Thứ Năm, 20 tháng 5, 2021

Nhận dạng và đấu tranh bác bỏ thủ đoạn bôi nhọ, xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của nhân dân Việt Nam, một bậc “đại nhân, đại trí, đại dũng”. Người là sự hội tụ và phát huy đến mức cao nhất, hoàn mỹ nhất tinh hoa của dân tộc và nhân loại từ cổ chí kim, từ phương Ðông và phương Tây, trí dũng và nhân văn, vĩ đại và giản dị, khiêm nhường. Tư tưởng của Người là nền tảng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta. Chính vì thế, để chống phá sự nghiệp đổ mới ở Việt Nam hiện nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để bôi nhọ danh dự, hình tượng Hồ Chí Minh, phá hoại “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” bằng cách ngụy tạo chứng cứ và xuyên tạc bóp méo tài liệu lịch sử về Chủ tịch Hồ Chí Minh hòng làm mất đi lòng tin tưởng, tôn kính của nhân dân ta, từ đó đi đến suy giảm niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. 
 
Thực hiện mưu đồ trên, các thế lực thù địch thường tập trung khoét sâu vào các vấn đề nhân thân, lai lịch, đời tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo kiểu dựa trên những nguồn thông tin không rõ nguồn gốc, hình ảnh đã photoshop hoặc cắt xén để nhào nặn ra những tác phẩm sai trái có liên quan đến con người, thân thế và sự nghiệp của Người.

Những luận điệu sai trái, xuyên tạc trên đều nhằm thủ đoạn tạo “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, chống phá cách mạng nước ta. Do vậy, mỗi người dân Việt Nam và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hãy luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, nhận dạng và đấu tranh bác bỏ các luận điệu xuyên tạc sai trái của các thế lực thù địch nhằm bôi nhọ đến thanh danh, đạo đức, nhân phẩm Chủ tịch  Hồ Chí Minh.

Thứ Hai, 17 tháng 5, 2021

Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 viết “quyết tâm thư” sẵn sàng xung phong vào vùng dịch

Trong trận chiến chống dịch Covid-19, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, đã có hơn 400 đồng chí cán bộ, y, bác sĩ trẻ tại Bệnh viện TWQĐ 108 viết “quyết tâm thư” sẵn sàng xung phong vào vùng dịch bùng phát nhằm bảo vệ sức khỏe của người dân. 

Trước tình hình đại dịch Covid-19 đang ngày càng phức tạp, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Trung tướng Vũ Hải Sản, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng về tăng cường lực lượng lấy mẫu và xét nghiệm virus SARS-CoV-2 tại tỉnh Bắc Ninh, Bệnh viện TWQĐ 108 đã cử 10 cán bộ, thầy thuốc của Trung tâm Xét nghiệm nhận nhiệm vụ lấy mẫu xét nghiệm virus SARS-CoV-2, cùng trang bị, dụng cụ, vật tư, hóa chất và quần áo phòng hộ, tăng cường cho Sở Y tế tỉnh Bắc Ninh. 

Chiều 17-5, 10 cán bộ, thầy thuốc của Bệnh viện TWQĐ 108 đã có mặt tại địa điểm Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh để nhận nhiệm vụ. Các đồng chí sẽ thực hiện lấy mẫu và báo cáo kết quả xét nghiệm hằng ngày về Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Bộ Quốc phòng. 

Bắc Ninh là nơi tập trung nhiều khu công nghiệp, hiện nay đang có 1.600 doanh nghiệp đang hoạt động với 332.000 công nhân. Tính đến thời điểm hiện tại số ca mắc Covid-19 tại Bắc Ninh là 255 ca tại 7 huyện, thị xã, thành phố (trong đó có 34 ca mắc mới). Vì vậy sự hỗ trợ của những bệnh viện khác về nhân lực và cơ sở y tế là vô cùng quan trọng. 

Hiện nay, Bệnh viện TWQĐ 108 vẫn luôn làm tốt nhiệm vụ phòng, chống và kiểm soát dịch cũng như sẵn sàng chi viện hỗ trợ các đơn vị, địa phương trong quá trình chung tay đẩy lùi dịch Covid-19.

Quốc hội Việt Nam kêu gọi Nghị viện các nước thúc giục Chính phủ chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng bền vững

 Trong khuôn khổ chương trình làm việc tại Đại hội đồng Liên nghị viện thế giới lần thứ 142 (IPU-142), đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam đã dự phiên họp của Ủy ban thường trực về Hòa bình và An ninh quốc tế và Diễn đàn Nghị sĩ trẻ.

Đoàn Việt Nam tham dự phiên họp của Ủy ban thường trực về Hòa bình và An ninh quốc tế có đồng chí Vũ Hải Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội; đại diện Thường trực Ủy ban Đối ngoại; đại diện Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội. Phiên họp có chủ đề “Chiến lược nghị viện để tăng cường hòa bình và an ninh chống lại các mối đe dọa và xung đột do các thảm họa liên quan đến biến đổi khí hậu và các hệ lụy của chúng”. Phiên họp này thu hút 35 đoàn đại biểu từ nghị viện các nước thành viên IPU tham gia với sự chủ tọa của ông J. Echániz, Chủ tịch Ủy ban Hòa bình và An ninh quốc tế của IPU.

Phát biểu tại phiên họp, đoàn Việt Nam chia sẻ về những tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu với đời sống người dân, tiềm ẩn những mối đe dọa với hòa bình, an ninh và ổn định ở mỗi quốc gia. Việt Nam đánh giá cao nỗ lực của cộng đồng quốc tế, trong đó có IPU, trong việc nâng cao nhận thức, hành động của nghị viện, chính phủ và người dân về các vấn đề hòa bình, an ninh do biến đổi khí hậu gây ra. 

Đoàn Việt Nam cho rằng, Nghị viện các nước cần tiếp tục duy trì ý chí, cam kết chính trị mạnh mẽ, có hành động cục thể với tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế, đóng góp thiết thực vào chương trình nghị sự toàn cầu về chống biến đổi khí hậu vì hòa bình, an ninh trên thế giới. 

Nghị viện các nước thành viên cần nỗ lực nhiều hơn để thiết lập chính sách, pháp luật cụ thể, đồng bộ và thực chất hơn với các vấn đề biến đổi khí hậu của quốc gia và của toàn cầu. 

Đoàn Việt Nam đề nghị IPU thiết lập các sáng kiến, chương trình toàn cầu về phát triển kinh tế ít phát thải nhằm tạo nền tảng để đối thoại chính sách, chia sẻ kinh nghiệm và tăng cường năng lực cho các quốc gia, tạo điều kiện khuyến khích đầu tư tư nhân cho các lĩnh vực ít phát thải khí nhà kính.

Quốc hội Việt Nam kêu gọi Nghị viện các quốc gia thúc giục Chính phủ nước mình chưa hoàn thành trách nhiệm giảm phát thải khí nhà kính và đóng góp tài chính trong giai đoạn trước năm 2020 tiếp tục thực hiện trách nhiệm này bên cạnh nghĩa vụ mới. Đồng thời tích cực phục hồi các hoạt động phát triển kinh tế, cứu trợ để giúp đối tượng bị tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau và tăng cường chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng phát thải các-bon thấp nhằm bảo đảm phục hồi bền vững, tạo việc làm mới cho người lao động thông qua thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển năng lượng tái tạo, nông nghiệp thông minh, đô thị thông minh, giao thông thông minh và thiết lập nền kinh tế tuần hoàn.

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (Bài 1)

 QĐND -Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một đề tài lý luận và thực tiễn rất cơ bản, quan trọng, nội dung rất rộng lớn, phong phú và phức tạp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu rất công phu, nghiêm túc, tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc, khoa học.

Trong phạm vi bài này, tôi chỉ xin đề cập một số khía cạnh từ góc nhìn thực tiễn của Việt Nam. Và cũng chỉ tập trung vào trả lời mấy câu hỏi: Chủ nghĩa xã hội là gì? Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Thực tiễn công cuộc đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua có ý nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì? 

Như chúng ta đã biết, chủ nghĩa xã hội thường được hiểu với ba tư cách: Chủ nghĩa xã hội là một học thuyết; chủ nghĩa xã hội là một phong trào; chủ nghĩa xã hội là một chế độ. Mỗi tư cách ấy lại có nhiều biểu hiện khác nhau, tùy theo thế giới quan và trình độ phát triển ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Chủ nghĩa xã hội đề cập ở đây là chủ nghĩa xã hội khoa học dựa trên học thuyết Mác-Lênin trong thời đại ngày nay. Vậy thì chúng ta phải định hình chủ nghĩa xã hội thế nào, và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm cụ thể ở Việt Nam? 

Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế giới thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ đó họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Có người còn phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo Chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường xã hội chủ nghĩa! Thực tế có phải như vậy không? Thực tế có phải hiện nay chủ nghĩa tư bản, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không? Có phải Việt Nam chúng ta đã chọn con đường đi sai không? 

Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học-công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước. Từ giữa thập kỷ 70 và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, để thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách "tự do mới" trên quy mô toàn cầu; và nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra. Đặc biệt là, năm 2008-2009 chúng ta đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế bắt đầu từ nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước trên thế giới. Các nhà nước, các chính phủ tư sản ở phương Tây đã bơm những lượng tiền khổng lồ để cứu các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, các tổ hợp công nghiệp, tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, nhưng không mấy thành công. Và hôm nay, chúng ta lại chứng kiến cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, kinh tế đang diễn ra dưới tác động của đại dịch Covid-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc. Những tình huống "phát triển xấu", những nghịch lý "phản phát triển", từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội, và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với các làn sóng biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế. Sự thật cho thấy, bản thân thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản không thể giúp giải quyết được những khó khăn, và trong nhiều trường hợp còn gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho các nước nghèo; làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lao động và tư bản toàn cầu. Sự thật đó cũng làm phá sản những lý thuyết kinh tế hay mô hình phát triển vốn xưa nay được coi là thời thượng, được không ít các chính khách tư sản ca ngợi, được các chuyên gia của họ coi là tối ưu, hợp lý. 

Cùng với khủng hoảng kinh tế-tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái,... đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa. Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó. Theo nhiều nhà khoa học phân tích, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa. 

Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức "dân chủ tự do" mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân-yếu tố bản chất nhất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào "99 chống lại 1" diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản. Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất. Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là "tự do", "dân chủ" dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản. 

Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, "cá lớn nuốt cá bé" vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có. Phải chăng những mong ước tốt đẹp đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội và cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi. 

Như chúng ta đều biết, nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân với tinh thần "Không có gì quý hơn Độc lập Tự do". 

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc. 

Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: "Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa". Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa lâm vào giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: "Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh". Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1-2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng ta một lần nữa khẳng định: "Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử". 

Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội là gì và đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào? Đó là điều mà chúng ta luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để từng bước hoàn thiện đường lối, quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. 

Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: Đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản... 

Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. 

Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng ta phải: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. 

Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển. 

Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới. Theo nhận thức của chúng ta, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ (vì nước ta còn đang trong thời kỳ quá độ). (Còn nữa)

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (Bài 2)

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. 

Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: Không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. 

Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa văn hóa nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao. Chúng ta xác định: Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục-đào tạo và khoa học-công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh. 

Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Chúng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội. Chúng ta nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam; không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo. 

Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam; Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Khi Đảng cầm quyền, lãnh đạo cả dân tộc, được toàn dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình và do đó Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp bản chất giai cấp của Đảng, mà là thể hiện sự nhận thức bản chất giai cấp của Đảng một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, vì giai cấp công nhân là giai cấp có lợi ích thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc. Đảng ta kiên trì lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ. Ý thức được nguy cơ đối với đảng cầm quyền là tham nhũng, quan liêu, thoái hóa v.v..., nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hóa v.v... trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị. 

Công cuộc đổi mới, trong đó có việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã thực sự đem lại những thay đổi to lớn, rất tốt đẹp cho đất nước trong 35 năm qua. 

Trước Đổi mới (năm 1986), Việt Nam vốn là một nước nghèo lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, để lại những hậu quả hết sức to lớn cả về người, về của và môi trường sinh thái. Tôi chỉ nêu thí dụ, cho đến nay vẫn có hàng triệu người chịu các bệnh hiểm nghèo và hàng trăm ngàn trẻ em bị dị tật bẩm sinh bởi tác động của chất độc da cam/dioxin do quân đội Mỹ sử dụng trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam. Theo các chuyên gia, phải mất đến hơn 100 năm nữa Việt Nam mới có thể dọn sạch hết bom mìn còn sót lại sau chiến tranh. Sau chiến tranh, Mỹ và phương Tây đã áp đặt cấm vận kinh tế với Việt Nam trong suốt gần 20 năm. Tình hình khu vực và quốc tế cũng diễn biến phức tạp, gây nhiều bất lợi cho chúng ta. Lương thực, hàng hóa nhu yếu phẩm hết sức thiếu thốn, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, khoảng 3/4 dân số sống dưới mức nghèo khổ. 

Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỷ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỷ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỷ USD vào cuối năm 2020. Về cơ cấu nền kinh tế xét trên phương diện quan hệ sở hữu, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam hiện nay gồm khoảng 27% từ kinh tế nhà nước, 4% từ kinh tế tập thể, 30% từ kinh tế hộ, 10% từ kinh tế tư nhân trong nước và 20% từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. 

Hiện dân số của Việt Nam là hơn 97 triệu người, gồm 54 dân tộc anh em, trong đó hơn 60% số dân sống ở nông thôn. Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 80 và cải thiện đáng kể đời sống của nhân dân. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước). Đến nay, hơn 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hầu hết các xã nông thôn đều có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và điện thoại. Trong khi chưa có điều kiện để bảo đảm giáo dục miễn phí cho mọi người ở tất cả các cấp, Việt Nam tập trung hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết. Trong khi chưa thực hiện được việc bảo đảm cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho toàn dân, Việt Nam tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều dịch bệnh vốn phổ biến trước đây đã được khống chế thành công. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm gần 3 lần. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2020. Cũng nhờ kinh tế có bước phát triển nên chúng ta đã có điều kiện để chăm sóc tốt hơn những người có công, phụng dưỡng các Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, chăm lo cho phần mộ của các liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc. Đời sống văn hóa cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Hiện Việt Nam có khoảng 70% dân số sử dụng internet, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu thiên niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển. 

Như vậy, có thể nói, việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố. Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội Đảng lần thứ X (năm 2006) đã nhận định, sự nghiệp đổi mới đã giành được "những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử". Trên thực tế, xét trên nhiều phương diện, người dân Việt Nam ngày nay đang có các điều kiện sống tốt hơn so với bất cứ thời kỳ nào trước đây. Đó là một trong những lý do giải thích vì sao sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo được toàn dân Việt Nam đồng tình, hưởng ứng và tích cực phấn đấu thực hiện. Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế. Những kết quả, thành tích đặc biệt đạt được của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu từ đầu năm 2020 được nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mới đây, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng một lần nữa lại khẳng định và nhấn mạnh: "Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới" (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, trang 25 - 26). 

Bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực là cơ bản, chúng ta cũng còn không ít khuyết điểm, hạn chế và đang phải đối mặt với những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước. 

Về kinh tế, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh còn thấp, thiếu bền vững; kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ; hiệu quả và năng lực của nhiều doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế; môi trường bị ô nhiễm tại nhiều nơi; công tác quản lý, điều tiết thị trường còn nhiều bất cập. Trong khi đó, sự cạnh tranh đang diễn ra ngày càng quyết liệt trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. 

Về xã hội, khoảng cách giàu nghèo gia tăng; chất lượng giáo dục, chăm sóc y tế và nhiều dịch vụ công ích khác còn không ít hạn chế; văn hóa, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; tội phạm và các tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp. Đặc biệt, tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trong khi đó, các thế lực xấu, thù địch lại luôn tìm mọi thủ đoạn để can thiệp, chống phá, gây mất ổn định, thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình" nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

Đảng ta nhận thức rằng, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình xây dựng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. 

Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chú trọng hơn chất lượng và tăng tính bền vững với các khâu đột phá là: Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nguồn nhân lực, trước hết là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội (Văn kiện Đại hội XIII, tập 2, trang 337-338). Về xã hội, chúng ta tiếp tục đẩy mạnh công tác giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng y tế, giáo dục và các dịch vụ công ích khác, nâng cao hơn nữa đời sống văn hóa cho nhân dân. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang ra sức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, thực hiện tốt hơn nữa các nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng, nhằm làm cho tổ chức đảng và bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. 

Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội. Vì vậy, bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển. 

Mặt khác, Đảng lãnh đạo và cầm quyền, trong khi xác định phương hướng chính trị và đề ra quyết sách, không thể chỉ xuất phát từ thực tiễn của đất nước và dân tộc mình, mà còn phải nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm từ thực tiễn của thế giới và thời đại. Trong thế giới toàn cầu hóa như hiện nay, sự phát triển của mỗi quốc gia-dân tộc không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó. Chính vì vậy, chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi. 

Và điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin-học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống. (Hết) 

GS, TS NGUYỄN PHÚ TRỌNG, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Nguồn: Báo QĐND

Thứ Ba, 11 tháng 5, 2021

Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là vấn đề xuyên suốt, tiền đề để quân đội tiến lên hiện đại

 QĐND - Xây dựng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam vững mạnh về chính trị là một nguyên tắc cơ bản, vấn đề xuyên suốt, tạo tiền đề để quân đội tiến lên chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo đảm cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Đó là sự vận dụng sáng tạo quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ giữa chính trị và quân sự, con người và vũ khí, trang bị vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, tiếp thu di sản tư tưởng quân sự của dân tộc và tinh hoa quân sự thế giới của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh để xác định đúng đắn quan điểm, đường lối, chủ trương xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, từng bước tiến lên hiện đại. 

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thì sức mạnh chiến đấu của quân đội là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó chính trị-tinh thần là yếu tố có vai trò quyết định. V.I.Lênin đã khẳng định: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của các quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”(1). Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, vấn đề hàng đầu đối với lực lượng vũ trang cách mạng là phải có “con đường chính trị đúng”. Người đã chỉ rõ: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”(2) và “phải tăng cường công tác chính trị, luôn luôn nâng cao trình độ chính trị và giác ngộ giai cấp của bộ đội ta”(3); đồng thời: “Trong việc chỉnh huấn bộ đội, phải lấy chính trị làm gốc”(4), như vậy mới bảo đảm cho Quân đội ta thực sự là quân đội cách mạng, từng bước vững chắc tiến lên chính quy, hiện đại, một quân đội bách chiến bách  thắng. Thực tiễn quá trình xây dựng, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của QĐND Việt Nam trong gần 80 năm qua đã khẳng định tính đúng đắn của việc xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. 

Hiện nay và trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Ở trong nước, sau 35 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới, đòi hỏi chúng ta phải nắm vững xu thế khách quan, phải có sự đổi mới và phát triển về nội dung, phương thức xây dựng quân đội phù hợp trên nền tảng của tư duy mới về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong điều kiện mới; phù hợp với khả năng thực tế, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cả trước mắt và lâu dài. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Xây dựng QĐND, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. 

Tiến lên hiện đại là đòi hỏi tất yếu, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của QĐND Việt Nam đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, không bị động, bất ngờ. Tuy nhiên, Quân đội ta tiến lên hiện đại phải được bắt đầu từ xây dựng vững mạnh về chính trị, quân đội phải thực sự tinh nhuệ về chính trị, bảo đảm chắc chắn trong bất cứ hoàn cảnh nào, QĐND Việt Nam cũng tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH); nắm vững và chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; biết phát huy sức mạnh của vũ khí, trang bị hiện đại để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. 

Xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh về chính trị làm tiền đề để quân đội tiến lên hiện đại hiện nay, cần tập trung vào những vấn đề cơ bản sau: 

Một là, giữ vững và không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐND Việt Nam 

Đây vừa là nguyên tắc, vừa là nội dung cơ bản trong xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại và hiện đại, là nhân tố quyết định bảo đảm cho Quân đội ta luôn vững mạnh về chính trị. Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong tình hình mới, chúng ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức, cán bộ; thật sự tiêu biểu về trí tuệ, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong điều kiện mới. Tiếp tục quán triệt và đẩy mạnh thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; quán triệt và chấp hành nghiêm, đi đôi với nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện cơ chế lãnh đạo theo Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong QĐND Việt Nam”. 

Hai là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng 

Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tư tưởng vì đây là nhiệm vụ có tính chất quyết định để xây dựng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, chiến sĩ. Tập trung đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, trang bị cho cán bộ, chiến sĩ những vấn đề cơ bản về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ của quân đội và đơn vị. Nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bản lĩnh chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng chính quy và ý thức chấp hành kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước của cán bộ, chiến sĩ. Nâng cao cảnh giác cách mạng, chủ động, nhạy bén, kiên quyết đấu tranh trên mặt trận tư tưởng-văn hóa, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tạo sự thống nhất cao về chính trị, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ toàn quân trong quá trình tiến lên hiện đại của Quân đội ta. 

Ba là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ trí tuệ và năng lực tổ chức thực tiễn 

Đội ngũ cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng, là nhân tố quyết định thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao. Theo đó, cần nâng cao chất lượng nguồn đăng ký tuyển sinh vào các học viện, trường sĩ quan quân đội. Tạo nguồn bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chỉ huy tham mưu, chính trị, hậu cần, chuyên môn kỹ thuật các cấp trong quân đội. Có chính sách thu hút tài năng bổ sung vào đội ngũ cán bộ quân đội; đánh giá đúng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật và kiến thức, năng lực, phương pháp, tác phong công tác làm cơ sở quy hoạch và phân hướng sử dụng cán bộ. Chú trọng quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược bảo đảm sự kế thừa vững chắc giữa các thế hệ cán bộ. Chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ, bảo đảm đúng nguyên tắc, theo phân công, phân cấp quản lý của cấp ủy các cấp, thực hiện đúng quy trình công tác cán bộ, kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực trong công tác cán bộ. 

Bốn là, giải quyết tốt các mối quan hệ, phát huy dân chủ, tăng cường kỷ luật, củng cố sự đoàn kết thống nhất nội bộ 

Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là tiền đề để tiến lên hiện đại đòi hỏi phải giải quyết đúng đắn các mối quan hệ nội bộ, nhất là các mối quan hệ chính trị, tạo sự thống nhất trong toàn quân và các lực lượng có liên quan. Đó là mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, quan hệ đồng chí đồng đội, quan hệ cá nhân với tổ chức, quan hệ lãnh đạo, chỉ huy với phục tùng..., được thực hiện trên cơ sở giác ngộ sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng, nhiệm vụ, thống nhất lợi ích. Vì vậy, các mối quan hệ đó phải được thực hiện trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của điều lệnh, điều lệ, kỷ luật quân đội. Các mối quan hệ đó phải được xây dựng và phát triển từ yêu cầu của hoạt động quân sự, hoạt động chiến đấu, được giải quyết trên nền tảng của tình đồng chí, đồng đội. Ngăn chặn và khắc phục những tác động tiêu cực của xã hội, làm biến dạng những mối quan hệ truyền thống tốt đẹp của quân đội. Gắn bó mật thiết với nhân dân là nguồn gốc tạo nên sức mạnh chính trị, tinh thần của quân đội, bảo đảm để quân đội ta tiến lên chính quy, hiện đại. 

Năm là, tích cực, chủ động đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” và âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch 

Hiện nay, các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tập trung chống phá quyết liệt trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Chúng ra sức xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quan điểm, chủ trương, phương hướng xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nhằm làm thay đổi nhận thức tư tưởng, lòng tin của cán bộ, chiến sĩ; gây tâm lý hoài nghi, dao động, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, tiến tới làm mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ XHCN, làm suy thoái bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội trong quá trình tiến lên hiện đại. 

Theo đó, cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị các cấp cần lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, sâu sát việc kết hợp giữa xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh về chính trị với chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa. Tích cực, chủ động đấu tranh chống mọi biểu hiện cơ hội, những quan điểm sai trái, tiêu cực, bảo vệ bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới, đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng quân đội tiến lên hiện đại của Đảng. Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh, vạch trần bản chất âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; nâng cao trình độ nhận thức, bản lĩnh chính trị, củng cố lòng tin của cán bộ, chiến sĩ quân đội vào sự lãnh đạo của Đảng; tăng cường khả năng miễn dịch, sức đề kháng của cán bộ, chiến sĩ trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch; khắc phục tình trạng chủ quan, mơ hồ, mất cảnh giác, hoài nghi, dao động trong quá trình xây dựng QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại.

-------- 

(1) V.I.Lênin toàn tập. Tập 41, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2005, tr. 147. 

(2) Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 6, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 318. 

(3) Sđd, Tập 8, tr. 29. 

(4) Sđd, Tập 6, tr. 464. 

Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN VĂN BẠO, Giám đốc Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Nguồn: https://www.qdnd.vn/quan-doi-tien-len-hien-dai/xay-dung-quan-doi-vung-manh-ve-chinh-tri-la-van-de-xuyen-suot-tien-de-de-quan-doi-tien-len-hien-dai-658450

Bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 là sự kiện chính trị có ý nghĩa quan trọng đối với cả nước và từng địa phương, là đợt vận động và sinh hoạt dân chủ sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân để lựa chọn, bầu ra những đại biểu ưu tú, đại diện cho nhân dân cả nước tại Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn cuộc bầu cử, củng cố vững chắc môi trường an ninh, an toàn, lành mạnh, tạo điều kiện thuận lợi nhất để phục vụ tổ chức thành công cuộc bầu cử theo đúng quy định của pháp luật là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, xuyên suốt của lực lượng Công an nhân dân (CAND) từ cuối năm 2020 đến khi kết thúc cuộc bầu cử. 

Ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20-6-2020 về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, ngày 30-7-2020, Bộ Công an ban hành Chỉ thị số 08/CT-BCA về công tác bảo đảm an ninh, trật tự (ANTT) cuộc bầu cử với 11 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đồng thời ban hành Kế hoạch số 330/KH-BCA về công tác công an bảo đảm ANTT cuộc bầu cử, xác định “bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn phục vụ tổ chức thành công cuộc bầu cử là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của toàn lực lượng công an từ nay đến khi kết thúc cuộc bầu cử”, phân công trách nhiệm cụ thể đối với từng cục nghiệp vụ và công an địa phương; thành lập Tiểu ban ANTT, phân công một đồng chí lãnh đạo Bộ Công an là Trưởng tiểu ban để tập trung chỉ huy, chỉ đạo mọi công tác liên quan bảo đảm ANTT cuộc bầu cử. Công an cả nước cụ thể hóa chỉ đạo của Bộ Công an bằng các kế hoạch bảo đảm ANTT cuộc bầu cử đến từng cấp công an, nhất là cấp xã/phường, ban hành Kế hoạch Lịch triển khai công tác bảo đảm ANTT để cụ thể hóa các nhóm công việc, phân công rõ trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện. 

Tích cực triển khai các chỉ thị, kế hoạch của Bộ Công an, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quốc hội, Hội đồng Bầu cử quốc gia, Chính phủ, với sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ của lực lượng Quân đội nhân dân (QĐND) và các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương, sự ủng hộ và tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp và nhân dân, công tác bảo đảm ANTT cuộc bầu cử đã đạt được nhiều kết quả rất quan trọng. Lực lượng CAND đã chủ động nắm chắc tình hình bên trong, bên ngoài, tình hình an ninh chính trị nội bộ, an ninh thông tin truyền thông, an ninh mạng, an ninh xã hội, âm mưu, hoạt động chống phá cuộc bầu cử của các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu; đã có hàng trăm báo cáo, tham mưu với Đảng, Nhà nước, Hội đồng Bầu cử quốc gia, ủy ban bầu cử các cấp những chủ trương, quyết sách về bảo vệ an ninh, lợi ích quốc gia, chỉ đạo xử lý, giải quyết có hiệu quả các vấn đề liên quan đến quá trình lựa chọn, giới thiệu nhân sự ứng cử, công tác tổ chức bầu cử, không để phát sinh phức tạp về ANTT, làm thất bại âm mưu chia rẽ đoàn kết, kích động hoạt động lợi dụng quá trình lựa chọn, giới thiệu nhân sự bầu cử, tổ chức bầu cử để xâm phạm ANTT, chống phá Đảng, Nhà nước; góp phần giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trường hòa bình, thuận lợi phục vụ tổ chức thành công cuộc bầu cử. 

Công an các đơn vị, địa phương phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng liên quan tập trung tham mưu với các bộ, ban, ngành, ủy ban bầu cử các cấp rà soát thẩm định tiêu chuẩn chính trị hàng trăm nghìn nhân sự tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp, kịp thời phát hiện, kiến nghị đối với những trường hợp được giới thiệu ứng cử, tự ứng cử hoặc tham gia phục vụ bầu cử, tham gia tổ bầu cử tại các địa phương nhưng vi phạm tiêu chuẩn chính trị, vi phạm pháp luật. Tích cực nắm tình hình, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những trường hợp tán phát thông tin phức tạp, vận động bầu cử, ứng cử trái quy định, ảnh hưởng đến cuộc bầu cử. Chủ động phối hợp, tham mưu giải quyết các khiếu nại, tố cáo liên quan đến người ứng cử, công tác bầu cử, bảo đảm đúng quy định của pháp luật, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đồng thời chủ động rà soát, tham mưu với ủy ban bầu cử các cấp chỉ đạo giải quyết ổn định tại chỗ nhiều vụ việc tranh chấp, khiếu kiện, mâu thuẫn, bức xúc trong nội bộ nhân dân, không để phức tạp, lan rộng, kéo dài, không để phát sinh “điểm nóng” về ANTT, không để phần tử xấu lợi dụng kích động gây chia rẽ nội bộ, gây sức ép, lôi kéo người dân không đi bầu cử. 

Nhận thức sâu sắc vai trò, ý nghĩa của công tác tuyên truyền, khơi dậy khí thế của mọi tầng lớp nhân dân tham gia đợt vận động và sinh hoạt dân chủ sâu rộng để lựa chọn, bầu được những đại biểu ưu tú, đại diện cho nhân dân cả nước tại Quốc hội khóa XV, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và các đại biểu đại diện cho nhân dân địa phương tại HĐND các cấp, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương trong nhiệm kỳ 2021-2026, Bộ Công an đã ban hành Kế hoạch chuyên đề về tuyên truyền công tác bảo đảm ANTT cuộc bầu cử, huy động lực lượng công an cả nước tích cực tham gia tuyên truyền, vận động về các quy định của pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Hội đồng Bầu cử quốc gia, ủy ban bầu cử các cấp liên quan cuộc bầu cử cũng như công tác bảo đảm ANTT cuộc bầu cử. Nhiều hình thức tuyên truyền phong phú, đa dạng, như mở các chuyên trang, chuyên mục trên các phương tiện truyền thông đại chúng trong CAND, đăng tải tin, bài trên cổng thông tin điện tử/trang thông tin điện tử, sử dụng mạng xã hội zalo... đã lan tỏa, tác động sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân. Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo 35 công an các đơn vị, địa phương tích cực chỉ đạo đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái liên quan cuộc bầu cử; đăng tải, chia sẻ hàng trăm nghìn bài viết, hình ảnh, video clip, phóng sự tuyên truyền, định hướng dư luận, phản bác luận điệu sai trái, thù địch; hàng chục nghìn tin, bài tuyên truyền về công tác chuẩn bị bầu cử; tổ chức xác minh, đấu tranh, củng cố tài liệu, chứng cứ, xử lý, giáo dục nhiều đối tượng có hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, tung tin sai sự thật liên quan cuộc bầu cử. 

Quá trình chuẩn bị, tổ chức cuộc bầu cử, lực lượng CAND đã liên tục mở các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, quyết tâm kéo giảm phạm pháp hình sự, không để tội phạm “lộng hành”, củng cố môi trường thực sự an ninh, an toàn, lành mạnh, phục vụ tốt nhất cuộc bầu cử, trọng tâm là ngày bầu cử. Điều tra, bóc gỡ nhiều đường dây, băng nhóm tội phạm, triệt xóa các tụ điểm ma túy, cờ bạc, tệ nạn xã hội phức tạp; chuyển hóa địa bàn trọng điểm, phức tạp về trật tự, an toàn xã hội; thực hiện cao điểm vận động nhân dân thu hồi, đấu tranh với tội phạm, vi phạm pháp luật liên quan đến vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; tổng kiểm tra an toàn về phòng cháy, chữa cháy; cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, ngăn chặn đưa người Việt Nam xuất/nhập cảnh trái phép, người nước ngoài nhập cảnh trái phép; đẩy lùi các nguy cơ khủng bố, phá hoại, góp phần tích cực phòng, chống dịch Covid-19 phục vụ tổ chức cuộc bầu cử. Cùng với đó, lực lượng công an toàn quốc, nhất là công an cấp huyện, cấp xã đã quyết liệt triển khai chiến dịch xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cấp căn cước công dân gắn chíp điện tử, với phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng trường hợp”, góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả quản lý cư trú, giải quyết các vấn đề phát sinh về hộ tịch, quốc tịch, hỗ trợ tích cực công tác lập danh sách và vận động cử tri tham gia bầu cử tại từng khu vực bỏ phiếu. 

Để bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn cuộc bầu cử với yêu cầu “bảo đảm ANTT là yêu cầu nghiêm ngặt nhất, chủ động phòng ngừa là chính”, lực lượng công an đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban, ngành liên quan, đặc biệt là lực lượng quân đội, y tế chủ động xây dựng và bố trí thế trận bảo đảm an ninh, an toàn, y tế tại các khu vực bỏ phiếu, đối với từng hòm phiếu. Phối hợp xác minh hàng trăm nghìn nhân sự, không để các phần tử xấu lọt vào các tổ bầu cử; rà soát, phát hiện, kiến nghị loại trừ từ sớm các nguyên nhân, điều kiện có thể dẫn đến sơ suất trong công tác bảo đảm ANTT. Công an các địa phương đã xây dựng các phương án bố trí lực lượng, phân công nhiệm vụ cán bộ công an bảo vệ nghiêm ngặt khu vực bỏ phiếu, thùng phiếu; phương án bảo đảm ANTT, điều tiết phân luồng giao thông và phòng, chống cháy nổ...; chủ động phương án bảo đảm ANTT trong tình huống dịch Covid-19 lây lan trong cộng đồng. 

Có thể khẳng định, đến thời điểm hiện nay, công tác bảo đảm ANTT đã được chuẩn bị kỹ lưỡng, với cấp độ bảo vệ cao nhất, sẵn sàng bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Quá trình triển khai các biện pháp công tác bảo đảm ANTT, có thể rút ra một số vấn đề sau đây: 

1 - Bám sát và triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả mọi chủ trương chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ, Quốc hội, Hội đồng Bầu cử quốc gia, ủy ban bầu cử các cấp về chuẩn bị, tổ chức cuộc bầu cử là yếu tố then chốt quyết định chất lượng, hiệu quả công tác bảo đảm ANTT. 

2 - Công tác bảo đảm ANTT phải được triển khai chủ động, từ sớm, từ xa, trọng tâm từ cơ sở, giải quyết, xử lý kịp thời, có hiệu quả mọi vấn đề phức tạp ngay từ khi mới manh nha, còn trong “trứng nước”; huy động toàn lực lượng CAND dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của lãnh đạo Bộ Công an, thủ trưởng công an các địa phương; phát huy tinh thần trách nhiệm của từng cán bộ, chiến sĩ ở từng vị trí công tác, đề cao trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ huy. 

3 - Đặc biệt coi trọng phối hợp giữa lực lượng công an với lực lượng quân đội và các cơ quan, ban, ngành có liên quan; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân trong triển khai các mặt công tác bảo đảm ANTT phục vụ tổ chức cuộc bầu cử. 

4 - Trong công tác bảo vệ ANTT cuộc bầu cử, vấn đề cơ bản, quan trọng nhất là tạo môi trường thực sự an ninh, an toàn lành mạnh, tạo điều kiện thuận lợi nhất để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của mình, lựa chọn, giới thiệu, bầu được những đại biểu ưu tú, những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho nhân dân cả nước tại Quốc hội và HĐND các cấp; đồng thời phát hiện, ngăn chặn có hiệu quả mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng cuộc bầu cử để vi phạm pháp luật, gây phương hại an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. 

5 - Chủ động thiết lập phương án bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn từng khu vực bỏ phiếu, từng thùng phiếu, trong đó định rõ cơ chế chỉ huy chỉ đạo, bố trí lực lượng, phương tiện cụ thể; thường xuyên kiểm tra, rà soát, bảo đảm bịt kín mọi sơ hở, thiếu sót. 

Ngày bầu cử 23-5-2021 đã cận kề, ngày 12-5-2021, Bộ Công an tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc đến tận công an địa phương, cấp huyện để giao nhiệm vụ và phát lệnh ra quân bảo vệ cuộc bầu cử, đánh dấu thời điểm toàn lực lượng CAND, QĐND và các lực lượng tham gia công tác bảo đảm ANTT cuộc bầu cử bước vào trạng thái sẵn sàng cao nhất trong triển khai lực lượng, phương tiện, biện pháp bảo đảm ANTT. Lực lượng CAND, QĐND tập trung rà soát, hoàn thiện các phương án, kế hoạch bảo vệ từng khu vực bỏ phiếu, từng thùng phiếu, xử lý các tình huống phức tạp nảy sinh gắn với tăng cường bảo đảm ANTT trên các lĩnh vực, trọng tâm là bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, an ninh thông tin, truyền thông, an ninh mạng, an ninh vùng trời, an ninh biên giới; quyết liệt đấu tranh trấn áp các loại tội phạm, nhất là tội phạm hình sự, tội phạm mạng, tội phạm sử dụng công nghệ cao; huy động sức mạnh tổng hợp cả hệ thống chính trị, toàn dân, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong công tác bảo vệ cuộc bầu cử. 

Toàn lực lượng CAND nêu cao tinh thần trách nhiệm, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với lực lượng QĐND và các lực lượng chức năng, triển khai quyết liệt, có hiệu quả các phương án, kế hoạch, dành toàn tâm, toàn lực, nỗ lực phấn đấu, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn phục vụ tổ chức thành công cuộc bầu cử, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, không để xảy ra sơ suất dù là nhỏ nhất. 

Đại tướng TÔ LÂM, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an

Nguồn: https://www.qdnd.vn/bau-cu-dai-bieu-quoc-hoi-khoa-xv-va-dai-bieu-hdnd-cac-cap/y-kien-cu-tri/bao-ve-tuyet-doi-an-ninh-an-toan-bau-cu-dai-bieu-quoc-hoi-khoa-xv-va-dai-bieu-hdnd-cac-cap-nhiem-ky-2021-2026-659293

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...