Thứ Hai, 22 tháng 1, 2018

NHẬN DIỆN MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ HỘI CHÍNH TRỊ
VỀ VIỆC XÉT XỬ VỤ ÁN Ở TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ VIỆT NAM
VÀ TỔNG CÔNG TY XÂY LẮP DẦU KHÍ VIỆT NAM
                                                             Trần Trí Nam
Từ ngày 08 tháng 01 đến nay, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án lớn về tội "cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng" và "tham ô tài sản" xảy ra tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam – PVN và Tổng Cty xây lắp Dầu khí Việt Nam – PVC đang diễn ra. Phiên xét xử sơ thẩm vụ án này đã kết thúc vào ngày 22/01/2018. Trong thời gian diễn ra phiên xử, dư luận nóng lên từng ngày để dõi theo diễn biến của việc xét xử các bị cáo. Trong đó, phần tranh luận liên quan đến hai bị cáo Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh được chú ý hơn cả. Việc khởi tố, bắt tạm giam và đưa ra xét xử vụ đại án này cho thấy rõ quyết tâm của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong cuộc chiến với vấn nạn tham nhũng, tiêu cực. Đồng thời, quyết tâm đó của Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng chính là thể hiện mong muốn làm trong sạch bộ máy của Đảng, Nhà nước, qua đó củng cố và giữ vững niềm tin của nhân dân vào kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, lợi dụng vào vấn đề này, không ít các phần tử cơ hội chính trị lại rêu rao vụ việc xét xử chỉ là sự thanh trừng phe phái, nên hãy rời bỏ Đảng. Và họ còn cổ súy cho tư tưởng tam quyền phân lập bằng lập luận nếu có tam quyền phân lập thì tham nhũng khó xảy ra.
Trong số các quan điểm cơ hội chính trị, đáng chú ý là quan điểm của nhà báo tự do - blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải. Ông ta cho rằng: "Chúng ta thấy cả một hệ thống của chính quyền Cộng sản khi các ông ấy ở ngoài thì tung hô quá trời, nhưng khi bị bắt một cái thì họ đã đưa ra kết luận từ trước phiên xử rồi. Họ tạo dư luận như thế không công minh.". Và blogger Điếu Cày đưa ra lời khuyên: "Họ nên tỉnh ngộ đi và nhìn vào đó để rút ra kinh nghiệm cho bản thân. Hãy nhìn để hiểu mình đang phục vụ cho một cái đảng như thế nào và hãy rút ra kinh nghiệm, tốt nhất là hãy rời bỏ đảng đó đi"[1]. Từ đó, blogger Điếu Cày lập luận nguyên nhân tham nhũng ở Việt Nam là do chỉ có một Đảng duy nhất cầm quyền: "Nếu có đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, có kiểm soát và có tam quyền phân lập thì tham nhũng này khó có thể nảy nở và nhiều như thế".
Bên cạnh đó, một bài báo của Reuters ngày 10/1 trích lời một số người Việt tại Mỹ, nơi có khoảng 1,3 triệu người gốc Việt. Bài của Reuters nói rằng ít ai tại đây xem phiên tòa là khởi đầu của "thay đổi thực sự", nhưng cũng ít ai cảm thông cho các bị cáo. Bày tỏ quan điểm về vụ án đang được xét xử ở Việt Nam, Tuyet Ngoc Dinh, đến Mỹ từ 1989 và sống Louisville, Kentucky, cho rằng: "Chống tham nhũng là vô nghĩa khi không có hệ thống cân bằng và kiểm soát." Ông Huu Vo, chủ tịch Cộng đồng Người Việt Quốc gia Liên bang Hoa Kỳ, sống ở Pomona, California, nói: "Khi có tranh chấp chính trị, họ trở nên yếu hơn."[2]
Vậy chúng ta nhận diện như thế nào với các quan điểm cơ hội chính trị ở trên? Để trả lời cho câu hỏi này chúng ta cần nhận diện ý đồ của các phần tử cơ hội chính trị ở trên. Đồng thời chúng ta cần thấy rõ việc đưa ra xét xử công khai, dân chủ và đúng quy trình tố tụng hiện hành của pháp luật Việt Nam.
Thứ nhất, các quan điểm của các phần tử cơ hội chính trị hoặc quan điểm đối lập về chính trị nêu trên là hết sức phiến diện và mang tính quy chụp.
Có thể khẳng định một cách nhất quán rằng không phải bây giờ, mà trước đó Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng kỷ luật 3 cán bộ là Ủy viên Bộ Chính trị. Nhưng đây là lần đầu tiên trong lịch sử của Đảng, một cá nhân từng giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị bị khởi tố, bắt tạm giam và đưa ra xét xử công khai theo đúng quy định pháp luật. Điều này cho thấy kỷ luật Đảng là hết sức nghiêm túc và pháp luật ở Việt Nam là nghiêm minh, không có vùng cấm. Tuy vậy, các quan điểm cơ hội chính trị nêu trên xuất phát từ động cơ chính trị và quan điểm đối lập nên cách đánh giá của họ rất thiếu khách quan khi cho việc xét xử Ông Thăng và các đồng phạm chỉ là hình thức, còn kết luận đã được ấn định từ trước. Rõ ràng, đây là lập luận hết sức phiến diện. Bởi vì, phiên xử ông Thăng và các đồng phạm đang diễn ra và đến 21/01/2018 mới kết thúc và phiên xử hoàn toàn công khai, minh bạch, dân chủ theo đúng trình tự pháp lý, được đông đảo dư luận cả trong nước và quốc tế quan tâm, đánh giá rất cao. Trong phiên xử, tất cả các bị cáo đều được quyền phản biện bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân, cũng như được quyền nhờ Luật sư biện hộ. Diễn biến của phiên xử thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và cả sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa với các bị cáo thật sự ăn năn, hối cải, biết nhận ra trách nhiệm, sai phạm và chịu trách nhiệm về sai phạm. Chính vì vậy, việc cho phiên xử chỉ là hình thức, còn kết luận được đưa ra từ trước là hết sức vô lý, đi ngược lại với nguyên tắc pháp lý ở Việt Nam là Tòa án độc lập trong xét xử. Và các quan điểm trên còn cổ súy cho các tư tưởng cực đoan đề cao giá trị phương Tây, kích động và gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân ở Việt Nam. Và mục tiêu chính của họ chính là làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Thứ hai, việc đưa ra xét xử đại án ở Tập đoàn Dầu khí Việt Nam thể hiện quyết tâm chính trị cao độ của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực.
Việc ông Thăng và các đồng phạm bị khởi tố hình sự thêm một lần chứng minh, khẳng định ý chí quyết tâm và nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong việc ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, góp phần làm trong sạch bộ máy Đảng, Nhà nước, mang lại niềm tin cho nhân dân. Đặc biệt, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay, công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước Việt Nam đang được tiến hành khẩn trương, quyết liệt, với lộ trình, bước đi thích hợp và cách làm bài bản, thận trọng. Nhất là từ khi Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do Đảng Cộng sản Việt Nam trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, thì công tác phòng, chống tham nhũng đã được triển khai trên diện rộng và có trọng tâm, trọng điểm, bước đầu thu được những kết quả rất quan trọng: Nhiều vụ án lớn về kinh tế, ngân hàng đã được điều tra, khởi tố và xét xử công khai, công bằng, khách quan, được dư luận đồng tình ủng hộ. Đáng chú ý, điểm đáng nói nhất trong “cuộc chiến” phòng, chống tham nhũng do Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đạo thực hiện lần này, là không có vùng cấm, không bị bất cứ sức ép và sự can thiệp nào. Khoản 1, Điều 2 (Nguyên tắc xử lý kỷ luật), Quy định 102-QĐ/TW ngày 15/11/2017 của Bộ Chính trị khóa XII Về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm quy định: “Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Đảng viên ở bất cứ cương vị nào, nếu vi phạm kỷ luật của Đảng đều phải được xem xét, xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời”. Điều này càng chứng tỏ tinh thần “thép” và bản lĩnh vững vàng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thực hiện nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, nhạy cảm như phòng, chống tham nhũng. Vì thế, các luận điệu ở trên cho đây là sự thanh trừng phe phái là hoàn toàn cực đoan và quy chụp.
Thứ ba, các quan điểm trên vin vào thể chế chính trị ở Việt Nam chỉ có một Đảng duy nhất cầm quyền là nguyên nhân tham nhũng phát triển là sự phi lý và áp đặt.
Chúng ta biết rằng, lịch sử phát triển của nhân loại đến nay tồn tại nhiều hình thức chính thể khác nhau. Trong mỗi hình thức chính thể đều có những ưu, khuyết điểm và lựa chọn hình thức chính thể nào, đặt niềm tin vào đảng chính trị nào là quyền của mỗi người dân trong từng quốc gia, dân tộc. Và ở các nước phương Tây lựa chọn tổ chức quyền lực nhà nước theo thuyết “Tam quyền phân lập” để tạo sự kiềm chế, đối trọng giữa các nhánh trong quyền lực nhà nước. Tuy vậy, không phải cứ theo thuyết đó mà nền chính trị trong sạch, không có tham nhũng. Bởi lẽ, tham nhũng là căn bệnh cố hữu với mọi nền kinh tế, với mọi thể chế chính trị. Ngay ở Mỹ, hàng năm đều có các vụ việc tham nhũng bị điều tra, xét xử.
Với Việt Nam, lựa chọn hình thức chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa là khát vọng và nhu cầu của mọi người dân Việt Nam. Và nguyện vọng đó của nhân dân Việt Nam chỉ có được sau hàng mấy chục năm tranh đấu thoát khỏi thân phận nô lệ mà chế độ thực dân áp đặt. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng Cộng sản Việt Nam chính là kiến trúc sư cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước ở Việt Nam được nhân dân Việt Nam quyết định và được thể chế bằng Hiến pháp, pháp luật. Hơn 72 năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định được vị thế, vai trò mà không một lực lượng nào có thể thay thế được. Vì vậy, các quan điểm đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam là không phù hợp với lịch sử, cũng như nguyện vọng của nhân dân Việt Nam, và hoàn toàn trái với quy định trong Hiến pháp, pháp luật ở Việt Nam.
Từ cách nhận diện đã đề cập ở trên, có thể thấy rằng, các quan điểm của các phần tử cơ hội về chính trị, lợi dụng danh nghĩa nhà báo tự do, hoặc đại diện cho người Việt Nam ở nước ngoài vin vào việc xét xử Ông Đinh La Thăng và các đồng phạm để rêu rao, xuyên tạc thể chế chính trị, quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước Việt Nam là hết sức phi lý, trắng trợn, xuyên tạc bóp méo vấn đề,… Điều đó, hoàn toàn đi ngược lại với bản chất sự việc, cũng như thực tiễn ở Việt Nam hơn 70 năm qua. Qua sự việc này, chúng ta cần bình tĩnh nhìn nhận, đánh giá khách quan đúng bản chất sự việc, từ đó thêm phấn khởi, tin tưởng vào quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước ta để làm trong sạch bộ máy, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong đổi mới và hội nhập quốc tế./.




[1] http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-42622176, truy cập ngày 16/01/2018.
[2] http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-42622176, truy cập ngày 16/01/2018.

Chủ Nhật, 14 tháng 1, 2018

CẦN LOẠI BỎ NGAY THỦ ĐOẠN CHỐNG ĐẢNG CỦA “DÂN VIỆT”
Khánh Anh
Những ngày đầu xuân 2018, vào mạng xem thông tin thấy bài viết tựa đề “Một số đề nghị về tổ chức đợt góp ý” của tác giả Dân Việt. Thoảng qua, nghe có vẻ hấp dẫn, nhưng đọc xong mới thấy một thủ đoạn chống Đảng, chống nhân dân rất bỉ ổi của tác giả. Nội dung bài viết của Dân Việt bộc lộ rõ tâm địa thâm độc của một con rắn, nhưng lại đóng giả làm lươn: Dân Việt mượn danh “dân chúng” để xúc phạm nhân dân, vu cáo Đảng, chia rẽ Đảng với dân, đề cao cá nhân và cuối cùng là hô hào tập hợp lực lượng chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam. Kể ra Dân Việt sử dụng thủ đoạn “rắn giả lươn” vào thời điểm Đảng ta vừa tổ chức thành công Hội nghị Trung ương 6, đã và đang được tổ chức triển khai quán triệt, học tập sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân; đồng thời đang chuẩn bị mọi mặt cho Hội nghị Trung ương 7 khóa XII của Đảng và thực hiện xét xử các vụ án tham nhũng lớn ngay những ngày đầu xuân 2018, …để chống Đảng, lừa dối nhân dân cũng là một “đòn hiểm”. Song, thủ đoạn “rắn giả lươn” của Dân Việt lộ liễu quá nên kém sức thuyết phục trong lôi kéo dân lành; bởi lẽ cái đầu của Dân Việt dù là đầu rắn, hay đầu lươn thì cái não chắc cũng chỉ bằng hạt kê nên nói năng lung tung, lẫn lộn. Xin được làm rõ đôi điều về cái gọi là “lòng mong mỏi chân thành” của Dân Việt qua bài góp ý của tác giả.
1. Tôi tìm mãi trong các văn bản của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành, chưa tìm thấy từ nào Đảng ta gọi nhân dân là “dân chúng” mà Đảng đều gọi là nhân dân, là đồng bào. Vậy cớ sao Dân Việt lại gọi nhân dân ta là “dân chúng”, một cách gọi mang tính miệt thị của kẻ bề trên. Dân Việt là ai? Lẽ ra kẻ dấu mặt Dân Việt muốn lợi dụng nhân dân thì phải dùng từ ngữ như thế nào cho cho phải đạo chứ? Thiết nghĩ, những người nhẹ dạ, cả tin mà nghe theo Dân Việt, lợi dụng xong việc chắc Tác giả cũng chẳng coi ra gì. Mong Dân Việt hãy sớm xin lỗi nhân dân thì mới xứng mặt là “kẻ dạy đời”.
2. Trong “lịch sử của việc góp ý” như cách diễn đạt của tác giả Dân Việt, Tác giả đã trắng trợn bịa đặt, vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam. Dân Việt viết: “Có thể nói tất cả những người góp ý đều bị Đảng đối xử nghiệt ngã, nhẹ tay thì cô lập, vu khống, nặng tay thì bỏ tù và bách hại, truy bức bằng nhiều cách không cao thượng”. Sự vu cáo của Dân Việt thật ghê tởm và bỉ ổi. Bởi lẽ, chưa bao giờ có chuyện các cấp ủy Đảng, hay người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng ký lệnh bắt bớ, bỏ tù, bách hại, truy bức bất cứ ai kể cả đảng viên và nhân dân. Ngay cả những đảng viên trong sinh hoạt Đảng có quan điểm trái ngược, ý kiến thuộc về thiểu số cũng được Điều lệ Đảng cũng quy định rất rõ: “Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc… Cấp ủy nghiên cứu xem xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số”[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam không có chức năng thực thi pháp luật, vậy cớ sao Dân Việt lại vu cáo Đảng “bỏ tù, bức hại, truy bức” những người có ý kiến đề đạt với Đảng. Phải chăng Dân Việt có thâm thù gì với Đảng mà hằn học, vu cáo, nói xấu Đảng trong thời điểm trước thềm Hội nghị Trung ương 7 này?
3. Về “lòng dân với việc góp ý”, Dân Việt cho rằng “nếu Đảng chứng tỏ sự thành tâm trong đợt mời gọi góp ý lần này, dân chúng sẽ thông cảm với Đảng nhiều hơn”. Không hiểu Dân Việt định nói gì và ám chỉ ai? Tại sao lại có giả thuyết “nếu Đảng thành tâm” thì “dân chúng sẽ thông cảm với Đảng nhiều hơn”? Tôi nghĩ, chắc cái đầu của Dân Việt có vấn đề, nói năng linh tinh, lẫn lộn hết cả, ... Không biết Dân Việt sinh ra ở đâu mà lại không hiểu rằng, nhờ có Đảng lãnh đạo mới có Cách mạng tháng Tám 1945, nhân dân Việt Nam thoát khỏi kiếp ngựa, trâu bước lên địa vị người làm chủ đất nước. Từ đó đến nay, Đảng với dân gắn bó máu thịt, Đảng tôn trọng dân, lấy mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” để phấn đấu; dân biết ơn Đảng, yêu Đảng, gọi là “Đảng ta”. Người Việt Nam ta giàu lòng nhân văn, biết “ăn quả nhớ người trồng cây”, vậy cớ sao Dân Việt lại vu cáo dân vô ơn với Đảng? Đến đây thì Dân Việt đã “lộ ra bộ mặt thật” và hết chỗ nói rồi.
4. Cảm nhận của Dân Việt về đợt góp ý và kết luận của Tác giả đã bộc lộ toàn bộ mưu toan chống phá Đảng, lừa dối nhân dân. Vì bản chất chế độ dân chủ ở Việt Nam phản ánh địa vị và quyền lực làm chủ của nhân dân lao động. Quyền lực ấy thể hiện ở quyền lực chính trị và quyền lực xã hội, trong đó quyền lực chính trị thể hiện ở đường lối chính trị mà Đảng là hạt nhân, là đội tiên phong giữ vai trò lãnh đạo, còn quyền lực xã hội thể hiện ở sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Việc Đảng lấy ý kiến nhân dân vào dự thảo các văn kiện trình đại hội nhằm tạo sự đồng thuận ý Đảng lòng dân, thống nhất quyền lực chính trị với quyền lực xã hội hướng tới thực hiện mục tiêu chung “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Dân Việt đã tự áp đặt cảm nhận cá nhân Tác giả thành cảm nhận của toàn thể nhân dân. Đây chẳng phải là thứ lợi dụng nhân dân, núp bóng nhân dân để “ném đá dấu tay” chống Đảng, phá hoại mục đích dân chủ của Đảng, của nhân dân hay sao? Và Dân Việt kết luận: “Nếu các anh chị, các ông bà thấy bài này có lí, xin các vị hãy tạo ảnh hưởng và áp lực đối với những người đang cầm quyền”. Dân Việt đã lộ nguyên hình con rắn độc kêu gọi, kích động nhân dân chống phá Đảng và nhân dân, làm mất ổn định chính trị của đất nước.
5. Thay lời kết. Với không khí của những ngày đầu xuân Mậu Tuất 2018, trên bàn trà, tôi có mang câu chuyện về bài viết của Dân Việt trên mạng kể lại với anh bạn tôi. Trong chén trà mạn ngát mùi hương, bạn tôi chậm rãi nói: Kể ra, đầu rắn hay đầu lươn thì kết cục cả đời Dân Việt cũng chỉ chui, rúc dưới các bụi cây, bụi cỏ và chìm sâu sâu trong bùn đen, chứ biết gì mặt trời trong nhân dân mà đòi làm “gia sư” cho Đảng trong việc tổ chức lấy ý kiến của nhân dân. Vì vậy, chúng ta hãy loại bỏ ngay “thủ đoạn” này của Dân Việt càng sớm, càng tốt góp phần giữ vững sự ổn định chính trị, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.
    



[1] Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội 2011, tr.18-19

Thứ Ba, 9 tháng 1, 2018

CẢNH GIÁC VÀ BÁC BỎ
LUẬN ĐIỆU BÓP MÉO SỰ THẬT LỊCH SỬ CỦA “ĐỒNG CHÍ”
Khánh Anh

Mới đây, Đồng Chí có bài viết: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã lỡ một chuyến tàu”. Nội dung bài viết của Đồng Chí đã đưa ra một số nhận định, đánh giá chủ quan, cố tình xuyên tạc lịch sử của dân tộc, trong đó đáng chú ý một số luận điểm sau đây.
Thứ nhất, Đồng Chí cho rằng Nhà nước cộng sản Việt Nam đã để mất chính nghĩa chủ quyền quốc gia ở Biển Đông ngay khi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị quân Trung Cộng đánh chiếm từ tay Hải quân Việt Nam cộng hòa ngày 19 tháng 1 năm 1974. Đây là luận điệu xuyên tạc lịch sử trắng trợn của Đồng Chí. Việc Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam ngày 19 tháng 1 năm 1974 từ tay Hải quân Việt Nam Cộng hòa là một sự kiện cả thế giới đều biết. Tuy nhiên, Đồng Chí vu cáo: “Nhà nước Cộng sản Việt Nam đã để mất chủ quyền quốc gia ở Biển Đông ngay khi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị quân Trung Cộng đánh chiếm từ tay Hải quân Việt Nam cộng hòa trong khi nhân dân ta nỗ lực tập trung giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước. Thực tế lịch sử cho thấy, Trung Quốc đã lợi dụng đưa quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa từ tay Hải quân Việt Nam cộng hòa. Vì vậy, với quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, trong thời gian mở cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1975, cùng với cuộc tiến công của các binh đoàn chủ lực, các đơn vị Hải quân của Quân đội nhân dân Việt Nam đã nhanh chóng giải phóng các đảo, quần đảo trên Biển Đông, trong đó có quần đảo Trường Sa. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng, Nhà nước ta đã nhiều lần phản đối việc Trung Quốc chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, yêu cầu Trung Quốc công nhận chủ quyền quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Trong nhiều hội nghị quốc tế, diễn đàn khu vực, Việt Nam đã đưa vấn đề tranh chấp các đảo trên Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, yêu cầu Trung Quốc chấm dứt việc chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa và một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, chấm dứt hành động xây dựng căn cứ quân sự, cơ sở kinh tế trên quần đảo Hoàng Sa và các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.
Việt Nam đã tổ chức nhiều cuộc Hội thảo khoa học quốc gia, quốc tế về Biển Đông, về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, với sự tham gia của nhiều nhà khoa học trên thế giới. Trong các cuộc hội thảo đó, Việt Nam đã công bố các tài liệu khoa học, lịch sử khẳng định Việt Nam có đầy đủ cơ sở lịch sử và pháp lý đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đảng, Nhà nước ta đã khẳng định rõ quan điểm kiên trì, kiên quyết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc. Để bảo vệ chủ quyền, biển đảo của Tổ quốc, bên cạnh việc đấu tranh bằng con đường ngoại giao, Đảng, Nhà nước ta đã và đang đầu tư hiện đại hóa lực lượng Hải quân, Không quân, Cảnh sát biển, các lực lượng tham gia tác chiến trên biển nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong mọi tình huống.
Ngày 2/5/2014 khi Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Đảng, Nhà nước, nhân dân, quân đội ta kiên quyết đấu tranh trong suốt 75 ngày đêm. Vì vậy, ngày 16/7/2014 Trung Quốc buộc phải rút giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Đó là thắng lợi trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trên Biển Đông, được thế giới ủng hộ, đánh giá cao.
Giải quyết tranh chấp biển, đảo trên Biển Đông, trực tiếp là quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là vấn đề đặc biệt hệ trọng, nhạy cảm và vô cùng khó khăn, phức tạp, do sự đan cài lợi ích, sự thỏa hiệp giữa các nước trong khu vực, nhất là các nước lớn. Mặc dù vậy, Đảng, Nhà nước, nhân dân, quân đội ta vẫn quyết tâm bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, quyền chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đảng, Nhà nước ta không bao giờ đánh mất chính nghĩa chủ quyền quốc gia trên Biển Đông như Đồng Chí vu cáo, xuyên tạc.
Thứ hai, Đồng Chí cho rằng chỉ có nhà nước Việt Nam cộng hòa mới là chính danh, còn Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không chính danh. Sau khi trích dẫn lời giới thiệu của PGS.TS Trần Đức Cường, Nguyên Viện trưởng Viện sử học, Chủ tịch Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Tổng chủ biên bộ sách lịch sử Việt Nam với báo chí, Đồng Chí đã tỏ rõ thái độ thừa nhận chính thể Việt Nam Cộng hòa là chính danh và cho rằng chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa là không chính danh, là “chính danh trên giấy”. "Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội có dân bầu đầu tiên năm 1946, sau đó đã “ thay hình đổi dạng” thành một Chính phủ, Quốc hội “ đảng cử dân bầu riêng của Đảng Cộng sản Việt Nam”, cái chính danh của Quốc hội “ đảng cử dân bầu” và Nhà nước do Đảng độc quyền lãnh đạo chưa bao giờ là “của dân, do dân, vì dân” như nhà nước Việt Nam tuyên truyền”.
Luận điệu trên đây của Đồng Chí cũng là một sự xuyên tạc lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng Việt Nam. Bởi lẽ, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đứng lên làm cách mạng Tháng Tám thành công, đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, lật đổ chính quyền tay sai do Pháp lập nên khi xâm lược, đô hộ Việt Nam. Chính vì vậy, sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là Nhà nước duy nhất có đủ tư cách pháp lý đại diện cho đất nước Việt Nam trong quan hệ đối nội và đối ngoại. Tuy nhiên, thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa, tiếp tục dựng nên chính quyền tay sai để áp đặt chế độ cai trị của Pháp ở Việt Nam. Khi thực dân Pháp thất bại ở Việt Nam và Đông Dương, đế quốc Mỹ nhảy vào, tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam. Đế quốc Mỹ đã lập ra và nuôi dưỡng chính quyền ở miền Nam Việt Nam để thực hiện mưu đồ chiến tranh xâm lược của Mỹ.
Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược suốt 9 năm (1945- 1954), tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ suốt 21 năm (1954- 1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Vậy, chính phủ nào là chính danh? Chính quyền Ngụy Sài Gòn bị quân và dân ta đứng lên lật đổ, tuyên bố đầu hàng cách mạng vô điều kiện, phần đông quan chức cao cấp trong chính phủ Việt Nam cộng hòa chạy ra nước ngoài xin cư trú chính trị là chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ. Còn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trung thành với lợi ích của nhân dân, của dân tộc, cùng dân tộc đấu tranh chống ngoại xâm, giành độc lập tự do cho dân tộc, thống nhất đất nước thì Đồng Chí cho là không chính danh? Điều này hoàn toàn hoang đường và phi lý.
Lợi dụng việc thiếu hiểu biết của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, …để xuyên tạc lịch sử vì mục đích chính trị của Đồng Chí là không thể chấp nhận. Nhân dân ta đã trải qua cuộc sống dưới chế độ thực dân, phong kiến và chế độ Việt Nam cộng hòa ở miền Nam, nay được sống trong chế độ xã hội chủ nghĩa sẽ hiểu rõ hơn ai hết nhà nước nào là chính danh, nhà nước nào thực sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Tất cả những điều Đồng Chí nêu ra trong bài viết chỉ là hành động cơ hội về chính trị “mượn gió bẻ măng”, tuyên truyền xuyên tạc lịch sử, phục vụ cho mục đích chống phá cách mạng Việt Nam, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước ta với nhân dân. Hãy cảnh giác và bác bỏ các luận điệu xuyên tạc lịch sử của Đồng Chí./.

Thứ Bảy, 30 tháng 12, 2017

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM – GIÁ TRỊ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN
                                                      Trần Trí Nam
Quyền con người được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người, được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Quyền con người và đấu tranh cho các quyền cơ bản của con người cũng chính là một trong những nội dung mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng như Đảng, Nhà nước Việt Nam chú trọng. Tuy nhiên, do động cơ và quan điểm chính trị bảo thủ, áp đặt mà các thế lực thù địch, cũng như một số cơ quan, tổ chức ở các nước phương Tây cho đến nay vẫn thường xuyên vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền.
Thời gian qua, nhóm nghị sĩ cực đoan ở Hạ viện Mỹ thường tổ chức điều trần về “nhân quyền” ở Việt Nam và soạn thảo “Dự luật nhân quyền ở Việt Nam”. Vụ Dân chủ, Nhân quyền và Lao động Bộ Ngoại giao Mỹ hàng năm đều công bố “Phúc trình thường niên về nhân quyền thế giới”; “Phúc trình về tự do tôn giáo thế giới”. Và Văn phòng Đại diện Liên minh Châu Âu ở Việt Nam thường công bố và kiến nghị về việc Việt Nam xét xử các vụ án liên quan đến quốc phòng an ninh mà họ cho là vi phạm nhân quyền. Không chỉ vậy, phương Tây còn tài trợ và khuyến khích các tổ chức phi chính phủ can thiệp vào việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam như: FH, FIDH…
Có thể khẳng định rằng, cho dù họ có xuyên tạc, vu khống vấn đề nhân quyền ở Việt Nam đến đâu, thì cũng không thể phủ nhận được giá trị của việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Giá trị của việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam không chỉ được xác định trong quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Việt Nam, mà còn được chính thực tiễn bảo đảm quyền con người ở Việt Nam khẳng định. Ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo đã xác định các mục tiêu bảo đảm cho quyền con người trong xã hội mới: “A. Về phương diện xã hội thì: a) Dân chúng được tự do tổ chức. b) Nam nữ bình quyền, v.v..  c) Phổ thông giáo dục theo công nông hoá”[1].
Quyền con người còn được thể hiện trong Chương trình Việt Minh, trong đó nổi bật là các quyền về chính trị: “1. Phổ thông đầu phiếu: Hễ ai là người Việt Nam, vô luận nam nữ từ 18 tuổi trở lên đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ bọn Việt gian phản quốc. 2. Ban bố các quyền tự do dân chủ cho nhân dân: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại trong nước, tự do xuất dương. Bỏ chế độ bắt phu và các chế độ áp bức do đế quốc đặt ra... 5. Toàn xá phạm nhân. 6. Nam nữ bình quyền. 7. Tuyên bố dân tộc tự quyết.”[2] Khi cách mạng thắng lợi, Hồ Chí Minh đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách của cách mạng là thành lập Chính phủ lâm thời và ban hành Hiến pháp để bảo đảm quyền tự do, dân chủ nhằm thực thi quyền con người của nhân dân Việt Nam, thực hiện nam nữ bình quyền, không phân biệt giai cấp, tôn giáo…
Trong lịch sử cận đại và hiện đại, nhân dân Việt Nam đã phải trải qua những năm tháng là dân của một nước thuộc địa, bị tước đoạt mọi quyền tự do cơ bản nhất và sau đó, đã phải chịu muôn vàn hy sinh để giành lại nền độc lập của mình. Trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng do Người sáng lập, nhân dân ta lại tiếp tục phải đổ xương máu để bảo vệ nền độc lập cũng như việc thụ hưởng các quyền con người mà độc lập, tự do đã mang lại. Do đó, nhân dân Việt Nam luôn thiết tha coi trọng những giá trị của các quyền và tự do của con người; trong đó, có quyền thiêng liêng, cơ bản nhất là quyền được tự quyết định vận mệnh của mình. Và chính thắng lợi của Cách mạng Tháng 8 năm 1945 với Hồ Chí Minh là kiến trúc sư đã mở ra trang sử mới cho nước nhà. Thắng lợi vĩ đại đó còn chấm dứt gần 100 năm đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam và lần đầu tiên nhân dân Việt Nam ở vị trí người chủ thực sự trong xã hội.
Hiện nay, khi nói đến quyền con người, chúng ta có thể nói đến quyền theo các lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, xã hội, dân sự, chính trị và theo các nhóm quyền dân tộc, quyền các nhóm người (như trẻ em, phụ nữ, người tàn tật) và quyền cá nhân. Đây cũng là những nội dung được đề cao trong Tuyên bố và Chương trình hành động của Hội nghị Quốc tế về Nhân quyền tổ chức tại Viên (thủ đô nước Áo), năm 1993. Xuất phát từ quan điểm đó, việc đối thoại, hợp tác quốc tế về quyền con người phải dựa trên các quy định của Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ) và luật pháp quốc tế, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, quyền tự quyết của các dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, vì mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền con người. Trên tinh thần đó và kế thừa di sản Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam có chủ trương, chính sách nhất quán về quyền con người, luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước; khẳng định con người là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội; thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm sự nghiệp CNH, HĐH đất nước thắng lợi.
Kể từ khi có bản Hiến pháp đầu tiên (năm 1946) cho tới nay, Việt Nam đã có 4 lần sửa đổi Hiến pháp; trong đó, quyền con người ngày càng được quy định toàn diện, đầy đủ hơn. Bản Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ nội dung quyền, các biện pháp bảo đảm cho các quyền con người ở Việt Nam; trong đó, có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm, bình đẳng; có quyền bình đẳng giữa các dân tộc và bình đẳng nam nữ, quyền bầu cử, ứng cử, khiếu nại, tố cáo, lập hội, tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, tự do tôn giáo, tín ngưỡng, tự do kinh doanh, sở hữu hợp pháp của cá nhân, tự do đi lại ở trong nước và ra nước ngoài, lao động, giáo dục, bảo vệ sức khoẻ...
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng nhiều bộ luật để đảm bảo toàn diện việc thực hiện các quyền con người. Đây là thành quả được các nước đánh giá cao tại phiên bảo vệ Báo cáo quốc gia theo cơ chế Kiểm điểm định kỳ phổ cập của Hội đồng Nhân quyền hàng năm. Cụ thể là chỉ riêng từ năm 1986 đến nay, Nhà nước Việt Nam đã ban hành, sửa đổi khoảng 13.000 văn bản luật và dưới luật, trong đó có các luật quan trọng, như: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng Nhân dân, Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và ủy ban Nhân dân, Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát Nhân dân, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Đặc xá, Luật Tín ngưỡng Tôn giáo...
Điểm cần nhấn mạnh là trong quá trình xây dựng, các dự thảo văn bản luật và dưới luật đều được giới thiệu công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để tham khảo ý kiến rộng rãi của nhân dân. Bên cạnh đó Việt Nam cũng đã gia nhập hầu hết các điều ước nhân quyền quốc tế chủ chốt, trong đó có “Công ước về Quyền dân sự, chính trị”“Công ước về Quyền Kinh tế, xã hội, văn hoá”; “Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc”, “Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ”. Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và nước Châu Á đầu tiên tham gia “Công ước Quyền trẻ em”; phê chuẩn 17 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế, và đã ký “Công ước quốc tế về Quyền của người khuyết tật”, tham gia “Công ước Chống tra tấn”.
Những cam kết của Việt Nam đối với các điều ước quốc tế đã được phản ánh trong các văn bản pháp luật trong nước. Quyền con người ở Việt Nam còn được bảo đảm bởi các cơ quan trong hệ thống hành pháp, tư pháp, các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp. Đồng thời, nhân dân Việt Nam cũng có thể tham gia đóng góp ý kiến thông qua các cơ chế dân cử cấp địa phương, các quy trình khiếu nại, tố cáo, thanh tra, khiếu kiện..., theo tinh thần “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Chính từ chính sách nhất quán, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước về đảm bảo quyền con người và sự tham gia của toàn dân, cuộc sống và quyền của người dân đã được đảm bảo ngày càng đầy đủ trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị, dân sự. Đáng chú ý, người dân có điều kiện tham gia nhiều hơn vào việc xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội thông qua các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp do chính họ lập ra để đại diện cho lợi ích của mình. Hiện có nhiều đoàn thể lớn gồm hàng triệu thành viên, như: Tổng Liên đoàn Lao động, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Liên hiệp Thanh niên, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Ở phạm vi toàn quốc có 380 hội, hàng nghìn hội ở cấp địa phương với hàng chục nghìn chi nhánh cơ sở. Số tổ chức công đoàn ở cấp quốc gia là 18, cùng hoạt động với 6.020 tổ chức công đoàn địa phương.
Thông tin đại chúng ở Việt Nam phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung, trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội, của nhân dân; là công cụ quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của xã hội, các quyền tự do của nhân dân và trong công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt là số người tiếp cận Intemet chiếm gần 24% dân số, cao hơn mức trung bình ở châu Á là 18%. Có 95% số xã đặc biệt khó khăn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có trạm truyền thanh; nhiều xã có trạm truyền thanh, phát thanh bằng tiếng dân tộc. Ngoài hệ thống thông tin, báo chí trong nước, người dân Việt Nam còn được tiếp cận với báo chí, truyền hình của các hãng quốc tế.
Những thành tựu về đảm bảo quyền con người ở Việt Nam ngày càng khẳng định giá trị nhân văn, nhân đạo trong quan điểm, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Điều này được Hội đồng Nhân quyền LHQ đánh giá cao, nhất là việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, được thể hiện trên các lĩnh vực: xoá đói, giảm nghèo, chăm lo đời sống của phụ nữ, trẻ em, của đồng bào các dân tộc thiểu số, đảm bảo đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân, cũng như y tế, giáo dục, văn hoá, việc làm... Đồng thời quốc tế cũng ghi nhận và ủng hộ những nỗ lực, cam kết của Việt Nam nhằm tiếp tục đảm bảo tốt hơn nữa việc hưởng thụ các quyền của người dân.
Những thành tựu trong công cuộc bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam là kết quả của sự kết hợp giữa bản chất ưu việt, tiến bộ của chế độ XHCN với truyền thống nhân đạo, nhân văn của dân tộc Việt Nam, giữa quan điểm, chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam luôn đặt con người là trọng tâm trong sự phát triển đất nước, với nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân trong việc thúc đẩy thực hiện quyền con người. Điều đó phản ánh giá trị không thể phủ nhận của việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hơn 72 năm qua, và dĩ nhiên mọi luận điệu quy chụp, áp đặt, vu cáo của các thế lực thù địch về vấn đề này hoàn toàn đi ngược lại với thực tiễn bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Do đó, mọi quan điểm sai lệnh về điều này, dù xuất phát từ động cơ chính trị thế nào cũng đều bị thực tiễn bảo đảm quyền con người ở Việt Nam phủ nhận./.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 3, tr.1.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 3, tr.1.

Thứ Tư, 27 tháng 12, 2017

HẠ BỆ HÌNH TƯỢNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
CHIÊU TRÒ CỦA NHỮNG KẺ PHẢN BỘI LỊCH SỬ
Long Bùi
          Dẫu biết rằng xã hội hôm nay vẫn còn những thứ đáng lên án, nguyền rủa và những con người muốn phản biện không thiếu gì những chủ đề để họ tha hồ thi triển tài năng, vạch trần những thứ phản tiến bộ. Nhưng cũng thấy rằng, có một số thứ luôn luôn là những địa hạt bất khả xâm phạm, không ai có quyền động chạm với bất kỳ những lí do nào. Bởi nơi đó, không chỉ tồn tại niềm tự tôn, sự ngưỡng vọng, niềm tin bất diệt của triệu triệu người dân đất Việt mà còn liên quan đến những giá trị những người Việt Nam luôn cố gắng bảo vệ và theo đuổi. Cái tôi đang nói đó là việc xuyên tạc, dựng nên những câu chuyện để hạ bệ hình tượng, nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
          Thờ cúng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành nét đẹp trong văn hóa dân tộc. Trong mỗi người dân Việt hôm nay, dù phần lớn không được tiếp xúc, làm việc và một lần được gặp Người nhưng những gì mà Bác Hồ vĩ đại đem lại cho dân tộc đã nói lên những giá trị cao khiết, những điểm sáng trong nhân cách vẹn toàn của một bậc vĩ nhân suốt cuộc đời phấn đấu vì độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, đem lại no ấm và hạnh phúc cho mỗi người dân đất Việt. Chính Người đã làm đổi đời những con người từng chịu quá nhiều khổ ải, thương đau trong suốt những năm tháng nô lệ dưới ách thống trị của những kẻ thực dân, đế quốc và tạo dựng cho những thế hệ sau hiện thực hóa khát vọng làm chủ cuộc đời. Song không phải người dân Việt nào cũng có cho mình những suy nghĩ đúng đắn và những cách hành xử hợp đạo đời, bởi một số người xuất thân là những tên lính đánh thuê, chịu ơn nặng nghĩa dày với chế độ cũ (thực dân Pháp và đế quốc Mỹ) nên khi có những biến cố lớn lao với sự sụp đổ của chế độ cũ thì họ ôm hận và không ngần ngại phỉ báng tất cả những gì mà không phù hợp với lợi ích cá nhân của họ. Dường như trong tâm thức của những con người như vậy không có gì có thể khiến chúng đổi thay và sức mạnh đồng tiền cùng những giá trị vật chất chúng được thụ hưởng trong quá khứ đã thu hẹp, che khuất tầm nhìn vốn dĩ đã quá hạn hữu của họ. Chúng xem Chủ tịch Hồ Chí Minh là đối tượng chính, quan trọng trong chiến dịch đả phá, hạ bệ những giá trị Việt Nam, thuộc về dân tộc Việt Nam với mong muốn, nếu thành công trên phương diện này thì không có gì mà chúng không thể thực hiện và việc hướng lái dân tộc Việt Nam đi theo quỹ đạo chúng đặt ra chỉ còn là vấn đề thời gian.
          Đáng tiếc hơn, trong thành phần những con người nói trên còn có một bộ phận sinh ra sau chiến tranh, được học tập dưới những ngôi trường là kết quả của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại trong quá khứ và được chính đất nước này tạo điều kiện được học tập tử tế, có công ăn việc làm ổn định. Nhưng chỉ vì những lợi ích nhất thời, những ảo tượng do những kẻ cơ hội vẽ nên mà họ sẵn sàng làm những điều phi đạo đức, đạp lên những giá trị đã được định hình trong dòng chảy của dân tộc Việt. Chúng sẵn sàng viết những bài báo, dựng lên những câu chuyện mà có mơ những người dân Việt yêu nước chân chính cũng không thể nghĩ ra. Chúng đã đem những kiến thức, những nền tảng họ được tạo điều kiện cho ăn học chỉ để ngồi nghĩ ra những câu chuyện mang ý nghĩa bôi đen hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh, khai thác những câu chuyện đời tư với những cách hiểu và lí giải khó mà chấp nhận để đánh lừa và gây tâm lý hoang mang cho một bộ phận nhân dân.
          Trong bài viết "Thực hư việc thờ cúng Hồ Chí Minh" của một tác giả có tên là Lý Trung Nam, tôi thực sự không hiểu tác giả này đã nghĩ gì khi viết nên những câu văn và con chữ này. Trong bài viết này thay vì thể hiện những tình cảm và tâm tư của hậu thế về vai trò, tầm ảnh hưởng của Hồ Chí Minh trong những chuyển biến có tính cách mạng và làm cho người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ thấy được sự vĩ đại cũng như sự cần thiết đẩy việc học tập, làm theo tấm gương đạo đức của Người thì Lý Trung Nam lại đi khai thác một khía cạnh rất khó chấp nhận. Bởi lẽ, từ lâu trong quan niệm của người dân Việt, tâm linh không đơn thuần là những niềm tin không thể lí giải, những niềm tin đã được hòa quyện với những giá trị thuộc về huyễn hoặc mà nó còn là cách thức để những người dân đất Việt thế hệ sau không quên quá khứ, không quên sự đóng góp của những thế hệ khai hoang, lập đất, đánh đuổi giặc ngoại xâm giành độc lập cho dân tộc. Đó cũng là cách nhắc cho hậu thế thực hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn. Việc xây dựng những tượng đài, những công trình có liên quan đến Đảng Cộng sản Việt Nam, đến Bác Hồ kính yêu và hầu như tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nào cũng có nơi tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh không như việc thực hiện những nghi thức tâm linh thường thấy, mà phản ánh nhu cầu được viếng thăm, tri ân và biết ơn công lao đóng góp trời biển của Người. Những ai đã một lần đến với Quảng trường Ba Đình, một lần được vào Lăng viếng Người chắc sẽ hiểu được vì sao mỗi tỉnh lại cần có một cái quảng trường, một khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh? Sự ra đời của những công trình trên không chỉ tạo điều kiện cho những tấm lòng thành tâm được hướng đến Người mà còn là những địa chỉ đỏ để giáo dục cho thế hệ hôm nay hiểu được những gì đã diễn ra trong quá khứ và thôi thúc họ cần phải làm gì cho hôm nay.
          Cũng xin nói thêm rằng, dù trong quá khứ chính chiến tranh đã vô tình phá hủy và làm hư hại không ít những di tích văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng gắn với từng giai đoạn trong lịch sử dân tộc Việt Nam 4000 năm. Nhưng việc xây dựng, tôn tạo những di tích lịch sử hôm nay trong đó có việc xây dựng tượng đài, khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và những công trình gắn với giai đoạn kháng chiến Chống Pháp, Mỹ không nhằm bù đắp những gì đã hư hại cũng như làm "tân thời" những giá trị xưa cũ, mà đó chính là những người dân đất Việt hôm nay thể hiện sự tri ân, trân trọng những gì đã qua, coi trọng và mong muốn phát huy trong thời đại hôm nay. Song nói như vậy không có nghĩa hiện nay những câu chuyện liên quan vấn đề đang nói đều hoàn toàn tốt. Chuyện những người đã đưa tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào cả các đền, chùa… thông qua các nhà ngoại cảm (tự phong) để tuyên truyền việc Bác Hồ lên đồng và tuyên truyền đạo Hồ Chí Minh đã làm cho hình tượng của Người vô tình gắn với những câu chuyện mê tín, dị đoan, với mưu đồ kinh doanh trên danh tiếng của Người.
          Qua đây, tôi muốn nói rằng, hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được định hình trong lịch sử và trong lòng người dân đất Việt, là biểu tượng hùng hồn cho những trang sử hào hùng của dân tộc. Chính vì vậy, mỗi hành động của thế hệ hôm nay dù đứng trên phương diện phát ngôn hay làm một điều gì đó liên quan, xin hãy nán lại một giây phút để suy nghĩ, để hiểu hơn về những đóng góp, hi sinh của Người cho dân tộc. Hạ bệ, bôi đên hình tượng Người chỉ làm cho họ xấu hơn trong con mắt của những bạn bè quốc tế, trở thành những con người bất nhân, bất nghĩa, vô ơn với lịch sử./.                         



Thứ Ba, 26 tháng 12, 2017

QUYỀN CON NGƯỜI KHÔNG THỂ TÁCH RỜI
CHỦ QUYỀN QUỐC GIA DÂN TỘC

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, quyền con người đang là vấn đề được các nước hết sức quan tâm. Lợi dụng vấn đề này, các lực lượng thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam. Thủ đoạn chính của họ vẫn là lợi dụng vấn đề dân chủ và quyền con người, thông qua cái gọi là các Báo cáo thường niên (hay “Phúc trình thường niên”) để xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ Nhà nước Việt Nam. Theo dõi sát tình hình Việt Nam, việc Nhà nước Việt Nam bắt giữ các đối tượng về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (theo Điều 88 Bộ luật Hình sự), chống người thi hành công vụ, gây mất trật tự trị an. Lực lượng tham gia chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay có sự thay đổi theo hướng mở rộng về số lượng, thành phần, đối tượng. Đó là gồm các tổ chức phi chính phủ (“NGOS”) ở nước ngoài được các quốc gia “hà hơi tiếp sức”, hỗ trợ về chính trị, cung cấp tài chính,… như: tổ chức Nhà tự do (FH), Ân xá quốc tế (AI), Phóng viên không biên giới (RSF), Ủy ban bảo vệ nhà báo (CPJ), Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW),... ngoài ra, còn có một số nghị sĩ chống cộng ở Nghị viện châu Âu, Ca-na-đa, Cộng hòa liên bang Đức, Ô-xtrây-li-a, các tổ chức, phần tử phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài và cả những kẻ cơ hội nhiều mầu sắc - chủ nhân nhiều trang mạng phi pháp chống cộng, v.v..
Vậy, những việc làm và lập luận trên của họ có phù hợp với nhận thức chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người không? Mục đích chính trị của những lập luận đó là gì? Về mặt lịch sử, dựa trên những văn kiện quan trọng sau: “Bộ luật về quyền” (1689) của Anh; “Tuyên ngôn độc lập (1776) và Bộ luật về các quyền (1789) của Mỹ”, “Tuyên ngôn về “nhân quyền” (các quyền con người) và “dân quyền” (của công dân 1789) của Pháp; Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945; Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, năm 1948 và các công ước quốc tế về quyền con người được Liên hợp quốc thông qua. Trong đó, có 2 công ước cơ bản, là: “Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị” và “Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa”, năm 1966. Hai công ước trên cùng với Tuyên ngôn thế giới về quyền con người được cộng đồng quốc tế xem là “Bộ luật nhân quyền quốc tế”. Điều này có nghĩa, không một ai được xem pháp luật của một quốc gia nào đó làm chuẩn mực để đánh giá, phê phán pháp luật nước khác là “không phù hợp với chuẩn mực nhân quyền quốc tế”, là “vi phạm nhân quyền”(!)
Như vậy, không có chuyện quyền con người tách rời quyền quốc gia dân tộc; quyền của cá nhân (lợi ích) không gắn với trách nhiệm xã hội. Nói cách khác, quyền con người ở đâu, quốc gia nào, chế độ xã hội nào cũng phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật quốc gia đó, không được xâm hại đến quyền của xã hội, quyền và lợi ích của người khác.
Mục đích chính trị của những lập luận “quyền con người tách rời chủ quyền quốc gia dân tộc”, “quyền con người không biên giới” là gì? Lập luận mà các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội, thoái hóa về tư tưởng, chính trị đang rao giảng, tuyên truyền nhằm: Ở trong nước, chúng tạo chỗ dựa tinh thần - lý luận, pháp lý,… để cổ vũ cho các cá nhân, tổ chức (kể cả tổ chức ảo trên mạng) tiếp tục những hành động trái pháp luật, phá hoại an ninh quốc gia, gây rối trật tự công cộng, nếu có điều kiện sẽ gây bạo loạn lật đổ chế độ; đồng thời, vu cáo sự lãnh đạo của Đảng ta là “chế độ độc tài, đảng trị”, “phi nhân quyền”. Ở nước ngoài, chúng lợi dụng lập luận nói trên để cổ vũ cộng đồng người Việt, nhất là những kẻ phản bội Tổ quốc, hận thù với cách mạng, phá hoại chính sách đại đoàn kết của Đảng và Nhà nước ta. Qua đó, họ “kêu gọi” Việt Nam thả hết các “tù nhân lương tâm”, “lên án” cơ quan chức năng bắt người vô lối, sai quy định. Với lập luận đó, họ khuyến khích những hành động bất hợp pháp, tạo cớ cho các tổ chức nước ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam theo kiểu “kẻ tung, người hứng” giữa những lực lượng cực đoan, tổ chức phản động ở nước ngoài với những kẻ tự gọi là “người bất đồng chính kiến” trong nước. Qua đó từng bước làm suy yếu về tư tưởng, chính trị, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, cô lập Việt Nam đến gây mất ổn định chính trị, xã hội, cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Năm 1982, Việt Nam đã gia nhập hai công ước quốc tế cơ bản:“Công ước quốc tế về các quyền Dân sự, Chính trị”; “Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa”. Đến nay, Việt Nam đã tham gia đầy đủ các công ước quốc tế về quyền con người. Như vậy, với Đảng Cộng sản Việt Nam, quyền con người gắn liền với chế độ xã hội; độc lập dân tộc là tiền đề của quyền con người. Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: đặt lợi ích Quốc gia, Dân tộc ở vị trí “tối cao” trong các mục tiêu của Đảng. Quan điểm này là cơ sở để Việt Nam quan hệ với các quốc gia và tổ chức quốc tế, kể cả Liên hợp quốc. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ với trên 180 quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó có 05/05 nước Thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Trong quan hệ, hai bên đều khẳng định nguyên tắc: tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, thể chế chính trị của nhau; tôn trọng chính sách, pháp luật của nhau, trong đó có quyền con người.
Có thể khẳng định: Đảng và Nhà nước Cộng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cùng với chế độ dân chủ, quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tôn trọng và bảo đảm quyền con người là trách nhiệm, đồng thời là chủ quyền của Nhà nước Cộng hòa  xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Không thể có “Quyền con người tách rời chủ quyền quốc gia dân tộc”, “Quyền con người không có biên giới”, tồn tại bên ngoài chế độ xã hội, nhà nước hiện hữu như các thế lực thù địch, những kẻ có hận thù với cách mạng, những kẻ phản bội, cơ hội,… trong và ngoài nước đang tuyên truyền.   

                                                                                   Vũ Đảng

Thứ Năm, 21 tháng 12, 2017

CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ QUÂN ĐỘI
CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
                                                                
Cùng với sự phát triển của đất nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch tiếp tục diễn biến phức tạp, các đối tượng lợi dụng các hoạt động kỷ niệm ngày lễ lớn của đất nước hay các chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà cụ thể là công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí; tình hình biên giới, biển, đảo, đất liền và mối quan hệ Việt Nam với các nước... để tăng cường chống phá.
Một trong những nội dung chống phá là xuyên tạc bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Mục đích gây tâm lý hoài nghi, hoang mang trong các tầng lớp nhân dân và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang. Vì vậy, cảnh giác và chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, hành động thâm độc đó là rất cần thiết, quan trọng hiện nay.
Về nội dunghọ tuyên truyền, xuyên tạc chức năng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Điển hình, là chức năng “đội quân lao động sản xuất”, họ dựng lên vấn đề “Quân đội làm kinh tế” và đưa ra những “luận cứ” phiến diện rằng: “Trên thế giới chẳng có quân đội nào làm kinh tế, chỉ có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân”, “Quân đội mà làm kinh tế sẽ dẫn đến 08 điều nguy hại”, “lợi ít, hại nhiều, phúc nhỏ, họa lớn”, v.v. Trong khi có thể họ không biết hay cố tình lờ đi sự thật là Quân đội nhân dân Việt Nam có ba chức năng cơ bản: “Đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”. Quân đội nhân dân Việt Nam  không làm kinh tế, càng không làm kinh tế một cách thuần túy, mà là thực hiện tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đây là chủ trương nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Việc đó hoàn toàn khác biệt về bản chất của luận điểm “Quân đội làm kinh tế” mà họ nêu ở trên. Từ xuyên tạc và ngụy biện một cách trơ trẽn về “Quân đội làm kinh tế” họ đi đến “phán xét” rằng, “đây là cách làm giàu của một bộ phận lợi ích nhóm trong quân đội, tiếp tay cho tham nhũng dưới cái bóng của quyền lực”; đồng thời, kích động, tuyên truyền, tạo dư luận xấu trong xã hội, gây mất niềm tin của nhân dân vào lực lượng vũ trang; kêu gọi mọi người lên tiếng “đấu tranh” phản đối chủ trương Quân đội làm kinh tế. Rồi “khuyên”: Quân đội “hãy rời bỏ việc làm kinh tế”. Không những thế, họ còn đẩy mạnh xuyên tạc tình hình quản lý, sử dụng đất quốc phòng của Quân đội nhân dân Việt Nam; tăng cường tán phát thông tin bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” và lãnh đạo cấp cao của quân đội. 
Họ thực hiện mưu đồ đó bằng phương thức đa dạng, thủ đoạn thâm độc với “mưu ma, chước quỷ”, tạo sự lan truyền theo kiểu “vết dầu loang”, làm lung lạc nhận thức, tư tưởng của bộ đội và nhân dân. Về lực lượng, họ liên kết các phần tử cơ hội, tổ chức phản động trong và ngoài nước, lấy cớ “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền” hợp sức tuyên truyền, xuyên tạc chống phá Quân đội nhân dân Việt NamVề phương tiện, họ tăng cường lợi dụng tính năng của in-tơ-nét, lập các trang mạng mạo danh bằng nhiều thứ tiếng khác nhau có máy chủ đặt ở nước ngoài; liên kết chặt chẽ với các trang Tiếng Việt của: BBC, VOA, RFA,… để chống phá. Về hình thức, họ ngụy tạo nên những tài liệu, “Thư ngỏ”, “Đơn tố cáo”, “Tâm thư”,… lợi dụng các tài khoản fanpage của mạng xã hội facebook, lập thành các kênh thông tin xấu, độc; sử dụng Youtube, tổ chức các Group facebook, lợi dụng triệt để tính năng cộng đồng để xây dựng diễn đàn trao đổi, tán phát thông tin xuyên tạc, phản động, nhất là trước, trong và sau các sự kiện chính trị, vụ việc phức tạp diễn ra. Về thủ đoạn, họ mở chiến dịch với nhiều mũi, nhiều hướng, tung lên mạng xã hội, blog, Youtube, các cơ quan báo chí thiếu thiện chí những tin, bài, video clip,… có nội dung xấu độc, với tần xuất dày đặc. Đồng thời, tìm nguyên cớ tạo “điểm nóng” để kích động nhân dân đấu tranh “bất bạo động” đòi “dân sinh, dân chủ”, tiến tới tổ chức tụ tập đông người gây áp lực với các cấp chính quyền,… kêu gọi các tổ chức phi chính phủ, tổ chức thiếu thiện chí, phản động,… ở nước ngoài can thiệp. Có thể khẳng định rằng, nội dung mà họ xuyên tạc hết sức sai trái, phản động; phương thức thực hiện rất tinh vi, không từ một thủ đoạn nào, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, tạo sự hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam và lãnh đạo cấp cao của Bộ Quốc phòng, v.v. Từ đó, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ, làm cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam xa rời chuẩn mực chính trị, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tư tưởng, đạo đức, bản chất quân đội cách mạng; mơ hồ về chức năng, nhiệm vụ, nhầm lẫn về đối tác, đối tượng, giữa hợp tác và đấu tranh,… dẫn đến mất cảnh giác, mất phương hướng chính trị, làm tổn hại đến uy tín, vị thế và hình ảnh cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, phá vỡ mối quan hệ đoàn kết quân - dân.
Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá Quân đội nhân dân Việt Nam về chính trị, tư tưởng và tổ chức để có những biện pháp đấu tranh thực sự là vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp hiện nay. Kết quả của cuộc đấu tranh này sẽ tác động sâu sắc đến quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nhất là củng cố niềm tin của Nhân dân đối với quân đội, niềm tin vào sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Do vậy để toàn dân và toàn quân nắm được các âm mưu thủ đoạn đó, cùng với các cấp ủy, tổ chức đảng, bản thân mỗi chúng ta cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục cho các đối tượng nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; quản lý chặt chẽ những “kênh” thông tin mà kẻ địch thường sử dụng để truyền bá quan điểm, luận điểm xuyên tạc, phản động như: Internet, đĩa hình, sách báo, các diễn đàn chính trị, văn hóa…; dự báo những tình huống phức tạp nảy sinh về tư tưởng chính trị để có biện pháp giải quyết phù hợp, hiệu quả; khắc phục tình trạng đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” một cách hình thức, thụ động, mang tính “thời vụ”.


                                                                                  Nht Đoàn

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...