Thứ Hai, 4 tháng 9, 2017

LẠI MỘT BẢN PHÚC TRÌNH MANG TÍNH ÁP ĐẶT CỦA BỘ NGOẠI GIAO MỸ VỀ TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
                                                            Trần Trí Nam
Ngày 15-8-2017, Bộ Ngoại giao Mỹ đã công bố Phúc trình Tự do Tôn giáo ở Việt Nam năm 2016, đây là nội dung nằm trong Báo cáo thường niên về tự do tôn giáo của Bộ Ngoại giao Mỹ đề cập tình hình tự do tôn giáo ở 199 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ở bản Phúc trình này, dù có một số tiến bộ trong đánh giá tình hình tôn giáo ở Việt Nam, song vẫn còn nhiều nội dung thể hiện sự nhìn nhận phiến diện, không khách quan, thiếu thiện chí và mang tính áp đặt.
Phúc trình về tình hình tự do tôn giáo quốc tế năm 2016 của Bộ Ngoại giao Mỹ có 29 trang nói về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, trong đó ghi nhận Việt Nam đã có những cải thiện về tự do tôn giáo: Hiến pháp Việt Nam quy định tự do tín ngưỡng và tự do thờ phụng theo đức tin là quyền mà người dân được hưởng; Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo vào ngày 18 tháng 11 năm 2016 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, nhằm đảm bảo thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân trên thực tế; Ban Tôn giáo Chính phủ công nhận toàn quốc đối với Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê su Kytô (Mặc Môn) (6/2016); lần đầu tiên kể từ năm 1975, chính quyền cho phép Học viện Công giáo Việt Nam khai giảng khóa Cao học thần học ở thành phố Hồ Chí Minh (9/2016). Tuy nhiên, trong bản Phúc trình còn có nội dung hoàn toàn mang tính áp đặt, khi cho rằng Việt Nam tiếp tục kiểm soát, thậm chí triệt hạ những tổ chức tôn giáo không được sự chấp thuận của Nhà nước, với những điều luật mơ hồ cho Nhà nước rộng quyền hơn trong việc kiểm soát mọi sinh hoạt tôn giáo dưới danh nghĩa bảo vệ an ninh quốc gia, duy trì đoàn kết dân tộc. Nhiều tôn giáo lớn như: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Cao Đài,... đến các nhóm Tin lành ở vùng sâu, vùng xa đang là đối tượng bị nhà cầm quyền sách nhiễu, cấm đoán. Những người truyền đạo là người dân tộc ở Tây Bắc hoặc ở Tây Nguyên, miền Trung bị đe dọa, buộc phải chối bỏ đức tin; các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và y tế của các nhóm tôn giáo được công nhận tiếp tục bị hạn chế, dù ít nghiêm trọng hơn năm trước. Nổi bật nhất trong Phúc trình tự do tôn giáo 2016, là việc chính quyền Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh đã cưỡng chế chùa Liên Trì của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vào ngày 8/9/2016.
Có thể thấy rằng, cũng như báo cáo thường niên các năm trước, Phúc trình Tự do Tôn giáo ở Việt Nam năm 2016 của Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn tiếp tục đánh giá sai thực tế tình hình tôn giáo ở Việt Nam. Có thể khẳng định rằng, bản Phúc trình lần này vẫn bị chi phối bởi định kiến và sự khác biệt về quan điểm lịch sử, văn hóa, chính trị đối với các sự việc liên quan tới tôn giáo ở Việt Nam. Đây là những luận điệu không phản ánh đúng tình hình tôn giáo ở Việt Nam. Song điều đáng nói là bất chấp mọi nỗ lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong lĩnh vực tôn giáo, bản Phúc trình này cũng như các bản báo cáo trước đều đưa ra các sự việc thiếu căn cứ chính xác, và những yêu cầu thể hiện sự áp đặt mô hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo lên Việt Nam. Họ đã quên mất rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của công dân Việt Nam. Quyền cơ bản ấy được Nhà nước Việt Nam thể chế bằng Hiến pháp, pháp luật từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến bản hiến pháp mới nhất là Hiến pháp 2013.
Hơn 70 năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, đây là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng. Đại hội XII của Đảng đã khẳng định: “Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái với quy định của pháp luật”[1]. Nhất quán với đường lối, quan điểm về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Điều 24, Hiến pháp 2013 hiến định: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”[2].
Cụ thể hóa Điều 24 Hiến pháp 2013 và trước sự phát triển của tình hình trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, ngày 18/11/2016, Quốc hội đã thông qua và ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14 gồm 09 chương, 68 điều, quy định chi tiết các vấn đề về tín ngưỡng, tôn giáo. Đáng chú ý, ngoài các vấn đề được kế thừa, phát triển so với các văn bản pháp luật trước đó, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo dành hẳn Chương VIII quy định về quản lý nhà nước và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Điều này tương thích với các văn bản quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Trong đó, Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị (năm 1966) đã nêu: Mọi người có quyền “tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo” nhưng phải chịu giới hạn vì “an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng, hoặc những quyền và tự do cơ bản của người khác”.
Như vậy, chính sách, pháp luật ở Việt Nam khẳng định nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân cũng như cam kết bảo đảm các quyền đó gắn với lợi ích quốc gia, dân tộc. Những chính sách đó của Đảng, Nhà nước Việt Nam được ban hành những năm gần đây, đã định hướng và tạo hành lang pháp lý cũng như chỉ dẫn cần thiết cho các cấp ủy đảng, chính quyền trong đối xử với các tổ chức tôn giáo, các chức sắc và tín đồ tôn giáo ở các địa phương trong toàn quốc. Đồng thời, đó cũng là hành lang pháp lý để các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo hoạt động.
Thực tiễn sinh động và những thành tựu trong hoạt động tôn giáo những năm qua là minh chứng thuyết phục nhất về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Theo khẳng định của đồng chí Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân khi tiếp Đức Hồng y Reinhard Marx, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Đức (Báo điện tử Chính phủ, ngày 11-1-2016): Trước năm 2000, Nhà nước ta công nhận và cấp phép cho 3 tổ chức tôn giáo, tới nay đã  công nhận và cấp phép hoạt động cho 40 tổ chức thuộc 14 tôn giáo. Còn về số lượng người theo các tôn giáo cũng đang tăng lên. Theo số liệu Tổng điều tra dân số năm 2009, cả nước có 15.651.467 người theo tôn giáo. Trong đó Phật giáo có 6,8 triệu, Công giáo 5,7 triệu, Tin lành 734.168 người. Đến năm 2011, theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ, cả nước có 25,4 triệu người là tín đồ các tôn giáo, trong đó Phật giáo là 10 triệu, Công giáo 6,1 triệu, Tin lành là 1,5 triệu[3]. Như vậy, số lượng tín đồ các tôn giáo sau hơn 10 năm đã tăng tới 10 triệu người, trong đó Tin lành tăng gấp 2 lần. Hàng chục nghìn cơ sở thờ tự (nhà thờ, chùa chiền, thánh thất...) được xây dựng mới, được tu sửa, nâng cấp. Các trường đào tạo chức sắc được mở ra ở nhiều nơi với nhiều cấp học, số lượng người theo học ngày càng đông, số lượng chức sắc tăng lên. Riêng Công giáo có 7 đại chủng viện, 26 tổng giám mục, 5 nghìn linh mục, 3 người là đại biểu Quốc hội khóa XIII, 38 người tham gia Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, hơn 300 người tham gia Hội đồng nhân dân cấp huyện, quận[4].
Những kết quả không thể phủ nhận ở trên cho thấy, tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân thực sự được tôn trọng, bảo đảm thực hiện ngày càng tốt hơn. Đó là một thực tế mà nếu dành thời gian trực tiếp trải nghiệm đời sống xã hội ở Việt Nam, nhất là đời sống tín ngưỡng, tôn giáo thì không ai có thể phủ nhận được. Và cần phải nhấn mạnh rằng, cũng như hoạt động bình thường khác của xã hội, sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam đều phải trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam. Có nghĩa rằng, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo phải trên tinh thần “sống tốt đời, đẹp đạo”, “kính chúa, yêu nước”, đồng hành cùng dân tộc. Nhà nước Việt Nam nghiêm cấm và xử lý nghiêm bất kỳ ai lợi dụng tôn giáo xâm phạm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, đi ngược lại quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân. Các tôn giáo ở Việt Nam muốn phát triển được đều phải chịu sự quản lý của Nhà nước, không tôn giáo nào được phép đứng ngoài hoặc đứng trên pháp luật cũng như lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì thế, luận điệu trong Phúc trình Tự do Tôn giáo ở Việt Nam năm 2016 mà Bộ Ngoại giao Mỹ công bố là hoàn toàn chủ quan, áp đặt. Bởi vì, ngay ở nước Mỹ, để phòng, chống nguy cơ khủng bố từ tín đồ đạo Hồi của Nhà nước Hồi giáo IS, Tổng thống Mỹ đương nhiệm là Donal Trump đã ban hành các sắc lệnh hạn chế người theo đạo Hồi, đặc biệt là công dân một số nước Trung Đông, Bắc Phi có đông người Hồi giáo không được cấp thị thực vào Mỹ. Sắc lệnh ngày 27/01/2017 của người đứng đầu Nhà trắng yêu cầu tạm thời không tiếp nhận công dân đến từ 7 quốc gia có đông dân Hồi giáo vào Mỹ, gồm Iran, Iraq, Libya, Somalia, Sudan, Yemen và Syria. Chính các quy định này đã làm dấy lên làn song phản đối Chính phủ Mỹ phân biệt đối xử với người theo đạo Hồi, vi phạm quyền con người. Tuy nhiên, Chính phủ Mỹ cũng viện dẫn, các quy định đó nhằm bảo đảm an ninh cho nước Mỹ và người dân Mỹ.
Tóm lại, ngay cả Chính phủ Mỹ cũng trên cơ sở hiến pháp, pháp luật và lợi ích nước Mỹ mà hạn chế, phân biệt người theo đạo Hồi với các tôn giáo khác. Nên những điều mà họ đưa vào trong bản Phúc trình Tự do Tôn giáo ở Việt Nam năm 2016 hoàn toàn sai lệnh, mang tính áp đặt và đi ngược lại với quan hệ đối tác chiến lược Việt – Mỹ. Do đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam không chấp nhận các đánh giá có tính áp đặt, làm sai lệch và phương hại đến hình ảnh, thành quả bảo đảm quyền con người nói chung, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng của Việt Nam, cũng như quan hệ Việt – Mỹ theo tinh thần của Văn kiện “Tầm nhìn chung” được ký kết giữa hai nhà nước vào tháng 7-2015./. 



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.165.
[2] Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và các Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992, 2013), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tr.203-204.
[3] Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân tiếp Đức Hồng y Reinhard Marx, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Đức, Báo điện tử Chính phủ, ngày 11-1-2016.
[4] TS Phạm Huy Thông: “Tình hình tôn giáo và những yêu cầu đặt ra với công tác tôn giáo vận”, http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/2263/Tinh_hinh_ton_giao_va_nhung_yeu_cau_dat_ra_voi_cong_tac_ton_giao.

Thứ Năm, 31 tháng 8, 2017

GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG TÌNH HÌNH MỚI
                                                               Lê Huy
Chủ nghĩa xã hội hiện thực ra đời sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và đã nhanh chóng trở thành hệ thống thế giới. Đó là kết quả của sự hiện thực hóa chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện thực tiễn cách mạng thế giới gắn liền với vai trò của V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích Nga. Mặc dù vậy, sau gần 80 năm phát triển, đến đầu thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái trào do sự xụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô. Sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa, sự thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực, đó là sự sụp đổ của một mô hình xã hội cụ thể, thiếu sức sống do một số Đảng Cộng sản đã mắc bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, chưa nhận thức đúng và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể mỗi nước.
Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch của chủ nghĩa xã hội đã lợi dụng sự kiện này để xuyên tạc, phủ nhận, đòi xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ cho rằng, học thuyết Mác - Lênin là “quái thai”, “dị dạng” của lịch sử, cho nên các mô hình xã hội đứng trên nền tảng của học thuyết đó sẽ không thể tồn tại được và Cách mạng Tháng Mười là một hiện tượng hoàn toàn Nga chứ không phải là sự kiện tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp mang tầm quốc tế và có ý nghĩa vạch thời đại.
Trước sự thoái trào của chủ nghĩa xã hội và sự chống phá của các thế lực thù địch đã tác động mạnh mẽ tới nhận thức, tình cảm của nhiều người, kể cả cán bộ, đảng viên, làm giao động tư tưởng, giảm sút niềm tin của quần chúng nhân dân vào con đường và sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội. Cùng với đó, sự xuất hiện niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp, biểu hiện ở việc khôi phục, lợi dụng mở rộng các hoạt động lễ hội truyền thống gắn với du lịch tâm linh...
Sau hơn 25 năm diễn ra sự kiện Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, đến nay chủ nghĩa xã hội đã có sự phục hồi và phát triển công cuộc đổi mới, cải cách, mở cửa của Việt Nam, Trung Quốc và một số nước khác, đã thu được những thành tựu quan trọng; phong trào cánh tả ở Mỹ Latinh đang có sự trỗi dậy. Đó chính là sự minh chứng sinh động nhất về tính nhân văn, hợp quy luật phát triển của chủ nghĩa xã hội nói riêng, chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung. Điều đó càng đòi hỏi những người cách mạng, những ai đã đặt niềm tin vào tương lai phát triển của chủ nghĩa xã hội, thì tiếp tục nghiên cứu thấu đáo, quán triệt sâu sắc để bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trước sự chống phá của các thế lực thù địch hiện nay.
Trước sự sụp đổ, thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ nghĩa tư bản đã có sự điều chỉnh thích nghi để tiếp tục tồn tại. Mặc dù còn chứa đựng trong nó rất nhiều mâu thuẫn không thể dung hòa, thậm chí đã nảy sinh nhiều khủng hoảng trầm trọng, triền miên, kéo dài cả về kinh tế và xã hội, nhưng chủ nghĩa tư bản đã và đang tìm mọi cách điều chỉnh thích nghi, phục hồi để kéo dài sự tồn tại trong bối cảnh mới. Vào thời điểm hiện tại, sức sống của chủ nghĩa tư bản vẫn còn khá mạnh. Đây là một thực tế không thể phủ nhận và cũng là vấn đề gây hoài nghi, dao động trong tư tưởng của không ít người về con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta lựa chọn.
Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tiếp tục đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam, lợi dụng thời cơ tấn công vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hòng phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng dùng nhiều thủ đoạn thâm độc như: xuyên tạc thân thế, sự nghiệp, cuộc đời của Hồ Chí Minh để gây tâm lý hoài nghi vào tính đúng đắn và giá trị to lớn của hệ thống di sản tư tưởng mà Người để lại; tuyên truyền xuyên tác tuyệt đối hóa chủ nghĩa Mác - Lênin, hoặc tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng thực chất là nhằm tách rời, làm mất cơ sở lý luận khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh và đi đến hạ thấp giá trị và sức sống của một bộ phận trong nền tảng tư tưởng của Đảng ta.
Cùng với việc đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ, các thế lực thù địch, phản động ra sức lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm của Đảng, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên để thực hiện âm mưu kích động gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Điều đó, làm cho không chỉ nhân dân, mà cả những cán bộ, đảng viên chân chính cũng dao động, hoài nghi, mất niềm tin vào đồng chí, vào tổ chức, rồi dao động lập trường, phai nhạt lý tưởng xã hội chủ nghĩa, hoài nghi chủ nghĩa Mác - Lênin, băn khoăn về con đường xã hội chủ nghĩa. Trong khi đó, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta chưa có bước đột phá, chưa có được thành tựu lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc thù Việt Nam
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Việt Nam là một bộ phận của cộng đồng thế giới đương đại. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại, sự biến động mau lẹ, phức tạp của tình hình chính trị thế giới đã tác động vừa tạo ra thời cơ và thuận lợi mới, nhưng cũng hết sức phức tạp. Điều này được biểu hiện rõ trong đạo đức, lối sống xã hội, những giá trị, chuẩn mực truyền thống đang tồn tại đan xen với những văn hóa, lối sống được du nhập từ bên ngoài hết sức phong phú, phức tạp. Trong khi đó, công tác tư tưởng, lý luận chưa xây dựng được một hệ chuẩn mực về giá trị đạo đức, lối sống của con người Việt Nam hiện nay để làm tiêu chí xây dựng nhân cách con người Việt Nam cũng như để bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp trọng thời kỳ mới.
Sự phụ thuộc lẫn nhau trong xu thế toàn cầu hóa cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, truyền thông đã tạo nên một thế giới ngày càng phẳng hơn, khoảng cách giữa các quốc gia ngày càng được thu hẹp, sự lan tỏa của các giá trị ngày càng nhanh chóng. Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ của thông tin, truyền thông đã tạo ra môi trường tự do học thuật, tự do ngôn luận và thúc đẩy mạnh mẽ xu thế dân chủ hóa, minh bạch thông tin. Điều này tạo thuận lợi cho công tác nghiên cứu, đổi mới hình thức và nâng cao hiệu quả tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, sự phát triển của các trang mạng xã hội hiện nay lại là điều kiện tốt để các thế lực thù địch xuyên tạc, gây dao động, hoài nghi đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyên truyền các quan điểm, tư tưởng phản động, phi vô sản trong xã hội ta.
Thực tiễn sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, “đất nước ta đã đạt được những thành tự to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc… Tuy nhiên, bên cạnh những thành tự đạt được, chúng ta còn nhiều hạn chế, khuyết điểm: Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận còn bất cập, chưa làm rõ được một số vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới để định hướng trong thực tiễn…”[1]. Đảng ta xác định, nhiệm vụ của cách mạng hiện nay là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI sớm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Sự nghiệp đổi mới được xác định trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc làm tốt công tác nghiên cứu, cụ thể hóa các quan điểm, luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng quan trọng để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới là một yêu cầu quan trọng, hết sức cấp thiết.
Từ năm 1991, Đảng ta xác định nền tảng tư tưởng của Đảng bao gồm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo đó, việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề cơ bản, xuyên suốt trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Sinh thời, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đảng có vững cách mệnh mới thành công, Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt. Vai trò của Đảng không chỉ trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn rất quan trọng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 86 năm qua đã chứng minh, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn đặt công tác tư tưởng, lý luận lên hàng đầu, coi đó là bộ phận trọng yếu của công tác xây dựng Đảng, góp phần quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, trước những biến đổi nhanh chóng và phức tạp của tình hình thế giới và trong nước, Đảng càng quan tâm hơn nữa đến công tác tư tưởng, lý luận nói chung, đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ tị 05 của Bộ Chính trị. Đặc biệt, tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 37-NQ/TW về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030: “Kiên trì thế giới quan, phương pháp luận khoa học và các giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; đồng thời, tiếp thu các thành tựu mới, tinh hoa của nhân loại. Nâng cao hiệu quả đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch; uốn nắn những nhận thức lệch lạc”[2]. Nghị quyết đã chỉ ra các hướng cần tập trung nghiên cứu từ nay đến năm 2030, trong đó việc tiếp tục khẳng định và cụ thể hóa những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các giá trị bền vững phù hợp với thực tiễn của Việt Nam; chỉ rõ vấn đề cần bổ sung, phát triển. “Tiếp tục nghiên cứu có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, làm rõ sự bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh”[3], là hướng nghiên cứu được đặt nên hàng đầu. Cùng với đó, Nghị quyết xác định các biện pháp chủ yếu đẩy mạnh công tác lý luận từ nay đến năm 2030. Đây là những định hướng lớn có tầm chiến lược cho việc bảo vệ, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay. Cụ thể:
Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Một trong những phương cách tốt nhất để bảo vệ, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay là phải làm cho mọi người, trước hết là cán bộ, đảng viên nắm được những nội dung cơ bản, giá trị, ý nghĩa cũng như mối quan hệ biện chứng giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Do vậy, cần phải đổi mới nội dung, hình thức, cách thức tuyên truyền, giáo dục. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, sự phát triển của khoa học, công nghệ đã tác động, làm thay đổi căn bản các phương pháp giáo dục truyền thống và làm xuất hiện các hình thức giáo dục mới. Mặt khác, các thế lực thù địch đang khai thác, sử dụng các thành quả của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại để xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Trước tình hình đó, Đảng ta chủ trương đổi mới nội dung, chương trình giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”[4].
Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cần tập trung làm tốt một số vấn đề: Đẩy mạnh nghiên cứu, khẳng định rõ tính cách mạng, khoa học, giá trị và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo dục phù hợp với đặc điểm đơn vị, đặc điểm tâm, sinh lý của từng đối tượng; Tập trung đổi mới nội dung, phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy, tuyên truyền, theo hướng giúp người học có cách tiếp cận và phương pháp xử lý thông tin đúng, hình thành nhu cầu tìm hiểu, chủ động tự học, tự nghiên cứu; Làm tốt tuyên truyền những ngày lễ lớn của đất nước, dân tộc, tổ chức các sự kiện liên quan đến tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nâng cao hiệu quả đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thực tiễn cho thấy, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội luôn có sự đan xen giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ với cái lạc hậu. Trong khi cái mới mà đồng nghĩa với cái tốt bao giờ cũng non yếu cần phải được vun trồng, bảo vệ, thì cái cũ, cái bảo thủ, lạc hậu lại có sức mạnh, bởi nó đã ăn sâu, bám rễ, trở thành thói quen của một bộ phận quần chúng. Vì vậy, giữa chúng luôn có sự cạnh tranh, đấu tranh không khoan nhượng, đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, xây dựng phải đi đôi với bảo vệ, xây cái mới phải gắn liền với chống cái cũ.
Trong bối cảnh hiện nay, để bảo vệ, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đòi hỏi phải đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc hòng làm mất lòng tin của nhân dân, của cán bộ, đảng viên vào lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vào chế độ xã hội chủ nghĩa, vào công cuộc đổi mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta.
Để công tác đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận đạt hiệu quả, cần quán triệt sâu sắc yêu cầu, phương châm, phương pháp mà Đảng ta đã xác định: “Đấu tranh tư tưởng, lý luận phải nhằm khẳng định và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh trên cơ sở giữ vững quan điểm và nguyên tắc; mềm dẻo, linh hoạt, nhân văn trong phương pháp, công khai, minh bạch, dân chủ, góp phần tạo dư luận xã hội lành mạnh, đồng thuận. Chủ động phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch; đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực cơ hội, thù địch”[5].
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của quân đội
Sức mạnh chiến đấu của quân đội là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, nhưng trong đó, yếu tố chính trị tinh thần luôn giữ vai trò nền tảng, quyết định. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”[6]. Tuy nhiên, yếu tố tạo nên sức mạnh chính trị của quân đội là sự thấu hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Theo đó, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là yếu tố tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và ngược lại, quân đội là lực lượng quan trọng trong bảo vệ, phát triển và nâng cao giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Do vây, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị nhằm làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống chính trị, tinh thần của mỗi cán bộ, chiến sĩ là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng.
Để quân đội ta luôn là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Xung kích đi đầu trong đấu tranh bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đòi hỏi phải phát huy cao độ vai trò của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác chính trị, tư tưởng. Tích cực đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị cho sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ ở các đơn vị trong toàn quân. Quan tấm xây dựng môi trường văn hóa ở đơn vị cơ sở, giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; kiên quyết đấu tranh với các quan điểm, tư tưởng sai trái, các hành vi vô kỷ luật; làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, không để cán bộ, chiến sĩ bị kẻ xấu lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo, không để tệ nạn xã hội xâm nhập vào đơn vị./.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.65.
[2] Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 05 tháng 11 năm 2014
[3] Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 05 tháng 11 năm 2014
[4] Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 05 tháng 11 năm 2014
[5] Trích Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 9-10-2014 của Bộ Chính trị khóa XI, về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030. Dẫn theo: Tạp chí Cộng sản, số 856 (11-2014), tr.7.
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 7, tr.217.

Thứ Hai, 14 tháng 8, 2017

PHẢI CHĂNG  “ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KÌM HÃM TỰ DO, DÂN CHỦ, VI PHẠM NHÂN QUYỀN, CHIA RẼ DÂN TỘC”  

Long vĩ
“Đảng Cộng sản Việt Nam kìm hãm tự do, dân chủ, vi phạm nhân quyền, chia rẽ dân tộc” – đó là luận điệu mà các thế lực thù địch, một số kẻ cơ hội chính trị cấu kết với nhau rêu rao từ nhiều năm nay; và năm 2017 này, khi mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang nỗ lực, quyết tâm trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII; Nhà nước Việt Nam trong nhiều năm qua cũng như trong thời gian tới tiếp tục đẩy mạnh việc kiện toàn hệ thống pháp luật, chính sách và thể chế về đảm bảo quyền con người, xây dựng Nhà nước Pháp quyền, đảm bảo sự thụ hưởng ngày càng đầy đủ hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân; Chính phủ đã và đang hành động mạnh mẽ nhiều vấn đề về Chính phủ kiến tạo, liêm chính hoạt động quyết liệt, hiệu lực, hiệu quả thì họ càng ra sức công kích. Vậy đâu là sự phi lý của luận điệu xuyên tạc chống phá trên?
Các thế lực thù địch và mấy nhóm người cơ hội chính trị nói trên không tiếc lời ca tụng, khuếch trương quan điểm dân chủ, nhân quyền của phương Tây, đồng thời ra sức chê bai tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Trước hết, cần thấy rằng, cách thức một số giới phương Tây đã và đang đẩy tới cuộc tiến công vào dân chủ, nhân quyền đã làm không ít người lo ngại trận địa này sẽ trở thành một “điểm nóng xung đột” rất gay gắt về tư tưởng, văn hóa. Thực tế cho thấy những người chủ mưu đã tung tiền bạc tổ chức, đặc biệt là giúp các tổ chức lưu vong “hải ngoại”, tiến hành vô số hội thảo, hội nghị, tọa đàm, gặp gỡ, trao đổi ý kiến… về dân chủ, nhân quyền. Họ năng nổ cử các đoàn đại biểu đa dạng về thành phần,… tới các xứ sở mà họ coi là “sa mạc về nhân quyền” để điều tra, thẩm vấn, xét hỏi,… “các vụ vi phạm”. Cho dù đa số “đại biểu” là “diễn viên” vốn được xếp hạng trong “gánh hát nhân quyền”, nhưng họ vẫn ngang nhiên tỏ thái độ áp đặt, trịch thượng, kể cả với những nước họ đến “dạy dỗ”, thậm chí ngay cả lãnh đạo các quốc gia này!
Một nhầm lẫn đáng tiếc, nếu không muốn nói là sự áp đặt của một số thế lực phương Tây: họ mặc nhiên coi những giá trị phương Tây là giá trị chung của toàn nhân loại! Hễ ở đâu, có ai đó làm gì trái ý là họ lại lập tức lên giọng phán xét đó là “chà đạp dân chủ, vi phạm nhân quyền”. Họ làm ngơ hoặc vờ như không biết rằng, làm sao có thể tách nhân quyền ra khỏi các điều kiện lịch sử, địa lí, văn hóa, trình độ phát triển của các quốc gia, dân tộc. Đó là căn nguyên lí giải tại sao một số tín đồ của Chúa Giêsu sẽ tôn thờ những giá trị tinh thần không hoàn toàn giống một tín đồ của Thánh Ala; một người dân Xômali sinh sống trên sa mạc cháy bỏng sẽ không giám đòi hỏi những điều kiện vật chất giống người dân Mỹ; và khi một công dân Mỹ tới Xingapo vẽ bậy lên tường, bị luật pháp nước này phạt 50 roi, lại bị Mỹ nhìn nhận như là “một sự vi phạm nhân quyền”, còn phía Xingapo lại khẳng định nếu không xử phạt anh ta mới là vi phạm nhân quyền của người khác…
Dân chủ là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Chúng ta đã và đang từng bước hoàn thiện nền dân chủ, đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Điều gì đã giúp cho Nhà nước ta vượt qua tất cả thử thách cam go, tình thế hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc” trong các cuộc kháng chiến cứu nước trước đây cũng như ở thời điểm “chuyển dời dâu bể” sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, nhiều cuộc giông bão do các cuộc khủng hoảng kinh tế gây ra? Một trong những nhân tố quan trọng nhất là sự gắn bó máu thịt của toàn dân ta với Đảng, với Nhà nước mình. Đó là Nhà nước do chính nhân dân gây dựng nên và Nhà nước đó lại phục vụ chính nhân dân. Căn nguyên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam là do Đảng ta đã kế thừa và phát huy cao độ bài học lấy dân làm gốc đã được cha ông đúc kết từ nghìn xưa. Thế kỷ XV, Nguyễn Trãi từng viết: “đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Và giữa thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã viết: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Chúng ta xác lập cơ chế đúng đắn Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lí, nhân dân làm chủ. Mọi hoạt động Nhà nước đều nhằm mục đích cao nhất là vì quyền lợi và hạnh phúc của nhân dân. Đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chiến lược phát triển là sự dứt khoát của Đảng và nhà nước ta. Mọi công việc của Đảng đều có sự tham gia của toàn dân.
Dân chủ ở nước ta được thể hiện, tăng cường và có cơ chế để bảo đảm thực hiện trên nhiều lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, hệ thống pháp luật, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Về chính trị, dân chủ thể hiện ở việc Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động và dân tộc, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều vì dân; công việc của Đảng được coi là công việc của toàn dân. Dân chủ thể hiện rõ nét qua các qui định được nêu nhất quán trong các bản hiến pháp: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân”. Quyền lực nhà nước thuộc về toàn dân, chứ không hề nằm trong tay một tổ chức, một nhóm hay một cá nhân nào. Nhân dân thực hiện quyền dân chủ của mình qua hai hình thức: trực tiếp và gián tiếp. Nhân dân có quyền tố cáo, khiếu nại các cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Rõ ràng, gần gũi và sống động nhất về dân chủ trong chính trị ở thời điểm hiện nay là việc góp ý cho Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đang diễn ra sôi nổi ở khắp mọi nơi, từ trung ương đến địa phương với sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân. Đảng tôn trọng tối đa mọi ý kiến đóng góp của nhân dân, kể cả các ý kiến phản biện mang tính xây dựng. Quyền của người dân còn được thể hiện qua  các cơ quan đại diện như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể… Mọi vấn đề thiết yếu đều được đưa ra bàn thảo trước khi quyết định. Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thảo luận và thông qua Luật trưng cầu ý dân ngày 25-11-2015.
Luật trưng cầu ý dân góp phần thiết thực vào việc phản ánh các giá trị tư tưởng trọng dân, tin dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc được thể hiện rõ trong truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, trong Tư tưởng Hồ Chí Minh và trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Nó đã kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân, mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của Nhà nước, tạo khuôn khổ pháp lý cho người dân tham gia chủ động, tích cực vào việc quyết định các công việc của Nhà nước và xã hội phù hợp với bản chất của Nhà nước ta, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Đồng thời, tạo điều kiện để Nhân dân có thể tham gia sâu hơn, có tính quyết định với tư cách chủ thể vào những vấn đề quan trọng của đất nước, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Thực tế từ nhiều năm nay, các phiên chất vấn của Quốc hội đều được truyền hình trực tiếp để toàn dân theo dõi, giám sát. Rất ít quốc gia trên thế giới, ngay cả một số nước phương Tây chưa làm được điều này. Nếu không là nột đất nước dân chủ, tôn trọng quyền dân chủ, đất nước của nhân dân thì không thể có những sinh hoạt dân chủ như vậy.
Dân chủ về kinh tế thể hiện qua cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện cho mọi công dân phát huy quyền tự chủ của mình trong sản xuất, kinh doanh. Ở Việt Nam, ngoài kinh tế nhà nước, còn có các thành phần kinh tế khác được tạo điều kiện phát triển, cạnh tranh bình đẳng. Kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Việt Nam. Góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển chung của đất nước, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động.
Hiến pháp 2013 có hẳn một chương về nhân quyền với những điều luật cụ thể, rõ ràng, phù hợp với thực tiễn đời sống chính trị - xã hội Việt Nam. Về hiến định là như vậy, còn trên thực tế, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam không còn là giấc mơ xa mà đang hiển hiện trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Tuy nhiên, phấn đấu cho dân chủ, nhân quyền là quá trình liên tục. Trình độ phát triển kinh tế - xã hội chính là nền tảng cở bản tạo ra điều kiện và khả năng khách quan cho việc thực hiện ngày một tốt hơn cho dân chủ và nhân quyền. Nhận thức được rằng đất nước còn nhiều khó khăn, người dân ở nhiều nơi còn nghèo khổ; không ít nơi còn có tình trạng bất công, vi phạm dân chủ nghiêm trọng. Đảng và Nhà nước đang rất nỗ lực để tăng cường, phát huy dân chủ, cố gắng làm mọi điều có thể để nhân dân được hưởng những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng tiến bộ hơn.
Trong lĩnh vực tôn giáo, công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, pháp luật nhà nước cũng nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để xúi gục, kích động và lôi kéo người dân làm việc trái pháp luật. Nhiều năm nay, trong các báo cáo về nhân quyền, tôn giáo trên thế giới, một số giới ở phương Tây được sự tiếp tay của một số kẻ cơ hội chính trị luôn thiếu thiện chí khi nói về Việt Nam. Trong khi họ la lối Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, thì rất nhiều chính khách ở phương Tây, sau khi thăm Việt Nam trở về, đã tuyên bố rằng, trước đây do thiếu thông tin, hoặc tiếp xúc với những thông tin sai lệch nên đã có những nhận thức không đúng về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Họ khẳng định, Chính phủ Việt Nam đang cố gắng cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Việc Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 68 bỏ phiếu bầu 14 nước thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền nhiệm kì 2014-2016, trong đó Việt Nam trúng cử với số phiếu cao nhất (184/192 phiếu) là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu bước tiến mới trong nỗ lực triển khai chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế; là minh chứng sống động và thuyết phục về sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với các thành tựu của Việt Nam trong việc đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền của người dân trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng…
Trong bối cảnh quan hệ Việt – Mỹ đang phát triển ngày càng tốt đẹp, cuộc đối thoại giữa hai nước về nhân quyền lần thứ 21 (23-5-2017) vừa qua đã diễn ra tại Hà Nội trong bầu không khí cởi mở, thực chất, xây dựng. Với tinh thần đối ngoại như vậy, sẽ có cách nhìn khách quan và thực tiễn, không để những vấn đề còn khác biệt, tồn đọng ảnh hưởng đến việc xây dựng lòng tin, cản trở đà tiến triển của mối quan hệ giữa hai nước. Tháng 7-2015 trong cuộc thảo luận tại Nhà Trắng với Tổng Bí thư Nuyễn Phú Trọng, Tổng thống B.Obama tin tưởng sẽ giải quyết được một số vấn đề còn khác biệt thông qua các nỗ lực ngoại giao, không chỉ trong khuôn khổ song phương mà cả đa phương, qua hợp tác ASEAN. Trên tinh thần đó, thật đáng khích lệ, quan hệ hai nước ngày càng phát triển còn được thể hiện qua các hoạt động trao đổi quân đội, chính sách quốc phòng, các cuộc đối thoại an ninh, chính trị …đạt được kết quả tích cực.
Gần đây nhất là chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tới Hoa Kỳ thành công tốt đẹp theo lời mời của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump. Chuyến thăm rất đúng thời điểm của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lần này đã góp phần duy trì đà phát triển quan hệ, tiếp tục thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác cùng có lợi, củng cố cơ sở quan hệ đã được xây dựng và vun đắp trong nhiều năm qua, đặc biệt là góp phần xây dựng quan hệ làm việc với Lãnh đạo chính quyền và quốc hội mới, tăng cường hiểu biết về lập trường của nhau, giải toả một số quan ngại và xây dựng lòng tin giữa hai bên. Đây là kết quả của chủ trương đúng đắn của Đại hội Đảng lần thứ XII là làm sâu sắc quan hệ hợp tác với các đối tác và các nước lớn. Trong thời gian qua, ta đã triển khai đồng bộ chủ trương này. Ta đã hết sức chủ động và tích cực trong việc tiếp cận, xây dựng quan hệ với chính quyền và quốc hội mới của Hoa Kỳ, làm cho chính quyền và chính giới Hoa Kỳ hiểu rõ về tầm quan trọng của hợp tác Việt Nam - Hoa Kỳ đối với mỗi nước và với việc duy trì hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực. Chính vì vậy chính quyền mới của Hoa Kỳ coi trọng và mong muốn thúc đẩy hợp tác với ta. Vậy điều gì làm cho Hoa Kỳ coi trọng thúc đẩy phát triển với Việt Nam? Đây phải chăng là vì Nhà nước Việt Nam kìm hãm tự do, dân chủ, vi phạm nhân quyền, chia rẽ dân tộc? Đó là điều không thể.

Trong suốt chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam đã xây dựng một nền văn hóa lấy tinh thần độc lập, tự do làm nền tảng. Vì quyền được sống trong phẩm giá chân chính của con người, dân tộc độc lập, nhân dân tự do, ấm no, hạnh phúc – khát vọng về nhân quyền lớn nhất mà nhân dân Việt Nam đã chiến đấu và hi sinh hàng triệu sinh mạng trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở thế kỷ XX. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực và cũng đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong những năm qua, nhưng Việt Nam chưa coi mình đã đạt thành tích tốt về nhân quyền. Sau nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt, chúng ta đang cố gắng làm mọi điều có thể để 54 dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam được hưởng những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng tốt hơn. Một dân tộc như thế ắt biết thẩm định, tôn trọng, phấn đấu cho dân chủ, nhân quyền, cho quyền lợi thiết thực, hạnh phúc đích thực của nhân dân, cho những giá trị cao quý nhất của nhân loại.

Thứ Tư, 9 tháng 8, 2017

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH – VẤN ĐỀ CẤP THIẾT PHẢI ĐƯỢC MIỄN DỊCH VÀ CẢNH GIÁC CAO ĐỘ CỦA CÁN BỘ, CHIẾN SĨ QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

Long vĩ

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn, đại ý: Khi bạn khen thì mình vui nhưng khi kẻ địch khen thì mình phải cảnh giác. Lời dạy của Người đã toát lên phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong hành xử với các âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch. Ngay cả khi chúng khen ngợi còn phải cảnh giác thì trước những “mưu hèn kế bẩn” chống phá, nhân dân ta nói chung và cán bộ chiến sĩ quân đội nói riêng không chỉ cảnh giác mà còn phải có được “hệ miễn dịch” và phải chủ động kiên quyết đấu tranh với chúng như trong đời thường giữa ruộng lúa có cỏ dại, lúa lên xanh thì cỏ dại bị đẩy lùi.
Những năm gần đây, xuất hiện nhiều thủ đoạn tinh vi của các thế lực thù địch và đối tượng xấu sử dụng để chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội, chia rẽ nội bộ và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân. Trong đó, có cả những thủ đoạn “rung cây, dọa khỉ”, “ném đá giấu tay” dù chỉ là thứ bóng tối nhanh chóng bị xua tan trước ánh sáng sự thật nhưng vẫn được chúng sử dụng nhiều lần.
Công phá, chia rẽ quân đội với nhân dân
Hiện tượng này đã diễn ra nhiều lần, nhiều năm, dư luận xã hội đã quen thuộc đến mức ít bận tâm tới chúng nhưng chúng ta vẫn cần khái quát, nhận diện để đấu tranh và đẩy lùi thứ “vi rút độc” này ra khỏi đời sống xã hội.
Hiện nay, để thực hiện Chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch tiến hành rất nhiều thủ đoạn chống phá. Một trong những mũi nhọn mà chúng tập trung công kích gần đây chính là chia rẽ quân đội và nhân dân. Sự gia tăng tần suất chống phá ấy vì Quân đội nhân dân luôn là lực lượng trung thành, tin cậy tuyệt đối, là chỗ dựa của chính quyền và nhân dân, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định gần đây: Quân đội dù trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào cũng luôn một lòng, một dạ trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, nêu cao ý chí quyết chiến, quyết thắng, xứng đáng với lòng yêu mến, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Tấn công, hạ thấp uy tín của quân đội chính là âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ quan hệ máu thịt quân đội và nhân dân, phá hoại sức mạnh, chỗ dựa của Đảng, Nhà nước và nhân dân, công phá vào “thành trì của niềm tin”.
Chiêu trò “mưa dầm thấm lâu”, ném đá giấu tay
Gơ-ben (Paul Joseph Gôbbels), Bộ trưởng Bộ Thông tin Quần chúng và Tuyên truyền của Đức Quốc xã, từng nêu một lý thuyết: “Một điều lừa dối bịa đặt khó tin nhất, nếu được nhắc đi nhắc lại trăm ngàn lần sẽ được mọi người tin là thật”. 
Những chiêu thức ấy đang được các thế lực thù địch sử dụng triệt để ngày hôm nay bằng các thủ đoạn xuyên tạc, bịa đặt những thông tin xấu về nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội. Chúng không từ một thủ đoạn gì, từ lợi dụng các vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình đến cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, nguy hiểm, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.
Chúng xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Chúng đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, gây bất lợi, phá hoại quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia. Ngay cả những điều thiêng liêng nhất như lịch sử dân tộc, cội nguồn con Rồng cháu Tiên, lãnh tụ, từ các thế hệ lãnh đạo tiền bối đi trước cho đến các đồng chí lãnh đạo hiện nay cũng đều bị chúng xuyên tạc cũng là điều dễ hiểu. Điều này đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII gần đây nhìn nhận, chỉ rõ thủ đoạn: “Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”
Khi mà dư luận xã hội đã quá quen thuộc và không còn để ý nhiều tới các loại thông tin “hậu trường chính trị”, lá cải bịa đặt, gần đây, chúng tìm cách câu kéo, đánh lừa xã hội bằng chiêu bài đê hèn hơn, mạo danh cán bộ có uy tín, nhất là một số tướng lĩnh đã nghỉ hưu và người nổi tiếng đứng đơn thư tố cáo bịa đặt, thỉnh nguyện theo kiểu “cáo mượn oai hùm”.
Thủ đoạn đê hèn này không chỉ tạo ra thông tin giả gây bất an trong xã hội mà còn ảnh hưởng, xúc phạm tới chính uy tín, danh dự của những cán bộ bị mạo danh. Các tướng lĩnh và cán bộ lão thành cách mạng với bề dày kinh nghiệm được tôi luyện qua chiến đấu, công tác, luôn là “cây cao bóng cả”, là niềm tin, là chỗ dựa cho thế hệ trẻ và toàn xã hội. Những đơn thư mạo danh đó có thể làm tổn hại cả thanh danh của những cán bộ, tướng lĩnh trung kiên, cả một đời hy sinh, cống hiến nay bị mang tiếng “đổi màu”, “trở cờ”, “tự diễn biến” trong mắt đồng chí, đồng đội và nhân dân. Với thủ đoạn đó, chúng đồng thời đạt được mục đích vừa tấn công vào những cán bộ lãnh đạo đương chức, vừa hạ thấp uy tín các vị lãnh đạo lão thành, nghỉ hưu; vừa gây nghi kỵ, mâu thuẫn trong nội bộ, giữa đội ngũ cán bộ đi trước và lớp trẻ, giữa cấp trên và cấp dưới...
Đấu tranh, cảnh giác, “miễn dịch” và xử lý
Cha ông ta có câu “Dù ai nói ngả nói nghiêng, lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân”. Thông tin xuyên tạc, bịa đặt dù nguy hiểm khôn lường nhưng trong thời đại bùng nổ thông tin, mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân và cán bộ, chiến sĩ quân đội cần xây dựng cho mình tư tưởng vững vàng trước thông tin xấu độc, luôn kiên định, tin tưởng vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, quân đội. Kẻ địch coi đây là trận tuyến không khói súng, là cuộc chiến giành giật niềm tin thì chúng ta chỉ có thể chiến thắng bằng chính niềm tin không có gì lay chuyển được.
Lẽ dĩ nhiên, niềm tin ấy không tự nhiên có được mà phải được hun đúc bằng quá trình rèn luyện, trau dồi nhận thức, nhân sinh quan, thế giới quan, lý luận cách mạng và cả những trải nghiệm thực tiễn trong cuộc sống và công tác. Niềm tin cũng được khẳng định qua “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, qua những biến động phức tạp của thời cuộc sẽ minh chứng rất rõ vì sao Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giành được lòng yêu mến, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân? Niềm tin ấy sẽ được khẳng định bằng kết quả hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng Tổ quốc của Quân đội ta, bằng những hành động mưu lược và chiến lược, kế sách bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong bối cảnh đầy phức tạp và thách thức, bằng hình ảnh của chính những người cán bộ quân đội trong đời thường, trong cơ chế thị trường.
Trong mấy năm qua, toàn quân ta sôi nổi, quyết tâm thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Trong những giá trị phẩm chất của Bộ đội Cụ Hồ có sự bình tĩnh, sáng suốt trước những đòn chiến tranh tâm lý, tư tưởng của kẻ thù. Những xuyên tạc, bịa đặt, “ném đá dấu tay”, “mưa dầm thấm lâu”, dù tinh vi đến đâu cũng không dễ dàng làm người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam hoang mang, dao động.
Hành xử với loại thông tin bịa đặt trên, rất cần chúng ta là những người tỉnh táo trên mọi xa lộ thông tin, không sa đà, mất thời gian vô bổ cho những chia sẻ, bình luận không cần thiết, thậm chí lợi bất cập hại. Nhưng khi cần, chúng ta sẽ lên tiếng đấu tranh, phản bác bằng những thông tin chính thống, công khai, minh bạch để ánh sáng sự thật đẩy lùi bóng tối thông tin lừa dối. Trong những người chia sẻ, tán phát thông tin xấu, phần nhiều là những người nhẹ dạ cả tin, thiếu thông tin mà nhận thức lệch lạc, chúng ta cần giúp họ nhận thức đúng, sửa sai trên tinh thần coi trọng giáo dục thuyết phục như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Ta phải biết làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời”...
Song đối với những kẻ cố tình tán phát thông tin với mục tiêu phá hoại Đảng, Nhà nước, quân đội, phá hoại an ninh quốc gia, rất cần phải xử lý nghiêm minh vì theo pháp luật hiện hành, nhiều hành vi tung tin sai sự thật đủ yếu tố cấu thành tội phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Hình sự. Vừa qua, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn từng phát biểu, hành vi tung tin bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã được một số nước xếp ngang với những nguy cơ đe dọa an ninh lớn nhất cho đất nước. Chính phủ Anh xếp loại tội phạm này ngang hàng với tấn công khủng bố, tấn công bằng vũ khí hóa học. Bộ Thông tin và Truyền thông đã yêu cầu Google gỡ bỏ hơn 2.000 clip nói xấu, bôi nhọ lãnh đạo Đảng và Nhà nước trên YouTube và cho đến nay đã có hơn 1.000 clip đã bị xóa và đã xử phạt 10 trường hợp, tính từ đầu năm 2017. Đó là những chuyển biến rất tốt để làm trong sạch, lành mạnh môi trường thông tin trên internet. Nhưng trên thực tế hiện nay, trên internet vẫn còn rất nhiều trang, clip bịa đặt, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội mà chưa bị xử lý triệt để.

Các cơ quan pháp luật, dù đề cao giáo dục thuyết phục nhưng phải chủ động trong đấu tranh, phòng ngừa và đẩy lùi tội phạm trên mặt trận thông tin, tư tưởng, kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục với tiến hành biện pháp hành chính, xử lý theo pháp luật, kể cả pháp luật hình sự. Với những kẻ cố tình xuyên tạc, bôi xấu, xúc phạm danh dự của tập thể, cá nhân vì động cơ chính trị đen tối, ảnh hưởng tới an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cần được xử lý một cách kiên quyết, triệt để, nghiêm minh.

Thứ Ba, 18 tháng 7, 2017


NHẬN DIỆN KẺ PHẢN ĐỘNG TRONG NƯỚC VÀ SỰ XUYÊN TẠC CỦA TRUYỀN THÔNG NƯỚC NGOÀI QUA SỰ VIỆC TẠI
XÃ ĐỒNG TÂM HUYỆN MỸ ĐỨC
Sáng ngày 7-7-2017, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã tổ chức công bố “Dự thảo kết luận thanh tra toàn diện về đất đai khu vực sân bay Miếu Môn”, trong đó, có diện tích đất nằm trong địa giới xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức. Đoàn thanh tra của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã xem xét 47 đơn khiếu nại của người dân xã Đồng Tâm, xem xét đề nghị của tất cả các bên có liên quan và hoàn thành việc thanh tra trong 42 ngày (tính từ ngày 21-6-2017). Đoàn Thanh tra có 15 ngày chuẩn bị báo cáo tổng hợp và đến ngày 7-7-2017, dự thảo báo cáo được công bố.
Kết quả thanh tra hoàn toàn không dựa trên những ý kiến của cá nhân, những lời đồn thổi, những thông tin sai lệch mà một số người không hiểu biết hoặc tệ hơn là một số người vốn mang tâm địa xấu xa, kích động người dân chống đối chính quyền dựng lên hoặc xuyên tạc. Kết quả thanh tra dựa trên những hồ sơ còn lưu trữ của Cơ quan quản lý đất đai Bộ Quốc phòng, của Bộ Tư lệnh công binh, của Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân, của Sở Tài nguyên môi trường Thành phố Hà Nội, của Phòng Tài nguyên môi trường thuộc Ủy ban Nhân dân huyện Mỹ Đức và của Ủy ban Nhân dân xã Đồng Tâm cũng như việc xem xét thực tế, khảo sát đo đạc và kiểm tra trên thực địa. Một số bản đồ địa giới, mốc giới lưu trữ trong các hồ sơ đã được trưng bày tại cuộc họp công bố dự thảo kết luận thanh tra. Nó phơi bày một sự thật là đất nào thuộc quyền sở hữu của ai mà lâu nay, những kẻ mang dã tâm chống lại sự nghiệp xây dựng đất nước của toàn dân Việt Nam, các cơ quan truyền thông có thái độ chống chính quyền Việt Nam đặt ở nước ngoài, một số báo chí của hệ thông truyền thông trong nước và một số nhà báo, luật sư bất lương đã cố tình làm lẫn lộn trắng đen, phải trái.
Quá trình thanh tra đã xác định toàn bộ khu vực đất được quy hoạch xây dựng sân bay Miếu Môn nằm trên đất đai các xã Trần Phú (huyện Chương Mỹ) và Đồng Tâm (huyện Mỹ Đức), trong đó có 64,11 ha thuộc địa giới hành chính xã Đồng Tâm là đất quốc phòng. Sự xác định này dựa trên toàn bộ hồ sơ về đất đai khu vực này được thiết lập từ ngày 14-4-1980 theo Quyết định số 113/TTg của Thủ tướng Chính phủ và việc kiểm tra toàn bộ 57 mốc giới bằng bê tông cốt thép trên thực địa vẫn còn nguyên vị trí chứ không hề có chuyện nhập nhèm nào ở đây cả.
Qua đây chúng ta thấy rằng: Sự xuyên tạc, dựng chuyện của những kẻ phản động trong nước và những luận điệu giả dối của truyền thông nước ngoài.
Ngay từ đầu, điểm nóng Đồng Tâm đã trở thành miếng mồi ngon cho những thế lực phản động, chống Nhà nước và Nhân dân Việt Nam ở cả trong và ngoài nước bâu lấy để tuyên truyền xuyên tạc, bịa đặt, thổi phồng, bóp méo nhằm phục vụ cho âm mưu diễn biến hòa bình của chúng. Ban đầu, ông Lê Đình Kình và đồng đảng của ông ta còn tuyên bố không nhận sự hỗ trợ của những thế lực phản động, không nhận sự hỗ trợ của nhà thờ Công giáo. Thế nhưng khi một ả Hoàng Thái Hồng, làm nghề “dâm chủ” đến làng Hoành thăm “ngôi sao chống tham nhũng Lê Đình Kình” thì mọi việc đã được tung hê ra trước con mắt của bàn dân thiên hạ. Cho dù ông Lê Đình Kình tuyên bố rằng ông vẫn tin tưởng vào Đảng, Nhà nước và bản thân ông vẫn là Đảng viên thì ông vẫn đang trong tình trạng bị những kẻ phản động, chống nhà nước, chống nhân dân Việt Nam lợi dụng. Rất nhiều lời bình luận phê phán ông Kình được viết vào đoạn clip có nội dung phỏng vấn ông Lê Đình Kình của ả Hoàng Thái Hồng đăng trên trang mạng Youtube cho thấy điều này.
Ngay từ khi vụ việc mới khởi phát, tại Đồng Tâm đã xuất hiện những nhân vật cộm cán trong nghề “dâm chủ” ở Việt Nam như Lê Văn Dũng (Lê Dũng Vova), Trịnh Bá Phượng (con trai “dâm oan” Cấn Thị Thêu), Bạch Hồng Quyền (kẻ vừa gây ra vụ rối loạn ở Hà Tĩnh) đã kéo đến Đồng Tâm như chim kền kền ngửi thấy mùi của xác chết. Tuy không trực tiếp đến Đồng Tâm nhưng những nhà “dâm chủ salon” như Thảo Teresa, Lê Công Định cũng hùa vào dòng thác thông tin bịa đặt, xuyên tạc về Đồng Tâm.
Từ những thông tin được người dân cung cấp từ hiện trường (dĩ nhiên là bọn Việt Tân phải trả tiền cho họ trước đã), bọn chúng đã xào xáo thành một vụ xung đột nghiêm trọng với những luận điệu vu vạ rằng Quân đội và Công an cướp đất của dân, rằng đã có người bị đánh gần chết, rồi lớn tiếng kêu gọi người dân hãy vùng lên. Khi đoàn công tác của huyện đến Đồng Tâm ngày 15-4-2017 thực hiện lệnh cưỡng chế thu hồi đất và những kẻ quá khích tiếp tục kích động người dân chống người thi hành công vụ, tấn công các chiến sĩ Công an, bắt giữ trái phép 1 Phó trưởng Công an huyện Mỹ Đức và 38 chiến sĩ Cảnh sát cơ động, đòi Công an huyện Mỹ Đức phải thả 4 đối tượng đã bị bắt giữ và chúng lập tức alo cho truyền thông Mỹ và phương Tây rằng đây là một vụ nổi dậy, một hành động vùng lên của dân chúng.
Chỉ riêng việc chúng dàn dựng một vụ đặt một người bị ngộp thở do chen lấn lên nắp capo ô tô Cảnh sát rồi vu vạ rằng Công an đánh chết người đã cho thấy sự bỉ ổi hèn hạ của Lê Dũng Vova và Trịnh Bá Phượng. Bởi cái clip của chính dân làng Hoành quay và đưa lên mạng ngay trong ngày hôm đó cho thấy khi một cán bộ Công an huy động chiến sỹ của mình khiêng người này đi cứu chữa thì người đó bỗng vùng dậy và la hét, chửi rủa ầm ỹ như chưa bao giờ được chửi.
Liên tiếp trong nhiều ngày sau đó, Lê Dũng Vova, Thảo Teresa và Trịnh Bá Phượng đã viết nhiều bài cung cấp tin cho BBC, VOA, RFI, RFA liên tiếp đưa nhiều thông tin xuyên tạc về những sự kiện ở Đồng Tâm, dựng lên những chuyện kinh thiên động địa. Riêng về chuyện ông Lê Đình Kình bị đánh gãy chân thì sau nhiều ngày xác minh, Cơ quan điều tra có chứng cứ khẳng định rằng chính người nhà ông Lê Đình Kình đã làm gãy chân ông. Số là khi lực lượng chức năng đã đưa ông Kình lên xe, một nhóm rất đông người nhà ông Kình và dân thôn Hoành đã chặn xe, hành hung lực lượng chức năng và lôi ông Kình xuống hòng đánh tháo cho ông. Vì chúng không kịp đỡ nên khi bị lôi xuống, chân cụ đã đập vào thành xe và bị gãy. Thế mà chúng lớn miệng bảo rằng Công an đánh gãy chân cụ. Thật là xảo trá!
Trong hô ngoài ứng. Liên tiếp trong nhiều ngày căng thẳng ở Đồng Tâm, những cái loa chống cộng như BBC Việt ngữ, VOA Việt ngữ, RFI Việt ngữ, RFA Việt ngữ .v.v… đăng trung bình mỗi ngày 3 đến 4 bài về sự kiện ở Đồng Tâm. Tất cả đều dựa trên những thông tin xuyên tạc, bịa đặt do đám “dâm chủ” trong nước tuồn ra ngoài, tạo nên một bức tranh hết sức sai lệch về những gì đang diễn ra ở Đồng Tâm, đầu độc bầu không khí trong nước. Thậm chí, những thông tin xuyên tạc đó còn hướng lái cả một số “chuồng báo” bất lương trong nước khi những “chuồng báo” ấy chỉ biết ngồi trong phòng lạnh, xem mạng lấy tin chứ không bao giờ đến hiện trường.
Ngay cả sau khi Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội công bố kết luận điều tra, cái loa chống cộng, chống nhân dân Việt Nam của RFA Việt ngữ vẫn còn cố giật một cái tít đầy kích động “Người dân: Đồng Tâm lại chuẩn bị nổi sóng”. Theo RFA thì kẻ thổ ra câu nói ngu ngốc này chính là Lê Đình Danh, con trai ông Lê Đình Kình. Còn ả Hồng Thái Hoàng, mạo danh nhà báo và núp dưới cái nick DTV trên Youtube đã tung lên đoạn clip mà ả gọi là cuộc phỏng vấn cụ Lê Đình Kình.
Ở đây, cũng cần bàn một chút đến các luật sư và cả các võ sư nữa. Các luật sư Trần Vũ Hải và Lê Vô Luân đã lộ rõ bộ mặt xúi giục khi nhận giúp đỡ ông Lê Đình Kình và mấy “dân gian” đi kiện cáo đòi đất. Khi biết không thể “gặm” được thì trở mặt. Các ông đã nhận dược từ ông Lê Đình Kình và lâu la của ông ta bao nhiêu tiền để dàn xếp vụ kiện?, Các ông xăng xái ở Đồng Tâm là gì vậy?, Việc này, Cơ quan Điều tra cũng đang làm rõ. Nếu thu thập được chứng cứ cho thấy các ông đã cầm tiền của dân Đồng Tâm thì các ông chớ có trách tại sao pháp luật lại nghiêm khắc với các ông. Thiết nghĩ một vụ “Đỗ Đăng Dư” cũng là quá đủ để các ông phải nhọ mặt không biết đến bao giờ mới chùi hết được. Còn võ sư Lương Ngọc Huỳnh, người từng xưng xưng vỗ ngực tự nhận rằng đã xua mây, đuổi gió để lễ Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội cũng đưa ra nhiều thông tin sai lạc, cóp nhặt trên mạng để ra vẻ ta đây hiểu biết, lên giọng khuyên chính quyền phải làm điều này điều nọ. Cái trò mạo danh Viện sĩ viện nọ, viện kia ở Liên bang Nga của ông còn đang treo đó chứ đừng nói đến việc ông chưa một giờ, một phút nào đặt chân đến Đồng Tâm mà khua môi múa mép!
                                                                                                             Q.C. 504



Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...