Thứ Năm, 29 tháng 9, 2022

Thủ tướng Cuba lần đầu thăm chính thức Việt Nam

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Thủ tướng nước Cộng hòa Cuba Manuel Marrero Cruz sẽ thăm hữu nghị chính thức Việt Nam từ ngày 28-9 đến ngày 2-10-2022.

Theo Đại sứ Việt Nam tại Cuba Lê Thanh Tùng, mối quan hệ Việt Nam - Cuba là mối quan hệ đặc biệt, như nhà Lãnh tụ Cách mạng Cuba Fidel Castro từng đánh giá, là biểu tượng của thời đại trong quan hệ quốc tế. Do đó, chuyến thăm Việt Nam lần này của Thủ tướng Cuba Manuel Marrero Cruz có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đây là lần đầu tiên trong 49 năm qua, một Thủ tướng của Cuba đến thăm Việt Nam, bởi chức vụ Thủ tướng chỉ mới được phía Cuba khôi phục sau khi sửa đổi Hiến pháp năm 2019.

Chuyến thăm của Thủ tướng Cuba lần này nhằm mục đích tăng cường hơn nữa mối quan hệ đoàn kết anh em, hợp tác toàn diện và tin cậy lẫn nhau giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Cuba, đồng thời đây cũng là dịp để lãnh đạo cấp cao hai nước thống nhất phương hướng và các biện pháp cụ thể nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư song phương.

Bất chấp những khó khăn, mối quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước vẫn tiếp tục được quan tâm và phát triển, đặc biệt là lĩnh vực đầu tư. 

Hiện nay, Việt Nam là nước đầu tư lớn nhất ở khu vực châu Á-châu Đại Dương tại Cuba. Rất nhiều dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài và liên doanh giữa hai nước đã được thiết lập và đi vào hoạt động. Rất nhiều doanh nghiệp quan trọng của Việt Nam quan tâm đến thị trường Cuba và đã đến Cuba để tìm cơ hội hợp tác, đầu tư. Bên cạnh đó, hai nước cũng duy trì quan hệ hợp tác và ủng hộ lẫn nhau ở các diễn đàn quốc tế và đa phương.

Trong chuyến thăm Việt Nam lần này của Thủ tướng Cuba Manuel Marrero Cruz, lãnh đạo cấp cao hai nước sẽ thống nhất về phương hướng và biện pháp cụ thể để nâng cao hơn nữa cơ chế hợp tác Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam - Cuba, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp hai nước hợp tác với nhau đầu tư vào các lĩnh vực mà hai bên có thế mạnh và có thể bổ sung cho nhau, cũng như đáp ứng được những ưu tiên của Cuba trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, nhất là trong các lĩnh vực sản xuất và chế biến lương thực - thực phẩm, năng lượng tái tạo bao gồm điện mặt trời và điện gió, hạ tầng du lịch… Doanh nghiệp Việt Nam cũng rất quan tâm đến việc đầu tư vào các lĩnh vực này.

Ngoài ra trong chuyến thăm này, hai bên sẽ ký kế hoạch hành động chung để triển khai chương trình nghị sự song phương giai đoạn 2023-2025 bao trùm sự hợp tác giữa hai nước trên hơn 10 lĩnh vực, bao gồm kinh tế, thương mại, nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, giao thông, khoa học - công nghệ và nhiều lĩnh vực khác.

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

Thủ đoạn xuyên tạc, hướng lái vụ án tại “Tịnh thất Bồng Lai”

Xung quanh vụ án “Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” xảy ra tại “Tịnh thất Bồng Lai”, xuất hiện luồng thông tin tiêu cực, không đúng sự thật do các đối tượng xấu lan truyền hòng làm nhiễu dư luận.

Về vụ án này, ngày 21/7, HĐXX TAND huyện Đức Hòa (tỉnh Long An) đã tuyên án sơ thẩm đối với 6 bị cáo. Theo đó, bị cáo Lê Tùng Vân (90 tuổi) bị tuyên 5 năm tù; các bị cáo Lê Thanh Nhất Nguyên (31 tuổi), Lê Thanh Hoàn Nguyên (30 tuổi), Lê Thanh Trùng Dương (27 tuổi) cùng mức án 4 năm tù; bị cáo Lê Thanh Nhị Nguyên (24 tuổi) 3 năm 6 tháng tù và bị cáo Cao Thị Cúc (62 tuổi) 3 năm tù. Trong phần luận tội, đại diện viện kiểm sát cho rằng, hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo đã phạm tội có tổ chức nhưng tại phiên tòa không có ý thức khai báo, không có thái độ ăn năn để hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Ngay sau khi bản án sơ thẩm được đưa ra, các cá nhân, tổ chức chống đối, cơ hội chính trị đã nhanh chóng đăng đàn xuyên tạc bản chất vụ án, đánh võng thông tin, hướng lái tiêu cực. Những cái tên quen thuộc như Việt Tân, Đài Á châu Tự do – RFA, BBC news Tiếng Việt… liên tục tung ra những bài viết với các luận điệu sai trái. Các đối tượng viết bài quy kết rằng, việc kết án các bị cáo trong “Tịnh thất Bồng Lai” là không có căn cứ, quá trình xét xử thiếu công minh; chính quyền đang “đàn áp tự do tôn giáo” bằng một điều luật “mơ hồ”... Từ đó, số này kêu gọi các quốc gia, tổ chức quốc tế can thiệp, gây sức ép với Việt Nam để trả tự do cho những người bị kết án.

Vụ án “Tịnh thất Bồng Lai” liên quan các yếu tố mà các đối tượng xấu lợi dụng xuyên tạc, chính trị hoá. Thứ nhất, đây là vụ án nhận được sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Những hành vi vi phạm tại đây diễn ra từ lâu, có tổ chức. Tuy nhiên, cái tên “Tịnh thất Bồng Lai” chỉ thực sự “nóng” và nhận được sự chú ý của cộng đồng khi “hiện tượng mạng” Nguyễn Phương Hằng đăng đàn tố cáo. Sau những cuộc phát sóng trực tiếp (livestream) với hàng trăm ngàn người cùng theo dõi ở một thời điểm của Nguyễn Phương Hằng thì mọi nhất cử, nhất động của “Tịnh thất Bồng Lai” đều gây chú ý dư luận. Thứ hai, các bị cáo trong vụ án đã mượn danh cơ sở tôn giáo để trục lợi.

Với phương châm lợi dụng vấn đề nhân quyền, dân tộc, tôn giáo làm ngòi nổ để chống phá chế độ, các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã nhanh chóng hướng lái “chính trị hoá” vụ án “Tịnh thất Bồng Lai”. Về vấn đề này, Ban Tôn giáo Chính phủ cho biết, qua trao đổi với Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho thấy, “Tịnh Thất Bồng Lai” là cơ sở thờ tự không hợp pháp.

Theo báo cáo của UBND tỉnh Long An gửi Ban Tôn giáo Chính phủ, cơ sở trên có một số sai phạm như: các công trình xây dựng đều do cá nhân đứng tên và xây dựng trên đất ở nông thôn; bà Cao Thị Cúc là chủ cơ sở trên đã sử dụng đất trồng lúa vào mục đích khác không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; UBND xã cũng đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và buộc bà Cúc khôi phục tình trạng ban đầu của đất. Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, vụ việc này có dấu hiệu lợi dụng tôn giáo để trục lợi, mặc dù chủ cơ sở khẳng định chỉ thờ tượng Phật tại gia, không phải sinh hoạt tôn giáo.

Ngay từ những giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên, các đối tượng xấu đã ra sức “kêu oan”, “khóc mướn” cho các đối tượng trong vụ án và vu khống chính quyền làm oan người vô tội. Họ cố tình che đậy bản chất vi phạm của “Tịnh thất Bồng Lai”, biến các đối tượng trong vụ án thành “nạn nhân” của chế độ.

Ngày 5/11/2021, Báo CAND đã có bài viết “Sự thật về nơi gọi là “Tịnh Thất Bồng Lai”, “Thiền am bên bờ vũ trụ”” để vạch trần những góc khuất, vi phạm tại đây. Ngày 10/6/2022, Chuyên đề An ninh thế giới tiếp tục đăng tải bài viết “Những chiêu trò của các bị can trong vụ “Tịnh thất Bồng Lai - Thiền am bên bờ vũ trụ”, chỉ ra các chiêu trò của các đối tượng trong vụ án. Ngoài ra, nhiều tờ báo khác cũng đăng tải, cập nhật rõ thông tin về sai phạm tại “Tịnh thất Bồng Lai”.

Qua quá trình tổ tụng, các cơ quan chức năng có đầy đủ tài liệu, chứng cứ để khẳng định các bị cáo trong vụ án xảy ra tại “Tịnh thất Bồng Lai” đã có hành vi lợi dụng hoạt động tôn giáo và có hành vi chống đối, vu khống cơ quan chức năng khi thực thi nhiệm vụ. Những sai phạm xảy ra tại “Tịnh thất Bồng Lai” diễn ra có tổ chức, trong một thời gian dài, đã xúc phạm trực tiếp đến uy tín, danh dự của nhiều cá nhân, tổ chức như: Công an huyện Đức Hòa, ông Trần Ngọc Thảo (Thượng tọa Thích Nhật Từ, Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phó ban Phật giáo quốc tế và trụ trì chùa Giác Ngộ)...

Ngoài ra, qua các video, clip được chính các bị cáo chia sẻ, lan truyền trên kênh Youtube “5 chú Tiểu - Thiền Am bên bờ vũ trụ” và “Nhất Nguyên - Hoàn Nguyên Official” trước khi bị bắt, có thể thấy các đối tượng trong “Tịnh thất Bồng Lai” có hành vi xúc phạm đạo Phật, xuyên tạc giáo lý của Phật giáo, xúi giục mọi người không tôn trọng tôn giáo và pháp luật.

Việc xét xử sơ thẩm vụ án “Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” xảy ra tại “Tịnh thất Bồng Lai” đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Quá trình xét xử đảm bảo nguyên tắc tranh tụng công khai, dân chủ.  Nếu không đồng ý với bản án sơ thẩm, các bị cáo hoàn toàn có quyền kháng cáo đến toà án cấp trên trực tiếp. Vì vậy, chẳng có lý do gì để các “nhà dân chủ” vu khống rằng việc xét xử là thiếu công bằng, bản án được đưa ra là “bất công”, “phi lý”!

Đảng, Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Tuy nhiên, tự do tôn giáo phải đi liền với tôn trọng pháp luật. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Không ai được phép xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật, xúc phạm đến tổ chức, cá nhân. Bản chất của “Tịnh thất Bồng Lai” là lợi dụng tôn giáo để trục lợi. Việc thành lập và hoạt động của cơ sở này trái quy định của pháp luật, không đúng với quy tắc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Ngay trong phiên toà sơ thẩm, bản thân các bị cáo cũng cho biết hoạt động không theo tôn giáo nào. Thực tế, hoạt động của các bị cáo trong vụ án “Tịnh thất Bồng Lai” đã ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự của địa phương và gây chia rẽ tôn giáo. Việc xử lý các bị cáo, toà đã cân nhắc kỹ các yếu tố, đảm bảo có lý, có tình. Do đó, những luận điệu cho rằng chính quyền “đàn áp tôn giáo” đang được các đối tượng chống phá đưa ra là không thể chấp nhận.

Đằng sau những luận điệu xuyên tạc bản chất vụ án “Tịnh thất Bồng Lai” là mục đích làm nhiễu loạn tình hình, gây phân tâm dư luận, kích động sự mâu thuẫn trong xã hội hòng tạo ra sự mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đồng thời, bằng các luận điệu sai trái, các thế lực bên ngoài đang cố tình bẻ lái, dựng chuyện nhằm bôi nhọ hình ảnh, làm giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế và tìm kiếm những tác động từ bên ngoài hòng can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Những hoạt động này đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích xã hội.

Việt Nam luôn coi trọng phát triển quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống với Campuchia

 Ngày 6/9, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính tiếp ông Khuong Sreng, Đô trưởng, Chủ tịch Đảng bộ Đảng Nhân dân Campuchia Thủ đô Phnom Penh (Campuchia) đang thăm, làm việc tại Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại buổi tiếp, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao chuyến thăm của Ngài Đô trưởng là sự kiện quan trọng trong “Năm Hữu nghị Việt Nam - Campuchia, Campuchia - Việt Nam 2022” chào mừng 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước (24/6/1967); chuyến thăm đạt nhiều kết quả thiết thực, đóng góp tích cực vào việc tăng cường quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước nói chung, cũng như giữa Thủ đô Phnom Penh với Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.

Thủ tướng đánh giá cao những nỗ lực và các biện pháp hiệu quả của Chính phủ Campuchia và chính quyền Đô thành Phnôm Pênh trong kiểm soát dịch bệnh Covid-19 và mở cửa trở lại thành công, nhanh chóng phục hồi và tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội với nhiều kết quả khả quan; nhiệt liệt chúc mừng thành công của cuộc bầu cử Hội đồng xã/phường của Campuchia tháng 6 vừa qua với thắng lợi lớn của Đảng Nhân dân Campuchia (CPP); tin tưởng Campuchia sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa trong công cuộc xây dựng đất nước Campuchia hoà bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh.

Thủ tướng đánh giá thời gian qua, hợp tác giữa hai nước thời gian qua giữ được đà phát triển ổn định; Lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì tiếp xúc, trao đổi thường xuyên, đặc biệt là cuộc gặp cấp cao giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia, Thủ tướng Chính phủ Vương quốc Campuchia Hun Sen và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith; các cơ chế hợp tác song phương tiếp tục phát huy hiệu quả.

Hai nước phối hợp tổ chức thành công các hoạt động ý nghĩa trong “Năm Hữu nghị Việt Nam - Campuchia 2022”, nhất là Lễ kỷ niệm 45 năm “Hành trình hướng tới lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt” của Samdech Techo Thủ tướng Hun Sen do hai Thủ tướng đồng chủ trì tại khu vực biên giới hai nước ngày 20/6 và Lễ kỷ niệm 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Campuchia ngày 24/6 tại Hà Nội.

Dù bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 trong 2 năm qua, hợp tác kinh tế song phương đạt nhiều kết quả khả quan. Kim ngạch thương mại hai chiều năm 2021 đạt 9,54 tỷ USD (tăng 79,1% so với 2020); 7 tháng đầu năm 2022 đạt 7,08 tỷ USD (tăng 17,8 % so cùng kỳ 2021). Việt Nam có 188 dự án đầu tư còn hiệu lực ở Campuchia với tổng vốn đăng ký 2,8 tỷ USD, duy trì vị trí đứng đầu ASEAN và trong tốp 5 nước đầu tư trực tiếp lớn nhất tại Campuchia.

Trên tinh thần chân thành, tin cậy, trách nhiệm, Thủ tướng khẳng định Việt Nam luôn coi trọng và dành ưu tiên cao cho việc gìn giữ và không ngừng phát triển quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài với Campuchia ngày càng tin cậy, bền vững, thực chất và hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân hai nước. Chính phủ Việt Nam luôn ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc thúc đẩy hợp tác giữa các địa phương hai nước.

Thủ tướng đề nghị hai bên tiếp tục cùng nhau hợp tác thúc đẩy quan hệ hai nước trên các lĩnh vực; bảo vệ và xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, thúc đẩy kinh tế cửa khẩu; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hai nước đầu tư, hoạt động, hợp tác sản xuất kinh doanh; tăng cường hợp tác giáo dục và đào tạo, giao lưu văn hóa, du lịch…

Thủ tướng cho biết Việt Nam sẵn sàng phối hợp, hỗ trợ Campuchia tổ chức thành công Hội nghị cấp cao ASEAN 40-41 và các hội nghị liên quan tháng 11 tới và SEA Games lần thứ 32 năm 2023, qua đó nâng cao vị thế của Campuchia ở khu vực và trên trường quốc tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các nước, giữ vững và tăng cường đoàn kết, thống nhất trong ASEAN, góp phần vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Thủ tướng cảm ơn và đề nghị chính quyền Đô thành Phnom Penh tiếp tục quan tâm hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam sinh sống, học tập, làm việc tốt nhất có thể; phối hợp với phía Việt Nam giải quyết tốt các vụ việc, vấn đề phát sinh liên quan tới công dân hai nước ở biên giới, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân. Thủ tướng cũng đề nghị chính quyền Phnom Penh tiếp tục quan tâm ủng hộ, tạo điều kiện cho dự án Bệnh viện Chợ Rẫy - Phnom Penh.

Đô trưởng Phnom Penh khẳng định quan hệ song phương Việt Nam – Campuchia đóng vai trò quan trọng với sự phát triển của cả hai nước; nhấn mạnh hai nước, hai dân tộc, nhân dân hai nước đã luôn chia sẻ trong những thời điểm khó khăn nhất, Việt Nam đã luôn tích cực hỗ trợ Campuchia trong mọi giai đoạn, đặc biệt Campuchia không bao giờ quên công lao to lớn của Việt Nam trong việc giúp đỡ Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng cho dù Việt Nam cũng có rất nhiều khó khăn ở thời điểm đó, nếu không có sự giúp đỡ của Việt Nam thì không thể có nước Campuchia như ngày nay.

Hai bên nhất trí tiếp tục giáo dục thế hệ trẻ về quan hệ giữa hai nước, góp phần nâng cao ý thức của người dân, nhất là thế hệ trẻ hai nước đối với việc gìn giữ và vun đắp mối quan hệ láng giềng hữu nghị tốt đẹp; khẳng định mong muốn không ngừng củng cố và tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực, cùng nhau thắt chặt, làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ đoàn kết hữu nghị truyền thống quý báu giữa hai dân tộc.

Nguồn: Báo ND

Vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh vì những giá trị trường tồn để lại cho thế giới

“Di sản lớn nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại chính là việc Người đã có tầm nhìn đúng đắn về giáo dục đối với toàn dân”, Tổng giám đốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) Audrey Azoulay đã khẳng định như vậy tại Lễ kỷ niệm 35 năm UNESCO ra Nghị quyết tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1987-2022) diễn ra chiều 6-9, tại Hà Nội.

Dự lễ kỷ niệm có: Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh; Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân; đại diện lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương cùng các điểm cầu từ cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài. Về phía khách quốc tế có sự tham dự của Tổng giám đốc UNESCO Audrey Azoulay, hơn 30 đại sứ, trưởng cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh nhấn mạnh, năm 1987, Đại hội đồng UNESCO đã ra Nghị quyết số 24C/18.65 về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghị quyết khẳng định, Người “là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội” và “là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”. Việc UNESCO vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là nguồn cổ vũ, động viên tinh thần lớn lao, tiếp thêm sức mạnh để cả dân tộc Việt Nam quyết tâm, chung sức, đồng lòng khắc phục khó khăn, vượt qua mọi thử thách...

Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh khẳng định, đối với dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, nhà ngoại giao lỗi lạc, là khởi nguồn cho niềm tin tất thắng của cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và phồn vinh của nhân dân. Đối với nhân dân thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người bạn thân thiết, mẫu mực, thủy chung; là biểu tượng của khát vọng hòa bình, đấu tranh chống áp bức, bất công; là sứ giả của hòa bình, đoàn kết, hữu nghị, hợp tác và phát triển giữa các dân tộc trên thế giới. Người đã truyền cảm hứng, cổ vũ cho các dân tộc bị áp bức, khát khao tự do và đứng lên đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Người còn là "Nhà văn hóa kiệt xuất", là hiện thân sinh động về việc coi trọng, gìn giữ, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tôn trọng sự khác biệt, đa dạng và thúc đẩy sự hiểu biết, đoàn kết.

Tại lễ kỷ niệm, bà Audrey Azoulay, Tổng giám đốc UNESCO cho biết, vào năm 1987, UNESCO đã xét quyết định vinh danh hai lãnh tụ là Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh tụ Jawaharlal Nehru với những giá trị trường tồn của di sản hai danh nhân này để lại cho thế giới. Tổng giám đốc UNESCO khẳng định, di sản lớn nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại chính là việc Người đã có tầm nhìn đúng đắn về giáo dục đối với toàn dân. Theo bà, hiện nay, việc kế thừa và phát triển một cách hiệu quả nhất di sản tốt đẹp này của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là sự hợp tác hiệu quả giữa UNESCO và Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị về bản sắc văn hóa dân tộc. Bà Audrey Azoulay khẳng định cam kết bằng những thành tựu hợp tác trước đó, UNESCO sẽ tích cực hơn nữa trong hợp tác với Việt Nam thời gian tới.


Phó thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh trao sách “Tình cảm của nhân dân thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh" tặng Tổng giám đốc UNESCO Audrey Azoulay.  Ảnh: PHƯƠNG THU 

Tại Hội thảo quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh đối với nhân loại” diễn ra trước đó cùng ngày, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên mang theo một kỷ vật đặc biệt. Đó là tấm thẻ tham dự Đại hội đồng UNESCO tháng 9-1987 của ông với tư cách là Trưởng đoàn Việt Nam. Ông Nguyễn Dy Niên chia sẻ, khi nhận nhiệm vụ sang Paris dự Đại hội đồng UNESCO, ông rất lo lắng. Ông kể: “Vừa đặt chân tới Paris, đoàn Việt Nam đã tiếp xúc ngay với lực lượng tiến bộ của Pháp, đặc biệt là Ban Thư ký UNESCO, vạch ra kế hoạch vận động sao cho thật tốt... Một lần, Tổng giám đốc UNESCO-một người Senegal rất có cảm tình với Việt Nam-nói với tôi: “Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là lãnh tụ của nhân dân Việt Nam mà còn là lãnh tụ của nhân dân các nước đang đấu tranh vì hòa bình, tự do. Các nước Á, Phi, Mỹ Latin rất ủng hộ Việt Nam. Những nước này chiếm đại đa số phiếu ở UNESCO. Vì vậy, các ông cần gặp và tiếp xúc sớm với họ”. Khi nhận được lời động viên và cổ vũ ấy, tôi rất phấn chấn, bàn với anh chị em trong đoàn chia nhau đi vận động các nước. Và quả đúng như lời vị Tổng giám đốc UNESCO nói, các bạn rất quý mến Việt Nam. Một đại biểu châu Phi nói với tôi rằng: “Chúng tôi rất cảm ơn Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh bởi nếu các bạn không chiến thắng thì chúng tôi không được ngồi cùng nhau ở diễn đàn này”.

Cũng theo nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên, Nghị quyết tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thông qua mà không có phiếu trắng, không có phiếu chống, “đúng như lời tiên đoán từ Báo Đoàn kết của Italy cách thời điểm bỏ phiếu 18 năm rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người duy nhất trên thế giới không có ai chống đối”.

Vì lẽ đó, nhiều năm qua, với tình cảm yêu mến, kính trọng, bạn bè quốc tế đã tổ chức nhiều hoạt động tưởng niệm, nghiên cứu, tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp và tôn vinh những phẩm chất cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên khắp năm châu đều có những trường học, con đường, công viên, bảo tàng, tượng đài mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, những tác phẩm văn học, thơ ca, thước phim tư liệu... về Người đã, đang được chia sẻ, lan tỏa rộng rãi. Các hoạt động trên đã góp phần tăng cường sự kết nối, hiểu biết, đoàn kết, hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam với các nước trên thế giới.

Nguồn: Báo QĐND

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

Kiên định con đường đi lên CNXH

 Lịch sử thế giới từ sau Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đến nay đã có những thay đổi và biến động hết sức to lớn, sâu sắc. Chủ nghĩa xã hội từ lý luận đã trở thành hiện thực sinh động; từ một nước trở thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, là chỗ dựa và là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của các phong trào cách mạng khắp hành tinh; rồi từ hệ thống thế giới còn lại những nước tiếp tục xây dựng, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa với diện mạo mới, sức sống mới. Điều đó phản ánh những bước thăng trầm, quanh co, khúc khuỷu nhưng tất thắng của chủ nghĩa xã hội với tư cách là một học thuyết khoa học và cách mạng, một hình thái kinh tế - xã hội và với tư cách một chế độ xã hội mới đầy ưu việt mà nó vốn có, là sự kết tinh tất cả những thành tựu tinh hoa mà các hình thái kinh tế - xã hội trước đã tạo ra, trên con đường đấu tranh khẳng định sự tồn tại hợp quy luật của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy nhân loại. Đi lên chủ nghĩa xã hội là xu thế vận động khách quan của lịch sử, vì thế, sẽ chẳng có thế lực nào, dù có dã tâm thâm độc với đầy mưu ma chước quỷ và sức mạnh quấy phá đến đâu, cũng không thể “nắn” lại xu thế ấy hoặc cố tình lấy gậy chọc bánh xe, nuôi hy vọng chặn bước, ngăn đường, cản trở lịch sử.

Thực tế tồn tại, phát triển và những thành tựu to lớn, công lao vĩ đại của chủ nghĩa xã hội hiện thực đối với loài người tiến bộ trên thế giới trong gần một thế kỷ qua đã chứng tỏ lý tưởng xã hội chủ nghĩa là lý tưởng phù hợp với quy luật vận động, phát triển khách quan của lịch sử; chủ nghĩa xã hội là giá trị nhân văn của nhân loại. Mọi người đều rõ, chính Liên Xô, đất nước - quê hương của Cách mạng tháng Mười Nga, đã cùng với các lực lượng yêu chuộng hòa bình, tiến bộ, là lực lượng quyết định tiêu diệt chủ nghĩa phát xít; chính Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa là trụ cột của hòa bình và cách mạng, làm nguội đi những cái đầu hiếu chiến của các thế lực đế quốc, phát xít, bảo đảm nền hòa bình của thế giới trong nửa cuối thế kỷ XX. Không có Cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa xã hội hiện thực thì giai cấp công nhân và nhân dân lao động cũng như các dân tộc bị áp bức trên thế giới vẫn chìm đắm trong sự áp bức, nô dịch của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Và trong gần 100 năm qua, nếu như chủ nghĩa tư bản có sự tiến bộ nào đó về mặt xã hội, thì đó cũng là kết quả của quá trình đấu tranh bền bỉ, liên tục của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước tư bản và sự ảnh hưởng to lớn bởi những giá trị nhân văn, vì con người của chủ nghĩa xã hội hiện thực thế giới. Tính chất ưu việt, bản chất hòa bình, nhân đạo, nhân văn và cống hiến của chủ nghĩa xã hội đã được lịch sử kiểm nghiệm, khẳng định, không thể bác bỏ, dù thời cuộc có đổi thay, dù lịch sử đang diễn ra những bước quanh co, phức tạp, song tính chất của thời đại và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan. Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, chủ nghĩa xã hội đến sớm hay muộn, bằng hình thức này hay hình thức khác, thành công sớm ở nơi này hay nơi khác mà thôi.

Đến nay, chủ nghĩa xã hội hiện thực đang ở thập kỷ thứ mười của sự phát triển với những bước thăng trầm gồm cả những thành tựu, công lao to lớn đối với nhân loại và cả những tổn thất nặng nề, để rồi một số nước còn lại tiếp tục con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo cho chủ nghĩa xã hội hiện thực một diện mạo mới năng động, sáng tạo và phong phú hơn. Dù còn nhiều khó khăn, thách thức, phức tạp, nhưng sự phát triển của các nước xã hội chủ nghĩa còn lại đã chứng minh một cách rõ ràng chủ nghĩa xã hội là hiện thực, là thực tế, đã và đang đổi mới, được xây dựng, phát triển trên cơ sở những bài học kinh nghiệm rút ra trong quá khứ; từ sự nhận thức lại và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện mới, dựa trên cơ sở “hiện thực khách quan” mới, dựa chắc vào đặc điểm, đặc thù của từng quốc gia - dân tộc. Điều đó cho thấy sức sống mới của chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh lịch sử mới là vô địch./.

Thanh niên quân đội trước sự chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng

Với đặc điểm nổi trội là tốc độ kết nối nhanh, phạm vi chia sẻ rộng, hiệu quả tác động lớn, internet, mạng xã hội trở thành nhu cầu không thể thiếu đối với đời sống nhân loại, tác động một cách trực tiếp đến nhận thức, hành vi của mỗi con người, cũng như sự phát triển của toàn xã hội. Song, intenet, mạng xã hội cũng có những mặt trái tác động tiêu cực kìm hãm sự phát triển của xã hội, nhất là chi phối đến lập trường tư tưởng và khả năng xử lý thông tin của người sử dụng còn có sự bất cập, hạn chế.

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, lực lượng chống cộng cực đoan ở nước ngoài đã triệt để lợi dụng intenet và các trang mạng xã hội để tán phát các tin, bài, videoclip có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội với sự gia tăng cả về cấp độ, mật độ, tần suất và lưu lượng tin, bài; bằng những chiêu thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm hiểm nhằm thu hút sự quan tâm, theo dõi của cộng đồng mạng. Những thủ đoạn chúng thường dùng trên mạng xã hội, như: tung tin thất thiệt, lừa bịp, mị dân, thật giả lẫn lộn,… làm cho một bộ phận cư dân mạng mất phương hướng, lầm tưởng đó là sự thật, dẫn đến hoài nghi, thiếu niềm tin với Đảng, Nhà nước và chế độ ta, nghe theo lời kích động để tụ tập đông người, gây rối, chống người thi hành công vụ, hủy hoại tài sản của nhà nước và công dân.

Trước thực trạng đó, cần tạo sức đề kháng, “hệ miễn dịch” trong mỗi quân nhân, thanh niên quân đội trước những âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch, góp phần tạo sự thống nhất cao về chính trị, tư tưởng trong thế hệ trẻ nói chung, thanh niên Quân đội nói riêng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Bởi, trong Quân đội nhân dân Việt Nam, lực lượng thanh niên rất đông đảo, lực lượng chủ yếu, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Đây cũng là lực lượng rất năng động, giàu hoài bão, dễ tiếp thu các luồng thông tin, nhất là thông tin trên intenet và những tư tưởng mới lạ. Tuy nhiên, khả năng phân tích, nhận định, chọn lọc thông tin của đối tượng này còn hạn chế, dễ bị dao động, lôi kéo, kích động dẫn đến những quyết định không chính xác, thậm chí sai lầm. Vì thế, cần định hướng cho thanh niên Quân đội khi tham gia mạng xã hội là vấn đề cấp thiết hiện nay./.

Ngăn chặn luận điệu xuyên tạc tư tưởng hồ chí minh Của các thế lực thù địch hiện nay

 Xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh là một trong những luận điệu mà các thế lực thù địch đang đẩy mạnh, nhằm phá hoại và làm thay đổi nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Do đó, nhận diện, đấu tranh kiên quyết với những luận điệu phản động ấy là vấn đề cấp thiết hiện nay.

Thời gian qua, các thế lực thù địch liên tục đưa ra những lý lẽ vô căn cứ, như: “Hồ Chí Minh du nhập những tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam”, “Hồ Chí Minh đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin”,... cho rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh là lý thuyết, giáo điều”. Những luận điệu đó là sự xuyên tạc trắng trợn; bởi chúng đã cố tình bỏ qua phương pháp luận khoa học trong xem xét, đánh giá tư tưởng của một con người, hệ tư tưởng của một giai cấp. Chúng ta đều biết, một tư tưởng, hệ tư tưởng được đánh giá là cách mạng, khoa học khi và chỉ khi xuất phát và phản ánh đúng thực tiễn, soi đường cho hoạt động thực tiễn, thúc đẩy thực tiễn phát triển. Tư tưởng Hồ Chí Minh là như vậy.

Trước hết, trên phương diện lý luận, tư tưởng của Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển trên cơ sở kế thừa, chọn lọc những tư tưởng, giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, phù hợp với thực tiễn hoàn cảnh lịch sử nước ta cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Đồng thời, tiếp thu và vận dụng sáng tạo tinh hoa văn hóa nhân loại, cả phương Đông và phương Tây, mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chúng ta có thể khẳng định rằng, cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mà hạt nhân lý luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Với thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và một trí tuệ sắc sảo, khả năng tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, Hồ Chí Minh đã tiếp thu, chuyển hóa được những nhân tố tích cực, tiến bộ của truyền thống dân tộc và của nhân loại để hình thành nên hệ thống tư tưởng của mình. Đó là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, tiêu biểu là tư tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, v.v. Tư tưởng ấy không chỉ giải quyết vấn đề về tư duy lý luận mà cao hơn là tư duy hành động, giải quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam.

Nhìn lại lịch sử, từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phong trào đấu tranh đánh đuổi ngoại xâm của nhân dân Việt Nam đã liên tục nổ ra, với nhiều hệ tư tưởng khác nhau, như: giai cấp phong kiến (phong trào Cần Vương), dân chủ tiểu tư sản (Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh), giai cấp nông dân (Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Trung Trực),... nhưng đều bị thất bại. Chỉ đến khi tư tưởng, đường lối cứu nước của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh được xác lập trên lập trường giai cấp công nhân và khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”1 với nội dung cốt lõi của tư tưởng đó là “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước và mở ra trang mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, cách mạng Việt Nam đã liên tục giành những thắng lợi to lớn, từ đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân, đế quốc, đến thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước, để nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc như ngày hôm nay. Vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đâu phải là sự “vay mượn”, “du nhập những tư tưởng ngoại lai”, hoặc là “Người đi trên cỗ xe Nho giáo”; và rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh là lý thuyết, giáo điều”. Thực chất những luận điệu đó chỉ là sự bịa đặt, nhằm phủ nhận, xóa nhòa bản chất cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Điểm nữa là, hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam luôn thống nhất, hòa quyện với nhau trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng. Đường lối của Đảng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng Hồ Chí Minh cũng luôn soi sáng đường lối, quan điểm của Đảng ta. Điều đó được thể hiện rất rõ qua việc chuẩn bị thành lập và xây dựng Cương lĩnh hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hồ Chí Minh đã trực tiếp soạn thảo “Chánh cương vắn tắt của Đảng”, “Sách lược vắn tắt của Đảng”, “Chương trình tóm tắt của Đảng”, “Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam”, v.v. Những văn kiện đó đã trở thành Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta. Trong đó, “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”2 và độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là những luận điểm cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh và là mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền - Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng; coi đó vấn đề có tính quy luật, quyết định sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Hồ Chí Minh thường xuyên yêu cầu phải xây dựng Đảng ta thực sự là “con nòi” của dân tộc, là đạo đức, là văn minh; phải thường xuyên đổi mới, xây dựng Đảng vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều đó vừa mang tính thực tiễn, vừa có dự báo tương lai.

Không chỉ nêu những quan điểm về xây dựng Đảng cách mệnh chân chính, mà hệ thống quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về mục tiêu, con đường, phương pháp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới ở nước ta đã là cơ sở cho đường lối, quan điểm của Đảng. Trong đó, “giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản” là quan điểm có tính quyết định đến vận mệnh dân tộc, là con đường duy nhất đúng của dân tộc ta và được Hồ Chí Minh vận dụng một cách khoa học trên cơ sở lý luận, thực tiễn cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Về tập hợp lực lượng cách mạng, Hồ Chí Minh khẳng định “Công, nông là gốc của cách mạng, còn học trò, nhà buôn điền chủ nhỏ là bầu bạn của cách mạng”; và để có lực lượng cách mạng, phải đoàn kết dân tộc kết hợp với đoàn kết quốc tế. Hồ Chí Minh xác định rõ, chủ nghĩa đế quốc, thực dân và bọn phong kiến tay sai ôm chân đế quốc là kẻ thù của dân tộc, kẻ thù của nhân dân. Điều đó hoàn toàn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ. Trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, Hồ Chí Minh đã nêu phương hướng, quyết tâm chiến lược của cách mạng Việt Nam là “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” và thực tiễn đã diễn ra đúng như vậy.

Mặt khác, thực tiễn đã và đang chứng minh hùng hồn “tư tưởng Hồ Chí Minh không bao giờ là tư biện, lý thuyết, giáo điều”. Hay nói theo cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự đúc kết từ thực tiễn và được thực tiễn cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm hoàn toàn đúng đắn và phù hợp. Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh được thừa hưởng một nền giáo dục “yêu nước, thương dân” từ gia đình, quê hương, đất nước. Hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân gần 30 năm, đi đến khoảng 40 nước trên khắp các châu lục, Hồ Chí Minh luôn “tự làm giàu tri thức” của mình bằng phương pháp tự học và đúc kết thực tiễn cách mạng thế giới để “về giúp đồng bào mình” thực hiện sự nghiệp giải phóng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh, toàn dân, toàn quân ta đã tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Xuất phát từ giá trị, tầm ảnh hưởng của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, Bộ Chính trị (khóa XII) ban hành Chỉ thị 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Điều đó chứng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh không thể là “lý thuyết suông” mà là lý thuyết được bắt nguồn từ thực tiễn, được thực tiễn kiểm nghiệm và trở lại phục vụ thực tiễn.

Từ lý luận, thực tiễn trên, một lần nữa chúng ta khẳng định luận điệu cho rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh là lý thuyết, giáo điều” chỉ là sự xuyên tạc trắng trợn của các thế lực thù địch, phản động, hòng phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh, với ý đồ đen tối xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân ta và bạn bè quốc tế; làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thiếu tin tưởng vào tư tưởng của Hồ Chí Minh. Vì thế, hơn lúc nào hết, chúng ta phải cảnh giác, kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu rác rưởi, phản động, phản khoa học này, góp phần bảo vệ giá trị trường tồn và tính khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay. Đây là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của mọi tổ chức, mọi lực lượng.

Thực hiện điều đó, vấn đề nhất quán, xuyên suốt của chúng ta là phải tiếp tục khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm sâu sắc, toàn diện, khoa học, cách mạng, là một bộ phận không tách rời hệ tư tưởng của giai cấp công nhân - chủ nghĩa Mác – Lê-nin; “là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và của dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”3. Do đó, phải tăng cường nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục bản chất cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh, tích cực làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh thấm sâu, trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần của nhân dân và toàn xã hội. Hành động thiết thực nhất là mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng tiếp tục đẩy mạnh thực hiện việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; việc làm đó phải thường xuyên, trở thành một nhu cầu văn hóa sâu sắc, bền bỉ và rộng khắp trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Đó cũng là cách thiết thực nhất, hiệu quả nhất để đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh và nền tảng tư tưởng của Đảng ta.   

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...