Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2022

Những chiêu trò xuyên tạc lịch sử trong dịp Quốc khánh 2/9 của các thế lực thù địch

 Xuyên tạc, bôi lem về giá trị, ý nghĩa lịch sử Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 của dân tộc Việt Nam vốn là chiêu bài “truyền thống” của các thế lực xấu, cứ đến dịp lại khui lên kiểu “bình cũ, rượu mới”.

Song, có những luận điệu ngay từ cách đặt vấn đề đến lý giải cho thấy sự ngô nghê của người viết, dường như họ cố tình không nhìn thấy gì cả, không nghe thấy gì cả, cứ phết lên đó gam màu càng đen, càng xám là được, bất chấp sự thể ra làm sao.

Chẳng hạn, bài viết trên trang mạng của tổ chức Việt Tân đặt câu hỏi khôi hài “Ngày 2/9 nên gọi là ngày gì?”. Bằng việc đưa ra những hiện tượng tiêu cực trong xã hội rồi người viết đả kích rằng “dân chỉ là bầy cừu làm thuê mà không hề có một tổ chức nào bảo vệ”; “đừng nhìn dân như một bầy cá thể yếu ớt”! Trong một bài viết khác về suy ngẫm ngày 2/9, cũng bằng việc phân tích kiểu đánh tráo khái niệm, bản chất, dẫn dắt với những lý lẽ sai lệch, người viết đả kích “vậy sau khi giành được chính quyền, chính quyền đó có về tay nhân dân không?”! Thậm chí, bài viết này còn xuyên tạc rằng: “Đến ngày hôm nay, nhân dân Việt Nam chẳng có một quyền gì”! Từ đó, đánh lái thành “cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân, hơn 70 năm qua vẫn chưa xong”…

Đọc những câu chữ trên cho thấy rõ tư duy của những người cố tình viết lấy được, nói lấy được, kiểu như đã nhận đặt bài của tổ chức, cá nhân nào đó, cầm “xèng” rồi thì phải “trả  bài” sao cho càng lộng ngôn, càng xuyên tạc, miệt thị cay độc càng có tiền.

Cổ suý tư tưởng chống phá nói trên, một số mạng hải ngoại phân tích kiểu râu ông cắm cằm bà, tiếp cận các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực hiện nay trong bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước rồi phán rằng, hiện thực đất nước là “gam màu xám xịt”. Họ cho rằng, 77 năm sau Quốc khánh 2/9/1945, Việt Nam vẫn trì trệ, lạc hậu vì “sự bảo thủ của Đảng”, coi Việt Nam “cũng chẳng có vị thế gì” trên bản đồ quốc tế, thậm chí còn cho rằng, ngày nay các nước không muốn kết bạn với Việt Nam vì “sợ cộng sản”! Rõ ràng, với cái cách xảo biện như thế, một mặt cho thấy động cơ chống phá đến cùng của một số cá nhân, tổ chức, song cũng phơi bày sự thật là họ cũng đã “hết cách”, xoay đi xoay lại chỉ bài vở cũ, kiểu như “cứ rượu xong là chửi”!

Ở đây, cần thấy rằng:  

Thứ nhất, về ý nghĩa, bản chất của Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9, bất cứ nhìn từ góc độ nào cũng phải tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử và điều này đã được sử sách nước ta cũng như thế giới ghi nhận. Với Cách mạng Tháng Tám, chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân của một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ. Từ đây, đất nước, xã hội và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Thứ hai, từ thành quả của Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam đã phấn đấu, đạt được những thành tựu hết sức to lớn. Hiện thực đó được thể hiện bằng bức tranh sống động trong giai đoạn đổi mới hiện nay, điều mặc nhiên ai cũng thấy rõ. Các quyền con người được khẳng định trong Hiến pháp và cụ thể hoá từ thực tiễn và chính người dân ghi nhận, hưởng thụ, không thể bôi lem, biến tấu kiểu “đến ngày hôm nay, nhân dân Việt Nam chẳng có một quyền gì”!

Thứ ba, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế và quốc tế đánh giá, coi Việt Nam như thế nào, hãy để sự thật khách quan lên tiếng, không thể tẩy trắng kiểu “không có vị trí gì”!

Sự thực là, cũng trong những ngày đầu tháng 9 này, phái đoàn Việt Nam đang tham dự Hội nghị thượng đỉnh Cảnh sát Liên hợp quốc lần thứ ba (UNCOPS), diễn ra tại trụ sở Liên hợp quốc tại New York từ 30/8-3/9, gửi đi thông điệp Việt Nam sẵn sàng tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế. Tại khóa họp 50 Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc diễn ra tháng 6 vừa qua, Việt Nam cùng Bangladesh và Philippines đã đồng tổ chức phiên thảo luận chuyên đề về đảm bảo quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đồng thời giới thiệu dự thảo Nghị quyết năm 2022 về biến đổi khí hậu và quyền con người, tập trung vào quyền lương thực và biến đổi khí hậu. Đó chỉ là hai trong rất nhiều hoạt động quốc tế mà Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục tham gia, thể hiện rõ nét Việt Nam là một đối tác tích cực, có trách nhiệm với các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế.

Cũng trong dịp Quốc khánh này, các nước đã chúc mừng, đánh giá cao thành tựu, vị thế của Việt Nam. Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres khẳng định, Việt Nam là nhân tố quan trọng đóng góp vào hòa bình, ổn định trong khu vực. Theo người đứng đầu Liên hợp quốc, “Việt Nam cho thấy những cam kết mạnh mẽ của một quốc gia luôn tích cực nỗ lực xây dựng lòng tin và đối thoại, làm cầu nối tìm kiếm giải pháp hòa bình cho các cuộc xung đột trên thế giới”. Đánh giá của Tổng Thư ký Liên hợp quốc phản ánh sự tin tưởng, kỳ vọng vào những đóng góp trách nhiệm của Việt Nam đối với hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế, đồng thời cũng cho thấy vai trò và vị thế quốc tế ngày càng cao của Việt Nam.

Việc Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm kỳ ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2020-2021 là một trong những minh chứng điển hình. Việt Nam được đánh giá đã thể hiện vai trò chủ động, cân bằng, trách nhiệm khi đưa ra những đề xuất, đóng góp thiết thực vào hoạt động của Hội đồng Bảo an, chung tay giải quyết những thách thức toàn cầu. Nổi bật là việc khi đại dịch COVID-19 bùng phát và lây lan trên toàn cầu, Việt Nam chủ trì đề xuất, thương lượng và thúc đẩy để Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết thành lập Ngày Quốc tế phòng, chống dịch bệnh vào 27/12 hằng năm; cùng với Đức khởi xướng và trở thành nước sáng lập Nhóm Bạn bè của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, ra mắt cuối tháng 6/2021. Tại buổi lễ kỷ niệm 1 năm ngày thành lập Nhóm diễn ra ở New York tháng 6 vừa qua, đại diện nhiều nước đã hoan nghênh sáng kiến của Việt Nam cũng như các nước đồng sáng lập nhóm, góp phần đề ra cam kết của đông đảo thành viên Liên hợp quốc, các nước thành viên UNCLOS đối với Công ước vốn lâu nay được coi là “Hiến pháp của đại dương”.

Từ tháng 6/2014 đến tháng 8/2022, có 512 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp Việt Nam được cử đi làm nhiệm vụ ở phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei... Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc phụ trách các hoạt động hòa bình Jean-Pierre Lacroix đã cảm ơn Việt Nam về sự ủng hộ mạnh mẽ cũng như những đóng góp tích cực đối với các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Ông Lacroix đánh giá cao tính chuyên nghiệp, sự tận tụy, nỗ lực, hy sinh của các binh sĩ Việt Nam khi phải thực hiện nhiệm vụ trong những môi trường khó khăn; đặc biệt bệnh viện dã chiến cấp 2 của Việt Nam tại Nam Sudan đã đóng vai trò quan trọng trong thành công chung của phái bộ Liên hợp quốc tại quốc gia châu Phi này.

Chính sự sẵn sàng và tinh thần trách nhiệm khi tham gia đóng góp vào công việc chung của cộng đồng quốc tế đã giúp Việt Nam tạo dựng được lòng tin, liên tiếp được bầu vào nhiều tổ chức đa phương quan trọng như Hội đồng Chấp hành của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), Hội đồng Khai thác bưu chính của Liên minh Bưu chính thế giới (UPU), Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC)... Đây cũng là động lực để Việt Nam ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, đại diện cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Điều này cũng thể hiện sự tự tin của Việt Nam trong việc gánh vác các trọng trách của quốc tế.

Đánh giá về những thành tựu đối ngoại của Việt Nam, Đại sứ Philippines Kridelka, Trưởng phái đoàn thường trực Bỉ tại Liên hợp quốc khẳng định: “Việt Nam có tiếng nói mạnh mẽ và có được lòng tin của thế giới, nhất là ở châu Á, châu Phi và cả châu Âu cũng như Mỹ”. Trong các phát biểu khi tham dự lễ kỷ niệm 77 năm Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, nhiều đại diện chính phủ, tổ chức quốc tế đã đề cao vị thế và coi trọng hợp tác với Việt Nam.

Sự tham gia chủ động, tích cực và có trách nhiệm của Việt Nam trên trường quốc tế đã cho thấy một Việt Nam tự tin, sẵn sàng gánh vác nhiều trọng trách quốc tế vì hòa bình và phát triển bền vững. Đó là hiện thực khách quan, do quốc tế ghi nhận, đánh giá chứ không phải tự mình nói về mình. Vậy mà vẫn có những thành phần viết, nói theo kiểu không nghe, không biết, không thấy thì đủ hiểu động cơ của họ như thế nào.

Việt Nam-Lào vững bước đồng hành trên con đường phát triển

Nhìn lại lịch sử mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào qua hơn 9 thập niên, chúng ta tự hào về mối quan hệ mẫu mực, vô cùng trong sáng, hết mực thủy chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước.

Là hai nước láng giềng gần gũi, có đường biên giới chung dài hơn 2.300km, cùng uống chung dòng nước sông Mekong, cùng tựa lưng vào dãy núi Trường Sơn hùng vĩ, quan hệ gắn kết anh em giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào đã được hình thành và hun đúc trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, trở thành mối quan hệ đặc biệt, thủy chung son sắt, trong sáng, hiếm có trong quan hệ quốc tế.

60 năm trước, ngày 5/9/1962, Việt Nam và Lào đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra một chương mới trong quan hệ hai nước.

Đây không chỉ là sự kiện lịch sử quan trọng, là bước ngoặt mới trong thắng lợi trên mặt trận ngoại giao của lực lượng cách mạng hai Đảng, hai nước, mà còn khẳng định sự gắn bó vận mệnh của hai dân tộc trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Trong hơn một thập niên sau đó, quân đội và nhân dân hai nước tiếp tục dành cho nhau sự hỗ trợ và sẻ chia to lớn cả về tinh thần cũng như nhân lực và vật lực, trên tinh thần “Hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”.

Để hỗ trợ cách mạng Lào, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã cử hàng vạn cán bộ, chiến sĩ sang phối hợp, giúp đỡ và sát cánh chiến đấu cùng quân đội và nhân dân Lào.

Để giúp cho công cuộc thống nhất đất nước của Việt Nam, Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào cũng đã hết lòng hết sức hỗ trợ Việt Nam xây dựng “Đường Hồ Chí Minh huyền thoại”.

Sự giúp đỡ lẫn nhau vô cùng to lớn và cao đẹp đó đã trở thành sức mạnh to lớn, đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của mỗi nước đi đến thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975.

Sau khi hòa bình lập lại, quan hệ giữa Việt Nam và Lào bước sang trang sử mới, từ liên minh chiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lập, chủ quyền là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

Xuất phát từ nhu cầu hợp tác sâu rộng và cấp thiết giữa hai nước trong tình hình mới, ngày 18/7/1977, Việt Nam và Lào đã ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, tạo cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc để hai nước không ngừng mở rộng quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện.

Đây cũng là tiền đề để hai nước ký kết hàng loạt văn kiện và thỏa thuận hợp tác trên tất cả các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, thương mại, đầu tư, giáo dục-đào tạo…

Trong thời kỳ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hai Đảng, hai nước Việt Nam-Lào anh em tiếp tục kề vai, sát cánh trong công cuộc Đổi mới, cùng đạt được những thành tựu vô cùng to lớn trong phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định chính trị, an ninh, an toàn và trật tự xã hội, mang lại cuộc sống ngày càng ấm no và bình yên cho nhân dân mỗi nước.

Nhìn lại lịch sử mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào qua hơn 9 thập niên kể từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, đặc biệt là sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1962 và ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác năm 1977 đến nay, chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về mối quan hệ mẫu mực, vô cùng trong sáng, hết mực thủy chung giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước.

Tự hào khi chứng kiến bất chấp tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động, thuận lợi và thách thức đan xen, tác động mạnh đến hai nước, nhưng quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Kaysone Phomvihane và Chủ tịch Souphanouvong trực tiếp đặt nền móng, chẳng những không bị ảnh hưởng, mà còn ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, đem lại hiệu quả và nhiều lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước trên mọi lĩnh vực, trở thành mối quan hệ đặc biệt, là di sản quý báu và là nhân tố quyết định đối với sự thành công trong công cuộc cách mạng ở mỗi nước.

Đặc biệt trong những năm gần đây, ngay cả khi đại dịch COVID- 19 đặt ra những thách thức và khó khăn chưa từng có, nhờ sự phối hợp linh hoạt và hình thức đa dạng, nhiều thỏa thuận quan trọng mang tính chiến lược, định hướng cho quan hệ hai nước duy trì được tiến độ và bảo đảm hiệu quả, giúp cho quan hệ hợp tác giữa hai Đảng, hai nước tiếp tục phát triển vững chắc, ngày càng đi vào chiều sâu và hiệu quả.

Quan hệ chính trị không ngừng được củng cố và nâng cao, từ "quan hệ hữu nghị truyền thống" thành "quan hệ hữu nghị vĩ đại" từ tháng 2/2019, ngày càng trở nên tin cậy, gắn bó, tiếp tục giúp định hướng cho các lĩnh vực hợp tác khác.

Hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng-an ninh tiếp tục là trụ cột vững chắc trong quan hệ Việt Nam-Lào, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định, an ninh chính trị mỗi nước.

Hợp tác kinh tế trở thành nền tảng lâu dài trong quan hệ hai nước, ngày càng khởi sắc, mở rộng, đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn. Việt Nam tiếp tục là một trong những nhà đầu tư lớn nhất tại Lào...

Không chỉ hợp tác toàn diện và ngày càng đi vào chiều sâu trong khuôn khổ song phương, tình hữu nghị và đoàn kết đặc biệt giữa Việt Nam và Lào còn được khẳng định trên bình diện đa phương.

Hai nước chia sẻ nhiều điểm tương đồng, ủng hộ lẫn nhau và phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn quốc tế như Liên hợp quốc, ASEAN, ASEM, Tiểu vùng Mekong mở rộng...

Trong diễn văn đọc tại Thủ đô Hà Nội ngày 18/7/2022 nhân dịp kỷ niệm 45 năm hai nước ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn luôn ủng hộ mạnh mẽ, toàn diện công cuộc đổi mới của Lào; đồng thời hết sức coi trọng và dành ưu tiên hàng đầu cho mối quan hệ đặc biệt vừa là đồng chí, vừa là anh em giữa hai Đảng, hai nước chúng ta. Chúng tôi luôn luôn mong muốn hợp tác, hỗ trợ đất nước Lào với tinh thần giúp bạn là giúp mình, xem đây là nhiệm vụ chiến lược; mong muốn cùng Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào không ngừng bồi đắp tin cậy chính trị, đẩy mạnh hợp tác an ninh quốc phòng, tăng cường kết nối hai nền kinh tế, không ngừng nâng cao chất lượng hợp tác giáo dục đào tạo, cùng nhau xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập sâu rộng”.

Trong diễn văn đọc tại thủ đô Viêng Chăn cùng ngày nhân sự kiện này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith cũng nhấn mạnh: “Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào luôn kiên quyết và sẽ cùng với các đồng chí Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống làm cho mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Lào-Việt Nam mãi mãi trường tồn, tăng cường và nâng cấp sự hợp tác trong các lĩnh vực ngày càng đi vào chiều sâu và có hiệu quả nhằm đem lại lợi ích thiết thực cho người dân hai nước”.

Với những cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo cấp cao nhất cùng quyết tâm của người dân hai nước gìn giữ và vun đắp cho quan hệ Việt-Lào, trên cơ sở của những kết quả đáng tự hào mà hai nước đã đạt được trong suốt những năm tháng qua, tin tưởng rằng, quan hệ hữu nghị vĩ đại Việt Nam-Lào trong tương lai sẽ không ngừng được củng cố, phát triển, năng động, hiệu quả và thiết thực hơn, ngày càng đáp ứng lợi ích căn bản và lâu dài của nhân dân hai nước và mãi mãi trường tồn với thời gian.

Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2022

Việt Nam bảo vệ quyền và lợi ích biển tại cuộc đàm phán ở LHQ

Phiên đàm phán thứ năm của Hội nghị liên chính phủ về xây dựng văn kiện pháp lý quốc tế trong khuôn khổ Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học tại các vùng biển nằm ngoài phạm vi tài phán quốc gia (BBNJ) đã kết thúc sau hai tuần làm việc khẩn trương.

Theo TTXVN, đoàn đàm phán liên ngành của Việt Nam do Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc dẫn đầu đã tham gia phiên đàm phán, có những đề xuất, đóng góp thực chất cho dự thảo văn kiện, góp phần tích cực vào tiến trình đàm phán về các vấn đề trực tiếp liên quan quyền và lợi ích biển của Việt Nam, đồng thời bảo vệ lợi ích chung của các nước đang phát triển.

Văn kiện sẽ là cơ sở pháp lý để thúc đẩy các hoạt động bảo tồn và khai thác nguồn gien biển ngoài vùng tài phán quốc gia, đồng thời bảo đảm công bằng trong chia sẻ lợi ích từ việc khai thác và sử dụng bền vững nguồn gien biển phong phú tại vùng biển nằm ngoài phạm vi tài phán quốc gia.

Trong bối cảnh còn tồn tại khoảng cách lớn trong khả năng tiếp cận, khai thác tài nguyên gien biển giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển, việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý toàn cầu về xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ biển, chia sẻ lợi ích có được từ khai thác nguồn gien biển là vô cùng cấp thiết.

Đàm phán phiên thứ năm đã đạt nhiều tiến triển lớn trên tất cả các nhóm vấn đề được thảo luận. Khung cơ bản của dự thảo văn kiện đã hình thành. Các nước đang phát triển và phát triển đã có những nhượng bộ nhất định, song chưa thể thông qua dự thảo văn kiện.

Hội nghị quyết định sẽ triệu tập phiên đàm phán tiếp theo trong thời gian sớm nhất có thể với kỳ vọng có thể kết thúc đàm phán xây dựng văn kiện về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học tại các vùng biển nằm ngoài phạm vi tài phán quốc gia.

Đàm phán BBNJ cũng góp phần quan trọng trong củng cố hệ thống dựa trên UNCLOS 1982 trong quản trị các vùng biển và đại dương, bảo đảm sự phát triển bền vững cho tất cả các nước và thế hệ tương lai. 

Hoàn cảnh ra đời Bản Tuyên ngôn Độc lập

Ngày 25/8/1945, Hồ Chí Minh cùng Ủy ban Dân tộc giải phóng về đến Hà Nội. Người ở tại số nhà 48, phố Hàng Ngang của nhà tư sản dân tộc Trịnh Văn Bô. Cũng tại đây, trong những ngày tháng 8 lịch sử, Người đã viết Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tiếp tục vun đắp tình hữu nghị giữa Quân đội Việt Nam và Kazakhstan

Chiều 25-8, tại Đại sứ quán Việt Nam tại Nur-Sultan đã diễn ra buổi giao lưu hữu nghị Quân đội Việt Nam và Kazakhstan.

Tham dự buổi giao lưu về phía Việt Nam có toàn bộ các thành viên hai đội tuyển Kinh tuyến và Xạ thủ chiến thuật tham dự Army Games 2022 tại Kazakhstan. Về phía Kazakhstan có một số cựu chiến binh, dẫn đầu là Trung tướng Dzhahasaev Bulat. 

Đặc biệt, trong số các bạn bè Kazakhstan tới dự buổi giao lưu, có mặt thân nhân của cố Trung tướng Zhansen Kereev - một tướng lĩnh quân sự nổi bật người Kazakhstan trong quân đội Liên Xô trước đây, người được nhà nước Liên Xô cử sang làm cố vấn quân sự cao cấp cho Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 1981 - 1982 và được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.

Trong không khí thân tình và đầm ấm, các cựu chiến binh Kazakhstan và một số cán bộ đã từng công tác tại Việt Nam đã xúc động chia sẻ những kỷ niệm về quãng thời gian sống và công tác tại Việt Nam, về thân thế và sự nghiệp, những kinh nghiệm, bài học của cố Trung tướng Kerreev trong việc xây dựng quân đội, chăm lo cho chiến sĩ, đóng góp vào tình hữu nghị giữa nhân dân và quân đội Việt Nam và Kazakhstan, sự sẻ chia, sát cánh giữa các cựu chiến binh hai nước trước đây cần tiếp tục được thế hệ trẻ tiếp tục vun đắp, củng cố và phát triển, góp phần thúc đẩy hơn nữa quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa hai nước trong thời gian tới.

Phát biểu tại buổi giao lưu, Đại sứ Việt Nam tại Kazakhstan Phạm Thái Như Mai nhắc lại những ngày tháng Tám lịch sử khi nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đứng lên giành chính quyền và lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945, tiền thân của nước CHXHCN Việt Nam ngày nay, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam.

Đại sứ khẳng định nhân dân Việt Nam không bao giờ quên sự giúp đỡ to lớn, chí tình của nhân dân và quân đội các nước anh em, đặc biệt là Liên Xô cũ, trong đó có nhân dân và quân đội Kazakhstan trong suốt chặng đường dài xây dựng và bảo vệ đất nước. Những câu chuyện cảm động, bổ ích về lịch sử chiến đấu sát cánh cùng nhân dân Việt Nam của những người bạn Kazakhstan trong buổi giao lưu sẽ góp phần giúp thế hệ trẻ Việt Nam trân trọng hơn sự quý giá của hòa bình, độc lập và tự do mà chúng ta đang được tận hưởng ngày hôm nay.

Cũng nhân dịp kỷ niệm 77 năm ngày thành lập ngành ngoại giao, Đại sứ đánh giá cao những nhiệm vụ cao quý, đầy trọng trách của các nhà ngoại giao Việt Nam, những chiến sĩ trên mặt trận đối ngoại trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, tăng cường mối quan hệ hữu nghị và hợp tác, đoàn kết quốc tế cao cả giữa Việt Nam và các nước trên thế giới.

* Trước đó, vào ngày 23-8, lễ bế mạc Hội thao Quân sự Quốc tế lần thứ 8 (Army Games 2022) tại Kazakhstan đã được tổ chức trọng thể tại Trung tâm Quân sự Ái quốc ở thủ đô Nur-Sultan. Trung tướng Marat Khusainov, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Kazakhstan tổng kết Hội thao Army Games-2022, chúc mừng thành công của các đội tuyển tham dự cuộc thi và nhấn mạnh, các cuộc tranh tài diễn ra gay cấn nhưng đầy tình hữu nghị.

Có 26 đội từ 15 nước tham gia thi đấu ở Army Games 2022 tại Kazakhstan với ba môn: Xạ thủ chiến thuật, Kinh tuyến và Pháo binh từ ngày 13 đến 22-8-2022. Việt Nam tham gia thi đấu hai môn Xạ thủ chiến thuật và Kinh tuyến cùng với đội tuyển của 8 nước khác và được xếp thứ tư chung cuộc.

VĨNH TRỌNG

Nguồn: Báo QĐND

Bế mạc Hội thao Quân sự quốc tế (Army Games) 2022: Đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam xếp ở vị trí thứ 5

Tối 27-8 (theo giờ địa phương), Lễ bế mạc Hội thao quân sự quốc tế - Army Games 2022 đã được tổ chức tại công viên Patriot ở ngoại ô Moscow, LB Nga.

Đoàn Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam tham gia Army Games 2022 ở nước ngoài do Đại tá Tạ Quang Thảo, Phó cục trưởng Cục Quân huấn, Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam, làm Trưởng đoàn dự lễ bế mạc.

Trước đó, chiều cùng ngày đã diễn ra trận chung kết của Bảng 1 cuộc thi “Xe tăng hành tiến” với kết quả Đội tuyển Xe tăng LB Nga giành vị trí thứ nhất, Đội tuyển Belarus xếp thứ hai và đứng ở vị trí thứ ba là Đội tuyển Trung Quốc. Năm nay, Đội tuyển Xe tăng QĐND Việt Nam đạt thành tích lọt vào vòng bán kết Bảng 1 của cuộc thi.

Tại lễ bế mạc, Ban tổ chức đã trao Cúp cho Đội tuyển Xe tăng LB Nga. Các đoàn ca nhạc của Bộ Quốc phòng LB Nga cũng biểu diễn một số tiết mục văn nghệ độc đáo, trong đó nổi bật có nhóm biểu diễn nhạc Jazz.

Army Games 2022 diễn ra từ ngày 13 đến 27-8 và có 264 đội tuyển đến từ 34 quốc gia tham gia tranh tài ở 34 nội dung thi đấu. Army Games lần này được tổ chức ở 12 quốc gia, bao gồm: Nga, Algeria, Armenia, Azerbaijan, Belarus, Trung Quốc, Iran, Kazakhstan, Mongolia, Uzbekistan, Venezuela và Việt Nam. Đây cũng là năm đầu tiên Army Games được tổ chức tại một quốc gia thuộc khu vực Nam Mỹ (Venezuela). Trong khi đó, có hai quốc gia lần đầu tiên tham gia một kỳ Army Games, đó là Bolivia và Rwanda.

Kết quả toàn đoàn, LB Nga xếp ở vị trí đầu tiên, Uzbekistan xếp thứ hai; Belarus và Kazakhstan cùng xếp ở vị trí thứ ba; Trung Quốc và Iran cùng xếp vị trí thứ 4. Đoàn QĐND Việt Nam đứng ở vị trí thứ 5 toàn đoàn với 1 Huy chương vàng, 2 Huy chương bạc và 5 Huy chương đồng.

Cùng với việc đăng cai tổ chức cuộc thi “Vùng tai nạn” tại Việt Nam, QĐND Việt Nam còn cử các đội tuyển tham gia thi đấu ở một số nội dung khác như: Xe tăng hành tiến (thi đấu tại LB Nga), Đội quân văn hóa (LB Nga), Tiếp sức quân y (LB Nga), Đột phá đặc biệt (LB Nga), Môi trường an toàn (Uzbekistan), Bếp dã chiến (Uzbekistan), Kỹ năng thành thục (Belarus), Xạ thủ chiến thuật (Kazakhstan) và Kinh tuyến (Kazakhstan).

Thành tích cụ thể của các đội tuyển của QĐND Việt Nam tại Army Games 2022 như sau: Đội tuyển Vùng tai nạn (Huy chương vàng); Đội tuyển Đội quân văn hóa (Huy chương bạc); Đội tuyển Kỹ năng thành thục (đội nam giành Huy chương bạc, đội nữ giành Huy chương đồng); Đội tuyển Tiếp sức quân y (Huy chương đồng); Đội tuyển Môi trường an toàn (Huy chương đồng); Đội tuyển Bếp dã chiến (Huy chương đồng), Đội tuyển Xạ thủ chiến thuật và Đội tuyển Kinh tuyến cùng xếp ở vị trí thứ 4; Đội tuyển Xe tăng lọt vào tới vòng bán kết. Ngoài ra, trong lần đầu tiên tham gia một kỳ Army Games, Đội tuyển Đột phá đặc biệt với thành phần gồm 12 học viên quân sự đang học tập tại LB Nga đã giành Huy chương đồng.

Cũng trong thời gian diễn ra các nội dung thi đấu trong khuôn khổ Army Games 2022, Đoàn đại biểu cấp cao QĐND Việt Nam do Thượng tướng Ngô Minh Tiến, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam làm Trưởng đoàn đã đến LB Nga tham dự Diễn đàn Kỹ thuật-Quân sự quốc tế Army-2022 và Hội nghị an ninh quốc tế Moscow lần thứ 10.

VŨ HÙNG (từ Moscow, LB Nga)

Nguồn: Báo QĐND

77 năm ngoại giao Việt Nam: Tận tụy phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

Suốt 77 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy truyền thống ngoại giao hòa hiếu nhưng quật cường của dân tộc và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Nam không ngừng phát triển toàn diện, vững mạnh, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Dưới sự lãnh đạo và rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao là một mặt trận chiến lược trong hai cuộc kháng chiến và kiến quốc. Với những quyết sách mưu lược và khôn khéo, ngoại giao đã góp phần quan trọng bảo vệ chính quyền cách mạng và nhân dân sau Cách mạng Tháng Tám. Cùng các mặt trận chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa... “vừa đánh, vừa đàm”, “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”, mặt trận ngoại giao đã tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các lực lượng tiến bộ và nhân dân thế giới đối với sự nghiệp cách mạng chính nghĩa của nhân dân ta, tạo nên những thắng lợi làm rạng rỡ lịch sử dân tộc, từ đàm phán, ký kết Hiệp định Geneva năm 1954 đến Hiệp định Paris năm 1973. Sau khi đất nước thống nhất, ngoại giao là mặt trận tạo lối, mở đường, từng bước phá thế bị bao vây, cấm vận, khơi thông quan hệ với nhiều đối tác, mở ra cục diện mới cho phát triển đất nước.

Trong hơn 35 năm đổi mới, kế thừa và vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, ngoại giao cùng các trụ cột, binh chủng đối ngoại đã đi đầu tạo dựng, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc và nâng cao vị thế quốc gia.

Đến nay, nước ta có quan hệ ngoại giao với 190 quốc gia trên thế giới, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 nước; có quan hệ kinh tế với hơn 230 quốc gia, vùng lãnh thổ; đã ký 15 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có các FTA thế hệ mới; là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng... Với mạng lưới quan hệ đối ngoại rộng mở và ngày càng sâu sắc, môi trường hòa bình, ổn định và độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ ngày càng được củng cố vững chắc; đồng thời, mở ra nhiều thị trường xuất nhập khẩu, tranh thủ nhiều nguồn vốn, công nghệ và tri thức bên ngoài phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong giai đoạn khó khăn của đại dịch Covid-19, ngoại giao y tế và ngoại giao vaccine đã đóng góp quan trọng vào thực hiện thành công chiến lược vaccine, tạo tiền đề tiên quyết để nước ta chuyển sang thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19, đẩy mạnh phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội và vươn lên sau đại dịch.

Việc nước ta đảm nhận nhiều trọng trách quốc tế như Chủ nhà APEC 2017, Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2020-2021, cùng với ứng xử đúng đắn, có lý, có tình tại nhiều diễn đàn đa phương đã khẳng định và nâng cao hình ảnh, uy tín nước Việt Nam độc lập, tự chủ, đổi mới, yêu chuộng hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế, tin cậy, chân thành và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.

Ngoại giao văn hóa, thông tin đối ngoại đã góp phần quảng bá mạnh mẽ hình ảnh đất nước, con người, thành tựu đổi mới và bản sắc văn hóa Việt Nam ra thế giới. Công tác người Việt Nam ở nước ngoài góp phần củng cố đại đoàn kết dân tộc, huy động nhiều nguồn lực của kiều bào cho phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện tốt bảo hộ công dân ta ở nước ngoài, nhất là khi xảy ra xung đột, chiến tranh, dịch bệnh trên thế giới.

Có được những thành tựu nói trên là nhờ đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước, là kết tinh nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các trụ cột, binh chủng đối ngoại, các ngành, các cấp. Những thành quả đó cũng là kết tinh truyền thống vẻ vang của đối ngoại và ngoại giao Việt Nam, nỗ lực phấn đấu và cống hiến bền bỉ của các thế hệ cán bộ ngành ngoại giao. Chính sự nghiệp cách mạng của dân tộc đã tôi luyện ngành ngoại giao ngày càng trưởng thành và phát triển, tạo nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao Việt Nam đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh.

Dưới ánh sáng đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, đối ngoại nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới, gắn với thực hiện chủ trương “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân”. Là lực lượng chủ lực trên mặt trận đối ngoại của đất nước, ngành ngoại giao tiếp tục phối hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn với đối ngoại Đảng, đối ngoại nhân dân, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa-xã hội để triển khai đồng bộ, sáng tạo và hiệu quả các nhiệm vụ đối ngoại. Trong đó, trọng tâm là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, đi đôi với kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời, mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ với các nước láng giềng, các đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống, tranh thủ tối đa các yếu tố quốc tế thuận lợi, “lấy người dân, địa phương và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ”, không ngừng đổi mới, sáng tạo, tìm cách làm mới, hướng đi mới, lĩnh vực mới để mở rộng thị trường, huy động các nguồn lực bên ngoài cho thực hiện khát vọng, tầm nhìn, mục tiêu phát triển đất nước; phát huy vai trò Việt Nam tại các cơ chế đa phương quan trọng để nâng cao hơn nữa vị thế, uy tín quốc tế của đất nước.

Trước đòi hỏi của tình hình, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, cần xây dựng ngành ngoại giao trong sạch, vững mạnh, toàn diện, hiện đại. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc tháng 12-2021: “Một nhà ngoại giao, một nhà hoạt động đối ngoại giỏi trước hết phải là một nhà chính trị giỏi”, điều cốt yếu là cần xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao luôn tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, tận tâm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, vững vàng, mưu lược, có phong cách chuyên nghiệp, có trình độ đạt tới tầm khu vực và quốc tế. Muốn vậy, cần tăng cường hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngoại giao cả về bản lĩnh chính trị lẫn trình độ, năng lực.

Nhìn lại chặng đường 77 năm qua, các thế hệ cán bộ ngoại giao tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, người sáng lập và để lại cho nền ngoại giao nước ta một di sản tư tưởng ngoại giao đặc sắc và vô giá. Học tập, vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao của Người và phát huy truyền thống vẻ vang của ngoại giao cách mạng Việt Nam, toàn ngành ngoại giao dưới sự lãnh đạo của Đảng quyết tâm xây dựng ngành ngoại giao Việt Nam trong sạch, vững mạnh, toàn diện, hiện đại, đóng góp xứng đáng vào thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

BÙI THANH SƠN, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao

Nguồn: Báo QĐND

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...