Thứ Năm, 8 tháng 3, 2018

CẢNH GIÁC VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ 

TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

                                           Trần Trí Nam

Trong khoảng hai tháng qua, lợi dụng chính sách, pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, nhất là khi Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, trên trang mạng “Baotiengdan”, Nguyễn Công Bình – Linh mục Giáo phận Vinh và Nguyễn Mạnh Hùng – Mục sư Sài Gòn (sau đây gọi tắt là Linh mục Bình và Mục sư Hùng) cho rằng: “Các tôn giáo thay vì được tự do để thành nhà giáo dục lương tâm cho xã hội thì bị chế độ tìm mọi cách để bó buộc im tiếng hay biến thành công cụ”. Vậy có đúng là các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay đang bị chế độ tìm mọi cách để bó buộc im tiếng hay biến thành công cụ? Phải khẳng định chắn chắn rằng hoàn toàn không đúng như vậy. Thực chất của luận điệu này, là cố tình xuyên tạc chính sách, pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam không chấp nhận mọi sự suy diễn, ngụy tạo, quy chụp nguy hiểm này. Đồng thời, cần phải kiên quyết đấu tranh với mọi luận điệu cáo buộc sai trái như của Linh mục Bình và Mục sư Hùng.

Hiện nay, trên thế giới, có lẽ ai cũng biết rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (theo Nghị quyết số 2200 (XXI) ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc). Theo đó, Điều 18 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền năm 1948 ghi nhận: Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng. Các quyền này đã được Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cụ thể hoá và quy định tại Điều 18 rằng: “Mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo…; Không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng của họ… Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”.
Như vậy, theo quan điểm được thể hiện trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, mặc dù tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền cơ bản của con người, nhưng quyền đó không phải là tuyệt đối, mà là một quyền có thể bị giới hạn bởi pháp luật, nếu việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo xâm hại tới an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác.
Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ được Hiến pháp và nhiều văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận, mà trong thực tế, quyền cơ bản này còn được Nhà nước ta tôn trọng, bảo đảm. Theo đó, Điều 24, Hiến pháp năm 2013 hiến định: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”[1].
Để cụ thể hoá quy định của Hiến pháp về tín ngưỡng, tôn giáo, Điều 3 Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 của Nhà nước Việt Nam quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; trong đó “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân. Đồng thời, Điều 6 của Luật này quy định “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo”.
Bộ Luật hình sự (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) quy định: người nào có hành vi “gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội” là tội phá hoại chính sách đoàn kết (Điều 116) sẽ bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Và “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác ngăn cản hoặc ép buộc người khác thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” là tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm (Điều 164).
Như vậy, Hiến pháp, Bộ Luật hình sự, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo và một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đã quy định rõ ràng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi người, mọi tổ chức tôn giáo cũng như Nhà nước trong việc thực hiện và bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Các văn bản quy phạm pháp luật này trước khi ban hành đều được lấy ý kiến công khai, rộng rãi trong xã hội và phù hợp với các điều luật quốc tế về tín ngưỡng, tôn giáo. Nhưng tại sao Linh mục Bình và Mục sư Hùng lại cho rằng, ở Việt Nam không có tự do tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo bị vi phạm, bóp nghẹt? Thậm chí, dù là công dân của nước Việt Nam, song họ lại rắp tâm vu cáo chính quyền Việt Nam hạn chế các hoạt động tôn giáo, đàn áp tôn giáo, đòi thả tự do cho những người vi phạm pháp luật liên quan đến tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Không chỉ xuyên tạc chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Linh mục Bình và Mục sư Hùng còn phủ nhận toàn bộ thành quả về thực hiện chính sách, pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng như tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Và họ ngang nhiên lớn tiếng ra yêu sách đòi hỏi hoạt động của các tôn giáo là một quyền tuyệt đối, không bị hạn chế, không chịu sự quản lý của Nhà nước. Đây rõ ràng là quan điểm sai trái, hết sức vô lý, không thể chấp nhận. Bởi lẽ, cũng như mọi nhà nước trên thế giới, Nhà nước Việt Nam có toàn quyền quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Và trên thực tế, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm việc thụ hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Nhà nước Việt Nam đã và đang thực thi quyền ngăn chặn sự vi phạm các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nhà nước đã có những biện pháp, chế tài nhằm hỗ trợ cho công dân được hưởng đầy đủ các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Bên cạnh đó, Nhà nước Việt Nam còn rất tích cực, chủ động đưa ra các kế hoạch, chính sách, đề án, chương trình cụ thể để mọi công dân thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật Nhà nước.
Tóm lại, việc Đảng, Nhà nước Việt Nam từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo không phải là để can thiệp, hay hạn chế tự do tín ngưỡng, tôn giáo như Linh mục Bình và Mục sư Hùng rêu rao, mà nhằm bảo đảm tốt hơn các quyền về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển bền vững đất nước. Vì vậy, mọi luận điệu suy diễn, quy chụp về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và yêu sách về một thứ tự do tôn giáo tuyệt đối như Linh mục Bình và Mục sư Hùng là vô lý, hoang đường và không thể chấp nhận./.






[1] Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Tuyên ngôn độc lập và các hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992, 2013), Hà Nội, 2015, tr.203-204.
MỘT QUAN ĐIỂM THIỂN CẬN VỀ HỒ CHÍ MINH
                                                                Trần Trí Nam
Có lẽ, nhiều người sẽ không ngạc nhiên khi bắt gặp những bài viết của các phần tử cơ hội phản động đăng tải trên một số trang mạng xã hội, nhất là vào thời điểm diễn ra các sự kiện trọng đại của đất nước, của dân tộc, thậm chí là của cả nhân loại tiến bộ trên thế giới, với nội dung và thái độ đi ngược lại với xu thế của thời đại. Bài viết của Le Nguyen trên blog danlambaovn.blogspot.com (ngày 11/8/2017) cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
Đọc nội dung bài viết của Le Nguyen, mọi người đều nhận ra Le Nguyen muốn gì. Nhưng có lẽ Le Nguyen đã quá “xem thường” hiểu biết của người đọc về lịch sử dân tộc, nhất là về công lao và giá trị tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Bởi vậy, điều đầu tiên mà người đọc cảm nhận rõ đó là, dù cố ý lập luận, dẫn chứng nhưng những gì mà Le Nguyen đưa ra nhằm phủ nhận công lao và giá trị tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh đều là sự xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo với động cơ đen tối.
Le Nguyen đã nghiên cứu khá kỹ khi lựa chọn trích dẫn lời của một học giả viết về Hồ Chí Minh: “… Chuyện Bác Hồ trăm năm chưa dễ thấu ngọn nguồn… Hồ Chí Minh là người có tầm mắt đại dương… người mang tầm vóc vĩ nhân và cốt cách hiền triết thì trên đời này chỉ thấy ở Hồ Chí Minh… Hồ Chí Minh, một nhà cách mạng kiệt xuất với tư tưởng lỗi lạc, với trí tuệ uyên bác, ôm trùm mọi trí thức Đông, Tây, kim, cổ… Hồ Chí Minh là kết tinh của lòng yêu nước, thương dân và tỏa ánh sáng minh triết của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, văn hóa Hồ Chí Minh…”. Mặc dù những ý tứ được khái quát ngắn gọn, nhưng cũng chứa đựng và phản ánh công lao vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Song tiếc rằng, sau lời trích dẫn đó, Le Nguyen dùng những lời lẽ thô thiển, thể hiện sự bất kính, thậm chí là “xúc phạm” để phủ nhận, xuyên tạc những phẩm chất, nhân cách tốt đẹp và công lao to lớn của Hồ Chí Minh. Le Nguyen cố tình “không biết”, “không hiểu” công lao và những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, cũng như ý nghĩa của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cùng với thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, Le Nguyen càng không hiểu câu dẫn của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945 của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vì thế,  Le Nguyen đã cố tình “cắt dán” để phủ nhận giá trị của bản Tuyên ngôn độc lập cũng như trí tuệ uyên bác của Hồ Chí Minh. Xin nhắc lại câu trích dẫn của Người: “Tất cả mọi người đều sinh bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”[1]. Điều đó đã trở thành chân lý, vậy mà Le Nguyen cho là “sáng kiến cắt dán tư tưởng của các bậc vĩ nhân, hiền triết”. Việc trích dẫn ấy không những không “hạ thấp” sự cao cả của lãnh tụ Hồ Chí Minh, mà trái lại càng khẳng định và tôn thêm sự vĩ đại của Người. Bởi lẽ, câu trích dẫn đó của Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập đã vừa nói lên ước nguyện của nhân loại và của nhân dân Việt Nam, đã vạch trần bộ mặt thật của chủ nghĩa thực dân lâu nay vẫn ẩn dưới vỏ bọc “khai hóa văn minh” để xâm lược và thôn tính các nước thuộc địa; đồng thời cổ vũ, động viên các dân tộc bị áp bức trên thế giới đứng lên đấu tranh lật đổ ách thống trị của chế độ thực dân. Trong Từ điển “Danh nhân văn hóa thế giới” có viết: Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngọn cờ đầu của giải phóng dân tộc. Người đã dẫn dắt triệu triệu người Việt Nam cùng hàng ngàn triệu người nô lệ hơn 100 nước trên thế giới vùng lên giành độc lập tự do, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Người đã làm nên cuộc đảo lộn thế giới chưa từng có từ sau khi chủ nghĩa tư bản lật đổ đế chế La Mã cổ xưa. Người đã vẽ lại bản đồ thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng đáng là Danh nhân văn hóa thế kỷ 20.
Trên thực tế, với những đóng góp to lớn cho dân tộc và nhân loại, Hồ Chí Minh đã được Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh là Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam từ năm 1987. Nếu ai đó đọc bài viết của Le Nguyen với tinh thần và thái độ khách quan, công tâm thì đều dễ dàng nhận biết được ai là kẻ “bịa đặt”, “bồi bút”, “ngụy biện”… khi viết về công lao, tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh?
Đã từ rất lâu, cả thế giới và Việt Nam đều biết tới Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam, Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng của Người cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì thế, với dã tâm của mình, Le Nguyen đã hằn học tìm mọi cách để xuyên tạc, công kích, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh, với ý đồ thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tiến tới phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đòi xóa bỏ chế độ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tuy nhiên, Lê Nguyen và những người a dua, lầm đường lạc lối đã nhầm, bởi lẽ công lao cũng như tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ được thừa nhận và khắc ghi trong trái tim người Việt Nam yêu nước mà còn được khắc ghi trong tâm trí của nhân loại tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Chính vì vậy, dù Le Nguyen có cố tình tìm mọi thủ đoạn xấu xa để phủ nhận công lao và giá trị của tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, song chắc chắn độc giả ở Việt Nam, cũng như độc giả trên toàn thế giới với lương tri và trách nhiệm của con người chân chính sẽ chẳng ai tin, vì nó hoàn toàn đi ngược lại với thực tiễn của lịch sử./.





[1] Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và các Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992, 2013), Hà Nội, 2015, tr.7.

Thứ Ba, 6 tháng 3, 2018

NHẬN THỨC ĐÚNG BẢN CHẤT KỶ LUẬT 
CỦA QUÂN ĐỘI CÁCH MẠNG TRONG 
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
                                                             Vũ Đảng
Nhận thức đúng tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất kỷ luật của quân đội cách mạng có ý nghĩa lớn trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Về bản chất kỷ luật của quân đội cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện.
Kỷ luật là sức mạnh của quân đội 
Bất cứ quân đội nào, vấn đề kỷ luật đều quan trọng, đó là sức mạnh. Kỷ luật là hệ thống những nguyên tắc, quy định, điều lệnh, điều lệ của Nhà nước, của quân đội, đảm bảo cho các hoạt động của quân đội được thống nhất và hiệu quả. Kỷ luật trong quân đội được thể hiện ở ý thức và hành động của toàn thể quân nhân trong thực hiện mọi nhiệm vụ, ở mọi hoàn cảnh, mọi lúc, mọi nơi. Hồ Chí Minh nói, khi kỷ luật đã thấm vào nhận thức, tình cảm của mọi quân nhân, hướng dẫn hành động của họ, nó trở thành sức mạnh vật chất, thì làm cho sức mạnh chiến đấu của quân đội được tăng lên gấp bội. Không thể có quân đội bách chiến bách thắng, nếu kỷ luật của quân đội đó bị buông lỏng, binh lính chấp hành mệnh lệnh chiến đấu không nghiêm. Theo Hồ Chí Minh, một đội quân ô hợp, thiếu tổ chức chặt chẽ, thiếu kỷ luật thì không thể có sức mạnh, dù nó có được trang bị những vũ khí tối tân hiện đại. Sự sa sút và lỏng lẻo về kỷ luật đồng nghĩa với sự suy yếu của quân đội.
Kỷ luật tự giác, nghiêm minh
Hồ Chí Minh chỉ rõ: Quân đội mạnh là nhờ … nhờ kỷ luật nghiêm. Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của dân, do dân, vì dân, vì vậy, kỷ luật phải tự giác, nghiêm minh... Điều đó khác hoàn toàn về bản chất so với kỷ luật quân phiệt của quân đội tư sản, đế quốc. Sự khác nhau đó do bản chất của giai cấp và nhà nước tổ chức ra quân đội quy định. Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề kỷ luật đối với sức mạnh chiến đấu của quân đội, trong quá trình huấn luyện, giáo dục, Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật cho cán bộ, chiến sĩ, chăm lo tăng cường kỷ luật quân đội. Người chỉ rõ: Kỷ luật phải nghiêm minh. Trong kỷ luật phải chú ý hai điểm: Thưởng và  Phạt. Hô hào tăng cường kỷ luật mà không làm tốt vấn đề thưởng, phạt thì sự tăng cường ấy không đạt hiệu quả, chỉ mang tính chất “hình thức”.
Thường xuyên tăng cường kỷ luật.
 Theo Hồ Chí Minh, tăng cường kỷ luật là yêu cầu cơ bản của việc tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội. Do sự khác nhau về bản chất kỷ luật của quân đội tư sản và quân đội vô sản, nên nội dung và phương pháp tăng cường kỷ luật của hai loại hình quân đội ấy cũng khác nhau. Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam: Mệnh lệnh cấp trên đưa xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành. Phải quân lệnh như sơn. Nghĩa là cấp trên đã ra lệnh thì vô luận thế nào cũng phải làm. Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên được thể hiện cụ thể trong mọi hành động của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam trong quá trình xây dựng và trưởng thành, trong thời chiến cũng như trong thời bình.
Thực hành dân chủ rộng rãi
Hồ Chí Minh cho rằng, tăng cường kỷ luật phải gắn với việc mở rộng dân chủ, phát huy tinh thần dân chủ của cán bộ, chiến sĩ. Người phân tích: Không nên hiểu lầm dân chủ. Khi chưa quyết định thì tha hồ bàn cãi. Nhưng khi đã có quyết định rồi thì không được bàn cãi nữa, có bàn cãi cũng chỉ để bàn cách thi hành cho được, cho nhanh, không phải để đề nghị không thực hiện. Phải cấm chỉ những hành động tự do quá trớn ấy. Mối quan hệ giữa kỷ luật và dân chủ, giữa tăng cường kỷ luật và phát huy dân chủ được Hồ Chí Minh đặt ra và phân tích sâu sắc làm cơ sở cho quá trình tăng cường kỷ luật và phát huy dân chủ trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong khi tăng cường giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật phải luôn gắn liền với phê phán những thói hư tật xấu, những biểu hiện vi phạm kỷ luật dễ xảy ra ở những cán bộ, chiến sĩ có thành tích trong chiến đấu, công tác.
Nhận thức đúng bản chất kỷ luật của quân đội cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở để giáo dục, rèn luyện kỷ luật xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về mọi mặt, thực sự là quân đội của dân, do dân và vì dân, “quân đội vô địch”, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua kẻ thù nào cũng đánh thắng./.






















NHẬN THỨC ĐÚNG CHỨC NĂNG CÔNG TÁC
 CỦA QUÂN ĐỘI CÁCH MẠNG TRONG
 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
                                                                 Vũ Đảng
Quân đội nhân dân Việt Nam được Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là đội quân chiến đấu, công tác và lao động sản xuất. Như vậy, cùng với hai chức năng là chiến đấu và lao động sản xuất, quân đội còn phải là một đội quân công tác. Việc thực hiện chức năng công tác của quân đội theo Hồ Chí Minh được thể hiện trên một số nội dung sau:
 Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn bám sát dân, có dân là mọi khó khăn gian khổ nhất định sẽ vượt qua giành thắng lợi.
Quân đội là lực lượng nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, muốn vậy phải bám sát dân, dựa vào dân. Bởi vì dân là nơi cung cấp sức người, sức của vô tận cho bộ đội. Nghĩa là bộ đội là con em ruột thịt của nhân dân. Đánh giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, quân đội không còn lợi ích nào khác. Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đây là điểm khác về bản chất của quân đội cách mạng với quân đội phản cách mạng. 
                                                                                                                         

Quân đội nhân dân Việt Nam phải bảo vệ dân, giúp đỡ dân.                                     

Nếu không bảo vệ, giúp đỡ dân thì sẽ không được dân tin, dân yêu và như thế sẽ không bám sát dân được. Khi nêu ra lý do vì sao bộ đội phải bảo vệ, giúp đỡ dân, Hồ Chí Minh giải thích: Muốn đánh địch thắng trận thì phải có đồng bào giúp mọi mặt. Muốn được đồng bào vui lòng giúp, thì ta phải giúp đỡ đồng bào. Đó là con đường thắng lợi. Thực tiễn một số cán bộ chiến sĩ do không quán triệt tốt quan điểm bảo vệ giúp đỡ dân, khi có được một chút ít công lao, muốn nhân dân phải biết ơn mình. Họ quên mất rằng thành tích đó là do nhân dân giúp đỡ mới có. Hồ Chí Minh cảnh báo: Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là vị cứu tinh của nhân dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân.
Quân đội nhân dân Việt Nam phải tuyên truyền giáo dục nhân dân tự nguyện, tự giác thực hiện đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tuyên truyền vận động nhân dân tự nguyện, tự giác thực hiện đường lối chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, tự giác giúp đỡ bộ đội hoàn thành nhiệm vụ đó là một nội dung quan trọng để thực hiện chức năng công tác của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tự nguyện tự giác trái hẳn với bặt buộc làm theo mệnh lệnh. Đây là cơ sở gốc bền chặt của mối quan hệ quân dân. Muốn được nhân dân tự nguyện, tự giác thì bộ đội phải làm cho dân hiểu vì sao nhân dân phải giúp đỡ bộ đội, nếu không giúp đỡ bộ đội thì bộ đội không giành thắng lợi, quyền lợi của nhân dân không được đảm bảo. Làm cho nhân dân tự nguyện, tự giác, là quá trình tự rèn luyện phong cách phương pháp của người đi tuyên truyền giáo dục. 
Quân đội nhân dân Việt Nam phải nắm vững đường lối chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam để vận động nhân dân.
Muốn làm công tác tuyên truyền vận động tốt, người đi tuyên truyền phải nắm chắc nội dung tuyên truyền, nội dung đó được thể hiện trong đường lối, chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực hiện chức năng công tác này, cán bộ chiến sỹ trong Quân đội nhân dân Việt Nam đóng vai trò là chiếc cầu nối giữa nhân dân với Đảng Cộng sản Việt Nam. Đường lối có được hiện thực hoá trong nhân dân hay không là do công tác tuyên truyền giáo dục của Đảng Cộng sản Việt Nam sâu rộng đến đâu, trong đó Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện chức năng công tác đóng vai trò quan trọng.
Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn đổi mới phương pháp tác phong công tác tuyên truyền vận động nhân dân phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh địa bàn nơi đóng quân.

Một trong những biện pháp để nâng cao hiệu quả tuyên truyền vận động nhân dân là phải luôn đổi mới nội dung, hình thức cho phù hợp. Cùng một nội dung, hình thức tuyên truyền vận động nhân dân, ở địa bàn này, thời điểm này thì phù hợp, hiệu quả, nhưng đến địa bàn khác thời gian khác thì không hiệu quả. Thước đo của phương pháp, nội dung tuyên truyền phù hợp là bộ đội phải lấy được lòng dân. Cán bộ đi tuyên truyền phải gương mẫu, miệng nói tay làm. Nhân dân chỉ thực sự tin yêu bộ đội, giúp đỡ bộ đội khi nào bộ đội miệng nói tay làm mang lại lợi ích cho họ. Hồ Chí Minh căn dặn: Làm dân vận là phải thật thà "nhúng tay vào việc". Mỗi quân nhân phải là một gương tốt để nhân dân noi theo. Tuyên truyền phải bằng hành động thực tế, tuỳ từng hoàn cảnh mà tổ chức giúp đỡ dân thực sự, không chỉ bằng diễn thuyết mà phải là sự gương mẫu của bộ đội. Đó là sự thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị trong điều kiện mới: chính trị của bộ đội được thể hiện ra là phải hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Thứ Ba, 27 tháng 2, 2018

ÂM MƯU ĐEN TỐI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
ĐÒI PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI TA
Khánh Anh

Một là, xác định phi chính trị hóa quân đội là một trong 3 lĩnh vực cơ bản để hướng lái, chuyển hóa cách mạng Việt Nam.
Các thế lực thù địch công khai nhận định: muốn chuyển hóa Việt Nam, phải chuyển hóa trên ba lĩnh vực cơ bản. Trong đó phá vỡ nền tảng chính trị là then chốt; chống phá về kinh tế là biện pháp cơ bản, thường xuyên, lâu dài; phi chính trị hóa quân đội là nhiệm vụ trọng yếu. Đây là thủ đoạn rất xảo quyệt và cực kỳ nguy hiểm. Bởi lẽ, khi Quân đội bị phi chính trị hóa thì chắc chắn sẽ suy yếu, không còn khả năng ngăn chặn các cuộc tiến công cả từ bên trong và bên ngoài của các thế lực thù địch, không giữ vững được sự ổn định chính trị. Điều đó sẽ dẫn đến mất độc lập, tự chủ và thông qua “cách mạng hoa hồng”, “cách mạng đường phố”, các thế lực phản động sẽ lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Rõ ràng mục đích là không đổi, nhưng thủ đoạn, cách thức thực hiện có những biểu hiện rất tinh vi, thâm độc.
Hai là, tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng cách mạng của quân đội bằng những luận cứ tưởng chừng như rất khách quan, khoa học.
Sinh thời, V.I.Lênin khẳng định: sự nghiệp cách mạng cần có Quân đội cách mạng, vì những vấn đề lịch sử vĩ đại chỉ có thể được giải quyết bằng bạo lực cách mạng và tổ chức Quân đội cách mạng là lực lượng nòng cốt của bạo lực cách mạng. V.I.Lênin yêu cầu Quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thành lập các chi bộ đảng trong mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, thực hiện chế độ chính ủy,… coi đó là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Hồng quân.
Trước những khó khăn của phong trào cách mạng, nhất là sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Liên Xô, chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, các thế lực thù địch tung hô đề cao tính khoa học của các luận thuyết tư sản, nhưng tuyên bố hết sức võ đoán rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, cáo chung, là bóng ma ám ảnh thế giới đương đại, không còn vai trò, ý nghĩa gì đối với xã hội. Do vậy, luận điểm Quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam là sai lầm; Quân đội phải đứng ngoài chính trị, phi chính trị.
Ba là, tập trung cổ súy cho luận điệu “quân đội phi giai cấp”; “Quân đội chuyên nghiệp, Quân đội nhà nghề”.
Họ tập trung luận giải “không cần phân biệt chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa tư bản, không cần chính trị, chỉ cần tiền, cần vũ khí, do đó bỏ Đảng cũng được vì Quân đội không thuộc một thể chế chính trị, đảng phái nào...”.
Họ nhấn mạnh, Quân đội nên là lực lượng đứng ngoài cuộc đấu tranh chính trị của các đảng phái nhằm giành quyền kiểm soát các cơ quan quyền lực nhà nước; việc tổ chức ra quân đội chỉ là để bảo vệ lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia. Bởi thế, Quân đội phải trung lập, đứng ngoài chính trị, không cần đặt và chịu sự lãnh đạo của bất kỳ đảng phái nào…
Bốn là, tấn công gây tâm lý hoang mang, dao động, mất phương hướng trong đội ngũ cán bộ, chiến sỹ của quân đội.
Các thế lực thù địch cho rằng, trong điều kiện hiện nay chưa thể xóa bỏ được ngay nền tảng tư tưởng của Quân đội nhân dân Việt Nam nên chúng tìm cách tác động làm cho cán bộ, chiến sĩ hoang mang, dao động, không xác định rõ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Chúng dùng mọi thủ đoạn để xuyên tạc đường lối của Đảng, Nhà nước Việt Nam, làm cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội mất niềm tin, thấy đúng không kiên quyết bảo vệ, thấy sai không biết đấu tranh.
Lợi dụng đường lối đối ngoại của Việt Nam là mở rộng hợp tác với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị, chúng cho rằng Quân đội không cần có đối tượng tác chiến, từ đó làm xuất hiện tư tưởng chủ quan, mất cảnh giác, rệu rã sức chiến đấu của Quân đội. Chúng ra sức khoét sâu, thổi phồng những hạn chế, yếu kém trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước, gây phân tâm trong tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ.
Đặc biệt hiện nay chúng triệt để lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta để làm giảm niềm tin, gây mâu thuẫn giữa lãnh đạo, chỉ huy với cán bộ, chiến sĩ, phá hoại khối đoàn kết thống nhất nội bộ quân đội, kích động hình thành bè phái và các nhóm lợi ích trong nội bộ.
Năm là, tập trung phá hoại các nguyên tắc tổ chức cơ bản trong xây dựng Quân đội, xóa bỏ công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Chúng cho rằng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, lấy lợi nhuận làm mục đích, lấy vật chất làm đòn bẩy tinh thần, nên công tác đảng, công tác chính trị không còn phát huy tác dụng. Vì vậy cần xóa bỏ công tác đảng, công tác chính trị; xóa bỏ hệ thống tổ chức đảng trong Quân đội.
Cùng với đó, lợi dụng chiêu bài mở rộng dân chủ, chúng đưa ra yêu sách xây dựng “quân đội toàn dân”, “trả Quân đội về cho Nhà nước”, thực hiện Quân đội là của toàn dân, sự can dự vào chính trị sẽ phá hoại tính chuyên nghiệp của Quân đội.
Sáu là, bôi nhọ và xuyên tạc lịch sử, truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền và các giá trị dân chủ phương Tây.
Thực hiện âm mưu phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, các thế lực thù địch còn tập trung chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, bôi nhọ, xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc tính chính nghĩa của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; xuyên tạc sự kiện chiến tranh biên giới Tây Nam, quan hệ Việt-Trung, quan hệ Việt - Mỹ…; bôi nhọ đời tư của các tướng lĩnh, anh hùng lực lượng vũ trang.

Với mục tiêu làm tha hóa quân đội ta, chúng ra sức truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, thờ ơ lãnh đạm, không quan tâm đến các vấn đề chính trị - xã hội… nhằm tạo khoảng trống về ý thức hệ, hòng làm phai nhạt bản chất cách mạng, tạo điều kiện cho hệ tư tưởng tư sản thẩm thấu vào đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam. Mỗi cán bộ, chiến sĩ QĐNDVN cần nêu cao cảnh giác để nhận diện và làm thất bại âm mưu đen tối đó của các thế lực thù địch.

Thứ Hai, 26 tháng 2, 2018

Cuộc sống đời thường của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Cao Bằng
Mùa Xuân năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.Người sống và hoạt động cách mạng tại Pác Bó (Cao Bằng), giữa núi rừng, hang đá lạnh lẽo, trong điều kiện sinh hoạt vô cùng kham khổ, thiếu thốn. Thời gian lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở Cao Bằng không dài nhưng cuộc sống đời thường của Người tại đây đã khắc sâu thêm cốt cách của vị lãnh tụ vĩ đại đã hiến cả đời mình cho dân tộc.

1. Cuộc sống đời thường kham khổ, tiết kiệm nhưng nề nếp, khoa học
Từ ngày 8-2-1941, Người bắt đầu sống và làm việc tại hang Cốc Bó, thôn Pác Bó, Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng. Người sống ở đây hơn mười ngày, trong điều kiện khắc nghiệt, đêm nồm, đá chảy mồ hôi, nước nhỏ giọt thấm qua chăn. Người bị mất ngủ nhưng không hề lộ chút nào mệt mỏi. Giặc lùng sục, Người lại di chuyển lên Lũng Lạn, chỗ ngủ không ván, không chiếu, chỉ có lá cây rừng trải xuống đất để nằm. Đồng chí Lê Quảng Ba kể lại trong hồi ký: “Sau những đêm vật lộn với mưa gió và sương lạnh, bọn thanh niên chúng tôi đã đau xương, mỏi lưng, ê ẩm khắp người. Người vẫn không phàn nàn nửa lời nhưng chắc Người đã phải chịu đựng vất vả hơn chúng tôi nhiều”(1). “Cơ quan ở cái hang sâu và kín đáo ở sườn núi mé trên, lên phải leo dốc đá vài chục thước. Cửa hang này nhỏ, luôn luôn ẩm ướt, phải bíu tay vào thành đá mới có thể chui được vào bên trong. Ngoài các cửa ra vào, nhỏ và tối, hang còn có một cửa lớn ở phía trên cao bị cây cối um tùm che khuất. Trong hang có những phiến đá to chỉ cần xếp ít cành rồi trải lá lên là có thể ngả lưng được. Chỉ ban đêm mới vào đây ngủ, còn ban ngày vẫn ra bờ suối, chỗ bãi cỏ nhỏ trong thung lũng để làm việc và thường cũng chỉ tiếp khách ở nơi này. Ở trong hang không khí ẩm thấp, nhất là ngày mưa, nước thường nhỏ giọt theo nhũ đá xuống nền lách tách không bao giờ ngớt”(2). Có đồng chí đề nghị làm mái để tránh mưa nhưng Người không đồng ý vì khi có động phải rời hang, giặc đến sẽ biết dấu vết để truy bắt. Mưa lớn, nước rỏ lênh láng vào cả chỗ nằm, Người chỉ lấy một cây que dài ghếch lên làm “máng” lựa đón giọt nước chảy ra chỗ khác. Ở Lũng Lạn được sáu ngày, cuối tháng 3-1941, do địch lùng sục, Người rời sang Khuổi Nậm, địa thế thuận tiện cho việc di chuyển mỗi khi bị lộ. Đây là nơi ở tương đối lâu dài và “sang” nhất của Người trong thời kỳ ở Pác Bó. Lán dựng ngay ở trên lòng con suối đang mùa khô, cây cối rất rậm rạp, ở ngoài nhìn vào khó nhận ra. Lán dựa vào một cây “mạ” làm cột cái, mái lán lợp bằng gianh; vách lán, chiếu nằm đều đan bằng lá đào rừng. Tháng 5-1942, Người rời Khuổi Nậm, về các huyện Hòa An, Nguyên Bình. Mấy tháng sau, Người lại quay về Pác Bó, tiếp tục ở Khuổi Nậm và di chuyển nhiều nơi khác.
Bữa ăn của Người rất kham khổ, ngày chỉ có hai bữa, món ăn chính là cháo bẹ, rau măng, rau rừng, cơm độn bắp; nước lá ổi thay chè. Thỉnh thoảng Người câu được con cá hay anh em mua được cân thịt lại đem kho thật mặn làm “món ăn chiến lược” để ăn dần- 1kg thịt, 1kg muối, 1 nửa kg ớt xào lên cho vào ống, đi đến đâu dùng cũng tiện.Người thường căn dặn anh em chú ý tiết kiệm, ăn uống tuyệt đối không được để thừa hoặc đổ đi. Đồng chí nào mang quà về hoặc có quà của quần chúng gửi cho, nếu có nhiều thì phải tính giảm bớt gạo. Mỗi bữa cơm, Ngườichỉ ăn hai bát đầy bằng miệng vì cơ quan ở bí mật, gặp nhiều khó khăn. Để ăn mừng Ngườidịch xong cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên Xô, bữa cơm cũng chỉ có thêm ít rau rừng và ít thịt.
Cuộc sống thiếu thốn, kham khổ lại di chuyển nhiều nơi nhưng Người luôn có ý thức rèn luyện sức khỏe. Dù trời ấm áp hay mưa lạnh đến đâu, Người đều dậy sớmleo núi, đi quyền rồi xuống suối tắm. Ngườichọn những quả núi cao nhất quanh vùng để leo lên với bàn chân không. Việc leo núi của Người không chỉ nhằm mục đích tập luyện mà còn để tìm hiểu địa hình để ứng phó linh hoạt nhất khi quân thù bất ngờ ập đến. Nhiều đồng chí đề nghị Người đigiày cho khỏi đau chân. Ngườitrả lời: Tôi tập leo núi chân không cho quen vì con đường cách mạng chông gai lắm. Sau giờ tập, Người thườngtắm nước lạnh để luyện chịu đựng giá rét. Để luyện bàn tay, Ngườibóp tay vào hai hòn đá tròn và nhẵn như quả trứng gà. Sống cạnh Người, ai tinh ý lắm mới biết được mỗi khi mỏi mệt là Người đứng dậy đi đi lại lại hoặc làm một việc gì đó, trừ trường hợp không đi lại được nữa, Người mới chịu nằm nghỉ. Có lần bị sốt rét, người gầy đi nhiều, nhưng Người cũng không chịu nghỉ, vẫn kiên trì leo núi cho mồ hôi vã ra.
Người làm việc có kế hoạch và cần mẫn với một nghị lực phi thường. Ngay hôm đầu tiên về nước, Người đã bắt tay ngay vào công việc. Thấy Người làm việc có nề nếp, quy củ, anh em cứ ngỡ như Người đã từng ở đây từ rất lâu. Về Pác Bó được ít ngày, Người đã hoàn thành một công việc có ý nghĩa lịch sử trọng đại là chuẩn bị các điều kiện cho Hội nghị Trung ương.Thỉnh thoảng mua được một tờ báo, Người tranh thủ xem rất kỹ, những chỗ quan trọng bao giờ Người cũng gạch dưới và đánh dấu cẩn thận. Người viết nhiều bài cho báo Việt Nam độc lập bằng văn vần dễ thuộc, dễ nhớ, để tuyên truyền đường lối cách mạng trong quần chúng. Tuy công việc bề bộn, ngổn ngang, nhưng giờ nào việc ấy, rất có trật tự. Những thứ giá trị như máy chữ, đá in và tài liệu sách báo bí mật đều được sắp đặt gọn gàng, ngăn nắp. Sau mỗi buổi làm việc, Người xếp máy chữ vào một túi riêng, tài liệu thì bỏ thùng sắt đậy lại cẩn thận. Thời gian ở Pác Pó, Người thường mặc bộ quần áo Nùng màu chàm, đi giầy vải chẳng khác gì một ông cụ người địa phương. Người ở Pác Bó hơn một năm, nhưng bà con trong thôn xóm chỉ biết đó là cán bộ cách mạng tên Sáu Sán. Người thường hỏi han công việc của mỗi người trong ngày. Ai chưa có việc, Người cắt đặt cho. Người thường nhắc nhở mọi người: nhàn cư vi bất thiện, muốn ai cũng có việc làm dù là những việc lớn như xây dựng cơ sở, xây dựng phong trào hay chỉ là việc nhỏ như vá quần áo. Ở bên Người, mỗi cán bộ cách mạng lại thấy mình trưởng thành hơn. Tư tưởng, tình cảm bao la của Người tỏa chiếu thấm đượm, chan hòa, làm ấm lòng đồng chí, đồng bào, tiếp thêm sức mạnh lớn lao để vượt qua những khó khăn, thử thách trong những bước đường hoạt động cách mạng, giành lại độc lập tự do cho dân tộc.
2. Tinh thần lạc quan cách mạng, gần gũi với thiên nhiên, yêu lao động, yêu đồng bào, đồng chí
Ở lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc luôn ngời sáng tinh thần lạc quan cách mạng. Có thể nói không một giây phút hiểm nguy, gian khó nào làm mất đi ở Người tình yêu cuộc sống, yêu lao động, yêu con người và thiên nhiên.
Dù thường xuyên phải di chuyển nhưng ở đâu Người cũng nhắc mọi người phải tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống và bao giờ cũng tự mình làm trước. Thời kỳ ở Pác Bó không dài nhưng một vườn rau nho nhỏ đã bén rễ, có cả cà chua và ớt. Ở Khuổi Nậm, Người trồng vườn rau cải, nuôi một đàn gà. Cơ quan chuyển đi, Người vẫn nhắc trồng rau cải cho các đồng chí ở lại và cán bộ bí mật qua, nấu ăn đỡ đói. Người lo lắng, thương yêu đồng chí, đồng bào từ những điều nhỏ nhất cũng nghĩ rất xa.
Cuộc sống tuy kham khổ, thiếu thốn nhưng Người vẫn tràn đầy tinh thần lạc quan cách mạng. Bài thơ “Tức cảnh Pác Bó” đã thể hiện rõ diều đó:
Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang.
Cho dù không bao giờ tự nhận mình là nhà thơ nhưng những sáng tác của Người cũng chính là sự thể hiện rõ nét tình yêu thiên nhiên trong trái tim người nghệ sĩ - chiến sĩ cách mạng, một người luôn ung dung, tự tại, luôn nắm vững quy luật vận động phát triển của cuộc sống, chủ động và lạc quan trong mọi hoàn cảnh.                                                                                                                                                                                             
Cuộc sống trong núi rừng, hang đá lạnh lẽo nhưng luôn có hơi ấm tình thương của Người.Người thường nói: “Chúng ta ở rất bí mật nhưng đó là bí mật với tụi tổng đoàn, với bọn mật thám, bọn Tây, bọn thống trị chứ không bí mật với nhân dân”. Tết đến, Người dặn dò cán bộ địa phương phải bố trí bảo vệ chu đáo cho dân làng ăn tết. Người bảo mua giấy đỏ về làm phong bao, trong gói một đồng xu, ngoài đề “chúc mừng năm mới”. Mọi người đến chúc Tết đều được Người tặng một phong bao. Người tặng cho em Nông Thị Trưng, cán bộ mới thoát ly, phải xa nhà cái Tết đầu tiên chiếc khăn mùi xoa có hoa đỏ và một chiếc còng gà luộc. Người hiểu thấu phong tục người Tày rất quý trẻ con, mổ gà bao giờ cũng để phần cho trẻ còng gà. Người chu đáo với nhân dân dù là việc nhỏ. Có lần ra suối sáng sớm, trên đường quay về lán, Người phải trèo qua một cái loỏng đã được cọ rửa sạch úp bên bờ ruộng, cái loỏng chông chênh, Người vừa bước qua thì đổ ụp xuống ruộng. Cái loỏng nặng, gần đấy không có ai để nhờ giúp nhưng Người không bỏ đi mà rửa sạch, cố hết sức úp lại như cũ. Tại hang Kéo Quảng, nghe cán bộ báo cáo về bệnh đậu mùa đang hoành hành ở địa phương, Người giới thiệu một bài thuốc và dặn nhớ phổ biến cho dân biết để chữa bệnh. Hàng ngày nếu không bận họp hay nghiên cứu, viết bài, Người xuống làng hỏi thăm đồng bào, vào rừng lấy củi, hái rau, vun trồng khoai sắn, xuống suối xách nước tưới cây với anh em. Người trò chuyện với mọi người, hỏi chuyện làng xóm, gia đình, để nắm được tình cảm, nguyện vọng của bà con và thực tế cơ sở. Sự quan tâm thăm hỏi, cử chỉ thân mật của Người gây được cảm tình với đồng bào. Đồng bào đều nhớ ông Sáu Sán, nhớ đồng chí già có vầng trán cao, cặp mắt sáng, râu dài, rất hiền từ và trung hậu, được nhân dân các dân tộc kính yêu. Cao Bằng từ ngày có Người về, mỗi cán bộ cách mạng và đồng bào các dân tộc cảm nhận rõ tình cảm mến thương, niềm tin yêu, sự quan tâmchăm lo của Người.
Người sống gần gũi và không bao giờ muốn mình làm ảnh hưởng đến người khác.Các đồng chí mua gạo nấu riêng cho Người nhưng Người không đồng ý. Có món ăn ngon, Người không quên những anh em vắng nhà, dặn rang mặn gửi cho người đi công tác. Ban đêm, quanh khu vực Người ở có nhân dân bảo vệ, có tự vệ tuần tra nhưng các đồng chí vẫn thay nhau gác. Các đồng chí không để Người gác nhưng Người yêu cầu phải làm lịch gác, cứ theo lịch lần lượt thay nhau. Có lần Người mệt, mọi người bàn nhau không để Người gác nữa, dặn trước khi thay phiên giữ thật im lặng, nhưng cách đó không đạt kết quả, ra gác một lúc, giơ tay đập muỗi đã chạm phải Người ở sau lưng, có lần vừa ra tới vọng gác đã thấy Người ngồi đó rồi.“Từ trang phục đến lời nói, việc làm. Lúc thổi cơm, ngồi câu cá, khi tắm suối, ngủ rừng... Người hoà hợp với tất cả mọi người. Không thấy một nét gì khác lạ, cách biệt, ở một người vốn là đại diện của quốc tế cộng sản, từng dự Đại hội Tua, từng tiếp xúc với nhiều nhà lãnh đạo nổi tiếng trên thế giới...”(3). Đêm xuống, anh em thường quây quanh bếp lửa nghe Người nói chuyện thời sự và kinh nghiệm hoạt động cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về với thế giới người hiền gần 50 năm, nhưng tinh thần lạc quan cách mạng, gần gũi với thiên nhiên, yêu lao động, yêu đồng bào, đồng chí của Người mãi mãi là nguồn cổ vũ cho toàn Đảng, toàn dân ta vượt qua những khó khăn, thách thức, vượt qua những ham muốn vật chất, những cám dỗ trong cuộc sống, khắc phục cho được chủ nghĩa cá nhân vụ lợi, những biểu hiện “tự suy thoái”, “tự chuyển hóa” để xây dựng và phát triển đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.
___________________
(1) Đỗ Hoàng Linh: Hồ Chí Minh, Hành trình 79 mùa xuân, Nxb Hồng Bàng, tr.120
(2) Đỗ Hoàng Linh: Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh giai đoạn 1941-1945, Nxb Hồng Bàng, tr.24
(3) Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Người Hồ soi sáng sự nghiệp đổi mới của chúng ta, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990, tr. 47- 48

Nguyễn Thị Thu Hằng
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Nguồn: http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nhan-vat-su-kien/item/2381-cuoc-song-doi-thuong-cua-lanh-tu-nguyen-ai-quoc-tai-cao-bang.html


Chủ Nhật, 18 tháng 2, 2018

“Đảng đặt lợi ích giai cấp lên trên lợi ích dân tộc” - một luận điểm xuyên tạc trắng trợn, lố bịch của những kẻ thù địch, cơ hội
Cả nước bước vào năm 2018 với tâm thế tự tin và phấn khởi trước những thành tựu đạt được trong năm 2017 và đón chào ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Song, như thường lệ, cứ vào dịp này, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị lại gióng lên hồi chuông hùa nhau chống phá Đảng ta một cách trơ trẽn, lố bịch. Một trong những luận điệu cũ rích mà họ đưa ra là: “Đảng đặt lợi ích giai cấp lên trên lợi ích dân tộc”.
Họ xuyên tạc rằng, ngay từ khi thành lập, Đảng đã coi lợi ích giai cấp trên lợi ích dân tộc và thậm chí, đặt lợi ích của mình cao hơn lợi ích dân tộc; chỉ chú ý củng cố quyền lực của giai cấp, thao túng, bao che cho “các nhóm lợi ích” làm giàu, bất chấp nhân dân nghèo đói, đất nước tụt hậu(!) Với lập luận đó, mưu đồ của họ là làm mất uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, chia rẽ mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, với dân tộc!
Sự xuyên tạc của luận điệu này bị chính thực tiễn lịch sử dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng bác bỏ. Bởi, ngay từ đầu và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt lợi ích của dân tộc gắn liền với lợi ích giai cấp. Điều đó xuất phát từ quan điểm: cách mạng Việt Nam gắn liền và là một bộ phận của cách mạng thế giới. Thực tế lịch sử cho thấy, vấn đề lớn nhất của nhân dân ta trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là làm sao giải phóng được dân tộc khỏi áp bức, thống trị của thực dân, phong kiến, để đất nước độc lập, nhân dân được tự do. Để trả lời câu hỏi ấy, nhiều cuộc khởi nghĩa, nhiều phong trào yêu nước đã nổ ra, nhiều chí sĩ cách mạng bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, nhưng đều thất bại. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, với ý thức dân tộc mạnh mẽ đã làm tất cả để tìm ra câu trả lời cho dân tộc: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”1. Khát vọng cao cả, ước mơ cháy bỏng của Nguyễn Ái Quốc: dân tộc được giải phóng, được làm chủ; Tổ quốc được độc lập, thống nhất, giàu mạnh; nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc; xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Và đó cũng là động lực, là mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam.
Để đi đến mục tiêu “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, từ buổi đầu tìm đường cứu nước và trong mỗi giai đoạn cách mạng, Nguyễn Ái Quốc và Đảng ta đều nhìn nhận đúng vấn đề dân tộc và giải quyết hài hòa quan hệ giai cấp - dân tộc. Trong khi Quốc tế Cộng sản (do yêu cầu của châu Âu lúc đó) chỉ nhấn mạnh đấu tranh giai cấp, thì Nguyễn Ái Quốc cho rằng: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Khi chủ nghĩa dân tộc thắng lợi, “nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”2. Chính vì vậy, trong “Chánh cương vắn tắt”, Người chủ trương:“Tư sản dân quyền cách mệnh và thổ địa cách mệnh, để đi tới xã hội cộng sản3. Tư tưởng đúng đắn, phù hợp đó được cụ thể hóa thành đường lối của Đảng, lập tức thu hút và tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân; đồng thời, khắc phục triệt để xu hướng dân tộc cải lương tư sản cũng như chủ nghĩa phiêu lưu tiểu tư sản (đang là trào lưu chính lúc đó), bảo đảm cho cách mạng phát triển và vượt qua những thách thức thời kỳ Xô-viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931), vận động dân chủ (1936 -1939), cao trào giải phóng dân tộc (1939 - 1945).
Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03-02-1930), trên thế giới đã có các cuộc cách mạng của giai cấp công nhân giành được chính quyền, trong đó điển hình là Cách mạng Tháng Mười Nga (07-11-1917) dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đứng đầu là V.I. Lê-nin. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là cuộc vùng dậy giành chính quyền với sức mạnh to lớn của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đó là thành quả vĩ đại của sự vận dụng sáng tạo nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; thành quả của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, của tinh thần: “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Thắng lợi đó, trước hết là nhờ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta có đường lối đúng, nắm bắt và triệt để tận dụng thời cơ chín muồi; đặt quyền lợi của dân tộc lên trên hết, nên đã động viên, tập hợp được lực lượng cho cách mạng. Sức mạnh của đoàn kết dân tộc cũng là nhân tố bảo đảm cho chính quyền cách mạng non trẻ đứng vững trước “thù trong, giặc ngoài”, trong bối cảnh tình thế đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc”.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược là cuộc đụng đầu lịch sử, lâu dài, khó khăn và vĩ đại nhất của dân tộc ta với những tên đế quốc sừng sỏ nhất. Đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”4, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”5, nhân dân cả nước và kiều bào nước ngoài, “không phân biệt tôn giáo, đảng phái”, đã đoàn kết muôn người như một, phát huy cao độ truyền thống của dân tộc, chiến đấu, hy sinh, chiến thắng vẻ vang quân xâm lược, thu giang sơn về một mối. Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, đất nước gặp những khó khăn mới, bị bao vây cấm vận từ mọi phía. Cả dân tộc lại cùng với Đảng gồng mình vượt qua “thiếu thốn trăm bề”, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc. Kết quả đó là nhờ Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nắm vững quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, luôn đặt “độc lập, tự do” của dân tộc lên trên hết, quy tụ và lãnh đạo toàn dân chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.
Bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhận thức rõ trách nhiệm trước dân tộc, Đảng đã đề ra đường lối đổi mới và coi đó là “vấn đề sống còn” của đất nước, dân tộc. Để đổi mới thực sự vì lợi ích của nhân dân, phát huy được vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, Đảng đã “nhận thức lại” một số vấn đề về lý luận, nhất là những nội dung giáo điều, xơ cứng. Trên cơ sở giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng chủ trương đẩy mạnh thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường hội nhập quốc tế, coi trọng phát triển kinh tế tư nhân,…; đồng thời, phê phán những tư duy rập khuôn, máy móc, cản trở sức sáng tạo của nhân dân. “Ý Đảng hợp lòng dân”, Đảng ta vững tay chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua khó khăn, thử thách, đưa đất nước ngày càng phát triển. Sự nghiệp đổi mới xét về bản chất mang tính nhân dân sâu sắc, vì nó bắt nguồn từ lợi ích dân tộc, quyền lợi của quần chúng và do nhân dân thực hiện. Chính những sáng kiến từ cơ sở, từ cuộc sống được tổng kết thành đường lối đổi mới của Đảng nên phù hợp với nhu cầu thực tiễn, được toàn dân ủng hộ và thực hiện một cách sáng tạo. Nhờ đó, công cuộc đổi mới đã giải phóng mạnh mẽ mọi tiềm năng của đất nước, khơi dậy được nhân tài, vật lực cho công cuộc phát triển.
Những năm qua, trong bối cảnh quốc tế và khu vực diễn biến phức tạp, nhưng kinh tế nước ta vẫn giữ mức tăng trưởng ổn định. Đặc biệt, năm 2017, trong điều kiện kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn, thiên tai khắc nghiệt, nhưng nước ta đều đạt và vượt 13 chỉ tiêu kế hoạch đề ra; trong đó, tăng trưởng GDP đạt 6,81%, là mức cao so với khu vực và thế giới. Việt Nam được đánh giá kinh tế vĩ mô ổn định; lạm phát được kiểm soát; tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu đạt cao; là điểm đến hấp dẫn khách du lịch quốc tế và thu hút đầu tư. Việt Nam được nhìn nhận là quốc gia khởi nghiệp mạnh mẽ; có trên 50% dân số (50 triệu người) dùng in-tơ-nét, luôn bắt kịp với sự phát triển của công nghệ thông tin thế giới. Cùng với kinh tế - xã hội, lĩnh vực quốc phòng - an ninh và đối ngoại cũng đạt được nhiều thành tựu. Sức mạnh quốc phòng được tăng cường đáng kể, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và không ngừng nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ý thức rõ vai trò của một đảng cầm quyền và trọng trách trước dân tộc, nhân dân, nên luôn coi trọng “tự chỉnh đốn”, “tự soi, tự sửa”. Trước tình hình một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện thoái hóa, biến chất, tham nhũng, hối lộ, vi phạm Điều lệ, quy định của Đảng trong công tác cán bộ và quản lý kinh tế,... Đảng ta đã nhấn mạnh: bất cứ ai, ở cương vị nào mà vi phạm kỷ luật đều phải xử lý nghiêm, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Quán triệt quyết tâm của Đảng, thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được đẩy mạnh và đạt được nhiều kết quả cụ thể, tích cực. Các vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp đã được xử lý rất kiên quyết, nghiêm minh, theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, kể cả đối với cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, cán bộ đương chức và cán bộ đã nghỉ hưu. Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Thanh tra Chính phủ tập trung kiểm tra, thanh tra, kết luận các sai phạm và quyết định kỷ luật hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét kỷ luật nghiêm đối với nhiều tổ chức, cá nhân để xảy ra sai phạm. Riêng ngành Thanh tra đã triển khai hơn 6.800 cuộc thanh tra hành chính, gần 260.000 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành; Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã truy tố 219 vụ, 481 bị can; Tòa án Nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm 205 vụ, 433 bị cáo về các tội tham nhũng, v.v. Kết quả nêu trên đã thể hiện quyết tâm của Đảng trong cuộc chiến chống “giặc nội xâm”, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với niềm tin của nhân dân.
Gần chín thập kỷ đồng hành cùng dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn phấn đấu vì độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân, đưa đất nước không ngừng phát triển. Thực tiễn đó là minh chứng thuyết phục nhất phản bác luận điệu “Đảng đặt lợi ích giai cấp lên trên lợi ích dân tộc”. Luận điệu đó của những kẻ “gắp lửa bỏ tay người” là sự xuyên tạc trắng trợn, trơ trẽn và lố bịch.
VINH HIỂN
_______________
1 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 1, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 9.
2 - Sđd, tr. 513.
3 - ĐCSVN - Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 2, Nxb CTQG, H. 2002, tr. 2.
4 - Võ Nguyên Giáp - Những chặng đường lịch sử, Nxb CTQG, H. 1994, tr. 196.
5 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 15, Nxb. CTQG, H. 2011, tr. 131.

Nguồn: http://tapchiqptd.vn/vi/lam-that-bai-chien-luoc-dbhb/dang-dat-loi-ich-giai-cap-len-tren-loi-ich-dan-toc-mot-luan-diem-xuyen-tac-trang-tron-lo-b/11223.html

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...