Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2022

Tổ chức các chuyến bay sơ tán công dân từ Ukraine về nước

Thực hiện chủ trương của Chính phủ về việc tổ chức các chuyến bay đưa người Việt Nam và thành viên gia đình về nước trong bối cảnh chiến sự tại Ukraine, Bộ Ngoại giao phối hợp các cơ quan chức năng dự kiến tổ chức 2 chuyến bay sơ tán công dân.

Cụ thể như sau: Ngày 7/3, chuyến bay số hiệu VN88 của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) dự kiến chở 283 công dân khởi hành từ Bucharest (Romania), hạ cánh tại sân bay Nội Bài trưa 8/3. Ngày 9/3, chuyến bay số hiệu QH9066 của Bamboo Airways dự kiến chở 270 công dân khởi hành từ Warsaw (Ba Lan), hạ cánh tại sân bay Nội Bài sáng 10/3. 

Người Việt về nước trên các chuyến bay trên sẽ được xét nghiệm Covid-19 sau khi hạ cánh tại Việt Nam và được các cơ quan chức năng hướng dẫn thực hiện các biện pháp cách ly y tế. 

Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp các bộ, ngành liên quan tiếp tục triển khai việc sơ tán người Việt và thành viên gia đình khỏi khu vực nguy hiểm tại Ukraine, đưa sang các nước láng giềng và đưa những người có nhu cầu về nước tùy theo tình hình và khả năng đáp ứng.

Những ngày qua, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Ukraine và các nước lân cận đã phối hợp nhà chức trách địa phương, các hội đoàn người Việt ở sở tại tích cực hỗ trợ bà con sơ tán, trực tiếp đón, thu xếp chỗ ăn ở tạm thời, vật dụng thiết yếu cho bà con. 

Theo thông tin từ các cơ quan đại diện, tính đến 19 giờ ngày 5/3, hơn 2.000 người Việt đã được sơ tán khỏi vùng chiến sự ở Ukraine và được bố trí sang các nước lân cận, trong đó hơn 1.000 người đã tới Ba Lan; 370 người đã tới Romania, 200 người đang được đưa từ Moldova sang Romania; Đại sứ quán Hungary đã đón khoảng 190 người; hơn 40 người đã tới Slovakia.

Tổ công tác bảo hộ công dân của Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện đang tiếp tục theo dõi sát tình hình, chủ động tiếp nhận yêu cầu bảo hộ công dân, nhu cầu sơ tán, về nước của bà con người Việt thông qua đường dây nóng bảo hộ công dân của Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện.

Nguồn: Báo ND

Đại sứ quán Việt Nam và kiều bào tại Ba Lan tích cực hỗ trợ công dân sơ tán từ Ukraine

Trong những ngày này, Ba Lan, 1 trong những quốc gia có đường biên giới dài với Ukraine, trở thành điểm đến chính của dòng người sơ tán khỏi vùng chiến sự, trong đó có người Việt Nam.

Tại Warszawa, người Việt từ Ukraine sang Ba Lan lánh nạn đã nhận được sự quan tâm hỗ trợ của Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan và cộng đồng người Việt tại đây. Nhiều bà con đang mong đợi chuyến bay của chính phủ để trở về nước.

Tối 5/3, hàng trăm bà con người Việt từ Ukraine sang Ba Lan lánh nạn đã được đội ngũ taxi “0 đồng”, do các tình nguyện viên trong cộng đồng thành lập, đón về chùa Nhân hòa, tức Trung tâm Văn hóa Phật giáo Việt Nam ở thủ đô Warszawa. Tại đây, bà con được hỗ trợ sắp xếp nơi ăn nghỉ, được động viên để ổn định tinh thần sau nhiều ngày di chuyển vất vả.

Ông Trịnh Văn Hồng đến từ thủ đô Kiev (Ukraine) chia sẻ, ông rất xúc động và cảm ơn sự giúp đỡ của Đại sứ quán, Hội người Việt Nam, chùa Nhân Hòa và bà con người Việt tại Ba Lan đã giúp ông, cũng như những bà con sang Ba Lan lánh nạn ổn định hơn về tinh thần và có thể tham gia hỗ trợ những người đến sau. Ông bày tỏ nguyện vọng được sớm về nước trên chuyến bay hồi hương công dân của Chính phủ Việt Nam.

Trong khi đó, anh Nguyễn Mạnh Tiến, đến từ thành phố Kharkov bày tỏ mong muốn nhận được sự hướng dẫn của Đại sứ quán và cộng đồng người Việt tại Ba Lan để sớm định hướng ổn định cuộc sống.

Theo ông Bùi Văn Dư, Chủ tịch Trung tâm Văn hóa Phật giáo Việt Nam tại Ba Lan, tính đến tối 5/3, chùa Nhân Hòa đã hỗ trợ bố trí ăn nghỉ cho khoảng 1.000 người Việt Nam từ Ukraine sang lánh nạn, cũng như kịp thời động viên bà con ổn định tinh thần và sinh hoạt, nhất là tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của bà con.

Sư thầy Thích Trung Đạt, trị sự chùa Nhân Hòa tại Ba Lan cho biết, khi nhận được thông tin bà con người Việt từ Ukraine sang Ba Lan lánh nạn, thầy và các phật tử đã lên kế hoạch đón tiếp thật chu đáo, trong đó việc chính là tạo điều kiện bố trí chu đáo nơi ăn ở. Đến nay, nhà chùa đã đáp ứng được nhu cầu bước đầu của bà con để ổn định sinh hoạt. Trong tối 5/3, nhà chùa tiếp tục đón thêm hơn 70 đồng bào sơ tán từ Ukraine.

Hiện Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan đang tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng sở tại cũng như với Hội người Việt Nam và các tổ chức, hội đoàn người Việt để kịp thời hỗ trợ bà con người Việt từ Ukraine sang lánh nạn, thực hiện nhiệm vụ bảo hộ công dân, trong đó có việc hỗ trợ đưa bà con hồi hương trên các chuyến bay sắp tới.

Đại sứ Việt Nam tại Ba Lan Nguyễn Hùng cho biết, ngay khi tình hình chiến sự diễn biến căng thẳng, lượng người sơ tán từ Ukraine sang Ba Lan tăng cao, trong đó có nhiều công dân Việt Nam, Đại sứ quán Việt Nam đã khẩn trương triển khai công tác bảo hộ công dân Việt Nam di tản từ Ukraine sang Ba Lan, ưu tiên bảo vệ an toàn cao nhất về tính mạng, tài sản, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân và pháp nhân Việt Nam ở Ukraine.

Đại sứ quán đã tích cực làm việc và đề nghị Bộ Ngoại giao Ba Lan, Cơ quan Biên phòng và Ủy ban về người nước ngoài của Ba Lan hỗ trợ công dân Việt Nam được nhập cảnh, quá cảnh và lưu trú tạm thời thuận lợi, được bảo đảm chỗ ăn ở và nhu yếu phẩm cần thiết trong thời gian cư trú 15 ngày theo quy định dành cho công dân nước thứ ba.

Theo kế hoạch, hãng hàng không Bamboo Airways sẽ thực hiện chuyến bay đưa công dân Việt Nam từ Ukraine về nước, dự kiến vào ngày 9/3, với hành trình từ Warszawa (Ba Lan) về Hà Nội.

Coi Covid-19 là bệnh đặc hữu: Chúng ta cần thêm thời gian


Theo PGS, TS Đỗ Văn Dũng, Trưởng Khoa Y tế công cộng, Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh, khoảng 6 tháng nữa, chúng ta mới nên tính tới coi Covid-19 là bệnh đặc hữu hay không.

Theo PGS, TS Đỗ Văn Dũng, năm 2020, Việt Nam công bố dịch bệnh Covid-19 là bệnh truyền nhiễm nhóm A, tức là một loại dịch bệnh lây lan nhanh và tử vong cao. Khi công bố là dịch bệnh nhóm A, nhà nước có quyền can thiệp vào việc thực hiện quy định phòng, chống dịch.

Cơ sở khoa học để một bệnh truyền nhiễm nhóm A được coi là bệnh đặc hữu là khi số ca mắc mới và số ca nặng ổn định, tức là không có khả năng gây làn sóng dịch mới. Khi đó, nhà nước phải tự tin không có làn sóng dịch mới, không còn lo ngại trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, triển khai tiêm chủng đầy đủ cho người dân để hạn chế thấp nhất tỷ lệ tử vong.

Nhà nước phải bảo đảm có một hệ thống y tế thật tốt, để khi người dân mắc bệnh nhẹ hơn, được điều trị kịp thời. Nếu diễn biến nặng, sẽ có đủ giường và hệ thống hồi sức tích cực (ICU).

Do đó, PGS Dũng bày tỏ: "Chúng ta phải trả lời câu hỏi, tại Việt Nam, dịch hiện nay còn lây lan không và tử vong có cao không. Câu trả lời là có, dịch vẫn đang lây lan rất nhanh, số ca nhiễm tăng rất cao và tỷ lệ tử vong chưa hạ nhiệt. Chúng ta chưa thể coi Covid-19 là một bệnh đặc hữu".

Khi tuyên bố Covid-19 không còn là bệnh đặc hữu, không còn nằm trong nhóm bệnh loại A, nhà nước sẽ không giám sát người dân thực hiện quy định phòng, chống dịch.

“Tôi cho rằng, nhà nước vẫn nên có quyền kiểm soát việc tuân thủ quy định phòng, chống dịch của người dân. Tùy theo tình huống dịch, nhà nước có thể giảm biện pháp phòng, chống dịch, tăng cường tự do, sự thoải mái của người dân để họ có thể sống, lao động sản xuất không mâu thuẫn với phát triển kinh tế”, PGS Dũng nói.

Cũng theo chuyên gia này, hiện nay một số nước khi coi Covid-19 là bệnh đặc hữu, họ đã trải qua các làn sóng dịch lớn, tiêm vaccine lâu, nguồn vaccine dồi dào và hệ thống y tế mạnh.

Thí dụ tại Mỹ, người bệnh nhiễm Covid-19 dù có triệu chứng nặng, trung bình đều được tiếp cận thuốc điều trị hiệu lực cao 80-90% như các thuốc kháng thể đơn dòng, được miễn phí điều trị Covid-19 và hậu Covid-19 dù có bảo hiểm hay không, không phải đồng chi trả.

Trong khi đó, hệ thống y tế của ta vẫn còn nhiều vấn đề, việc tiếp cận hỗ trợ điều trị vẫn còn hạn chế. Hệ thống ICU chưa đủ khả năng đáp ứng nếu dịch bùng phát mạnh, số ca nhiễm trở nặng tăng cao. Hiệu lực điều trị thuốc của chúng ta cũng chưa cao so với những nước này. 

Bởi vậy, theo PGS Dũng, dần dần chúng ta sẽ phải tiến tới coi Covid-19 là bệnh đặc hữu để thuận lợi hơn cho người dân. Tuy nhiên, chúng ta phải cần thời gian.

"Nếu tuyên bố Covid-19 là bệnh đặc hữu, nhưng tỷ lệ mắc vẫn cao thì người dân vẫn còn hoang mang và sợ. Khoảng 6 tháng nữa mình mới có thể nói được vấn đề này", PGS Dũng nói. 

Về đề xuất của Bộ Y tế không công bố ca nhiễm, mà chỉ công bố số ca diễn biến nặng, tử vong, PGS Dũng cho rằng, việc này cần phải tính toán kỹ lưỡng. Vì không công bố, không có nghĩa là làm người dân bớt hoang mang mà thay vào đó, có nhiều biện pháp khác để làm người dân hiểu rõ hơn về các con số công bố trong ngày.

Việc công bố con số ca nhiễm mới là một cách công khai, minh bạch để người dân biết nguy cơ tiềm ẩn chung quanh, không bị mất định hướng hay nghi ngờ hoạt động của ngành y tế. Khi không biết số ca nhiễm mới, khó có thể tạo ra sự đồng thuận trong chấp hành quy định chống dịch nào đó.

“Thí dụ, nếu một địa phương ra lệnh giới nghiêm theo khung giờ khi thấy số ca nhiễm tăng cao, nhưng người dân không hề biết lý do vì sao, sẽ rất khó để họ tin tưởng, đồng thuận”, PGS Dũng nói.

Do đó, theo chuyên gia này, việc thống kê số ca nhiễm mới vẫn có giá trị, quan trọng với dịch tễ học và quan trọng với người dân. Bộ Y tế sẽ phải đưa ra quan điểm để người dân hiểu về các con số, và cần quan tâm con số nào đáng quan tâm.

Bác sĩ Nguyễn Hồng Hà, Phó Chủ tịch Hội Truyền nhiễm Việt Nam, dịch hiện nay vẫn đang lây lan mạnh ở các thành phố lớn, nơi đông người.

Thời điểm này, tại Việt Nam, Covid-19 vẫn là bệnh đặc biệt, bệnh mới nổi và có dịch, tác hại lớn và có thể lây lan. Căn bệnh Covid-19 sẽ còn hiện hữu và chúng ta phải chấp nhận sống chung với nó.

Trước đề xuất để F0 không triệu chứng đi làm của Bộ Y tế, bác sĩ Hà phân tích, sự tác động của đại dịch vẫn rất lớn tới đời sống, số ca tử vong vẫn cao. Covid-19 vẫn là một căn bệnh cần phải lưu tâm hiện nay. Đặc biệt, ở nhóm người yếu thế, nguy cơ chuyển biến nặng khi mắc bệnh (phụ nữ có thai, người cao tuổi, người nhiều bệnh lý nền, nhóm bệnh nhân đang điều trị bệnh lý cấp tính tại bệnh viện)…

Dịch chưa lên tới đỉnh do số ca vẫn mắc vẫn đang tăng cao. Do vậy, việc không cách ly người bị nhiễm, lây lan bệnh cho nhóm người yếu thế sẽ làm tăng nguy cơ tử vong.

Theo chuyên gia này, nhóm F0 có thể đi làm chỉ nên áp dụng với nhân viên y tế điều trị cho bệnh nhân Covid-19. F0 vẫn cần cách ly đề phòng ngừa lây nhiễm cho người khác. Đối với các trường hợp F0 không triệu chứng có thể làm trực tuyến tại nhà.

Về trường hợp F1, cần đặc biệt lưu ý đến F1 trong cùng gia đình vì khả năng phơi nhiễm rất cao, lên tới 70-80% nếu gia đình có F0. Do đó, dù F1 không cách ly nhưng vẫn phải phải theo dõi sức khỏe của mình.

"Đối với biến chủng Omicron, các triệu chứng rất thô sơ: chảy nước mũi, đau mỏi người, rát họng… Do vậy, F1 cần lưu ý khi có biểu hiện này cần phải xét nghiệm để biết mình có là F0 hay không, phòng nguy cơ lây cho người khác", bác sĩ Hà nói.

Nguông: Báo ND

Kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Ngày 9/2/2022, cuốn sách “Một số vấn đề lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được ra mắt. Cuốn sách là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, vấn đề kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất quan trọng đối với nước ta hiện nay.

Quan điểm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư về kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được nhấn mạnh trong bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai Kết luận và Quy định của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, ngày 9/12/2021 (Sự lãnh đạo của Ðảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam).

Sở dĩ Tổng Bí thư nhấn mạnh đến điều này do xuất phát từ cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan, cả tình hình quốc tế, khu vực và những diễn biến trong nước. Trên thế giới, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy đang nổi lên, các vấn đề an ninh phi truyền thống vẫn đang tiếp diễn. Trong nước, sự nghiệp đổi mới tuy được đẩy mạnh toàn diện nhưng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn như: Sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn; những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và tình hình tham nhũng, lãng phí, tiêu cực... còn diễn biến phức tạp”(1). Nguy hiểm hơn, một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Ðảng.

Theo Tổng Bí thư, “từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Ðảng và dân tộc”(2). Nhận định này là sự tiếp tục bổ sung, hoàn thiện thêm quan điểm của Ðảng về một trong bốn “nguy cơ” đang đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Ðảng, của chế độ ta.

Có thể nhận thấy tính biện chứng được thể hiện rất rõ trong quan điểm của Tổng Bí thư về kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu “kiên định, phát triển” là kiên trì làm theo, đi theo những quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh; làm cho những quan điểm, tư tưởng ấy ngày càng sinh động, có thêm những nội hàm mới thì “vận dụng sáng tạo” là sự chắt lọc những quan điểm của Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp thực tiễn Việt Nam, tránh sự máy móc, sơ cứng, giáo điều.

Quan điểm của Tổng Bí thư về kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vừa cho thấy sự vững vàng về lập trường tư tưởng, vừa cho thấy tính biện chứng trong nguyên tắc vận dụng và kế thừa. Thực tiễn hơn 92 năm ra đời, phát triển của Ðảng và hơn 35 năm đổi mới đất nước với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử khiến cho đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó đã chứng tỏ sự kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Ðảng ta là hoàn toàn đúng đắn, vừa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, vừa phù hợp xu thế khách quan.

Do đó, để quán triệt quan điểm chỉ đạo đồng chí Tổng Bí thư, Ðảng ta đã bổ sung thêm quy định liên quan trực tiếp đến lập trường tư tưởng, thái độ của đảng viên đối với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong Quy định số 37-QÐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm. Ðó là đảng viên không được “phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”(3). Ðây là sự bổ sung kịp thời nhằm khắc phục triệt để những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đảng viên trong giai đoạn hiện nay.

Quan điểm chỉ đạo của Tổng Bí thư về kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất to lớn đối với đất nước ta và mỗi cán bộ, đảng viên hiện nay. Mặt khác, quan điểm đó đã chỉ ra nguyên tắc có tính phương pháp luận trong việc xây dựng đường lối, hoạch định chính sách; mặt khác đặt ra yêu cầu cho mỗi cán bộ, đảng viên. Ðó là phải kiên định về lập trường tư tưởng, sáng tạo trong phát triển và vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động thực tiễn. Quan điểm chỉ đạo của Tổng Bí thư trong bài viết chính là kết quả của sự tổng kết thực tiễn công tác lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí trong thời gian qua, đồng thời là sự phát triển lý luận về sự lãnh đạo của Ðảng lên một tầm cao mới.

Trong giai đoạn hiện nay, khi các thế lực thù địch đang ra sức chống phá chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những thủ đoạn rất tinh vi, quan điểm chỉ đạo của Tổng Bí thư không chỉ cổ vũ, động viên mà còn tạo thêm niềm tin và sức mạnh cho mỗi chúng ta trong việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Quan điểm đó cũng định hướng cho chúng ta trên con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trên con đường đó, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là nền tảng tư tưởng, là “kim chỉ nam” cho mọi hành động.

Nguồn: Báo ND

Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được hiến định trong Hiến pháp, văn bản pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp cũng hiến định Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

Trong đó có lĩnh vực kinh tế. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng không làm thay các cơ quan Nhà nước. Đảng lãnh đạo kinh tế bằng cách tạo ra bảo đảm chính trị cho hoạt động kinh tế, xác định phương hướng chính trị cho hoạt động kinh tế đúng đắn và lành mạnh .

Chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí, bảo đảm dân quyền để thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân là định hướng mục tiêu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng chủ trương “phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm”. Lãnh đạo kinh tế của Đảng đã trở thành mắt xích chủ yếu, quan trọng, thiết thực và quyết định nhất trong toàn bộ đường lối lãnh đạo, trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã vượt qua bao gian nan, thử thách, được cả thế giới ngưỡng mộ, đặc biệt là trong thời kỳ phải đối mặt với đại dịch Covid-19. Ngân hàng Standard Chartered mới đây đã đưa ra dự báo, nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm 2022, với tốc độ tăng trưởng 6,7%, tăng trưởng năm 2023 là 7% và Việt Nam tiếp tục có triển vọng tích cực trong trung hạn.

Trong bản Cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 2, Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh khởi đầu năm 2022, nền kinh tế Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực. Fitch Ratings là một trong những tổ chức có cái nhìn lạc quan nhất về kinh tế Việt Nam với dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 7,9% trong năm nay và 6,5% vào năm 2023.

Báo chí quốc tế trong thời gian gần đây đã có nhiều bài đánh giá tích cực triển vọng kinh tế Việt Nam nhờ chính sách ứng phó linh hoạt với Covid-19, hoạt động sản xuất, kinh tế đang ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ. Chuyên trang tư vấn đầu tư ở châu Á Vietnam Briefing của công ty Dezan Shira nhận định, các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mới mà Việt Nam tham gia sẽ đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ tăng trưởng kinh tế khi Việt Nam mở cửa biên giới, tăng tốc phục hồi.

Các FTA không chỉ giúp phát triển kinh tế, mạng lưới sản xuất, mà còn góp phần nâng cao các tiêu chuẩn lao động. Tờ Reuters cũng có bài viết khẳng định: Nhờ các chính sách linh hoạt của Chính phủ Việt Nam, các hoạt động kinh doanh đã được khôi phục, đặc biệt là từ quý IV năm trước, nhờ đó, ngành dệt may Việt Nam đã hạn chế đáng kể sự gián đoạn chuỗi cung ứng, kỳ vọng tăng mạnh xuất khẩu trong năm nay.

Thực tiễn đã trả lời rõ ràng cho câu hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam có nên lãnh đạo kinh tế hay không. Thực tiễn cũng đã khẳng định những luận điệu tuyên truyền “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế" là xuyên tạc, kích động. Chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái này.

Khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường

 Để “chứng minh” rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam không nên lãnh đạo kinh tế”, một số người xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta, họ cho rằng “không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”; “KTTT, các quy luật của KTTT và định hướng XHCN là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; ghép định hướng XHCN vào KTTT là sự gán ghép chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn”...

Có lẽ những người nói trên đã không hiểu hoặc cố tình không hiểu bản chất của cơ chế thị trường và những khuyết tật của KTTT. Nguồn gốc và bản chất của KTTT là kinh tế hàng hóa; các phạm trù giá trị, giá cả, hàng hóa, tiền tệ, các quy luật cạnh tranh, quy luật cung-cầu, quy luật giá trị của kinh tế hàng hóa cũng là các phạm trù và quy luật của KTTT.

Các phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản (CNTB), được CNTB nắm lấy, sử dụng để phát triển thành KTTT tư bản chủ nghĩa. Trải qua thời gian, KTTT tư bản chủ nghĩa cũng có nhiều biến đổi. Thời kỳ đầu khi mới ra đời, KTTT tư bản chủ nghĩa là KTTT tự do cạnh tranh, chưa có sự can thiệp của nhà nước.

Sự điều tiết của “bàn tay vô hình” của thị trường đã đưa đến nhiều hệ quả tiêu cực, đặc biệt là các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ, nảy sinh ra nhiều khuyết tật của cơ chế thị trường, đòi hỏi phải có bàn tay quản lý của nhà nước.

Ngày nay, nền KTTT hiện đại của các nước tư bản phát triển trên thế giới đều là nền KTTT có sự quản lý của nhà nước, vừa có điều tiết bởi “bàn tay vô hình” của thị trường, vừa có điều tiết bằng “bàn tay hữu hình” của nhà nước; trong đó, điều tiết của thị trường là cơ sở, nền tảng và điều tiết của nhà nước trên cơ sở tôn trọng điều tiết của thị trường (công cụ quản lý, điều tiết kinh tế của nhà nước là luật pháp, chính sách và các nguồn lực kinh tế của nhà nước).

Thực tế cho thấy, KTTT có sự quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới không phải hoàn toàn giống nhau, mà có nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào mức độ can thiệp và nội dung, định hướng can thiệp của nhà nước.

Có mô hình KTTT tự do ở những nước mức độ can thiệp của nhà nước vào kinh tế thấp; nhà nước chỉ bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, tự do kinh doanh, bảo đảm trật tự, ổn định xã hội, còn để phạm vi điều tiết của thị trường lớn, điều tiết mọi hoạt động kinh tế.

Có mô hình KTTT xã hội, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để tạo cơ hội như nhau cho mọi người tham gia phát triển và hưởng thành quả phát triển, chống lại độc quyền, phát triển kinh tế theo định hướng xã hội (như ở Đức).

Có mô hình KTTT phúc lợi xã hội, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để điều tiết thu nhập, phát triển các dịch vụ xã hội công, bảo đảm phúc lợi cho người dân, đặc biệt là những người cần được trợ giúp là trẻ em, người già, người thất nghiệp... (như ở các nước Bắc Âu). Có mô hình KTTT nhà nước phát triển, nhà nước không chỉ tạo thể chế, môi trường cho các chủ thể kinh tế hoạt động, mà còn có chiến lược, chính sách và sử dụng các nguồn lực kinh tế của nhà nước để định hướng và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế (như ở Nhật Bản, Hàn Quốc)...

Phát triển KTTT định hướng XHCN là sự lựa chọn đúng đắn và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm hạn chế những khuyết tật của KTTT. Định hướng XHCN của nền KTTT được bảo đảm bởi vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được thể hiện ở hệ thống pháp luật, chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để tạo ra môi trường kinh doanh công khai, minh bạch, thuận lợi, tạo động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững; gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế; thể hiện ở quan hệ phân phối để mọi người đều được hưởng thành quả phát triển đất nước.

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, mô hình kinh tế mà chúng ta xây dựng là mô hình KTTT định hướng XHCN. Đây là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Phản bác quan điểm “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế”

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Vậy mà gần đây lại xuất hiện quan điểm cho rằng “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế”.

 Từ lúc chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng, lợi dụng việc góp ý văn kiện, một số người đã “phản biện” quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ nên tập trung lãnh đạo chính trị, không nên lãnh đạo kinh tế”; “Đảng chỉ nên tự khuôn mình trong phạm vi “chính trị”, còn kinh tế là địa hạt của giới kinh doanh”...

Hai năm gần đây, do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam chững lại, một số người lại đổ lỗi cho “Đảng Cộng sản Việt Nam không biết lãnh đạo kinh tế”, họ lại tiếp tục “phản biện” trên các mạng xã hội, trả lời báo chí nước ngoài rằng: “Đảng không nên “lấn sân” của Quốc hội, Chính phủ trong lĩnh vực kinh tế” và “khuyến nghị”: “Trong lĩnh vực kinh tế, đã có Quốc hội ban hành pháp luật và giám sát tối cao, đã có Chính phủ quản lý điều hành, không cần Đảng lãnh đạo”... Đó là những quan điểm sai lầm, lợi dụng phản biện để phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân.

Thực tiễn đã khẳng định kinh tế và chính trị có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, quy định và chế ước lẫn nhau. Trên thế giới hiện nay, không có đảng phái chính trị nào không gắn kết với kinh tế. Lênin đã từng chỉ ra rằng, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, là kinh tế cô đọng lại.

Kinh tế quyết định chính trị, chính trị phản ánh kinh tế, nhưng chính trị không thụ động trước kinh tế, mà có vai trò tác động trở lại với kinh tế hoặc tích cực, thúc đẩy kinh tế phát triển, nếu là chính trị đúng đắn, sáng suốt; hoặc tiêu cực, kìm hãm sự phát triển kinh tế và xã hội, nếu là chính trị sai lầm.  

Các đảng lớn của các nước tư bản phát triển đều đưa ra đường lối chính trị, dẫn dắt sự phát triển xã hội theo lý tưởng, mục tiêu đã lựa chọn. Trong đường lối chính trị đó đều có đường lối phát triển kinh tế.

Thực tiễn tại Việt Nam trong thế kỷ qua cho thấy, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Cũng có lúc Đảng ta có sai lầm, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo kinh tế, nhưng trong suốt 92 năm qua, chưa bao giờ Đảng ta xem nhẹ, buông lỏng vấn đề lãnh đạo kinh tế.

Nhờ chú trọng lãnh đạo kinh tế, bảo đảm sự đúng đắn và nhất quán về quan điểm chính trị trong lãnh đạo kinh tế mà Đảng ta đã nhanh chóng sửa chữa được khuyết điểm, giải quyết thành công nhiều nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế quan trọng, nhất là hơn 35 năm qua thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. 

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...