Thứ Tư, 17 tháng 10, 2018

PHÊ PHÁN SỰ PHÊ PHÁN THIẾU TÍNH KHOA HỌC ĐỐI VỚI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH


PHÊ PHÁN SỰ PHÊ PHÁN THIẾU TÍNH KHOA HỌC ĐỐI VỚI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Bài viết tập trung phê phán quan điểm cho rằng: chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, cùng lắm là đầu thế kỷ XX, ở các nước Tây Âu, chứ không thích hợp với các nước phương Đông lạc hậu như Việt Nam; Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là “một sai lầm của lịch sử”,“đã kìm hãm sự phát triển của đất nước”; “Người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu”; đồng thời chỉ ra đây là là một sự bôi nhọ, vu khống trắng trợn, phi văn hóa, thiếu tính khoa học của những người phê phán chủ nghĩa Mác - Lênin.
1. Trước hết ta hãy phân tích luận điểm này: chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, cùng lắm là đầu thế kỷ XX. Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Ngày 30-4-1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước đi lên CNXH. Năm 1986, cả nước tiến hành công cuộc đổi mới và cho đến nay đã thu được những thắng lợi quan trọng có ý nghĩa lịch sử. Những thành công vang dội ở thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI này gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng mà nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo lôgíc, chỉ cần chỉ ra một cái không đúng thì toàn bộ luận điểm này là không đúng, tức sai lầm.
Với câu hỏi: bước sang thế kỷ XXI, trong thời đại văn minh tin học, kinh tế tri thức, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, chủ nghĩa Mác - Lênin có tỏ ra lỗi thời, có bị lịch sử vượt qua hay không? Những người phê phán này không hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống mở, nó luôn phải được bổ sung phát triển bởi thực tiễn cuộc sống. Trong bài Về một số đặc điểm trong sự phát triển lịch sử của chủ nghĩa Mác,V.I.Lênin đã viết: Chủ nghĩa Mác không phải là một giáo điều chết cứng, một học thuyết nào đó đã hoàn thành hẳn, có sẵn đâu vào đấy, bất di bất dịch, mà là một kim chỉ nam sinh động cho hành động, chính vì thế nó không thể không phản ánh sự biến đổi mạnh mẽ của điều kiện sinh hoạt xã hội(1). Trong bài Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin cho rằng, chủ nghĩa Mác không có gì là giống “chủ nghĩa bè phái” hiểu theo nghĩa một học thuyết bo bo chỉ biết có mình và cứng nhắc, nảy sinh ở ngoài con đường phát triển vĩ đại của văn minh thế giới. Trái lại, thiên tài của Mác là ở chỗ đã giải đáp được những vấn đề mà nhân loại tiên tiến đã đặt ra. Học thuyết của ông ra đời là sự kế thừa thẳng và trực tiếp học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội.
Phép biện chứng khẳng định cái gì có sinh tất có diệt. Trong quan niệm tích cực về cái hiện đang tồn tại, phép biện chứng đồng thời cũng bao hàm cả quan niệm về sự phủ định cái hiện đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của nó; vì mỗi hình thái đã hình thành đều được phép biện chứng xét ở trong sự vận động, tức là xét cả mặt nhất thời của hình thái đó; vì phép biện chứng không khuất phục trước một cái gì cả, và về thực chất thì nó có tính chất phê phán và cách mạng. Trong thời đại văn minh tin học, kinh tế tri thức, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, vẫn còn đó hiện tượng ô nhiễm môi trường, nguy cơ mất cân bằng sinh thái, do vậy rất cần tuân thủ chỉ dẫn của Ph.Ăngghen về vấn đề này, “trong giới tự nhiên, không có cái gì xảy ra một cách đơn độc cả; hiện tượng này tác động đến hiện tượng khác và ngược lại; bởi vậy chúng ta không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên. Bởi vì cứ mỗi lần chúng ta đạt được một thắng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta”; “chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên”. 
Với quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với các nước Tây Âu, không thích hợp với các nước phương Đông lạc hậu như Việt Nam hoặc Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là “một sai lầm của lịch sử”, “đã kìm hãm sự phát triển của đất nước”.
Thế nào là “phù hợp”? Thế nào là “không thích hợp”? Một tư tưởng khoa học, đúng đắn, tiến bộ, mang ý nghĩa chân lý không thể nói phù hợp hay không thích hợp được. Riêng điều này đã mang hàm ý chủ quan, không trung thực, không phản ánh đúng thực tế của lịch sử. Đành rằng chủ nghĩa Mác ra đời ở phương Tây; nhưng những thành tựu của phương Tây, đặc biệt là khoa học công nghệ, tư tưởng nhân văn, ...phải chăng các nước phương Đông trong đó có Việt Nam không nên tiếp nhận? Phải chăng “không phải là sản phẩm của thực tiễn Việt Nam” thì “không thích hợp”; do đó việc du nhập những thành tựu này vào Việt Nam là “một sai lầm của lịch sử”, “đã kìm hãm sự phát triển của đất nước”? Nói thế chẳng hóa ra việc tiếp thu những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cũng là “một sai lầm của lịch sử”, “đã kìm hãm sự phát triển của đất nước”? Nếu không đặt cách mạng giải phóng dân tộc vào trong quỹ đạo của cách mạng vô sản như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm, nếu không có chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì liệu khi đó chúng ta có giải phóng được đất nước hay không? Lịch sử đã chứng minh tất cả các cuộc kháng Pháp trước đó đều bị thất bại. Sự thật đanh thép này những người phê phán không thể bác bỏ được.
Tất nhiên, chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời đã được gần 200 năm. Chúng ta cần xem trong chủ nghĩa Mác - Lênin, cái gì vẫn còn đúng và vẫn còn có giá trị lâu dài; cái gì trước kia chúng ta hiểu không đúng nay phải điều chỉnh lại cho đúng; cái gì ngay từ thời các nhà kinh điển đã thừa nhận là không đúng; cái gì đã bị thực tiễn vượt qua, đặc biệt là thực tiễn ở Việt Nam mà chúng ta cần bổ sung, phát triển.
Những “nhà phê phán” còn viết sách, báo, sản xuất băng hình nhằm xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các thế lực thù địch đã đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ cho rằng, Hồ Chí Minh chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không lựa chọn con đường XHCN. Thậm chí chúng còn phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh khi cho rằng, Hồ Chí Minh chỉ là người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu. Từ đó họ phát động chiến dịch bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh, bôi nhọ danh nhân mà họ gọi là chiến dịch “hạ bệ thần tượng”. Gần đây chúng tung lên luận điệu “No Ho” phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc công lao, sự nghiệp vĩ đại của Người. Thâm độc hơn, chúng tung ra luận điệu tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với học thuyết Mác - Lênin. Chúng ngụy biện rằng, bây giờ học thuyết Mác - Lênin đã lỗi thời, chỉ dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao chủ nghĩa Hồ Chí Minh. “Chủ nghĩa Hồ Chí Minh” cũng ám chỉ chủ nghĩa dân tộc. Đây là một luận điệu nguy hiểm, vì như vậy sẽ làm suy yếu tư tưởng Hồ Chí Minh và thực chất là để phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tiến tới phủ định chính ngay tư tưởng Hồ Chí Minh.
Có một sự thật không thể chối cãi được, Hồ Chí Minh là người đầu tiên tiếp thu, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời cũng là người đầu tiên vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin lên tầm cao mới trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, từ đó đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Những phân tích sau đây chứng minh luận điểm cho rằng “Hồ Chí Minh chỉ là người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu”, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với học thuyết Mác - Lênin, là một sự bôi nhọ, vu khống trắng trợn, phi văn hóa, thiếu tính khoa học của những người phê phán.
Khi phân tích xã hội phương Đông, đặc biệt là Việt Nam, Hồ Chí Minh phát hiện ra rằng, ở Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của lịch sử; vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây. Từ những nhận xét đó, Người đi đến kết luận: “Xã hội Ấn Độ - China - và tôi có thể nói: Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời Trung cổ, cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây”(2). Đây là những kết luận khoa học được rút ra từ việc nghiên cứu cẩn thận, lâu dài của Hồ Chí Minh. Từ phân tích về mặt giai cấp, xã hội ở các nước phương Đông và Việt Nam, Hồ Chí Minh mặc dù có thể chưa đọc được những tác phẩm của C.Mác về phương Đông nhưng đã đi gần đến tư tưởng của C.Mác, nhất là quan niệm về “phương thức sản xuất châu Á” với đặc trưng là tính tự trị, độc lập, biệt lập của công xã; cái đặc trưng này, theo Người, dẫn đến sự thiếu tin cậy lẫn nhau, đó là nguyên nhân gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông. “Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau(3).
Đi sâu nghiên cứu phương Đông, Hồ Chí Minh đã đặt ra một vấn đề hết sức chính xác: “Mác cho ta biết rằng sự tiến triển của các xã hội trải qua ba giai đoạn: Chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản; và trong mỗi giai đoạn ấy, đấu tranh giai cấp có khác nhau. Chúng ta phải coi chừng! Các dân tộc Viễn Đông có trải qua hai giai đoạn đầu không?”(4). Ở phương Đông, do ảnh hưởng của cái gọi là phương thức sản xuất châu Á kéo dài dai dẳng từ sau khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã cho đến tận những năm đầu của thế kỷ XIX, nên xã hội phương Đông và Việt Nam không thật điển hình như phương Tây. Từ thực tiễn đó, Hồ Chí Minh nhận xét: tùy hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau, ta không giống Liên Xô, ta có thể đi theo con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh viết: không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không có được. Người đề xuất: “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”(5). Tại sao lại như vậy? Theo Người, “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà lịch sử châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”(6). Ở đây, Hồ Chí Minh đã phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện cụ thể của các nước phương Đông và đặc biệt là ở Việt Nam chứ không phải là xét lại chủ nghĩa Mác. Với những tư tưởng này, phải chăng Hồ Chí Minh chỉ là người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu nào như những nhà phê phán rêu rao?
Trong Lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất cuốn Tư bản, Phê phán khoa kinh tế chính trị, tập thứ nhất, quyển I, C.Mác  viết: “Trong tất cả các lĩnh vực khác thì cũng giống như các nước khác ở lục địa Tây Âu, chúng ta (tức nước Đức) đau khổ không những vì sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà còn đau khổ vì nó phát triển chưa đầy đủ. Ngoài những tai họa của thời hiện nay ra, chúng ta còn phải chịu đựng cả một loạt những tai họa kế thừa do chỗ các phương thức sản xuất cổ xưa, lỗi thời vẫn tiếp tục sống dai dẳng với những quan hệ chính trị và xã hội trái mùa do chúng đẻ ra. Chúng ta đau khổ không những vì những người đang sống, mà còn vì những người đã chết nữa. Le mort saisit le vif! (người chết nắm lấy người sống!)”(7).
Trước kia, những nước tiền tư bản tiến lên CNXH thường quá nhấn mạnh vào mặt, khía cạnh thứ nhất, tức chúng ta đau khổ vì chủ nghĩa tư bản; mà ít để ý tới mặt, khía cạnh thứ hai, tức đau khổ vì thiếu nó; tức thiếu tất cả những cái mà CNTB đã tích lũy được trong vòng ba trăm năm như khoa học công nghệ, ý thức pháp luật, mặt bằng dân trí, quản lý kinh tế,... Những nước XHCN ở phương Đông do xuất phát điểm chưa trải qua giai đoạn phát triển TBCN, nên về mặt kinh tế cũng nằm trong tình trạng như vậy; và do đó hiện nay, những nước này không chỉ thấm thía vế thứ hai mà C.Mác đã nói, tức đau khổ vì nó phát triển chưa đầy đủ, đau khổ vì thiếu nó, mà còn thấm thía cả việc những tai họa do việc kế thừa các phương thức sản xuất cổ xưa, lỗi thời vẫn tiếp tục sống dai dẳng với những quan hệ chính trị và xã hội trái mùa do chúng đẻ ra. Điều này đối với Việt Nam hiện nay thì lại càng rõ.
Trong tác phẩm Đệ tam quốc tế và địa vị của nó trong lịch sử(viết vào tháng 4-1919), V.I.Lênin viết: “Tôi thường có dịp nhắc tới điều đó rằng: so với các nước tiên tiến, thì đối với nước Nga, bắt đầu cuộc đại cách mạng vô sản là một điều có dễ dàng hơn, nhưng tiếp tục cuộc cách mạng đó và đưa nó đến thắng lợi cuối cùng, ý nghĩa là một tổ chức toàn vẹn một xã hội xã hội chủ nghĩa, lại là một điều khó khăn hơn”(8).
V.I.Lênin đã chỉ ra các lý do khiến nước Nga so với những nước tư bản tiên tiến thì bắt đầu cuộc đại cách mạng vô sản là một điều có dễ dàng hơn, trong đó cái quan trọng là tình trạng lạc hậu về kinh tế của nước Nga so với các nước phương Tây. Nhưng điều đặc biệt quan trọng, mà C.Mác, Ph.Ăngghen cuối đời đã phát hiện ra là nước Nga vẫn còn rơi rớt những tàn dư của công xã nông thôn, tức vẫn còn ảnh hưởng của phương thức sản xuất châu Á.
V.I.Lênin viết: “Đương nhiên, kiểm điểm như thế chưa phải là đã đầy đủ... Muốn tiếp tục sự nghiệp kiến thiết xã hội chủ nghĩa và hoàn thành tốt sự nghiệp ấy, thì còn có nhiều việc phải làm. Ở các nước tiến hóa hơn, nơi mà giai cấp vô sản có nhiều thế lực và ảnh hưởng hơn, thìnhững nước Cộng hòa Xôviết ở đó có tất cả mọi cơ hội để vượt nước Nga, khi họ bước vào con đường chuyên chính vô sản”(9). Như vậy, theo V.I.Lênin, việc tiếp tục cuộc cách mạng đó và đưa nó đến thắng lợi cuối cùng, đối với nước Nga lại là một điều khó khăn hơn, và những nước tiên tiến này nếu tiến lên CNXH thì sẽ vượt nước Nga.
Nghiên cứu tình hình cụ thể các nước phương Đông, Hồ Chí Minh cho rằng, với “những lí do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á, dễ dàng hơn là ở châu Âu”(10). Phát hiện mang tính chất dự đoán thiên tài nhưng có cơ sở này của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1921 đến nay vẫn tỏ ra có sức sống, đứng vững và được thực tế chứng minh. Điều này càng chứng minh thêm cho sự bôi nhọ trắng trợn, phi văn hóa, thiếu tính khoa học, một sự vu khống trắng trợn của những người phê phán.
Điểm khác biệt giữa châu Á và châu Âu, giữa phương Đông và phương Tây là ở chỗ: ảnh hưởng của cái gọi là “phương thức sản xuất châu Á” kéo dài, dai dẳng, tạo nên một điểm đặc trưng riêng biệt của phương Đông là việc không có sở hữu tư nhân về ruộng đất trong một thời gian khá dài - cái mà C.Mác cho là “cơ sở” của tất cả các hiện tượng ở phương Đông, còn Ăngghen cho là “chiếc chìa khóa” để hiểu toàn bộ phương Đông. Trong Kính thư có ghi: đất đai dưới trời đâu chẳng là của vua, người trên đất đai ấy ai chẳng là thần dân của vua (Phổ thiên chi hạ mạc phi vương thổ; xuất hải chi tân mạc phi vương thần). GS Trần Đình Hượu sau này cho rằng, cùng với chế độ “lãnh hữu” (chứ không phải “sở hữu” về ruộng đất), các nước phương Đông dễ tiến lên CNXH hơn CNTB.
Nhưng, dễ tiến lên chủ nghĩa xã hội và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, đó là hai việc khác nhau. Cái thứ nhất chỉ là một tiền đề, điều kiện thuận lợi, còn cái thứ hai mới là đích. Từ đó, Hồ Chí Minh cho rằng: thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ, thắng bần cùng, nghèo nàn, lạc hậu còn khó hơn nhiều; cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng vĩ đại, vẻ vang nhất, nhưng là cuộc cách mạng gay go nhất, phức tạp, khó khăn nhất, là cuộc chiến khổng lồ chống lại những gì cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi.
Trên mạng xã hội gần đây, người ta thấyluận điệu “Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa, ngay cả Bộ Chính trị”. Thật là hồ đồ. Nhận thức rõ âm mưu và hoạt động “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng chính trị, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đẩy mạnh cuộc đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong các văn kiện Đại hội thời kỳ đổi mới, Đảng nhiều lần nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình”, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng. Đại hội XII của Đảng đặt ra yêu cầu “tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”(11).
Để thực hiện chủ trương đó, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác tư tưởng, lý luận; chẳng hạn như Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới; Nghị quyết Trung ương 5 khóa X Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới; Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 34-CT/TW “Về tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa”. Tuy nhiên, công tác tư tưởng, lý luận nói chung, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị nói riêng nhằm chống những quan điểm sai trái, thù địch, chống âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch như Đại hội XII của Đảng đã nhận định còn nhiều hạn chế, bất cập. “Chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận chưa cao. Chậm khắc phục có hiệu quả những hạn chế của công tác tư tưởng như thiếu sắc bén, chưa thuyết phục. Đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn bị động, hiệu quả chưa cao”(12).
________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2018           
(1) V.I.Lênin: Toàn tập, t.20, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.99. ­
(2), (3), (4), (5), (6), (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.509, tr.284, 510, 510, 509-510, 47.
(7) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.19-20.
(8), (9) V.I.Lênin: Toàn tập, t.38, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, Hà Nội 2000,, tr. 367-368, 479.
(11), (12) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.201, 192-198.

GS, TS Nguyễn Hùng Hậu
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/dien-dan/item/2665-phe-phan-su-phe-phan-thieu-tinh-khoa-hoc-doi-voi-chu-nghia-mac-lenin-tu-tuong-ho-chi-minh.html
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH XÂY DỰNG VĂN HÓA TRONG KINH TẾ HIỆN NAY

Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, rằng “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi văn hóa là sức mạnh nội sinh của dân tộc, là động lực để phát triển kinh tế. Vì thế, đầu tư cho văn hóa, gia tăng “hàm lượng văn hóa” trong hoạt động kinh tế cũng như mọi lĩnh vực của cuộc sống là một trong các cách thức để Việt Nam đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như Đảng đã đề ra.
1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế
Khi xem xét mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, chúng ta đã có sẵn “bàn chỉ nam”là những quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề này. Trong quá trình tiến hành sự nghiệp cứu nước, cứu dân - một sự nghiệp mang tính văn hóa sâu sắc, Hồ Chí Minh không ngừng suy tư về văn hóa. Người cho rằng, cả bốn lĩnh vựckinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội đều quan trọng ngang nhau nên nhất thiết không được xem nhẹ một mặt nào; sự yếu kém, tụt hậu của một lĩnh vực nào đó đều tác động tiêu cực đến sự phát triển của các lĩnh vực khác.
Riêng về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế thì Hồ Chí Minh chỉ rõ: Kinh tế thuộc về hạ tầng cơ sở, văn hóa thuộc thượng tầng kiến trúc nên kinh tế phải đi trước một bước, tạo điều kiện cho văn hóa phát triển. Người viết: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa. Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước”(1). Kinh tế phải đi trước vì con người cần phải ăn, uống, ở, mặc trước khi làm khoa học và sáng tạo nghệ thuật. Sự nghèo nàn về vật chất có thể dẫn đến sự nghèo nàn về tinh thần, mức độ thấp kém của trình độ dân trí.
Mặt khác, với tư duy biện chứng, Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế, không cho rằng văn hóa đóng vai trò thụ động và kinh tế phải phát triển xong rồi mới phát triển văn hóa. Ngược lại, Người luôn khẳng định tính chủ động và vị trí đặc biệt của văn hóa, rằng “văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”(2), phải phục vụ nhiệm vụ chính trị và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế. Khẳng định vai trò lực đẩy của văn hóa đối với kinh tế, Hồ Chí Minh đã viết: “Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp cho chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ”(3). Văn hóa không thể “đứng ngoài” kinh tế nhưng mức độ “ở trong” kinh tế của văn hóa không phải lúc nào và ở đâu cũng như nhau dù rằng hàm lượng văn hóa trong kinh tế cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xã hội sẽ hiện thực và bền vững bấy nhiêu. Sự có mặt của yếu tố văn hóa trong kinh tế còn làm cho kinh tế có tính văn hóa.
Thực tế cho thấy, kinh tế dù đóng vai trò “tiên phong” nhưng không phải lúc nào kinh tế cũng chi phối được văn hóa, không phải lúc nào sự phát triển kinh tế cũng tỷ lệ thuận với sự phát triển của văn hóa. Bằng chứng là trong những năm chiến tranh ác liệt, đời sống kinh tế rất khó khăn nhưng con người vẫn sống đẹp, đẹp đến mức sẵn sàng xả thân mình vì nền độc lập của dân tộc và đối xử với nhau “trọn tình, vẹn nghĩa”. Vậy mà khi kinh tế có sự khởi sắc nhất định nhờ quá trình Đổi mớithìtrong đời sống xã hội lại không thiếu các biểu hiện về sự tụt dốc văn hóa như bùng phát các tệ nạn xã hội và sự phai nhạt tình người. Điều đó cho thấy, các thành tố của văn hóa như tâm lý, đạo đức, niềm tin... không phải lúc nào cũng “ăn nhập”, “đi đôi” với sự phát triển kinh tế. Trong trường hợp đó, văn hóa sẽ kìm hãm, làm lệch kinh tế. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, văn hóa và kinh tế vừa là “nhân”, vừa là “quả” của nhau nên chỉ khi văn hóa và kinh tế hòa quyện, thẩm thấu trong nhau thì kinh tế mới có sự phát triển bền vững và văn hóa mới phát huy được hết sức mạnh tiềm tàng của nó. 
Như vậy, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa ở 2 góc độ: đó là mối quan hệ biện chứng giữa 2 lĩnh vực thiết yếu của đời sống xã hội và là sự xâm nhập, hiện hữu của văn hóa ở trong kinh tế, làm cho hoạt động kinh tế luôn mang tính văn hóa.
2. Sự hiện diện của yếu tố văn hóa trong kinh tế ở nước ta hiện nay
Xem xét thực trạng quan hệ giữa văn hóa và kinh tế ở nước ta hiện nay phải được tiến hành trên 2 phương diện: một là, xem xét mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa với tư cách là hai lĩnh vực thiết yếu, có tính độc lập tương đối trong đời sống xã hội; hai là, xem xét “hàm lượng”văn hóa trong kinh tế, mức độ “ở trong kinh tế”của văn hóa.
Ở phương diện thứ nhất, Đảng ta đánh giá là “văn hóa chưa tương xứng với kinh tế”(4). Để khắc phục hiện tượng đó, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI nhấn mạnh yêu cầu “văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”.
Ở phương diện thứ hai, để đánh giá mức độ hiện hữu của yếu tố văn hóa trong kinh tế, chúng ta phải trả lời một loạt các câu hỏi: Yếu tố văn hóa trong kinh tế đang hiện diện ở các dạng thức nào? Sự phát triển kinh tế trong thời kỳ Đổi mới có song hành với sự gia tăng hàm lượng văn hóa trong kinh tế hay không? Sự tồn tại của các yếu tố văn hóa trong kinh tế có nhất loạt như nhau? Câu trả lời như sau:
- Về các dạng thức biểu hiện của văn hóa trong kinh tế ở nước ta hiện nay
Hiện nay, người ta đang nói đến sức mạnh cứngsức mạnh mềm của văn hóa trong sự phát triển kinh tế. Sức mạnh cứng của văn hóa hiển thị bằng sự ra đời của ngành công nghiệp văn hóa. Trước đây, người ta thường cho rằng văn hóa thuộc thượng tầng kiến trúc và chỉ tác động đến kinh tế một cách gián tiếp thông qua hoạt động của con người. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường, việc ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu khoa học - công nghệ vào việc sản xuất đại trà các sản phẩm văn hóa đã dẫn đến sự ra đời của một ngành công nghiệp mới trong nền kinh tế quốc dân - ngành công nghiệp văn hóa. Trong những năm Đổi mới, ở Việt Nam đang dần hình thành thị trường văn hóa và ngành công nghiệp văn hóa khi đã xuất hiện các hãng phim tư nhân, các công ty giải trí, các công ty tổ chức sự kiện, các gallery, các công ty lữ hành, các công ty thiết kế, thời trang, nghệ thuật biểu diễn... Từ đây, nhiều sản phẩm văn hóa đã trở thành hàng hóa với mục tiêu lợi nhuận chứ không chỉ nhằm mục đích truyền bá tư tưởng hay nâng cao dân trí như trước. Với sự ra đời của ngành công nghiệp văn hóa, văn hóa đã trở thành sức mạnh vật chất của nền kinh tế Việt Nam.
Tiếp đó, nói đến văn hóa là nói đến đời sống tinh thần nên sức mạnh mềm của văn hóa chính là tri thức, khả năng tư duy - sáng tạo, đạo đức, lý tưởng, cách ứng xử của mỗi con người và tất cả các yếu tố đó sẽ tác động đến kinh tế thông qua hoạt động của con người. Trong giai đoạn hiện nay, yếu tố văn hóa trong kinh tế được kết tinh thành một số dạng thức đặc biệt của văn hóa như văn hóa kinh doanh - văn hóa doanh nghiệp - đạo đức doanh nhân, văn hóa tiêu dùng, văn hóa quản lý kinh tế, văn hóa hợp tác kinh tế thế giới mà đáng nói nhất chính làvăn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp. 
Trong thời kỳ Đổi mới, xu hướng dân chủ hóa trong kinh tế đã dẫn đến sự khôi phục, phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân. Văn hóa doanh nghiệp dần được hình thành với những tiêu chí nổi bật như lối kinh doanh trung thực, ngay thẳng, sự cạnh tranh lành mạnh, sự cố gắng nâng cao giá trị sản phẩm, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, ý thức bảo vệ môi trường, nâng cao đạo đức doanh nhân, sự gia tăng hợp tác kinh tế trên quy mô quốc tế... với mục tiêu cuối cùng là làm cho cái lợi gắn chặt với cái đúng, cái đẹp; lợi ích của doanh nhân gắn kết với lợi ích của cộng đồng xã hội. Xây dựng triết lý kinh doanh lành mạnh để mọi người đồng lòng thực hiện là điều căn cốt nhất trong văn hóa doanh nghiệp và điều này đang được nhiều doanh nghiệp hết sức quan tâm. Trong thời gian qua, các danh hiệu “Sao đỏ”, “Sao vàng đất Việt”, giải thưởng Bạch Thái Bưởi và danh hiệu doanh nhân đất Việt thế kỷ XXI đã ra đời để thể hiện sự ghi nhận và tôn vinh của xã hội đối với các doanh nghiệp, doanh nhân điển hình về việc họ đã kinh doanh một cách có văn hóa.
- Về “hàm lượng”văn hóa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Sau 30 năm Đổi mới, ở nước ta đã và đang hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những thành tựu không ai có thể phủ nhận. Tuy nhiên, không phải cứ kinh tế phát triển thì văn hóa sẽ khởi sắc. Xem xét nhiều khía cạnh của đời sống kinh tế ở nước ta, chúng ta nhận thấy ở nước ta yếu tố văn hóa còn mờ nhạt so với mức độ tăng trưởng kinh tế, thậm chí kinh tế có tăng trưởng nhưng đạo đức - thành tố quan trọng nhất của văn hóa lại có những biểu hiện xuống cấp. 
Có thể nhận diện một số biểu hiện của nó là: 
+ Trong lĩnh vực sản xuất - kinh doanh: Tâm lý làm giàu bằng mọi giá đã dẫn đến những cách kinh doanh phản văn hóa, đi ngược lại pháp luật như buôn lậu, sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng hoặc độc hại đối với con người, kinh doanh không giấy phép, bóc lột quá sức người lao động, khai thác bừa bãi tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân. Số lượng các doanh nghiệp thực hiện lối kinh doanh có văn hóa còn ít. Sự phổ biến về lối làm ăn chộp giật, bất chấp đạo lý là biểu hiện của sự suy đồi về văn hóa trong kinh tế.
Trong các tập đoàn kinh tế nhà nước, sự suy giảm của yếu tố văn hóa cũng hiển hiện rất rõ khi nhiều tập đoàn không phát huy được vai trò tiên phong, tiềm lực to lớn của mình mà sa vào thua lỗ triền miên do sự thiếu trách nhiệm trong quản lý kinh tế, do sự tham nhũng ở quy mô lớn, do chiến lược đầu tư sai lầm khi “lấn sân”sang các lĩnh vực khác không phải là lợi thế của mình. Thống kê cho thấy, chỉ riêng trong ngành công thương, hiện có 12 dự án với tổng đầu tư là 63.610 tỷ đồng đang thua lỗ, phải “đắp chiếu”vì càng vận hành càng lỗ. Tất cả đã dẫn đến sự thất thoát nguồn lực khổng lồ của đất nước. Trong văn hóa, đạo đức và tinh thần trách nhiệm là nội dung quan trọng nhất thì điều này đang rất thiếu vắng ở các đơn vị kinh tế nhà nước.
+ Trong quản lý kinh tế thì trình độ và đạo đức của những người làm công tác quản lý đang ở mức báo động khi nhiều người trong số họ lại là những kẻ tham nhũng, cố ý làm trái hoặc tiếp tay cho việc làm trái. Sự tiêu cực bộc lộ rõ nhất trong các lĩnh vực nhạy cảm của nền kinh tế quốc dân như quản lý đất đai, ngân hàng, đầu tư xây dựng. Đó còn là sự nhũng lạm của các cán bộ quản lýcác cấp và điều này làm các doanh nghiệp tốn kém một lượng tiền không nhỏ vào việc “bôi trơn”, “làm luật”(thực chất là chống luật, lách luật). Ở lĩnh vực quản lý thị trường, sự yếu kém về năng lực quản lý lại dẫn đến hiện tượng hoặc phó mặc cho thị trường tự phát hoặc cái gì không quản lý được thì cấm; sự yếu kém về đạo đức lại dẫn đến việc thất thoát thuế, “cưa đôi thuế”, thuế chồng thuế. Sự thừa quyền lực mà thiếu đạo đức và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế chính là biểu hiện rõ nét của việc suy giảm hàm lượng văn hóa trong kinh tế ở nước ta hiện nay. 
+ Trong lĩnh vực tiêu dùng thì sự yếu kém về văn hóa thể hiện ở sự hoang phí, phô trương, chạy theo ham muốn của “xã hội tiêu dùng”, tâm lý sùng ngoại quá mức, chạy theo thị hiếu tầm thường, a dua theo phong trào và thiếu thông thái khi lựa chọn các sản phẩm tiêu dùng của một bộ phận không nhỏ dân chúng. Đó là còn chưa nói đến thị hiếu thấp kém, ấu trĩ của một số người mắc bệnh “thừa tiền nhưng thiếu văn hóa”. Hồ Chí Minh hết sức sâu sắc khi cho rằng “phương thức sử dụng” các công cụ sinh hoạt hàng ngày cũng chính là văn hóa. Cái ăn, cái mặc, phương tiện giao thông là văn minh vật chất nhưng ăn mặc thế nào, đi lại ra sao lại là văn hóa. Vì thế, cách thức tiêu dùng chưa hợp lý, khôn ngoan cũng thể hiện sự thiếu hụt của hàm lượng văn hóa trong đời sống kinh tế ở nước ta.
+ Trong hợp tác quốc tế về kinh tế: Do sự non yếu trong kinh nghiệm cũng như sự kém am hiểu luật pháp quốc tế, các doanh nghiệp của ta khi tham gia thị thường quốc tế thường bị thua thiệt. Vô tình, nhiều doanh nghiệp trở thành kẻ đi vay nặng lãi, dần dần mất hết cả vốn đối ứng và bị doanh nghiệp nước ngoài thâu tóm. Đó còn chưa nói đến sự tham nhũng, lợi ích nhóm, vị kỷ và sự kém hiểu biết của một số người đứng đầu doanh nghiệp đã biến Việt Nam trở thành nơi tiêu thụ hàng hóa ế thừa, hàng quá hạn sử dụng và nơi tiếp nhận những công nghệ lạc hậu. Sự lo ngại Việt Nam trở thành “bãi rác của thế giới”không phải là không có cơ sở.
Nhìn chung, sự thiếu hụt hàm lượng đạo đức trong kinh tế vào lúc kinh tế vẫn tạm thời tăng trưởng đã làm nhiều người cho rằng chúng ta đang thừa văn minh vật chất mà thiếu văn hóa. Điều này lý giải vì sao mô hình tăng trưởng kinh tế của nước ta trong nhiều năm qua chủ yếu là theo chiều rộng, tức là dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên và vốn đầu tư lớn chứ chưa phải là đầu tư theo chiều sâu, do phát huy nguồn lực con người - một sản phẩm đặc biệt của văn hóa. 
- Về sự hiện hữu không đồng đều của các thành tố văn hóa trong kinh tế
Trong văn hóa có 2 thành tố chủ đạo là tri thức khoa học và đạo đức nhưng sự tham gia của chúng vào sự phát triển kinh tế hiện không nhất loạt như nhau. Trong nền kinh tế thị trường, khoa học - công nghệ, đặc biệt là khoa học ứng dụng đã phát triển khá nhanh để phục vụ cho sản xuất và đây là một nhân tố dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế. Trong khi đó, đạo đức, lối sống lại giảm sút và đó chính là nguyên nhân của việc tăng trưởng thiếu bền vững. Thực tế cho thấy, nếu thiếu “vốn đạo đức”thì tiền vốn vay của nước ngoài và của việc huy động trong dân cũng sẽ bị thất thoát, mọi thành tựu của khoa học - công nghệ sẽ không được phát huy, mọi quy chế vận hành của nền kinh tế cũng bị làm méo mó. Nếu sự thiếu hụt này cứ duy trì thì sớm muộn đất nước sẽ rơi vào sự suy thoái toàn diện. Thực tế đã kiểm nghiệm chân lý mà Hồ Chí Minh đã đúc kết, rằng đạo đức là tiền đề để vươn tới tri thức, thực sự có đức thì cái tài sẽ đến. Vì thế, nâng cao nhân tố đạo đức trong mỗi con người với tư cách là chủ thể của hoạt động kinh tế đang là điều hết sức cấp bách của nền kinh tế Việt Nam.
3. Một số giải pháp nâng cao hàm lượng văn hóa trong kinh tế ở nước ta hiện nay
Ngày nay, trong thời đại của kinh tế tri thức, yếu tố chính mang lại sự tăng trưởng kinh tế là trí tuệ, tri thức, năng lực sáng tạo và đạo đức, ý thức trách nhiệm của người làm kinh tế, mà tất cả những năng lực này đều nằm trong các yếu tố cấu thành văn hóa. Vì thế, Hội nghị Trung ương 9 khóa XI đã xác định phải “thường xuyên quan tâm xây dựng văn hóa trong kinh tế”, làm cho các yếu tố cấu thành văn hóa thấm sâu vào tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế, làm cho mọi hoạt động kinh tế đều dựa trên động lực văn hóa và hướng tới mục tiêu văn hóa. Muốn vậy thì các chủ thể hoạt động kinh tế phải chú trọng một số giải pháp sau đây:
-Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN theo hướng gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa và thay đổi phương thức quản lý văn hóa của nhà nước.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là tổng thể các bộ quy tắc, luật lệ và hệ thống các thực thể, các tổ chức kinh tế nhằm điều chỉnh hoạt động kinh tế trên thị trường với mục đích phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là vấn đề mới, phức tạp và để đạt mục đích đó thì Nhà nước phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp nhưng nhất thiết phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế theo hướng bảo đảm sự công bằng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển. Việc hoàn thiện thể chế phải theo hướng gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước phát triển, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường. Phải có cơ chế và nhất là các chế tài để ngăn chặn sự nhũng lạm, gây khó dễ của các cán bộ quản lý đối với các doanh nghiệp, phải tránh hiện tượng “trên rải thảm, dưới rải đinh”.
Để nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân và qua đó dần dần làm cho văn hóa ngày càng thấm sâu vào hoạt động kinh tế, nhà nước cũng phải thay đổi cách quản lý lĩnh vực văn hóa. Từ chỗ quản lý trực tiếp các đơn vị văn hóa và hoạt động văn hóa như trước đây, giờ nhà nước phải kiểm soát và điều chỉnh ở tầm vĩ mô bằng việc đề ra hệ thống luật pháp, pháp quy và sau đó giám sát việc thực hiện. Với các hoạt động văn hóa công ích như thư viện, bảo tàng và các loại hình nghệ thuật bậc cao như văn học, nhạc giao hưởng, vũ ba lê... - những loại hình văn hóa khó thu được lợi nhuận trong cơ chế thị trường thì nhà nước phải bảo vệ và nâng đỡ. Với một số lĩnh vực văn hóa liên quan đến hệ tư tưởng và chủ quyền văn hóa quốc gia như báo chí, xuất bản, đài phát thanh, đài truyền hình thì chủ yếu vẫn phải do nhà nước điều hành. Dân chủ, kỷ cương, minh bạch là những tiêu chí trong văn hóa quản lý mà Nhà nước phải hướng tới. 
- Tiếp tục xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức doanh nhân với triết lý kinh doanh văn minh, lành mạnh. 
Văn hóa doanh nghiệp là những giá trị của doanh nghiệp được các thành viên trong cộng đồng doanh nghiệp chấp nhận mà điểm mấu chốt chính là đạo đức kinh doanh.Văn hóa doanh nhân là biểu hiện nhân cách của doanh nhân trong sản xuất kinh doanh mà điểm nổi trội là sự ý thức của họ về trách nhiệm đối với cộng đồng, đất nước. Hai thành tố trên đã hiện hữu trong đời sống văn hóa ở nước ta nhưng vẫn cần tiếp tục đẩy mạnh và củng cố để những nét đẹp đó trở thành nền tảng của mọi doanh nghiệp, lẽ sống của mọi doanh nhân. Một điều cần lưu ý là kinh doanh trong thời kỳ hội nhập cao độ, các doanh nhân Việt Nam phải nâng cao sự hiểu biết và kỹ năng giao tiếp trong môi trường xuyên văn hóa, đa văn hóa để có sự ứng xử phù hợp. Thực tế cho thấy, nhiều khi chỉ vì sự thiếu hiểu biết về văn hóa của các đối tác mà các doanh nghiệp Việt Nam mất đi những cơ hội quý báu.
- Tiếp tục đẩy mạnh ngành công nghiệp văn hóa ở nước ta.
Trong những năm Đổi mới, thị trường văn hóa nghệ thuật đang từng bước được hình thành và ngành công nghiệp văn hóa đã ra đời ở Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành công nghiệp mới này còn gặp nhiều khó khăn như cơ chế quản lý chưa đồng bộ, quy mô hoạt động của các doanh nghiệp văn hóa còn nhỏ. Ngày nay, phát triển công nghiệp văn hóa là xu thế của thế giới hiện đại và cũng là biện pháp để tối ưu hóa cơ cấu nền công nghiệp nước nhà, nâng cao văn hóa quốc dân, quảng bá văn hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế. Muốn vậy, Nhà nước phải có sự quan tâm và ưu tiên đặc biệt cho ngành công nghiệp văn hóa và phải hoàn thiện hơn nữa luật về quyền sở hữu trí tuệ để bảo vệ giá trị của các sản phẩm văn hóa và khuyến khích sự sáng tạo của các nhà sản xuất văn hóa.
- Nâng cao văn hóa tiêu dùng của nhân dân.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều khó khăn, sự cạnh tranh thị phần đang diễn ra gay gắt giữa các doanh nghiệp trong nước và thế giới, cần phát động phong trào “người Việt dùng hàng Việt” để tiếp sức, động viên các doanh nghiệp Việt Nam. Mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội phải trở thành người tiêu dùng thông thái, có ý thức tiết kiệm để tái đầu tư cho sản xuất.
- Tiến hành cải cách mạnh mẽ nền giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao tố chất “người” trong mỗi chủ thể hoạt động kinh tế.
Sự ra đời của kinh tế tri thức đã chuyển nền văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ. Tuy nhiên, tri thức con người không tự nhiên có được mà phải là sản phẩm của hoạt động giáo dục, đào tạo. Trong những năm qua, nền giáo dục Việt Nam đã nhiều lần cải cách nhưng chất lượng đào tạo nhìn chung vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của hoạt động kinh tế hiện đại khi tính độc lập, sáng tạo trong tư duy và kỹ năng thực hành của học sinh, sinh viên còn yếu, sự ý thức về bổn phận và trách nhiệm công dân của họ chưa cao. Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (năm 2013) đã ban hành nghị quyết số 29 về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo với mục đích nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Nhiệm vụ đã đặt ra và phải được thực hiện với quyết tâm cao độ và sự thận trọng cần thiết. 
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nhờ nội lực văn hóa mà dân tộc ta đã làm nên nhiều kỳ tích và ngày nay, cái bẫy thu nhập trung bình vốn rất khó vượt sẽ chỉ bị khuất phục bởi sức mạnh của văn hóa. Với sức mạnh cứng đang đầy triển vọng là ngành công nghiệp văn hóa, với sức mạnh mềm là tri thức, đạo đức, nhân văn, tính thẩm mỹ..., văn hóa sẽ thúc đẩy sản xuất và ngăn chặn những hiện tượng phản văn hóa trong đời sống kinh tế đất nước. Văn hóa mang trong mình cả sức mạnh thúc đẩy cái đẹp lẫn sức mạnh đẩy lùi cái xấu nên gia tăng hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống để đất nước phát triển bền vững là yêu cầu vừa cấp bách, vừa lâu dài của nước ta hiện nay.
________________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luân chính trị số 7 -2018
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.470.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.246.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.458-459.
(4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.169.

PGS, TS Trần Thị Minh Tuyết
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/bai-noi-bat/item/2676-van-dung-tu-tuong-ho-chi-minh-xay-dung-van-hoa-trong-kinh-te-hien-nay.html

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2018


CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG PHƯƠNG THỨC, THỦ ĐOẠN 
XUYÊN TẠC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH


Nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, những năm qua, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc nhằm xóa bỏ nền tảng lý luận trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam. Đặc biệt, chúng triệt để xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, bôi lem thân thế, sự nghiệp của Người, hòng đưa tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nền tảng lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Các thế lực thù địch tìm cách đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng coi Hồ Chí Minh chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải là người cộng sản. Chúng cho rằng việc Hồ Chí Minh vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam là sai lầm, là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của đất nước. Chúng dựng chuyện phi thực tế về thân thế, đời tư của Hồ Chí Minh hòng bôi nhọ lãnh tụ; triệt để lợi dụng, khoét sâu những thiếu sót trong thực hiện quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và các vụ việc tiêu cực, tham nhũng xảy ra để xuyên tạc rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, không còn phù hợp với xu thế của thời đại. Với những thủ đoạn đó, chúng hy vọng một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân dao động, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về thành tựu đổi mới của đất nước, về mục tiêu, con đường đi lên xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam. Từ đó, lôi kéo, kích động nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất ổn định chính trị, xã hội.
Nhằm tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch ráo riết sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn, trong đó, tập trung vào một số phương thức hoạt động cơ bản, như: Thông qua internet, mạng xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Các tổ chức phản động lưu vong, như: “Việt Tân”, “chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”… đã lập hơn 400 trang web, blog, hàng chục tạp chí, báo, nhà xuất bản, hơn 60 đài phát thanh có chương trình tiếng Việt, như VPR, VOA, RFI... lập ra các diễn đàn để tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh.  
Chúng cũng tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, diễn đàn quốc tế xuyên tạc tư tưởng và thân thế, đời tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt triệt để tổ chức các diễn đàn, tọa đàm, hội thảo ở các nước có đông đảo bà con Việt kiều đang sinh sống, làm việc, như: Australia, Mỹ, Canada... rồi gửi thư ngỏ, tài liệu truyền bá tư tưởng phản động, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tới lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam và các cơ quan chức năng trong nước, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài; thông qua tiếp xúc gặp gỡ các đoàn ra nước ngoài làm việc, tham quan. Qua đó, chúng ra sức rêu rao rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, lạc hậu, đề nghị Đảng, Nhà nước Việt Nam cần thay đổi bằng hệ tư tưởng mới.
Cùng những việc làm trên, chúng tìm cách tác động các chính khách cực đoan trong Quốc hội Mỹ và các nước phương Tây gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với điều kiện thay đổi cải cách chính trị, pháp luật theo kiểu phương Tây, trong đó có thay đổi Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản; đồng thời tìm cách móc nối, mua chuộc cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất trong Đảng, Nhà nước viết bài, tung tin tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh; kích động tâm lý hoài nghi của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng từ bên trong xã hội.
Cần khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là một khoa học, bao gồm hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Một tư tưởng, hệ tư tưởng được đánh giá là cách mạng, khoa học khi và chỉ khi xuất phát và phản ánh đúng thực tiễn, soi đường cho hoạt động thực tiễn, thúc đẩy thực tiễn phát triển, điều này luôn đúng với tư tưởng Hồ Chí Minh. Với thế giới quan, phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và với một trí tuệ sắc sảo, khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa của dân tộc và của nhân loại để hình thành nên hệ thống tư tưởng của mình. Tư tưởng đó là sự thống nhất, quan hệ biện chứng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, không chỉ giải quyết vấn đề lý luận, mà cao hơn là tư duy hành động, giải quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn đuốc soi đường đưa cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó chứng minh rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào phong trào cách mạng Việt Nam, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại, để kiến tạo nên một thời đại mới cho dân tộc Việt Nam, là thời đại Hồ Chí Minh, là một mốc son sáng ngời trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đó là một chân lý không ai có thể phủ nhận được. Hồ Chí Minh, Người là biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết quốc tế, đấu tranh không biết mỏi mệt cho hòa bình và tiến bộ của nhân loại; là hiện thân của chủ nghĩa nhân văn cao cả, đã cống hiến cả cuộc đời mình để đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, mang lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. Với những cống hiến vĩ đại cho dân tộc và cho nhân loại, với tấm gương đạo đức sáng ngời, Người đã được cả dân tộc Việt Nam, cộng đồng quốc tế và nhân dân tiến bộ trên thế giới tôn vinh, ngưỡng vọng. Chính vì lẽ đó, những luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, bôi lem, xuyên tạc thân thế, sự nghiệp của Người chỉ là những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học cũ rích, vô giá trị mà thôi.  
Với sự chỉ đạo sát sao của Đảng, Nhà nước, thời gian qua công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả quan trọng. Đặc biệt, các cơ quan chức năng đã tăng cường công tác quản lý an ninh thông tin mạng; triển khai biện pháp phát hiện, đấu tranh với các đối tượng tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, bắt giữ, xử lý nghiêm minh nhiều đối tượng vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác tuyên truyền và đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh còn tồn tại những hạn chế nhất định, như: Sự phối hợp giữa các cơ quan ban, ngành trong tuyên truyền và đấu tranh, phản bác còn hạn chế, chưa phát huy sức mạnh tổng hợp trong công tác này; công tác phòng ngừa, đấu tranh chưa gắn kết, phối hợp nhịp nhàng, có lúc, có nơi còn mang tính hình thức, thụ động; nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và thân thế, sự nghiệp của Người còn hạn chế...
Những năm tới, các thế lực thù địch vẫn sẽ tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và thân thế, sự nghiệp của Người hòng phủ nhận hệ tư tưởng lý luận của Đảng ta và toàn xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động này, cần tập trung vào một số công tác trọng tâm như sau:
Một là, công tác phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và thân thế, sự nghiệp của Người luôn phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong triển khai công tác này một cách thực chất, thường xuyên, liên tục với quyết tâm chính trị lớn, có sức thuyết phục cao, sức lan tỏa sâu rộng. Đặc biệt, cần huy động được rộng rãi trí tuệ, tâm huyết của các nhân sĩ, trí thức và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh.
Hai là, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối nội và đối ngoại nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân trong và ngoài nước về bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh bằng minh chứng cụ thể từ những thắng lợi trong lịch sử dân tộc và trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay; về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng, âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm chống phá Việt Nam, để từ đó thúc đẩy mọi người tự giác tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh. Tiếp tục phát huy thế mạnh của các kênh thông tin, đặc biệt là tăng cường xây dựng các trang web, các blog, diễn đàn trên mạng xã hội để đăng tải các tin, bài viết phong phú, đa dạng nhằm tuyên truyền về vị trí, tầm quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước hiện nay. Qua đó, góp phần đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và thân thế, sự nghiệp của Người.
Ba là, tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, khẳng định vị thế, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạch định đường lối xây dựng và phát triển đất nước; làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh có sức sống mãnh liệt trong đời sống, giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần, tư tưởng của xã hội ta. Qua đó nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho cuộc đấu tranh, phê phán quan điểm, tư tưởng xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Gắn kết chặt chẽ cuộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh; nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.
Bốn là, tiếp tục tăng cường công tác quản lý Nhà nước về báo chí, truyền thông, internet và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trên lĩnh vực này. Qua đó chủ động phát hiện những hành vi sai phạm, xu hướng lệch lạc của số phóng viên thoái hóa, biến chất; phát hiện các tài liệu, bài viết xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và thân thế, sự nghiệp của Người để có biện pháp xử lý kịp thời. Chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời các trang mạng độc hại, các blog “đen” thường đăng tải các tin, bài, phim có nội dung xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh.     
Năm là, tiếp tục thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho các tầng lớp nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; không ngừng nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế nhằm khẳng định sự thắng lợi của XHCN ở nước ta. Đó là minh chứng sinh động nhất nhằm bảo vệ vị thế, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh trong nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đập tan luận điệu xuyên tạc, chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch.        
ĐỨC QUỲNH 
http://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/canh-giac-voi-nhung-phuong-thuc-thu-doan-xuyen-tac-tu-tuong-ho-chi-minh-551983

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...