố, kiện toàn và tăng cường công tác chỉ đạo của ban chỉ đạo xây dựng XHHT ở các cấp nhằm thực hiện có hiệu quả kế hoạch xây dựng XHHT.
- Đưa việc xây dựng XHHT và HTSĐ vào nội dung bắt buộc trong chương trình, kế hoạch hoạt động, thi đua hằng năm và từng giai đoạn của các ngành, các cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể, tổ chức và doanh nghiệp. Hằng năm tổ chức sơ kết đánh giá kết quả thực hiện và báo cáo ban chỉ đạo xây dựng XHHT cấp tỉnh.
- Phân công nhiệm vụ rõ ràng đối với các sở, ngành, tổ chức, đoàn thể và các huyện. Tất cả các sở, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội đều có trách nhiệm cung ứng HTSĐ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc ngành mình được HTSĐ.
Thứ bảy, xây dựng và ban hành chính sách khuyến khích người học.
- Các sở, ban, ngành phải có quy định về việc học tập của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; hằng năm xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, thúc đẩy việc tự học, tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng của cán bộ, công chức, viên chức; đổi mới cơ chế tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức; đổi mới cơ chế đánh giá cán bộ, công chức, viên chức.
- Chính quyền địa phương cần tác động với chủ doanh nghiệp để hỗ trợ công nhân (thời gian, kinh phí, cơ sở vật chất) tham gia học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp mà không ảnh hưởng đến công việc, đến thu nhập của công nhân lao động. 
- Các thư viện, nhà văn hóa, câu lạc bộ,... cần có những dịch vụ học tập để người học thuận lợi trong việc tiếp cận những thông tin, tri thức mới, những công nghệ mới./.
Nguyễn Hữu Độ
TS, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo


http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2019/54121/Xay-dung-xa-hoi-hoc-tap-nham-chan-hung-nen-giao-duc.aspx

GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TÁC PHẨM “ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG” ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG HIỆN NAY

GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TÁC PHẨM “ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG” ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG HIỆN NAY
Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, ở miền Bắc, nhân dân ta bắt đầu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Ngay trong bối cảnh mới của sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy những khó khăn, phức tạp của chặng đường trước mắt, nhất là những bất cập, hạn chế trong công tác cán bộ; trong đó nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân có thể gây hại to lớn cho sự nghiệp của Đảng, của dân tộc và nhân dân ta. Xuất phát từ thực tiễn ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Đạo đức cách mạng. Bài viết đăng trên Tạp chí Học tập - tạp chí lý luận của Đảng, nay là Tạp chí Cộng sản, vào tháng 12-1958.
60 năm đã trôi qua, nhưng tác phẩm Đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn vẹn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, mang tính thời sự, có ý nghĩa giáo dục to lớn, chỉ đạo cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và trở thành phương châm hành động, tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên hôm nay.
Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân - dòng chảy xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của cán bộ, đảng viên và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng
Trong suốt cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng cho những người yêu nước, cán bộ, đảng viên, thanh niên và cho quần chúng nhân dân. Hầu như bài nói, bài viết nào của Người cũng đều đề cập đến vấn đề đạo đức cách mạng. Trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trước lúc đi xa, Người vẫn đau đáu dặn dò: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(1).
Là một danh nhân văn hóa thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu những điểm mạnh, điểm yếu của một xã hội Á Đông duy tình, vốn vẫn còn nhiều truyền thống cổ hủ, thói quen lạc hậu. Khác với tư tưởng duy lý của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản phương Tây, Người nhận ra rằng, sự nghiệp cách mạng Việt Nam phải bắt đầu từ việc “làm cho dân giác ngộ”(2); phải giáo dục đạo đức cách mạng và xây dựng được những con người cách mạng chân chính. Đây là nguồn cội để khơi dậy chủ nghĩa yêu nước, sức mạnh của toàn dân tộc và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Đạo đức cách mạng là nền tảng để kiên định giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, làm nên giá trị cao quý của một chính đảng kiểu mới, là trí tuệ, “là đạo đức, là văn minh”(3).
Ngay từ phần mở đầu của tác phẩm Đường Kách mệnh in năm 1927, cuốn giáo trình đầu tiên để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người đã viết về tư cách một người cách mạng. Đó là những phẩm chất, yêu cầu đối với người tự nguyện đi theo con đường cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc, tin tưởng và đi theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Cùng với lý luận cách mạng tiền phong soi đường, đảng cách mạng tiền phong trước tiên cần những người cách mạng để có thể gánh vác được trách nhiệm cách mạng tiền phong. Điều này tiếp tục được Người làm rõ hơn, nhấn mạnh hơn, nhắc lại nhiều lần ở những tác phẩm sau này, như “Sửa đổi lối làm việc”, “Đời sống mới”, “Thi đua ái quốc”, “Dân vận”,... và được đúc kết một cách có hệ thống trong tác phẩm Đạo đức cách mạng và bài báo cuối cùng của Người về xây dựng Đảng với tiêu đề “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, đăng trên Báo Nhân dân, ngày 03-02-1969.
Trong tác phẩm Đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(4).
Phẩm chất đạo đức cách mạng đầu tiên phải là “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”. Đây là “điều chủ chốt nhất”, “tiêu chuẩn số một” của người cách mạng. Khi tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng, mỗi đảng viên phải nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân là tự nguyện cống hiến, tự nguyện hy sinh, quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng; tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng và của dân tộc.
Hai là, phải “ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng”(5). Quyết tâm làm việc, đấu tranh cho Đảng phải được thể hiện bằng những hành động cụ thể, mang lại kết quả cụ thể trong thực tế, giúp hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng của Đảng; đồng thời giúp Đảng không ngừng được xây dựng trong sạch, vững mạnh, hoàn thành sứ mệnh lịch sử mà nhân dân giao phó.
Ba là, phải “đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”(6). Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Lợi ích của mỗi cán bộ, đảng viên nằm trong và tuyệt đối phục tùng lợi ích chung của Đảng, của dân tộc. Cán bộ, đảng viên phải là những tấm gương sáng trong phụng sự Đảng, phục vụ nhân dân. Nhận thức sâu sắc về tác dụng to lớn của việc giáo dục nêu gương, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: trong Đảng ta, nhiều đồng chí đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập.
Bốn là, “ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”(7). Người chỉ ra rằng: “có học tập lý luận Mác - Lê-nin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm được tốt công tác Đảng giao phó cho mình”(8). Học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin là học tập “tinh thần xử trí mọi việc”, là học tập những “chân lý phổ biến” của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, học để mà làm, lý luận đi đôi với thực tiễn; tránh học tập một cách máy móc, giáo điều, hoặc học để làm trang sức.
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, muốn nâng cao đạo đức cách mạng, trước hết phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, cũng giống như phải quét dọn nhà cửa sạch sẽ rồi mới khiêng vào bàn ghế, giường tủ mới mua sắm được(9). Chủ nghĩa cá nhân chính là vết tích xấu nhất, nguy hiểm nhất của xã hội cũ, “là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc”; “bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”. Bản chất chủ nghĩa cá nhân là “trái ngược với chủ nghĩa tập thể”, “trái ngược với đạo đức cách mạng”, “là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội”.
Chủ nghĩa cá nhân có những biểu hiện rất đa dạng, như yêu cầu hưởng thụ, nghỉ ngơi, muốn lựa chọn công tác theo ý mình, không muốn làm công tác mà đoàn thể giao phó; muốn địa vị cao, nhưng lại sợ trách nhiệm nặng; “kể công” với Đảng, muốn Đảng “cảm ơn”, đòi ưu đãi, đòi danh dự, địa vị và nếu không thỏa mãn yêu cầu của họ thì họ oán trách Đảng; kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại; phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình mình, không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, không nghiêm chỉnh; xem khinh những cán bộ ngoài Đảng; xa rời quần chúng, không muốn học hỏi mà chỉ muốn làm thầy quần chúng; ngại làm công tác tổ chức, tuyên truyền và giáo dục quần chúng,... Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, những người mắc phải bệnh chủ nghĩa cá nhân như vậy thì: “Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”(10).
Bởi vậy, Người nhấn mạnh, chủ nghĩa cá nhân làm “che lấp đạo đức cách mạng”; là một thứ bệnh gốc, bệnh mẹ “đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí, v.v.”(11) và luôn chờ dịp để ngóc đầu dậy, nên quét sạch chủ nghĩa cá nhân là việc làm đầu tiên, đồng thời phải làm thường xuyên để bảo vệ uy tín của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, giữ cho Đảng luôn trong sạch. Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng là nhiệm vụ trọng yếu, đầy bản lĩnh của xây dựng, chỉnh đốn đảng - một việc mà theo Người, phải làm liên tục, thường xuyên, lâu dài, khi cách mạng gặp khó khăn để xây dựng thái độ bình tĩnh, sáng suốt, kiên định lập trường, lý tưởng, cũng như khi cách mạng trên đà thắng lợi, để ngăn ngừa bệnh kiêu ngạo, chủ quan, tự mãn(12).
Tác phẩm “Đạo đức cách mạng” là chỉ dẫn quý báu cho việc tu dưỡng, rèn luyện tư tưởng, đạo đức, tác phong của cán bộ, đảng viên
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn rèn luyện đạo đức cách mạng, thì chúng ta phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi”, bởi “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(13).
Học tập, tu dưỡng đạo đức cách mạng không chỉ ở nhà trường, mà ở mọi lúc, mọi nơi, trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau, trong hoạt động lý luận và thực tiễn; trong đời tư cũng như trong sinh hoạt cộng đồng; trong các mối quan hệ với mình, với người và với công việc. Tháng 9-1949, trong buổi lễ khai giảng lớp học đầu tiên của Trường Đảng cao cấp mang tên Nguyễn Ái Quốc, tại vùng Định Hóa, Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Lời di huấn đó đã trở thành tôn chỉ mục đích trong công tác đào tạo cán bộ của Đảng, trong việc học tập và tu dưỡng đạo đức cách mạng mà mỗi cán bộ, đảng viên đều phải thấm nhuần, ghi nhớ.
Trong khi kiên quyết đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất cẩn trọng nhắc nhở chúng ta không nên hiểu và làm việc này một cách máy móc mà cần phân biệt một cách khoa học, tinh tế giữa chủ nghĩa cá nhân vị kỷ như một thế giới quan xấu xa, sự lệch lạc thái quá của bệnh cá nhân chủ nghĩa với lợi ích chính đáng của cá nhân. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”, không phải là chống cá nhân. Coi thường cá nhân, phủ nhận cá nhân là điều đi ngược với tinh thần biện chứng mác-xít, bởi: “Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu”(14). Theo Người, “Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa”(15). Do đó, thật thà tự phê bình và thành khẩn phê bình là “vũ khí sắc bén”, góp phần phát hiện sớm những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, những sai lầm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên để kịp thời chỉnh đốn, sửa chữa; đặc biệt là phải phát huy vai trò tích cực giám sát của nhân dân trong thực hiện tự phê bình và phê bình.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước, cùng với việc coi “phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm”, Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định: “xây dựng Đảng là then chốt”. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ XII, Đảng đã hết sức chú trọng công tác xây dựng Đảng toàn diện, cả về tư tưởng chính trị, tổ chức, cán bộ và đạo đức, trong đó công tác cán bộ, lựa chọn những người có đức, có tài, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng là “then chốt” của “nhiệm vụ then chốt”.
Thời gian qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết quan trọng, như Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4, về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 7, về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương, về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Và sắp tới, Bộ Chính trị sẽ ban hành Quy định về kiểm soát quyền lực và chống chạy chức, chạy quyền; Ban Bí thư sẽ ban hành Chỉ thị về nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng,... Trung ương xác định, đây là những nhiệm vụ cần thực hiện cấp bách và thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, các địa phương, đơn vị theo phương châm chỉnh đốn, xây dựng Đảng toàn diện, trong sạch, liêm chính, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước và xứng đáng với niềm tin của nhân dân.
Từ thực tiễn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là công tác cán bộ của Đảng hiện nay, chúng ta càng thấy rõ các chỉ dẫn về xây dựng đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị và có tính thời sự sâu sắc; càng ý thức được lời dặn của Người: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(16).
Việc không ngừng rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của cán bộ, đảng viên, cũng giống như việc tạo ra những kháng thể tốt, ngăn chặn, miễn nhiễm, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn quyết liệt chống phá của các thế lực phản động, thù địch đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Phải hết sức vững vàng trên nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối không được dao động, mơ hồ. Phải đặc biệt coi trọng nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng; khắc phục bệnh “lười học lý luận chính trị” của cán bộ, đảng viên. Đây là yêu cầu trọng tâm của công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng đối với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược.
Kiên định, vững vàng trên nền tảng tư tưởng phải đi đôi với vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận trong thực tiễn. Cán bộ, đảng viên đi học không phải để tiếp nhận những thứ lý luận giáo điều, xơ cứng rồi nói lại, hoặc vận dụng một cách máy móc, áp đặt chủ quan; lại càng không được đi học để “lấy bằng, khoe chữ”, mà phải học thật sự, trước hết là học về phương pháp tư duy, phương châm hành động, phương cách vận dụng theo tinh thần đổi mới, sáng tạo.
Bối cảnh trong nước và quốc tế đang thay đổi nhanh chóng đòi hỏi đội ngũ lãnh đạo, quản lý các cấp phải thường xuyên được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng theo phương châm “cơ bản, hệ thống, thực tiễn và hiện đại”, nhất là luôn bám sát hơi thở của cuộc sống; từ cuộc sống gần dân, từ nguyện vọng của nhân dân mà học để phục vụ nhân dân. Do đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng phải bám sát thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, cập nhật thực tiễn và tổng kết thực tiễn để phát triển và hoàn thiện.
Mỗi cán bộ, đảng viên cần có ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức hằng ngày và quan trọng hơn là hằng ngày phải “thực hành đạo đức cách mạng”. Đảng yêu cầu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là để cho cán bộ, đảng viên tự soi mình, sửa mình, tự rèn luyện những phẩm chất: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; quét sạch mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân vị kỷ để được nhân dân tin yêu, quý mến. Cán bộ, đảng viên không phải chỉ đi tuyên truyền “suông” mà cần thật sự đi đầu, tạo sức lan tỏa trong nhân dân về việc nghiêm túc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(17)./.
-------------------------------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 15, tr. 622
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 2, tr. 288
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 403
(4), (5), (6), (7), (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 601, 603, 611
(9) Vũ Kỳ: Bác Hồ viết bài báo “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Báo Nhân Dân, ngày 30-1-1999
(10), (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 609, 611
(12) Xem: Phát biểu của đồng chí Lê Khả Phiêu, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, bế mạc Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Tạp chí Cộng sản số 4 (2-1999)
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 612
(14), (15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 610, 608
(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 672
(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. 284
Nguyễn Xuân ThắngGS, TS, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2019/54073/Gia-tri-ly-luan-va-thuc-tien-cua-tac-pham-Dao-duc.aspx

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...