Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

An Nhiên

Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn luôn tìm cách tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Đặc biệt, trong thời gian gần đây hành động chống phá Quân đội nhân dân Việt Nam của các thế lực thù địch quyết liệt hơn, gay gắt hơn cả về thủ đoạn, nội dung, phương thức tiến hành. Vì vậy, việc nêu cao tinh thần cảnh giác và chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, hành động thâm độc đó là rất cần thiết, quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
          Về nội dung, chúng tuyên truyền, xuyên tạc chức năng của Quân đội ta. Điển hình, là chức năng “đội quân lao động sản xuất”, họ dựng lên vấn đề “Quân đội làm kinh tế” và đưa ra những “luận cứ” phiến diện rằng: “Trên thế giới không có quân đội nào làm kinh tế, chỉ có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân”, “Quân đội mà làm kinh tế sẽ dẫn đến 08 điều nguy hại”, “lợi ít, hại nhiều, phúc nhỏ, họa lớn”, v.v. Trong khi có thể họ không biết do ấu trĩ hoặc biết nhưng cố tình lờ đi sự thật là Quân đội nhân dân Việt Nam có ba chức năng cơ bản: “Đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”. Quân đội nhân dân Việt Nam không làm kinh tế, càng không làm kinh tế một cách thuần túy, mà là thực hiện tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đây là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Đây là sự khác biệt hoàn toàn về bản chất của luận điểm “Quân đội làm kinh tế” mà những kẻ phản động nêu ở trên. Từ xuyên tạc và ngụy biện một cách trơ trẽn về “Quân đội làm kinh tế” chúng đã đi đến “phán xét” rằng, “đây là cách làm giàu của một bộ phận lợi ích nhóm trong Quân đội, tiếp tay cho tham nhũng dưới cái bóng của quyền lực”; đồng thời, kích động, tuyên truyền, tạo dư luận xấu trong xã hội, gây mất niềm tin của nhân dân vào lực lượng vũ trang nói chung và Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng; kêu gọi mọi người lên tiếng “đấu tranh” phản đối chủ trương Quân đội làm kinh tế. Rồi chúng đưa ra lời “khuyên”: Quân đội “hãy rời bỏ việc làm kinh tế”. Không những thế, chúng còn đẩy mạnh xuyên tạc tình hình quản lý, sử dụng đất quốc phòng của Quân đội ta, nhất là sau khi Bộ quốc phòng bàn giao đất để mở rộng Sân bay Tân Sơn Nhất; đồng thời, chúng tăng cường tán phát thông tin bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” và lãnh đạo cấp cao của Quân đội. 
          Chúng đã thực hiện mưu đồ đó với nhiều phương thức xảo quyệt, thủ đoạn thâm độc, tạo sự lan truyền theo kiểu “vết dầu loang”, làm lung lạc nhận thức, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội và trong lòng nhân dân. Về lực lượng, chung đã liên kết các phần tử cơ hội, tổ chức phản động trong và ngoài nước, lấy cớ “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền” hợp sức tuyên truyền, xuyên tạc chống phá Quân đội nhân dân Việt Nam. Về phương tiện, chúng tăng cường lợi dụng, phát huy tính năng của mạng in-tơ-nét, chúng tổ chức lập các trang mạng mạo danh bằng nhiều thứ tiếng khác nhau có máy chủ đặt ở nước ngoài; liên kết chặt chẽ với các trang mạng phản động như: BBC, VOA, RFA,… để chống phá. Về hình thức, chúng ngụy tạo nên những tài liệu, “Thư ngỏ”, “Đơn tố cáo”, “Tâm thư”,… lợi dụng các tài khoản fanpage của mạng xã hội facebook, lập thành các kênh thông tin xấu, độc; sử dụng Youtube, tổ chức các Group facebook, lợi dụng triệt để tính năng cộng đồng để xây dựng diễn đàn trao đổi, tán phát thông tin xuyên tạc, phản động, nhất là trước, trong và sau các sự kiện chính trị, vụ việc phức tạp diễn ra. Về thủ đoạn, chúng mở chiến dịch với nhiều mũi, nhiều hướng, tung lên mạng xã hội, blog, Youtube, các cơ quan báo chí thiếu thiện chí những tin, bài, video clip,… có nội dung xấu độc, với tần xuất dày đặc. Đồng thời, tìm nguyên cớ tạo “điểm nóng” để kích động nhân dân đấu tranh “bất bạo động” đòi “dân sinh, dân chủ”, tiến tới tổ chức tụ tập đông người gây áp lực với các cấp chính quyền,… kêu gọi các tổ chức phi chính phủ, tổ chức thiếu thiện chí, phản động,… ở nước ngoài can thiệp. Nguy hiểm hơn, chúng mạo danh cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, Quân đội đã nghỉ hưu, có uy tín để ngụy tạo “Đơn thư tố cáo” đối với cán bộ cấp cao hiện đang công tác, gây hiểu lầm, mâu thuẫn nội bộ được chúng triệt để sử dụng. Điển hình như việc mạo danh Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương, nguyên Cục trưởng Cục Tổ chức, Tổng cục Chính trị gửi “thư” cho Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ mới đây, v.v. Có thể khẳng định rằng, nội dung mà chúng xuyên tạc hết sức sai trái, phản động; phương thức thực hiện rất tinh vi, không từ một thủ đoạn nào, nhằm “lập lờ đánh lận con đen”, gây nhiễu loạn thông tin, tạo sự hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam và lãnh đạo cấp cao của Bộ Quốc phòng, v.v. Từ đó, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ, làm cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam xa rời chuẩn mực chính trị, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tư tưởng, đạo đức, bản chất, truyền thống của Quân đội cách mạng; mơ hồ về chức năng, nhiệm vụ, nhầm lẫn về đối tác, đối tượng; giữa hợp tác và đấu tranh,… dẫn đến mất cảnh giác, mất phương hướng chính trị, làm tổn hại đến uy tín, vị thế và hình ảnh cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, phá vỡ mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân - dân.
           Cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi thủ đoạn chống phá Quân đội của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách hiện nay của mọi tổ chức, lực lượng trong toàn quân và toàn dân; trước hết, là của cấp ủy đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cán bộ chuyên trách các cấp. Để làm được điều đó, chúng ta cần tập trung vào những nội dung giải pháp cơ bản sau:
          Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội và nhân dân về bản chất, chức năng, truyền thống, vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong đó cần tập trung vào nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về chức năng lao động sản xuất, tham gia phát triển kinh tế, xây dựng đất nước của Quân đội. Trong đó, trọng tâm là: Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết 425-NQ/QUTW, ngày 18-5-2017 về “Sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Quân đội đến năm 2020 và những năm tiếp theo”. Trong quá trình thực hiện, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần thực hiện tốt Đề án đổi mới Công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục thường xuyên với giáo dục theo chuyên đềphù hợp với từng đối tượng; theo từng đặc điểm, tình hình thực hiện nhiệm vụ của từng đơn vị trong toàn quân. Qua đó, khẳng định rõ: Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân cách mạng, của dân, do dân và vì dân, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.Tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng đất nước là một chức năng cơ bản, nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa chiến lược, lâu dài của Quân đội nhân dân Việt Nam. Thực tiễn đã khẳng định, trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Quân đội ta luôn thực hiện tốt chức năng “đội quân lao động sản xuất”; kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng. Trong quá trình thực hiện, luôn tuân thủ nghiêm pháp luật Nhà nước, quy định của Quân đội; tạo nhiều việc làm cho người lao động, góp phần tăng cường an sinh xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, nơi biên giới, hải đảo của Tổ quốc.Trong những năm qua, nhiều doanh nghiệp Quân đội đã tiên phong đi đầu trong lao động sản xuất, kinh doanh, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng, làm ăn có hiệu quả, tích cực đóng góp cho ngân sách Nhà nước, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh, nâng cao đời sống của cán bộ, chiến sĩ. Tiêu biểu như: Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel); Tổng công ty Tân cảng Sài gòn, Tổng Công ty Đông Bắc, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB); các binh đoàn: 12, 15, 16 và 18, các đoàn kinh tế - quốc phòng, v.v. Điều đó đã khẳng định: Quân đội ta vừa anh hùng trong chiến đấu và công tác, bảo vệ Tổ quốc, vừa anh hùng trong lao động sản xuất, tham gia phát triển kinh tế, xây dựng đất nước.
          Hai là, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội và tăng cường làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ.
Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ Quân đội, quy định đơn vị. Các cấp ủy Đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chức năng cần chủ động nắm tình hình, làm tốt công tác rà soát, kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, khắc phục những hiện tượng buông lỏng quản lý, xử lý các mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ, vi phạm nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng,. Kiên quyết không để xảy ra hiện tượng bị thâm nhập, lôi kéo, móc nối, dẫn đến tiếp tay cho các hoạt động chống phá. Đồng thời, tăng cường quản lý bộ đội trong giờ nghỉ, ngày nghỉ, trong thực hiện nhiệm vụ ngoài đơn vị, thường xuyên nắm chắc các mối quan hệ trong gia đình, dòng họ và xã hội của từng quân nhân, kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc, đề ra biện pháp giáo dục, động viên, giải quyết phù hợp, không để quân nhân có hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật, v.v. Trong quá trình thực hiện, các đơn vị cần quán triệt và thực hiện tốt phương châm: gắn “xây với chống”, lấy xây là chính, chống là quan trọng; tập trung xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh, phát huy vai trò của tổ “Chiến sĩ bảo vệ”, “chiến sĩ dân vận” tích cực phòng gian, bảo mật, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ. Trước sự phát triển bùng nổ của mạng in-tơ-nét, các đơn vị cần chú trọng xây dựng, hoàn thiện quy chế, quy định sử dụng in-tơ-nét; quản lý chặt chẽ tài liệu mật; giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn, kỷ luật thông tin; nắm chắc, quản lý tốt việc quân nhân tham gia hoạt động trên mạng xã hội, nhất là trên facebook, Zalo, Youtube, v.v. Đồng thời, chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng có biện pháp xử lý, ngăn chặn, bóc gỡ, không để các thông tin, tài liệu, hình ảnh xấu liên quan đến Quân đội, đơn vị và quân nhân,… tán phát, để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.
          Ba là, tăng cường đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động và các biểu hiện tiêu cực trong đơn vị và đặc biệt, đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên không gian mạng. 
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin trên toàn cầu, không gian mạng đã trở thành “chiến địa” vô cùng rộng lớn, khốc liệt trong cuộc đấu tranh giữa cái đúng, cái đẹp, tiến bộ với cái sai, cái xấu, phản tiến bộ. Vì thế, cảnh giác, đấu tranh loại bỏ thông tin xấu độc, làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên không gian mạng luôn là nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách. Để cuộc đấu tranh trên không gian mạng giành thắng lợi, cần phải có những giải pháp đồng bộ về mọi mặt. Bên cạnh xây dựng thiết chế, cơ chế, lực lượng, phương tiện kỹ thuật, nội dung, hình thức đấu tranh thích hợp, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, lực lượng trong Quân đội, của hệ thống chính trị và toàn dân, trước hết là ở nơi đóng quân; kết hợp giữa thông tin nhanh, đầy đủ, chính xác tình hình, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân đội,…gắn với đấu tranh, phản bác những thông tin xấu, độc của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội. Tăng cường đầu tư phương tiện kỹ thuật hiện đại, tổ chức xây dựng các chuyên mục, website, blog, facebook; đồng thời, phát huy vai trò của mỗi quân nhân trong việc sử dụng facebook cá nhân, các blogger,… để kết bạn, chia sẻ, lan tỏa các tin, bài có nội dung tốt, đấu tranh với thông tin xấu độc. Đặc biệt, các cấp cần quan tâm xây dựng, củng cố, nâng cao khả năng đấu tranh của lực lượng 47 của từng đơn vị. Lực lượng này nhất thiết phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, trình độ lý luận tương xứng; có nhiệt huyết, dũng khí và trình độ, khả năng sử dụng phương tiện kỹ thuật, khai thác in-tơ-nét, viết bài đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái, thù địch. Lực lượng này phải được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý trực tiếp của cấp ủy, chỉ huy; hoạt động theo quy chế, quy trình, nhiệm vụ đã xác định; thường xuyên được cung cấp tài liệu, cập nhật thông tin; bồi dưỡng chuyên sâu về phương pháp, kỹ năng đấu tranh và khuyến khích, động viên tự học, tự rèn nâng cao trình độ, v.v. Cùng với đó, cần coi trọng đầu tư, nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật hiện đại để giúp họ phát huy năng lực tác nghiệp đấu tranh trên không gian mạng.
          Bốn là, tích cực phát huy vai trò của hoạt động tuyên truyền, các cơ quan ngôn luận, hệ thống truyền thanh, thông tin nội bộ của đơn vị và đặc biệt là hệ thống báo chí trong Quân đội.
Thực tiễn chỉ ra rằng, khi nào người dân được tiếp cận thông tin chính thống một cách đầy đủ, kịp thời, chính xác thì khi đó họ mới có nhận thức đúng và “miễn dịch”, “tự đề kháng” trước những thông tin thất thiệt, xấu độc và chủ động tham gia đấu tranh loại bỏ thông tin sai trái một cách hiệu quả. Vì thế, bên cạnh thực hiện chức năng tuyên truyền, giáo dục về lĩnh vực quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc, thì hệ thông truyền thanh, thông tin nội bộ và báo chí Quân đội cần chủ động, nhạy bén, đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của các thế lực thù địch, góp phần định hướng tư tưởng, dư luận, duy trì pháp luật, kỷ luật, xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh. Để làm được điều đó, các đơn vị cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thông tin trên hệ thống truyền thanh nội bộ và đặc biệt là cơ quan báo chí Quân đội cần chủ động nghiên cứu, phát hiện, dự báo những vấn đề mới trong thực tiễn xây dựng Quân đội, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng trong và ngoài Quân đội nắm vững tình hình, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch,… từ đó xây dựng nội dung, kế hoạch tuyên truyền phù hợp, nhất là trước những vấn đề nhảy cảm, phức tạp. Tổ chức lực lượng, mở các chuyên trang, chuyên mục đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, ‘tự chuyển hóa”, đảm bảo “đánh đúng, đánh trúng” mục tiêu, đối tượng, phản bác kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch. Trong thực hiện, phải tuân thủ nghiêm túc tôn chỉ, mục đích hoạt động của báo chí, sự định hướng, chỉ đạo của trên, cũng như quy trình, quy định tác nghiệp, đảm bảo giữ vững “trận địa thông tin”, bảo vệ quyền tự do thông tin, làm trong sạch môi trường thông tin trên mạng và trong xã hội; không để bộ đội và người dân bị “đói”, thiếu thông tin và đặc biệt là bị “nhiễu” thông tin; kiên quyết đấu tranh loại bỏ thông tin xấu độc dưới mọi hình thức. Cùng với đó, các cơ quan chức năng cần thực hiện nghiêm cơ chế cung cấp thông tin đối với báo chí, truyền thông để chuyển tải thông tin nhanh, chính xác và phản bác có hiệu quả mọi thông tin thất thiệt, độc hại; chủ động định hướng tư tưởng cho bộ đội và nhân dân trước những sự kiện “nóng”, nhạy cảm trong nước và quốc tế, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội và Quân đội./.


KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG LÀ NGHIÊM KHẮC
NHÂN VĂN, THẤU TÌNH, ĐẠT LÝ
Trước việc một số đảng viên là cán bộ cấp cao của Đảng có khuyết điểm bị xử lý kỷ luật, các thế lực thù địch, phản động đã triệt để lợi dụng, tìm mọi cách phủ nhận những kết quả trong công tác phòng chống tham nhũng, nói xấu lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đồng thời xuyên tạc, kích động, cho đó là “cuộc thanh trừng giữa các phe nhóm trong Đảng”, gây mất niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Luận điệu đó của họ không thể che lấp được sự thật: Kỷ luật của Đảng vừa nghiêm khắc, nhân văn, vừa thấu tình, đạt lý, như phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII).
Khen thưởng và kỷ luật là một hoạt động thường xuyên của quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Chương VIII, Khoản 1, Điều 35, quy định: “Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý công minh, chính xác, kịp thời”. Quy định 181- QĐ/TW, ngày 30-3-2013 của Bộ Chính trị về Quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm cũng xác định: “Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Đảng viên ở bất cứ cương vị, lĩnh vực công tác nào, nếu vi phạm kỷ luật của Đảng đều phải được xem xét, xử lý kỷ luật nghiêm minh”. Như vậy, mọi đảng viên đều bình đẳng, không có bất kỳ tổ chức, cá nhân ngoại lệ, đứng ngoài, đứng trên kỷ luật của Đảng. 
Thực tiễn vừa qua, Đảng ta đã thực hiện công tác kỷ luật bảo đảm nghiêm túc, đúng quy định của Điều lệ Đảng; nhờ đó, tạo được niềm tin của đảng viên, quần chúng, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là lực lượng tiên phong lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để đảm bảo sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức đảng, Đảng ta đã tiến hành thường xuyên, chặt chẽ công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, đã phát hiện những vi phạm Điều lệ Đảng và kịp thời xử lý kỷ luật những đảng viên có khuyết điểm, bất kể họ là đảng viên giữ hay không giữ cương vị lãnh đạo. Như vậy, công tác kỷ luật là việc làm thường xuyên của Đảng; đồng thời cũng là sự tất yếu phản ánh quy luật phát triển của đảng cầm quyền. Thế nhưng, điều bất bình thường là ở chỗ các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động lại lợi dụng việc này để xuyên tạc rằng: “Đây là cuộc thanh trừng trong Đảng”. Nội dung, bản chất, sự thật của vấn đề bị các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, bóp méo, tạo hình ảnh phản cảm trên các trang mạng xã hội nhằm gây tâm lý hoài nghi, hoang mang trong các tầng lớp nhân dân. Khi các vụ việc đang trong quá trình điều tra thì họ đưa ra những phỏng đoán về nguyên nhân và mức độ kỷ luật sắp tới, lồng ghép các chi tiết không có thực để thổi phồng khuyết điểm, hoặc làm sai lệch bản chất với dụng ý xấu. Họ xuyên tạc một cách trắng trợn rằng: đó là do các phe cánh, bè phái “đấu đá” nhau, hạ bệ, thanh trừng nhau để tranh giành quyền lực, v.v. Sau khi đảng viên bị kỷ luật thì họ quay sang kích động, đưa ra các câu hỏi nghi vấn tại sao trước kia không xử lý các sai phạm? cấp trên liên đới có bị kỷ luật không? ai thay thế, người đó thuộc phe cánh nào? 
Các cấp, các ngành, các địa phương cần tăng cường tuyên truyền cho nhân dân thấy rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn và mục tiêu chống phá xuyên suốt của chúng là: xóa bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Để thực hiện mục tiêu đó, họ dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; một trong những thủ đoạn đó là triệt để lợi dụng công tác kỷ luật của Đảng để xuyên tạc, kích động, nhằm chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, chia rẽ giữa Đảng với nhân dân, gây sự hoài nghi trong xã hội. Mặt khác, cần tuyên truyền cho các tầng lớp nhân dân thấy rõ mục đích công tác kỷ luật của Đảng là để giáo dục, ngăn chặn cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, ngang tầm yêu cầu đòi hỏi của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chứ không phải là sự “thanh trừng”, tranh giành quyền lực, như luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động.
Đồng thời, phải thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng, chủ động nhận diện và đấu tranh phản bác có hiệu quả những luận điệu tuyên truyền sai trái, xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng.

                                                                                   Vũ Đảng

Thứ Tư, 22 tháng 11, 2017

MỘT ĐẢNG LÃNH ĐẠO KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ ĐỘC QUYỀN
                                                                                Trần Trí Nam
Trong thời gian qua, với nhiều lý lẽ ngụy biện không ít người có quan điểm đòi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đòi Việt Nam đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập thì mới giúp cho đất nước phát triển giàu mạnh thêm, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, … Bên cạnh đó, lợi dụng một số những hạn chế trong quá trình lãnh đạo xây dựng đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam, một số ít người đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ vai trò lãnh đạo mình. Họ vin vào chủ nghĩa Mác cho rằng: mâu thuẫn là động lực của sự phát triển nên tuyên truyền Việt Nam muốn phát triển thì phải đa đảng, khi đó mới có sự cạnh tranh thì Việt Nam mới có thể phát triển… Vậy một đảng lãnh đạo liệu có phải là độc quyền? Theo chúng tôi, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay hoàn toàn không phải là độc quyền. Điều này, được thể hiện trên các lý do sau:
Thứ nhất, những quan điểm sai trái trên đều do các đối tượng bất mãn với chế độ; các thế lực thù địch trong và ngoài nước, nhất là các tổ chức phản động lưu vong chống phá nước ta nêu ra, đó không phải là nguyện vọng của đông đảo nhân dân Việt Nam. Họ dùng mọi biện pháp, thủ đoạn, bằng bất kỳ giá nào cũng phải lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Các phương pháp, thủ đoạn như tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chế độ, chính sách của Đảng và nhà nước. Trên internet và qua các phương tiện truyền thông đại chúng tấn công vào quan điểm tư tưởng của nhân dân và nhất là tư tưởng của các nhà lãnh đạo cấp cao của nhà nước…
Thử hỏi rằng, nếu đa nguyên, đa đảng thì tất yếu sẽ làm cho Việt Nam hỗn loạn, đây cũng chính là tiền đề cơ bản của cái gọi là “diễn biến hòa bình”, “cách mạng màu”, “cách mạng da cam”, “cách mạng đường phố” và “bạo loạn lật đổ” mà các thế lực thù địch với Việt Nam đã thực hiện ở nhiều nước trên thế giới. Trong con đường mà các thế lực thù địch vạch ra để lật đổ chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam là phải thành lập được một tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản ở Việt Nam.
Như vậy, những người tuyên truyền đòi đa đảng ở Việt Nam không hề muốn Việt Nam phát triển, nhân dân Việt Nam ấm no, hạnh phúc, đó chỉ là lời lẽ ngụy biện để lừa phỉnh nhân dân Việt Nam mà thôi. Thực chất là họ muốn Việt Nam lâm vào tình cảnh mất ổn định, nhân dân Việt Nam rơi vào trạng thái xung đột lẫn nhau, muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, muốn lái Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng và nhân dân Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử. Lịch sử cách mạng Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân, đế quốc đã xuất hiện và phủ định đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập như một tất yếu tự nhiên. Năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo toàn dân tộc đứng lên khởi nghĩa, giành chính quyền, thiết lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đặt quyền lợi của quốc gia, dân tộc lên trên hết, nên trong những ngày đầu gìn giữ chính quyền và nền độc lập dân tộc. Thay mặt Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự tuyên bố giải tán Đảng, và Chính phủ do Người đứng đầu đã mở rộng thành phần cho mọi tổ chức, chính đảng cùng tham gia lãnh đạo đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất sáng suốt khi không thâu tóm quyền lực mà chia đều cho các tổ chức khác để cùng chung tay chống quân thù. Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã đấu tranh, đánh tan các tổ chức phản động, loại bỏ những quan điểm đường lối đi ngược lại với lợi ích dân tộc. Sau 1954, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng chủ trương tổng tuyển cử tự do, thành lập chính phủ liên hiệp, thống nhất nước nhà. Nhưng chính chính quyền Ngô Đình Diệm dưới sự hậu thuẫn của Mỹ đã bác bỏ và phủ nhận thể chế đa nguyên đó.
Mặt khác, được sự tiếp sức của đế quốc Mỹ, các tổ chức phản động ở miền Nam cũng đã từng lập nên một chính thể đa nguyên với sự tham gia của nhiều đảng phái. Nhưng mục đích chính trị của các đảng phái đó lại chống lại nền độc lập dân tộc và quyền lợi của nhân dân lao động, nên nhân dân Việt Nam đã đứng lên lật đổ thể chế chính trị đó, thiết lập nên nền chính trị nhất nguyên và lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại diện duy nhất cho quyền lợi của nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam – một chính đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đã và đang không ngừng xây dựng và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trên thực tế trong nền chính trị nhất nguyên. Nền chính trị nhất nguyên ở nước ta, là do nhân dân, vì nhân dân ta lựa chọn từ chính những trải nghiệm trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thứ ba, Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang khẳng định là lực lượng duy nhất có khả năng lãnh đạo cách mạng và nhân dân Việt Nam. Nhân dân Việt Nam dưới sự chỉ đạo, dẫn dắt của Đảng Cộng sản Việt Nam – đại diện cho giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam, tuy chưa được sống cuộc sống đủ đầy, nhưng chúng ta có quyền tự hào vì được sống với hòa bình và nền chính trị ổn định. Đặc biệt, chúng ta đã tổ chức thành công nhiều hội nghị lớn tầm quốc tế mà luôn đảm bảo tốt về an ninh. Nhất là, Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 25 vừa qua tại Đà Nẵng đã thành công tốt đẹp, để lại nhiều dấu ấn cả về công tác tổ chức, sự thân thiện, và sự ủng hộ, hân hoan chào đón của nhân dân Đà Nẵng nói riêng và toàn thể nhân dân Việt Nam nói chung. Nhìn vào thành quả, Việt Nam đã có nhiều bước phát triển to lớn về chính trị, kinh tế và văn hóa, đời sống của nhân dân được cải thiện, điều đó là nhờ sự lãnh đạo và dẫn dắt của Đảng, được thể chế hóa vào điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động: Đó là độc lập, tự do cho dân tộc; là quyền tự quyết dân tộc, quyền bình đẳng với mọi quốc gia khác trong việc lựa chọn con đường phát triển đi lên của mình; là quyền tự do lập hiến và lập pháp, lựa chọn và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; là quyền bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các thành phần kinh tế; quyền tự do làm giàu theo pháp luật, phát huy dân chủ gắn liền với giữ vững kỷ cương xã hội; là sự phát triển trong đa dạng các sắc màu văn hóa dân tộc; là sự tiến bộ trong giáo dục, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu vì sự tiến bộ và phát triển toàn diện con người…
Tóm lại, những thành tựu không thể phủ nhận của nền chính trị nhất nguyên đó đã khẳng định và ngày càng củng cố vững chắc hơn vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, là Đảng duy nhất lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam, và đó hoàn toàn không phải là độc quyền như một số quan điểm sai trái đã rêu rao tuyên truyền./.


Thứ Tư, 8 tháng 11, 2017

PHẢI CHĂNG? “VIỆT NAM LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG
 CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ SAI LẦM NGHIÊM TRỌNG”?
Long Vĩ
Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 là một cơn địa chấn chính trị lớn của thế kỷ 20. Nó có ảnh hưởng lớn không chỉ đối với thế giới XHCN và độc lập dân tộc mà còn cả đối với thế giới tư bản chủ nghĩa.
Các thế lực thù địch với CNXH, các chiến lược gia và chính khách cỡ lớn của CNTB đều hoan hỷ ăn mừng rằng đây là hồi chuông báo tử, rằng chủ nghĩa xã hội (CNXH) sẽ diệt vong vào cuối thế kỷ 20. Đảng ta nhận định hoàn toàn ngược lại. Sự sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu kéo theo thoái trào của PTCS và công nhân thế giới là một tổn thất lớn, nhưng đó là tạm thời chứ không phải tất yếu, tin rằng, các nước XHCN còn lại sẽ giữ vững trận địa, đảng cộng sản và công nhân sẽ khôi phục hoạt động trong điều kiện mới, xu thế XHCN sẽ tiếp tục đi lên dưới hình thức này hay hình thức khác.
Câu trả lời bước đầu đã có vào cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21. CNXH không hề diệt vong. Các nước XHCN còn lại không những giữ vững trận địa mà còn định hướng vững vàng cho sự phát triển tiến lên. Các phong trào XHCN kiểu Mỹ Latinh đã phát sinh, phát triển, khởi đầu từ Venezuela rồi lan ra một số nước khác... Chủ nghĩa tư bản thế giới không thể chứng minh được rằng nó là lực lượng thống trị toàn cầu và xã hội tư bản là xã hội tốt đẹp cuối cùng của loài người. Ngay giữa lúc thế giới TBCN huênh hoang về sức sống dài lâu của nó thì khủng hoảng cục bộ đã xảy ra, rồi đến khủng hoảng toàn diện hơn, kể từ năm 2008 đến nay vẫn còn chưa hoàn toàn hồi phục. Thế giới từ lưỡng cực thành đơn cực, rồi nay lại thành đa cực. Các nước thuộc các chế độ chính trị, xã hội khác nhau đều tham gia "toàn cầu hóa" và "hội nhập quốc tế", vừa cạnh tranh, vừa hợp tác dưới nhiều cung bậc khác nhau.
Điểm qua như thế để thấy rõ rằng, gần 3 thập kỷ đã trôi qua kể từ khi mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu bị sụp đổ, xung quanh vấn đề nên theo hay không theo CNXH, diễn biến tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và trong xã hội ở Việt Nam cũng không thuần nhất và khá phức tạp, nhưng về cơ bản vẫn kiên định con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Quan điểm cho rằng "CNXH sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, vì thế Việt Nam không nên và không thể gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH" không phải bây giờ mới có mà đã có từ lâu, từ sau khi CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Nhưng từ đó đến nay, những kẻ chống đối không còn nói nhẹ nhàng như thế, họ thẳng thừng đòi "ĐCSVN tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng CNXH, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa...". Và đến thời điểm chúng ta đang tiến hành "phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ", có người mang danh đảng viên, với vỏ bọc của người “thật sự yêu nước” nói rằng, trong lựa chọn đường lối, Đảng ta đã sai lầm không chỉ từ Hội nghị thành lập Đảng (năm 1930) mà là từ Đại hội Tua (năm 1920). Ý tứ đằng sau những giọng điệu ấy là gì, chắc mỗi người chúng ta đều biết.
            Với quan điểm ấy, họ đã sai lầm ít nhất là ở 2 vấn đề lớn sau đây:
Một là, về sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu
Thứ nhất: Sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể về xây dựng CNXH, chứ không phải sự sụp đổ của CNXH nói chung, với tư cách là một nấc thang phát triển của xã hội loài người, theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Thứ hai: Chế độ Xô viết ngay từ lúc mới ra đời ở Nga sau Cách mạng Tháng Mười (năm 1917) và sau này trên toàn Liên bang Xô viết, đã tỏ rõ tính ưu việt so với các chế độ chính trị-xã hội trước đó. Chính quyền Xô viết thực sự là chính quyền của công-nông-binh và của nhân dân lao động nói chung. Nhờ tính ưu việt đó, nó đã đánh thắng cuộc chiến tranh can thiệp của các nước đế quốc sau Cách mạng Tháng Mười, lập lại hòa bình và xây dựng chế độ mới, thực hiện công nghiệp hóa và tập thể hóa nông nghiệp thành công, đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của phát xít Đức-Nhật, dẫn tới sự ra đời của hệ thống XHCN thế giới. Vào thập niên 60 và 70 của thế kỷ XX, sự nghiệp xây dựng CNXH ở Liên Xô đạt được những thành công lớn, khiến cho Đảng và Nhà nước Xô viết ngộ nhận là CNXH đã xây dựng xong và chủ trương Liên Xô bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Sự thật thì cũng thời gian đó, nhiều nhược điểm và khuyết tật trong nội bộ Nhà nước Xô viết cũng bắt đầu hé lộ, nhất là khi so sánh với những bước phát triển của hệ thống tư bản chủ nghĩa thời đó. Nếu vì sự sụp đổ sau này mà phủ nhận sạch trơn những gì chế độ Xô viết đã giành được là một sai lầm nghiêm trọng trong cách nhìn lịch sử.
Thứ ba: Vào những năm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, sau khi phát hiện sự chậm trễ của mình, Liên Xô đề ra chính sách cải tổ; các nước XHCN Đông Âu cũng đề ra cải cách. Cải tổ và cải cách nhằm mục tiêu tăng tốc về kinh tế và thực hiện chế độ dân chủ rộng rãi hơn. Sai lầm của Liên Xô và các nước Đông Âu lúc đó là đã sa vào chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng đối lập, buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng, gây hoang mang, dao động trong đông đảo quần chúng, dẫn đến hỗn loạn xã hội, khiến cho ở Đông Âu, chính quyền bị các thế lực thù địch cướp lấy, còn Liên Xô thì chia rẽ sâu sắc trong nội bộ lãnh đạo, cuối cùng chính quyền cũng lọt vào tay nhóm chống đối trong Bộ Chính trị, những kẻ chống chính quyền Xô viết từ rất sớm. Không thấy nguyên nhân trực tiếp của sự sụp đổ là ở đây, mà coi sự sụp đổ là tất yếu của chính quyền Xô viết cũng là sai lầm trong cách nhìn lịch sử.
Thứ tư: Bên cạnh những nguyên nhân chủ quan nêu trên, còn có một nguyên nhân trực tiếp khác nữa là âm mưu và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch với cái gọi là “chiến thắng CNXH mà không cần chiến tranh”, “xóa bỏ CNXH mà không cần súng đạn” trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc. Do đó, Liên Xô và nhiều nước khác đã sa vào cái bẫy này của chúng mà không tự giác phát hiện, khắc phục và sửa chữa.
Hai là, về sự lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với CNXH ở Việt Nam.
Thứ nhất: Đúng là ngay từ ngày mới thành lập, Đảng ta đã đề ra chủ trương "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản". Như cách nói ngày nay, đó là làm cách mạng giải phóng dân tộc, tiến lên làm cách mạng XHCN. Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với CNXH được đề ra xuất phát từ thực tế tình hình nước ta lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp, cũng xuất phát từ xu thế phát triển có tính quy luật của thời đại mới sau Cách mạng Tháng Mười Nga là tiến lên CNXH. Gần 9 thập kỷ, trải qua những chặng đường phát triển của cách mạng Việt Nam với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã chứng minh sự đúng đắn của đường lối này, cớ sao vì sự sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu mà phải từ bỏ nó?
Thứ hai: Trong xây dựng CNXH, Việt Nam học tập kinh nghiệm của Liên Xô và các nước XHCN đi trước nhưng hoàn toàn không có sự sao chép. Mô hình xây dựng CNXH ở Việt Nam không phải là mô hình Xô viết của Liên Xô, bởi sự khác biệt cơ bản là ở chỗ, một bên là từ cơ sở của chế độ tư bản đi lên, một bên từ độc lập dân tộc đi lên. Hồ Chí Minh từng nói: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[1]. CNXH đối với Bác, như ngày nay chúng ta vẫn nói, là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhầm lẫn giữa mô hình xây dựng CNXH ở Việt Nam với mô hình Xô viết là một sự sai lầm lớn.
Thứ ba: Vào những năm Liên Xô và Đông Âu tiến hành cải tổ và cải cách, Việt Nam cũng đề ra đuờng lối đổi mới. Những nhân tố đầu tiên của đổi mới xuất hiện từ những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ 20, nhưng đổi mới toàn diện trở thành đường lối chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam vào cuối năm 1986 theo Nghị quyết Đại hội VI của Đảng. Đổi mới của chúng ta không đi theo vết xe đổ của cải tổ và cải cách ở Liên Xô và Đông Âu. Đảng ta đã nêu rõ 6 nguyên tắc của đổi mới, trong đó vấn đề giữ vững định hướng XHCN, đổi mới chứ không đổi màu là nguyên tắc đầu tiên. Chúng ta cũng bác bỏ quan điểm cho rằng “đổi mới là nửa vời, không nhất quán”. Sự thật là đổi mới của chúng ta qua hơn 30 năm đã đưa lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, làm cho Việt Nam càng vững bước đi lên trên con đường độc lập dân tộc và CNXH. Đánh đồng đổi mới của Việt Nam với cải tổ và cải cách ở Liên Xô và Đông Âu là một sai lầm có dụng ý.
Thứ tư:  Suốt hơn 30 năm đổi mới cho thấy: Nhận thức của Đảng ta về CNXH và về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ: "Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử"[2] .
Cương lĩnh nêu lên 8 đặc trưng của CNXH mà nhân dân ta xây dựng, trong đó 3 đặc trưng đầu tiên là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên LLSX hiện đại và QHSX tiến bộ phù hợp.
Thử hỏi, con đường độc lập dân tộc đi lên CNXH tươi sáng như thế tại sao chúng ta phải từ bỏ chỉ vì mô hình XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ? Vậy “họ” đòi chúng ta từ bỏ con đường XHCN, ý đồ thực sự của “họ” phía sau đòi hỏi này là gì? Phải chăng đó là ý đồ đen tối của “họ” muốn đưa nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa?



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.187.
[2]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.70.

ĐẤU TRANH, PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ KẾT LUẬN HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 6, KHÓA XII CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
                                                                        Khánh Anh
Sau khi Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) của Đảng bế mạc, trên trang mạng xã hội xuất hiện một loạt bài viết xuyên tạc về kết quả của Hội nghị; trong đó có bài viết với tiêu đề “Hai kỳ hội nghị, một sự thất bại” của kẻ có nickname là “Bách Việt”. Trong bài viết y đã cố tình xuyên tạc việc chống tham nhũng và xử lý kỷ luật cán bộ của Đảng nhằm tạo ra dư luận trái chiều, nhận thức sai lệch về kết quả Hội nghị Trung ương 6, khóa XII.
          Thứ nhất, bài viết xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng qua việc xử lý kỷ luật đồng chí Nguyễn Xuân Anh.
Thực tế không đúng như các luận điểm xuyên tạc của Bách Việt về công tác cán bộ của Đảng thời gian qua. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm công tác xây dựng và chỉnh đốn đội ngũ cán bộ, đảng viên, xác định đây là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quy chế về cán bộ và công tác cán bộ, như Nghị quyết số 03-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; Nghị quyết số 11-NQ/TW về “Luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp” và Nghị quyết số 42-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về “Công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; Kết luận số 37-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về “Tiếp tục đẩy mạnh chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; Nghị quyết số 12-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Kết luận số 24-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XI về “Tiếp tục đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo”. Gần đây, ngày 7/10/2017, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 98-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về luân chuyển cán bộ. Tuyệt đại bộ phận cán bộ, đảng viên luôn là tấm gương sáng về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.
Bên cạnh đó một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, tham nhũng, lãng phí, vụ lợi cá nhân… Do đó, Đảng ta đã xử lý kỷ luật một số cán bộ lãnh đạo, quản lý điển hình như: Vũ Huy Hoàng, Nguyễn Minh Quang, Trần Lưu Hải, Huỳnh Minh Chắc, Đinh La Thăng và Nguyễn Xuân Anh là những việc cần phải làm để làm trong sạch bộ máy của Đảng, Nhà nước.
Thứ hai, bài viết đã xuyên tạc hoạt động đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí của Đảng, Nhà nước qua việc xử lý kỷ luật đồng chí Nguyễn Xuân Anh.
Trong bài viết, Bách Việt đã cố tình xuyên tạc việc Đảng, Nhà nước đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước của một số cán bộ cấp cao gần đây; việc xử lý kỷ luật đồng chí Nguyễn Xuân Anh nhằm gây ra sự hoài nghi, chia rẽ nội bộ trong Đảng và gây hoài nghi trong nhân dân ta. Những năm qua, Đảng ta đã ban hành rất nhiều chỉ thị, nghị quyết về phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Đặc biệt, Hội nghị BCHTW lần thứ 4 (khóa XII) ban hành Nghị quyết về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Việc phòng chống tham nhũng, lãng phí đã đạt được những kết quả nhất định. Nhiều vụ tham nhũng lớn, phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng đã bị phát hiện và xử lý nghiêm khắc, đúng pháp luật.
 Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) đã xét kỷ luật đồng chí Nguyễn Xuân Anh vì đã vi phạm các khuyết điểm sau: Chịu trách nhiệm chính về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Thành ủy nhiệm kỳ 2015 – 2020; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và các quy định của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ; kê khai, sử dụng bằng cấp không đúng quy định, thiếu trung thực, vi phạm tiêu chuẩn cấp ủy viên và quy định những điều đảng viên không được làm; thiếu gương mẫu trong việc nhận, sử dụng ôtô do doanh nghiệp biếu, tặng và sử dụng 2 nhà ở của doanh nghiệp, gây dư luận xấu trong xã hội. Dư luận đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân cho rằng đây là mức kỷ luật vừa nghiêm khắc, vừa nhân văn, thấu lý đạt tình, tâm phục khẩu phục, có tác dụng giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, phòng ngừa chung rất sâu sắc, không có chuyện đấu đá nội bộ như Bách Việt đã cố tình xuyên tạc, bịa đặt.
Qua đọc bài viết “Hai kỳ hội nghị, một sự thất bại” của kẻ có danh xưng là “Bách Việt” cho thấy đây là luận điệu bịa đặt nhằm xuyên tạc kết quả Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) của Đảng ta nhằm chia rẽ, gây hoài nghi trong nội bộ Đảng và nhân dân ta. Vì vậy, mọi người hãy nêu cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh phê phán với những luận điệu sai trái có tính chất phản động, xuyên tạc sự thật trên!./.


Thứ Năm, 26 tháng 10, 2017

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐANG XUYÊN TẠC VỀ
CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG THAM NHŨNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Thời gian gần đây, khi chúng ta đã và đang triển khai nhiều hoạt động đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, cụ thể là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII vào cuộc sống, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến, tự chuyển hóa”... thì các phần tử cơ hội chính trị, các thế lực thù địch cho rằng đó chẳng qua chỉ là những cuộc “đấu đá” nội bộ, “nhóm lợi ích mới cướp (lại) nhóm lợi ích cũ” hoặc chỉ là để “trả thù, triệt hạ tay chân” của người này, người khác. Thủ đoạn chủ yếu của chúng thường là dựa vào vài ba vụ việc, sự kiện cụ thể nào đó để xuyên tạc, bóp méo quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta, kích động người dân bất mãn với chế độ xã hội.
Có thể khẳng định, tất cả những luận điệu xuyên tạc, bóp méo cuộc đấu tranh chống tham nhũng, “lợi ích nhóm” trên các mạng xã hội trong và ngoài nước thời gian qua đều nhằm hạ thấp uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, kích động tâm trạng bất mãn của người dân trước thực trạng xã hội còn có những vấn đề chưa được giải quyết, hòng chuyển hóa xã hội ta sang một hình thức “dân chủ, nhân quyền”, “đa nguyên, đa đảng”.
Đánh giá thực trạng xã hội, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII viết: Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp nghiêm trọng.
Đồng thời, Nghị quyết cũng chỉ ra “Bốn nguy cơ” mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994) nêu lên, trong đó có tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình” vẫn tồn tại, có mặt còn diễn biến phức tạp hơn trước với tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... tham nhũng, lãng phí với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, xảy ra trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều cấp, nhiều ngành, không chỉ cản trở sự phát triển kinh tế-xã hội, gây bức xúc trong dư luận, mà còn đe dọa sự tồn vong của chế độ.
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội XII của Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ đã chủ trương tiến hành kiểm tra, thanh tra nhiều lĩnh vực, những dự án có dấu hiệu mờ ám, vi phạm pháp luật, xem xét những cán bộ có dấu hiệu suy thoái về đạo đức, lối sống, vi phạm Điều lệ và các quy định của Đảng. Đặc biệt đưa ra xét xử một số vụ án lớn về kinh tế được dư luận hoan nghênh như: xét xử vụ đại án ngân hàng xây dựng Việt Nam; điều tiết phí giao thông, theo phản ảnh của người dân và phản ánh của báo chí, trên nhiều trục đường cao tốc thực hiện theo hình thức BOT; thu hồi hợp lý đất sân Gold để mở rộng Sân bay Tân Sơn Nhất; giải quyết thỏa đáng, minh bạch, rõ ràng, có lý, có tình, đúng pháp luật với vụ việc tranh chấp đất tại xã Đồng Tâm hoặc thi hành kỷ luật một số cán bộ cơ sở, cán bộ trung ương trong thời gian gần đây đã được người dân và doanh nghiệp đồng tình, đánh giá cao. Về việc thực hiện công tác quản lý cán bộ, đảng viên, theo tinh thần Đại hội XII của Đảng, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo cấp cao, như vụ kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Trịnh Xuân Thanh, nguyên Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang, cho thấy cuộc đấu tranh chống suy thoái về đạo đức, lối sống gắn liền với “lợi ích nhóm” nhằm làm trong sạch Đảng đã được khởi động một cách quyết đoán. Trong đó, lần đầu tiên có sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Tổng Bí thư.
Không phủ nhận rằng cuộc đấu tranh chống tham nhũng, “lợi ích nhóm”, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... hiện nay đang diễn ra rất quyết liệt, khó khăn và chưa đạt được kết quả như mong muốn của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tham nhũng, “lợi ích nhóm” đã hình thành từ lâu. Chống tham nhũng, “lợi ích nhóm” đương nhiên là phải nhìn lại quá trình; phải xem xét những vụ việc diễn ra trong thời gian trước; phải kiểm tra, đưa ra ánh sáng, xem xét từ sự kiện, vụ việc… có dấu hiệu vi phạm các quy định hành chính, pháp lý đến chuyển sang các cơ quan tư pháp, xem xét về mặt hình sự… là điều tất nhiên.
Vấn đề kiểm soát quyền lực như đồng chí Tổng Bí thư đã nói, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Cơ chế kiểm soát quyền lực không chỉ tùy thuộc vào quyết định của Đảng mà còn tùy thuộc vào thể chế của Nhà nước, của Quốc hội, của Chính phủ. Đây là một nhiệm vụ lâu dài, phải tiến hành một cách thận trọng, bài bản...
Với sự quyết tâm của Đảng, sự đồng tình của nhân dân, chúng ta có quyền tin tưởng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh chống tham nhũng, chống “lợi ích nhóm”... do Đảng ta khởi xướng. Chúng ta không cho phép bất cứ lực lượng nào được xuyên tạc về những kết quả đã đạt được bằng quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh này.
Q.C.504


ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” - NHIỆM VỤ  TRỌNG YẾU THƯỜNG XUYÊN CỦA CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG TRONG  QUÂN ĐỘI TA HIỆN NAY
Lê Huy
“Diễn biến hoà bình”, là phương thức chống phá chủ nghĩa xã hội của các thế lực thù địch bằng các biện pháp phi vũ trang. Với chiến lược này, chúng đã nhanh chóng xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, để rồi làm cho chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào khủng hoảng, thoái trào.
Đối với Việt Nam, các thế lực thù địch xác định là một trọng điểm chống phá. Các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lợi dụng ưu thế về công nghệ thông tin, các phương tiện thông tin hiện đại, chúng thiết lập trên 40 đài phát thanh tiếng nước ngoài, trong đó đặc biệt là đài “Châu Á tự do”, với gần 600 tờ báo và tạp chí, với hơn 50 nhà xuất bản,… nhằm đẩy mạnh tuyên truyền tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây - thực dụng, truỵ lạc, tôn thờ đồng tiền là trên hết, cá nhân ích kỷ, phi đạo đức, phi luân lý, làm băng hoại phẩm chất, đạo đức, lối sống tốt đẹp của xã hội, của nhân dân và quân đội ta. Chúng ra sức lợi dụng vấn đề về dân tộc, sắc tộc, tôn giáo và chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” và “tự do tín ngưỡng”, đi sâu khai thác những sơ hở, thiếu sót của Đảng, Nhà nước ta ở các cấp trong việc thực hiện các chính sách đối với đồng bào dân tộc ít người, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng trước đây và đồng bào theo đạo để lừa mị, chia rẽ, phân hoá, tạo ra mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, gây rối trật tự trị an ở những nơi này. Chúng tìm mọi cách gây biến động về chính trị tư tưởng, kích động chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước, quân đội với công an, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; ra sức tuyên truyền xuyên tạc hòng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta dao động, mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước và mục tiêu, con đường chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đối với quân đội ta, các thế lực thù địch đều hiểu rằng, với một quân đội đã có bề dày lịch sử truyền thống vẻ vang của hơn 70 năm xây dựng, trưởng thành và quyết chiến quyết thắng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - một quân đội mà truyền thống trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân đã ăn sâu vào “máu thịt” của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ, thì việc làm cho quân đội xa rời mục tiêu chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam là khó có thể thực hiện ngay được. Vì thế, điều có thể thực hiện dễ hơn là thường xuyên và trước hết là phải “pha loãng” chính trị của Đảng trong quân đội, nhằm tạo ra sự thờ ơ về chính trị, thực hiện “phi chính trị hoá” quân đội. Hình ảnh cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” đi dân nhớ, ở dân thương đã bị chúng cố tình xuyên tạc thành một thứ “công cụ tranh giành quyền lực” của Đảng Cộng sản, thành “nạn nhân của những cuộc chiến tranh vô nghĩa”. Chúng còn kích động vào hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, hy sinh nơi biên giới, hải đảo xa xôi của cán bộ, chiến sĩ quân đội ta và đem ra so sánh lợi thiệt, hơn thua với lực lượng khác trong xã hội. Chúng tiến hành cổ động tâm lý tự do, ngại gian khổ hy sinh, ngại rèn luyện kỷ luật, gây mâu thuẫn giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa cán bộ với nhau và với nhân dân nơi đóng quân, để từ đó làm phai nhạt hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong các tầng lớp nhân dân.
Các thế lực thù địch luôn chú trọng việc tuyên truyền phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Kích động tự do vô kỷ luật trong quân đội, gây mất đoàn kết trong nội bộ cơ quan, đơn vị. Thực hiện lôi kéo, mua chuộc, tha hoá đội ngũ cán bộ, sĩ quan các cấp, nhất là sĩ quan cao cấp; bóp méo chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, quân đội, từ đó làm chệch hướng, thờ ơ với chính trị, với tình hình của đất nước, sao nhãng nhiệm vụ được giao của cán bộ, chiến sĩ. Chúng mưu toan làm cho ta “chết dần chết mòn” về lý tưởng, tinh thần cách mạng để rồi chệch hướng theo con đường tư bản chủ nghĩa. Nếu chúng ta không nhận thức rõ tính chất nguy hại của cuộc đấu tranh này là đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc rất gay go, quyết liệt, gian khổ, lâu dài và phức tạp, để luôn đề cao cảnh giác, mài sắc ý chí, kiên trì đấu tranh thì dễ bị lung lạc và chuốc lấy thất bại.
Nhằm đối phó với âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch về chiến lược “diễn biến hoà bình”, Đảng, Nhà nước, quân đội ta đã thường xuyên chủ động, tích cực làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ nhận rõ bản chất không hề thay đổi và sự nguy hại của chiến lược này. Cùng với đó, coi trọng đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho các tầng lớp nhân dân và lực lượng vũ trang. Xây dựng đoàn kết thống nhất trong Đảng, trong cơ quan Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội vững mạnh; tích cực tham gia đấu tranh có hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII)… Nhờ dó sau 30 năm đổi mới, đất nước ta đã thu được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XII của Đảng nêu rõ: “Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tự to lớn, có nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”[1].
Tuy nhiên, trình độ lý luận, tính nhạy bén và bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì cao cấp, trung cấp trong quân đội chưa tương xứng với vị trí, yêu cầu nhiệm vụ của quân đội trong thời kỳ mới. Công tác chính trị, tư tưởng ở một số cơ quan, đơn vị còn chủ quan, giản đơn, chất lượng giáo dục chính trị chưa cao, thiếu chiều sâu và bền vững. Vẫn còn các biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, cá nhân chủ nghĩa, thiếu trách nhiệm, quan liêu, quân phiệt, cơ hội, thực dụng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, quân nhân … Trong khi đó, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đang đòi hỏi cao đối với quân đội ta: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt…Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch”[2].
Trước bối cảnh và tình hình trên đây, đòi hỏi quân đội ta phải tiếp tục nâng cao hơn nữa tính chủ động tích cực trong đấu tranh phòng, chống hiệu có quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, đòi hỏi công tác tư tưởng trong quân đội phải tập trung tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp cơ bản, trong đó phải làm tốt những vấn đề sau đây:
Một là, kết hợp chặt chẽ việc quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng với giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao giác ngộ chính trị và củng cố vững chắc trận địa tư tưởng trong quân đội. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến củng cố sự nhất trí cao về chính trị, tinh thần cho toàn quân, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ tiếp thu chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chủ động, sáng tạo giải quyết các vấn đề trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao. Bằng nhiều hình thức, thông qua nhiều kênh thông tin để giúp cho mọi quân nhân nhận rõ tình hình của đất nước, yêu cầu nhiệm vụ quân đội trong tình hình mới. Vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam nói chung, đối với quân đội ta nói riêng. Thường xuyên giáo dục nâng cao ý thức chính trị, ý thức cảnh giác cách mạng, tạo sức “đề kháng” “miễn dịch” đối với những quan điểm sai trái, phản động, những tư tưởng và hành động nguy hại như: cơ hội chủ nghĩa, thực dụng, lối sống cá nhân ích kỷ, cực đoan, xa hoa, truỵ lạc, vô cảm trước những khó khăn của đồng chí đồng đội.
Hai là, thực hiện tốt việc kết hợp chặt chẽ và phát huy đồng bộ sức mạnh của công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác tư tưởng trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” trong tình hình hiện nay. Xây dựng tư tưởng phải đi đôi với xây dựng tổ chức và làm tốt công tác chính sách, quan tâm đế yếu tố con người, thì mới phát huy đồng bộ sức mạnh của công tác này. Trong xây dựng ý thức tư tưởng, không được xem nhẹ vai trò của công tác tổ chức và công tác chính sách. Nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng các cấp, nhất là ở đơn vị cơ sở. Khắc phục triệt để hiện tượng mất đoàn kết, cục bộ, bè phái, độc đoán, chuyên quyền trong cơ quan, đơn vị. Duy trì thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đề cao tự phê bình và phê bình, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp cán bộ, đảng viên mắc khuyết điểm.
Ba là, thường xuyên coi trọng bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn, nâng cao bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ các cấp, chính ủy, chính trị viên ở đơn vị. Các cấp ủy, chỉ huy phải thường xuyên chăm lo xây dựng bản lĩnh chính trị, nắm vững quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong các nghị quyết của Đảng, của Quân ủy Trung ương để khi có tình hình biến động phức tạp thì đủ sức lãnh đạo về chính trị tư tưởng, không để bị động, bất ngờ trước những âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và quan tâm bồi dưỡng nâng cao kỹ năng giáo dục chính trị, kỹ năng tuyên truyền đối với đội ngũ những người làm công tác chính trị tư tưởng, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp trong toàn quân. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt. Vô luận ở cấp bậc nào, chính trị viên có ba nhiệm vụ chính: Đối với bộ đội, đối với nhân dân, đối với quân địch… Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn”[3].
Bốn là, tiếp tục thực hiện tốt việc đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hoá quân sự, xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở. Môi trường văn hoá quân sự đóng vai trò hết sức quan trọng trong giáo dục xây dựng tư tưởng và nhân cách quân nhân. Bởi giáo dục không nằm ngoài mối liên hệ biện chứng với các mối quan hệ xã hội và hoàn cảnh xã hội nhất định. Các đơn vị cơ sở là nơi trực tiếp giáo dục, định hướng thái độ, hành vi hoạt động của quân nhân. Chỉ có ở trong tập thể quân nhân có mục đích hoạt động thống nhất, mang ý nghĩa xã hội cao, có bầu không khí tâm lý lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, quan tâm đến nhau đúng mức, có các qui định chế độ chặt chẽ trong một môi trường văn hoá quân sự giàu tính lý tưởng, giàu lòng nhân ái, thấm đượm tình đồng chí đồng đội, có nếp sống chính qui hoá, có thẩm mỹ quân sự thì sẽ xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện nên những người quân nhân xứng đáng là “Bộ đội Cụ Hồ”.
Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị là cơ sở, nền tảng quan trọng để xây dựng sức mạnh tổng hợp, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh chiến đấu của quân đội, góp phần quan trọng làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch hiện nay./.




[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII, Nxb Văn phòng Trung ương, Hà Nội, 2011, tr.65
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII, Nxb Văn phòng Trung ương, Hà Nội, 2011, tr.148

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.484.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...