Thứ Ba, 19 tháng 5, 2020

NHẬN DIỆN CÁC “CHIẾN DỊCH” TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG



Càng gần đến ngày diễn ra Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch càng gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá với nhiều thủ đoạn tinh vi.
Hoạt động của chúng không còn được thực hiện đơn lẻ mà được tiến hành ồ ạt theo kiểu “chiến dịch”, với việc huy động cùng lúc nhiều lực lượng, phương tiện, tuyên truyền tập trung về một chủ đề thống nhất trong một khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, cần nhận diện để chủ động đề ra các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn.
Lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là các ứng dụng, dịch vụ tiện ích trên không gian mạng, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, chính trị không ngừng gia tăng các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; xuyên tạc nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; xuyên tạc vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng và công tác nhân sự Đại hội XIII… Tất cả sự chống phá trên đều nhằm tới mục tiêu: Phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; hạ thấp uy tín và thành quả cách mạng; phá hoại Đại hội XIII của Đảng.
Để gia tăng hiệu quả, quy mô, mức độ tác động, ảnh hưởng của hoạt động tuyên truyền, chúng huy động cùng lúc nhiều lực lượng, phương tiện, tuyên truyền về một chủ đề thống nhất trong một khoảng thời gian nhất định. Tiêu biểu là: “Chiến dịch tuyên truyền xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp 2013”; “Chiến dịch tẩy chay Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Chiến dịch bàn luận nhân sự Đại hội XIII”, “Chiến dịch xuống đường vì dân chủ”, “Chiến dịch bất tuân dân sự”, “Chiến dịch khai dân trí”…
Có thể thấy, các “chiến dịch” này có những dấu hiệu đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, chủ thể khởi xướng các “chiến dịch tuyên truyền” chủ yếu là các trung tâm, tổ chức thù địch Việt Nam ở nước ngoài như: Các tổ chức khủng bố, phản động lưu vong (“Việt Tân”, “Đảng Dân chủ nhân dân”, “Đảng Vì dân”, “Tập hợp dân chủ đa nguyên”, “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”…); các trung tâm truyền thông nước ngoài (Đài BBC tiếng Việt, VOA tiếng Việt, RFA tiếng Việt…); các tổ chức quốc tế, NGO nước ngoài (“Theo dõi Nhân quyền thế giới - HRW”, “Ân xá quốc tế - AI”, “Phóng viên không biên giới - RSF”…). Bên cạnh đó, các “chiến dịch tuyên truyền” chống phá Đại hội XIII của Đảng còn được tiến hành mạnh mẽ, quyết liệt với sự phối kết hợp của nhiều lực lượng thù địch cả trong và ngoài nước, nhất là số dân biểu cực hữu trong chính giới các nước Mỹ, phương Tây; số đối tượng chống đối chính trị trong nước.
Thứ hai, nội dung tuyên truyền trong các “chiến dịch” được hướng theo một chủ đề thống nhất, như: Tuyên truyền chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng; tuyên truyền chống phá vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp 2013; tuyên truyền chống phá cương lĩnh, dự thảo các văn kiện Đại hội; tuyên truyền xuyên tạc nguyên tắc tổ chức, vấn đề nhân sự Đại hội XIII… Chẳng hạn như, thực hiện chiến dịch chống phá cương lĩnh, dự thảo các văn kiện Đại hội XIII, nhiều trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống đối trong nước đã đồng loạt tán phát các bài viết có nội dung xuyên tạc cương lĩnh, đường lối của Đảng. Đồng thời, kêu gọi sửa đổi “toàn diện” văn kiện, đường lối chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ vai trò “độc tôn” của Đảng; thay đổi hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước; xây dựng nền kinh tế đa sở hữu bắt đầu từ năm 2021. Có thể thấy rõ ý đồ này qua các bài viết: “Vài suy nghĩ trước thềm Đại hội XIII”, “Việt Nam: Liệu Đại hội Đảng XIII sẽ có khác biệt?”, “Các nhóm thân hữu và tắc nghẽn thể chế đang gây hại cho Việt Nam”, “Góp ý chuẩn bị Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Về Đảng cầm quyền”, “Bản kiến nghị về Đại hội XIII”… Cá biệt, có bài viết, đối tượng còn đưa ra “lộ trình” cải cách thể chế ở Việt Nam theo 2 giai đoạn: Giai đoạn 1: Chuyển đổi Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đảng nắm quyền thành Đảng cầm quyền, với cương lĩnh, điều lệ mới theo hướng hòa giải, hòa hợp dân tộc và dân chủ hóa đất nước. Giai đoạn 2: Thực hiện cải cách hệ thống chính trị - nhà nước hiện tại thành nhà nước pháp quyền với Hiến pháp mới và thể chế chính trị dân chủ đa nguyên.
Để thực hiện các chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc công tác nhân sự Đại hội XIII, các trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong, đài phát thanh nước ngoài đã đồng loạt tán phát hàng chục bài viết có nội dung xuyên tạc về công tác nhân sự Đại hội XIII, bịa đặt nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đang hình thành “phe cánh” để “tranh giành, đấu đá quyền lực; có “lợi ích nhóm”, “thanh trừng phe phái” trong công tác nhân sự; thậm chí chúng còn xuyên tạc rằng vấn đề nhân sự Đại hội Đảng XIII bị một số thế lực bên ngoài can thiệp, chỉ đạo. Đó là các bài viết: “Những ai sẽ vào tứ trụ tại Đại hội Đảng 2021”, “Chân dung anh hùng - đại biểu Quốc hội; “Trao đổi về Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Thế lực thù địch ngay trong lòng Đảng”, “Trước thềm Đại hội Đảng, tổ chức lại sanh chuyện”, “Ai sẽ lãnh đạo Việt Nam sau 2 năm nữa?”, “Tín hiệu định hướng cho tứ trụ/tam trụ”…
Thứ ba, các “chiến dịch tuyên truyền” được tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định, với nhiều lực lượng, phương tiện tham gia. Các “chiến dịch tuyên truyền” chống phá Đại hội Đảng XIII chủ yếu được tiến hành vào thời điểm trước và trong khi diễn ra Đại hội XIII của Đảng. Đặc biệt, ngay trước thời điểm diễn ra Đại hội, các “chiến dịch” này sẽ được gia tăng về cấp độ, tính chất và quy mô, sau đó sẽ giảm dần và kết thúc khi Đại hội Đảng XIII của Đảng kết thúc. Trong khoảng thời gian này, các thế lực thù địch, phản động sẽ tập trung huy động cùng lúc nhiều lực lượng, phương tiện tham gia nhằm làm gia tăng mức độ, tính chất, phạm vi tác động, ảnh hưởng của hoạt động tuyên truyền.
Thứ tư, các chiến dịch tuyên truyền chống phá Đại hội XIII của Đảng thường trải qua 3 giai đoạn là “giai đoạn chuẩn bị”, “giai đoạn tiến hành” và “giai đoạn kết thúc” chiến dịch. Trong giai đoạn chuẩn bị, các đối tượng thường tìm cách thu thập các tin tức liên quan phục vụ cho hoạt động tuyên truyền; chuẩn bị về lực lượng, phương tiện tuyên truyền. Trong giai đoạn tiến hành chiến dịch tuyên truyền thường xuất hiện sự câu kết, móc nối, chuyển giao tin tức, tài liệu theo chủ đề tuyên truyền giữa các đối tượng ở trong nước với các cá nhân, tổ chức chống đối ở bên ngoài; xuất hiện hoạt động đưa tin, bài tuyên truyền chống phá theo một chủ đề thống nhất của các trung tâm, tổ chức chống Việt Nam ở bên ngoài; các hoạt động tuyên truyền được tiến hành đồng loạt, rầm rộ trên một phạm vi rộng với nhiều hình thức ở cả trong và ngoài nước. Ở giai đoạn kết thúc “chiến dịch tuyên truyền”, hoạt động tuyên truyền của đối phương giảm dần và có sự chuyển hướng trong các hoạt động tuyên truyền chống Việt Nam sang những chủ đề, nội dung khác.
Thứ năm, mục đích trực tiếp của các “chiến dịch tuyên truyền” chống phá Đại hội XIII của Đảng là nhằm phá hoại công tác chuẩn bị Đại hội, phá hoại công tác nhân sự; phá hoại các dự thảo văn kiện; gây mâu thuẫn, chia rẽ, nghi kỵ, mất đoàn kết nội bộ Đảng; làm suy giảm niềm tin của các tầng lớp nhân dân, cán bộ, đảng viên với Đảng, Nhà nước và chế độ; làm cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII không diễn ra theo kế hoạch hoặc không đạt được các mục đích, yêu cầu đề ra. Bên cạnh đó, chúng còn hướng tới những mục tiêu khác như: Xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ trương, đường lối của Đảng; hạ thấp uy tín và thành quả cách mạng; gây nhiễu loạn thông tin; gây mâu thuẫn, chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ; kích động các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước.
Các “chiến dịch tuyên truyền” chống phá Đại hội Đảng XIII của các thế lực thù địch thời gian qua không chỉ tạo ra sự nhiễu loạn thông tin, gây ra những hoài nghi, hoang mang, mất niềm tin trong một bộ phận quần chúng, cán bộ, đảng viên mà còn tác động, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh, trật tự và quá trình chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng. Từ nay đến khi diễn ra Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị, bất mãn sẽ càng đẩy mạnh thực hiện các “chiến dịch tuyên truyền” chống phá. Đặc biệt, chúng sẽ triệt để khai thác các ứng dụng, dịch vụ, tiện ích trên không gian mạng để tán phát “đơn thư”, “kiến nghị”, “thư ngỏ”, “bản lên tiếng”, “đơn tố cáo”, qua đó gây áp lực hoặc hạ uy tín, tạo luồng dư luận xấu về lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Bởi vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta cần nâng cao cảnh giác, kịp thời phát hiện và chủ động đấu tranh, ngăn chặn các “chiến dịch tuyên truyền” này.

NGUYỆN KẾ TỤC TRUNG THÀNH VÀ XUẤT SẮC SỰ NGHIỆP VĨ ĐẠI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH



Hôm nay, tại Hà Nội-Thủ đô ngàn năm văn hiến và anh hùng, hào hoa và thanh lịch; Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người; Thành phố vì hòa bình, với tất cả niềm kính yêu và lòng biết ơn vô hạn, chúng ta long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 130 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 / 19-5-2020)-vị Cha già của dân tộc, lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, người chiến sĩ cộng sản quốc tế mẫu mực, người bạn thân thiết của các dân tộc yêu chuộng hòa bình và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.
"Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta(1). Cuộc đời 79 mùa Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Người là kết tinh rạng ngời của đạo đức, trí tuệ, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại.
Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, tại làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, một miền quê giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hấp thu tinh thần yêu nước nồng nàn, lòng thương dân sâu sắc và ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất của ông cha. Chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan, các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta theo các khuynh hướng cứu nước khác nhau đều lần lượt thất bại, máu đào của biết bao các bậc tiên liệt và nhân dân ta đã đổ xuống nhưng không giành được độc lập, tự do, Người nung nấu quyết tâm đi tìm con đường mới để cứu nước, cứu dân.
Với lòng yêu nước thiết tha và ý chí, khát vọng cháy bỏng giải phóng dân tộc, ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành-Hồ Chí Minh rời cảng Sài Gòn, bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước. Bằng nhãn quan chính trị đặc biệt, Người quyết định sang phương Tây, nơi khởi nguồn của chủ nghĩa thực dân, quê hương của các cuộc cách mạng tư sản, để tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ "Tự do", "Bình đẳng", "Bác ái"; xem nước Pháp và các nước khác làm như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào.
Bôn ba khắp năm châu, bốn biển để nghiên cứu, tìm hiểu về các cuộc cách mạng điển hình, kiểm nghiệm nhiều học thuyết, nhiều con đường đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân các nước thuộc địa, cuối cùng Người đã đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy ở đó ánh sáng chân lý của thời đại, con đường giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Người đã rút ra kết luận: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản"(2). Tiếp thu và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã dần dần xây dựng được một hệ thống lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc phù hợp với thực tiễn Việt Nam, xác định đúng mục tiêu, con đường, lực lượng tham gia, lực lượng lãnh đạo, cũng như phương pháp cách mạng và tích cực chuẩn bị mọi mặt cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng ở Việt Nam.
Mùa xuân năm 1930, Người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Đây là bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối chính trị và về tổ chức của các phong trào yêu nước Việt Nam. Sự ra đời của Đảng khẳng định tầm nhìn, vai trò, bản lĩnh, trí tuệ và uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh; là cống hiến to lớn và đầy sáng tạo của Người trong việc vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin vào việc thành lập một đảng cách mạng chân chính để lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Sau gần 30 năm bôn ba hoạt động ở nước ngoài, ngày 28-1-1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941), quyết định chuyển hướng chiến lược cách mạng phù hợp với sự thay đổi mau lẹ của tình hình quốc tế và trong nước, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tổ chức vận động, tập hợp lực lượng toàn dân tộc; thành lập Mặt trận Việt Minh; tiến hành xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa, tạo nên các cao trào cách mạng sôi nổi, mạnh mẽ trên phạm vi cả nước.
Tháng 8-1945, với tư duy chính trị cực kỳ nhạy cảm và sắc bén, dự báo chính xác, phân tích kịp thời và thấu đáo tình hình trong nước và quốc tế, nhận rõ thời cơ cách mạng đã chín muồi, Người nêu quyết tâm "Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho kỳ được độc lập dân tộc", "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã vùng lên phá tan gông xiềng nô lệ hơn 80 năm của chế độ thực dân, xóa bỏ chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa-Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một thời đại mới rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc-Thời đại Hồ Chí Minh.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám ở nước ta, bọn thù trong, giặc ngoài cấu kết với nhau mưu toan lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ, hòng áp đặt ách cai trị nước ta một lần nữa. Trước tình thế hiểm nghèo, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân cùng một lúc chống cả 3 thứ giặc: "Giặc đói", "giặc dốt" và "giặc ngoại xâm". Với sách lược khôn khéo, linh hoạt, Người đã chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi thác ghềnh, hiểm nguy, trong tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", vừa tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng về mọi mặt, vừa ra sức bảo vệ, củng cố chính quyền cách mạng mới được xác lập, còn rất non trẻ.
Trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, hiệu triệu toàn dân tộc đồng lòng, chung sức tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, với ý chí sắt đá: "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, theo ngọn cờ "kháng chiến, kiến quốc" Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các kế hoạch quân sự của kẻ thù mà đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".
Kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhân dân ta bước vào thời kỳ cách mạng mới, cùng một lúc thực hiện cả hai nhiệm vụ chiến lược là: Xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở miền Bắc và tiếp tục đấu tranh hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, cùng Đảng ta hoạch định đường lối và lãnh đạo nhân dân ra sức đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH), tăng cường xây dựng Đảng, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa (XHCN)… làm cho miền Bắc ngày càng vững mạnh về mọi mặt, trở thành hậu phương vững chắc cho tiền tuyến lớn miền Nam.
Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là tâm nguyện cháy bỏng, là nỗi trăn trở khôn nguôi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người từng nói: "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi!"(3); "Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi". Trước lúc đi xa, Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta bản Di chúc lịch sử trong đó khẳng định một ý chí mãnh liệt, một quyết tâm sắt đá và một niềm tin tất thắng: "Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà"(4). Thực hiện di huấn của Người, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, làm nên thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông về một mối, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử nước ta-kỷ nguyên độc lập, thống nhất, hòa bình, cả nước đi lên xây dựng CNXH.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng ta, dân tộc ta, nhân dân ta và bạn bè quốc tế. Tên tuổi và sự nghiệp của Người còn mãi với non sông đất nước ta, sống mãi trong lòng dân tộc ta và trong trái tim nhân loại. Người để lại cho Đảng ta, nhân dân ta, các thế hệ hôm nay và mai sau một di sản tư tưởng vô cùng quý báu, một tấm gương đạo đức và phong cách, lối sống hết sức sáng ngời!
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả của cả một quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý báu của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc trên thế giới, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra con đường cách mạng sáng tạo, phù hợp với đặc thù của thực tiễn cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Người chỉ rõ, sau khi giành được độc lập, cách mạng phải phát triển thành cách mạng XHCN thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn, vì có tiến lên CNXH thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm.
Xuất phát từ điều kiện lịch sử của Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ rõ, nước ta cần phải trải qua thời kỳ quá độ, từ một nước nông nghiệp lạc hậu lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Đây là một sự nghiệp mới mẻ, chưa từng có tiền lệ trong lịch sử, sẽ có vô vàn khó khăn, phức tạp phải vượt qua. Quá độ lên CNXH ở nước ta phải làm dần dần, từng bước, không chủ quan, nóng vội; phải biết tham khảo, học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới; tìm tòi, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tìm ra cách thức, bước đi của thời kỳ quá độ và con đường đi lên CNXH ở nước ta; phải luôn xuất phát từ điều kiện thực tiễn của đất nước, tôn trọng quy luật khách quan, tránh giáo điều, rập khuôn, máy móc.
Để giành thắng lợi trong sự nghiệp cách mạng XHCN, xây dựng xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, Đảng ta phải dựa vào lực lượng toàn dân, tổ chức, động viên, phát huy được sức mạnh vĩ đại của toàn dân. Ý Đảng, lòng dân là cội nguồn của sức mạnh đoàn kết, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là một tư tưởng lớn, mang tầm chiến lược trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Với đường lối chính trị sáng suốt, đúng đắn, nhất quán, Người luôn coi trọng xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, lấy liên minh công-nông-trí thức do Đảng lãnh đạo làm nền tảng, thành một thực thể chính trị to lớn, rộng rãi, vững chắc, tập hợp mọi lực lượng, dân tộc, tôn giáo, mọi người dân Việt Nam yêu nước, hợp thành sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cho mặt trận hoàn thành sứ mệnh vẻ vang của mình trong tiến trình lịch sử của cách mạng Việt Nam.
Là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác xây dựng Đảng, để Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, thật sự là một Đảng cách mạng chân chính, là đạo đức, là văn minh. Trong Di chúc, Người căn dặn, phải ra sức giữ gìn, củng cố sự đoàn kết nhất trí của Đảng: "Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình". Trên tinh thần phát huy dân chủ; nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình; giữ vững kỷ luật, kỷ cương; tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân; thường xuyên chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải gắn với xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, xây dựng nền dân chủ XHCN. Người chỉ rõ: Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều ở nơi dân; dân chủ là của quý báu nhất trên đời của dân; thực hành dân chủ rộng rãi là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi nhiệm vụ, vượt qua mọi khó khăn, phải lắng nghe tiếng nói của nhân dân, lấy dân làm gốc, "đem tài dân, sức dân làm lợi cho dân".
Với trí tuệ sáng suốt, tư duy chính trị nhạy bén, Người đã sớm nhận thức được đặc điểm và xu thế phát triển của thời đại để từ đó gắn kết cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng nước ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh và sự nghiệp cách mạng vô cùng phong phú, vĩ đại của Người không những là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam của cách mạng Việt Nam mà còn là đóng góp quý báu của Người vào sự nghiệp cách mạng của các dân tộc bị áp bức trên thế giới, vào sự phát triển những tinh hoa tư tưởng và văn hóa nhân loại.
Hồ Chí Minh là Tấm gương sáng ngời, mẫu mực về đạo đức cách mạng. Người là biểu tượng về ý chí, nghị lực và sự phấn đấu nỗ lực không mệt mỏi để vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Người luôn nêu gương sáng về tính kiên định, bản lĩnh, lòng trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng; tấm gương gần dân, tin dân, yêu thương, quý trọng nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Người là hiện thân của tinh thần khoan dung, nhân ái Việt Nam; biểu tượng của đạo đức cách mạng cao đẹp, tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, là sứ giả của hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc. Những phẩm chất đạo đức cách mạng cao quý của Hồ Chí Minh không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của cả một quá trình không ngừng tự tu dưỡng, tự rèn luyện và hoàn thiện bản thân mình. Vì thế, Người luôn căn dặn cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức để trở thành những người chiến sĩ cách mạng mẫu mực. Người là hiện thân của nếp sống giản dị, trong sáng, yêu lao động, coi khinh sự xa hoa, không một chút ham muốn công danh phú quý cho bản thân. Cả cuộc đời Người dấn thân chỉ với một mục đích "phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân"(5). Đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, giữa lời nói và việc làm, đã trở thành lẽ sống tự nhiên. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đều tìm thấy trong những lời dạy của Người và từ tấm gương đạo đức cao đẹp của Người, từ phong cách Hồ Chí Minh những chuẩn mực cần học tập, tu dưỡng, rèn luyện để mỗi ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, vươn tới những giá trị văn hóa chân-thiện-mỹ trong cuộc sống.
Mỗi thắng lợi và mỗi bước đi lên của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự soi đường, dẫn dắt của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong sự nghiệp đổi mới, trước bao diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, với những khó khăn ở trong nước, Đảng ta đã kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng và phát triển sáng tạo vào thực tiễn đất nước và đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo và lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên trở thành một nước đang phát triển, có thu nhập trung bình. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay; có thêm nhiều điều kiện, tiền đề thuận lợi để vững bước trên con đường mà Đảng ta, nhân dân ta và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn. Thành tựu của 35 năm đổi mới đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.
Càng phấn khởi, tự hào, chúng ta càng tuyệt đối không chủ quan, thỏa mãn với những kết quả, thành tích đã đạt được. Đất nước ta vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Trong lãnh đạo, quản lý, trong tổ chức thực hiện, chúng ta vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém; vẫn còn những vấn đề chưa được giải quyết triệt để, nhiều điểm nghẽn chưa được tháo gỡ; trong khi những yêu cầu, nhiệm vụ mới, thách thức và mâu thuẫn mới, những vấn đề lớn, phức tạp tiếp tục phát sinh. Các thế lực thù địch vẫn luôn tìm mọi cách phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta; xuyên tạc, kích động, chia rẽ hòng làm tan rã Đảng ta, chế độ ta. Sự bảo thủ, trì trệ; tư duy cục bộ, lợi ích nhóm; sự tha hóa quyền lực, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", tình trạng tham nhũng, lãng phí, xuống cấp về mặt đạo đức và trách nhiệm xã hội... cũng là những thứ giặc nội xâm vô cùng nguy hiểm, đe dọa vai trò lãnh đạo và sứ mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, vận mệnh của đất nước, dân tộc. Những khó khăn, hạn chế, khuyết điểm đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, cả hệ thống chính trị phải nghiêm túc nhìn nhận, có quyết tâm chính trị cao hơn nữa, nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa để khắc phục cho bằng được.
Thấm nhuần sâu sắc những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần phải tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự "của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân". Phải tiếp tục phát huy truyền thống gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; ra sức phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng "như giữ gìn con ngươi của mắt mình" để Đảng ta mãi mãi "là đạo đức, là văn minh"-như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh; xứng đáng với vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của nhân dân.
Làm theo chỉ dẫn của Bác về "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân", chúng ta cần kiên quyết, kiên trì và tích cực làm trong sạch đội ngũ của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, tình trạng "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; tiếp tục đưa việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành sinh hoạt chính trị thường xuyên, trở thành một nhu cầu văn hóa trong Đảng, trong dân. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương; người có chức vụ càng cao, cương vị càng lớn, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong Đảng và trong bộ máy chính quyền lại càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác để quần chúng, nhân dân noi theo, như lời Bác dạy: "Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền".
Chúng ta cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm "Dân là gốc". Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới; thực hiện đúng nguyên tắc: Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Trước hết, cần chăm lo đầy đủ và sâu sắc đến đời sống, lợi ích thiết thực của nhân dân; thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Lời Bác dạy "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân" là bài học sâu sắc, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng khi đất nước đang ở bước ngoặt có tính lịch sử, cần huy động những nguồn lực vật chất và tinh thần to lớn để tiếp tục bứt phá vươn lên. Thời gian qua, trong vô vàn khó khăn của dịch bệnh, thiên tai, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn bản chất tốt đẹp của chế độ ta, của hệ thống chính trị ở nước ta, sức mạnh của truyền thống yêu nước, của ý chí đoàn kết, thống nhất hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, được thế giới ghi nhận và đánh giá rất cao. Thực tiễn đó khẳng định giá trị to lớn của lòng yêu nước, đạo lý nhân văn, tinh thần và ý chí Việt Nam; cơ sở rất quan trọng để tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và tiền đồ tươi sáng của dân tộc.
Chúng ta kỷ niệm 130 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đúng vào thời điểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tình hình quốc tế và trong nước có nhiều thời cơ, thuận lợi nhưng cũng có không ít khó khăn, thách thức đan xen, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần đoàn kết, phấn đấu với quyết tâm cao và nỗ lực lớn, năng động, sáng tạo hơn nữa để hoàn thành thật tốt những mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra, trước hết là khắc phục những thách thức và tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, bảo đảm thật tốt an sinh và phúc lợi xã hội cho nhân dân; đồng thời chủ động, nhạy bén nắm bắt thời cơ, phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất các nhiệm vụ phát triển KT-XH của năm 2020; từ đó góp phần hoàn thành tốt các nhiệm vụ phát triển KT-XH của nhiệm kỳ khóa XII và giai đoạn 2011-2020; chuẩn bị và tổ chức thật tốt đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tăng cường sự gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân.
Tiếp tục đi theo con đường cách mạng vẻ vang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã vạch ra, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta nguyện kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp vĩ đại của Người; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; xây dựng đất nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", vững bước đi lên CNXH; để đất nước ta "ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn.
Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!
Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam muôn năm!
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.627.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 12, tr.30.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 14, tr.532.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.623.
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.272.

Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2020

LỢI DỤNG VĂN HỌC ĐỂ HẠ BỆ THẦN TƯỢNG HỒ CHÍ MINH - SỰ NGUY HIỂM CẦN BÁC BỎ



Các thế lực thù địch đã và đang thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” bằng cách tập trung xuyên tạc, phủ nhận hình tượng Hồ Chí Minh, nhằm mục đích “hạ bệ”, “giải thiêng” thần tượng dân tộc, từ đó phá hoại mối đoàn kết ruột thịt giữa Đảng và nhân dân, gây ra sự đổ vỡ niềm tin của người dân vào lãnh tụ, vào Đảng và cách mạng.
Sự tác động này vừa trực tiếp vừa gián tiếp, vừa trước mắt vừa lâu dài, nhằm dẫn đến sự “thoát ly thần tượng”, làm phai nhạt tiến tới xóa bỏ sự ảnh hưởng của tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh ở một bộ phận đảng viên và quần chúng.
Văn học, nghệ thuật là một thành tố cơ bản, quan trọng hàng đầu của văn hóa-tư tưởng, là lĩnh vực nhạy cảm, có sức lan tỏa mạnh. Do vậy, các thế lực thù địch thường dựa vào đó để xuyên tạc, bôi nhọ đời tư và phủ nhận tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Họ lấy chính Hồ Chí Minh làm hình tượng cơ bản, chủ yếu nhưng được nhìn bằng quan niệm tiêu cực, mặt trái, bịa đặt với dụng ý tạo ra một con người Hồ Chí Minh khác hẳn, đối lập với con người Hồ Chí Minh lớn lao, trong sáng đời thường.
Dựng chuyện xuyên tạc Nhật ký trong tù
Họ bịa ra rằng, người viết tập thơ Nhật ký trong tù là một người tù đã chết, không phải là Hồ Chí Minh. Về vấn đề này, Lê Hữu Mục đã viết một tiểu luận phủ nhận Hồ Chí Minh là tác giả của Nhật ký trong tù. Động cơ viết tiểu luận này được chính Lê Hữu Mục thể hiện ở một bài phỏng vấn trong chương trình phát thanh của Hội Văn hóa Việt tại California (Hoa Kỳ): “Tôi cố gắng viết, chỉ nội trong một tháng là xong... Anh em ở hải ngoại bảo nhau phải tìm mọi cách để xóa bỏ cái huyền thoại Hồ Chí Minh”, không để cho “có chuyện Hồ Chí Minh sẽ được tôn vinh là nhà văn hóa kiệt xuất do UNESCO công nhận”. Thế là đã rõ, mục đích của ông ta và “các anh em” là không để cho UNESCO vinh danh Hồ Chí Minh.
Lập luận của Lê Hữu Mục bắt đầu từ vấn đề tên tuổi tác giả. Ông ta cho rằng, người viết xưng là “lão phu”, theo “chiều sâu văn hóa” phương Đông, như vậy, người viết Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù) là một ông già. Lập luận này chỉ đánh lừa được những người ít hiểu về Hán học và văn hóa phương Đông. Chúng tôi xin phép ghi lại lời phản biện của nhà Hán học hàng đầu Việt Nam-PGS Phan Ngọc: “Dù có tự hào về Hán học đến đâu, không ai dám nói Đỗ Phủ không biết làm thơ, không hiểu phong tục cổ truyền Trung Hoa, cũng không dám chê Đỗ Phủ dốt nát. Đỗ Phủ chính là vị thầy về thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh… Ông Đỗ này luôn luôn tự xưng mình là lão (già)”(*). Học giả Phan Ngọc chứng minh Đỗ Phủ xưng “lão” trong thơ năm 38 tuổi (trong bài Đầu giản Hàm, Hoa lưỡng huyện chư tử-Thư gửi các vị hai huyện Hàm Dương, Hoa Nguyên), năm 45 tuổi (Ai giang đầu-Nỗi đau xót đầu sông), năm 51 tuổi (Đào trúc trượng-Cây gậy trúc đào)... Đó là những căn cứ của sự thật, không thể bác bỏ!
Như thế, Bác Hồ xưng “lão phu” trong Nhật ký trong tù là điều hoàn toàn tự nhiên!
Trong bài phản biện tiểu luận của Lê Hữu Mục, Phan Ngọc vạch ra “tám lỗi về hình thức”. Xin trích lại một khái quát cuối bài của PGS Phan Ngọc, một khái quát của chân lý nghệ thuật, của lẽ phải đời thường: “Theo tôi, muốn viết nổi tác phẩm này, giỏi làm thơ là chuyện nhỏ. Cái quan trọng là một ham muốn suốt đời đấu tranh cho nhân loại bị áp bức, một chí khí gang thép, nhưng chủ yếu là một tâm hồn trong sáng của Đức Phật, Xôcrat (Socrate), Giêsu (Jésus), Găngđi (Gandhi) mới làm được”.
Ngoài “tám lỗi” cơ bản mà PGS Phan Ngọc đã phản biện một cách đích đáng, đến lượt chúng tôi xin chỉ ra một vài bắt bẻ một cách rất vô lối của Lê Hữu Mục.
Để phá vỡ tính chỉnh thể thống nhất của hình tượng thơ, Lê Hữu Mục dùng thủ thuật xuyên tạc, thêm thắt và quy kết người dịch sai. Lê Hữu Mục cho rằng, người dịch Ngục trung nhật ký đã tìm mọi cách để lái câu thơ vào quỹ đạo mà họ định trước. Ví dụ, trong Thụy bất trước (Không ngủ được), người dịch đã tô thêm màu vàng vào ngôi sao năm cánh để giải thích rằng ngay trong giấc ngủ, Bác cũng chỉ nhìn thấy Tổ quốc được tượng trưng bằng ngôi sao vàng, trong khi nguyên văn chỉ nói: “Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tiêm tinh”, nghĩa là hồn mộng cứ luẩn quẩn loanh quanh ở chỗ ngôi sao năm cánh, trong giấc mơ, lòng chỉ hướng về ngũ tinh liên châu tức là hướng về đoàn tụ gia đình, nghĩ đến vợ con mà lâu ngày mình đã xa.
Nghĩa chữ Hán trong câu thơ “Mộng hồn hoàn nhiễu ngũ tiêm tinh” là: Hồn mộng đã quẩn quanh nơi ngôi sao năm cánh. Chê người để lôi cuốn sự chú ý của độc giả vào “cái sai” của người (người dịch), trong khi đó, chính Lê Hữu Mục lại bịa đặt nghĩa bằng cách thêm ý “lòng chỉ hướng về ngũ tinh liên châu tức là hướng về đoàn tụ gia đình, nghĩ đến vợ con mà lâu ngày mình đã xa”. Bịa đặt để lái vấn đề sang nghĩa khác: Người tù đã có vợ con rồi! Tức không phải Hồ Chí Minh làm vì Hồ Chí Minh không có vợ con! Hai chữ “tức là” của Lê Hữu Mục hoàn toàn là sự suy diễn.
Vấn đề “quốc tịch” của tác giả được đặt ra để “nghiên cứu”: Lê Hữu Mục bám vào hai chữ “Hán gian” ở trong các bài Thế lộ nan (Đường đời hiểm trở): “Khước bị hiềm nghi tố Hán gian” (Thế mà bị tình nghi là Hán gian) và Nhai thượng (Trên đường phố): “Nhai thượng nhân tranh khán Hán gian” (Ngoài phố tranh nhau xem Hán gian) rồi quả quyết: “Muốn làm Hán gian thì đầu tiên phải là người Hán đã chứ, làm sao một người Việt Nam có thể làm Hán gian?”.
Logic học gọi đây là thủ thuật “đánh tráo”. “Thế mà bị tình nghi là Hán gian”. Ai nghi? Tức bọn cai ngục nghi ngờ người tù là “Hán gian”. Người khác nghi như thế chứ không phải “người tù” nhận thế. Mà người khác nghi là quyền, là việc của người ta. Nhưng Lê Hữu Mục đã đánh tráo chủ thể “nghi” từ “bọn cai ngục” (bị ẩn đi) ép sang cho tác giả câu thơ (người tù), để hiểu: Vì là người Hán nên tác giả câu thơ (tức Già Lý) rất buồn bị nghi là Hán gian!
Thế là ai cũng thấy ông ta sử dụng thủ thuật tách rời và đánh tráo khá tinh vi!
Tại sao một số người lại tập trung xuyên tạc Nhật ký trong tù? Vì đó là bảo vật quốc gia, một bảo hiểm “bằng vàng” về con người Bác Hồ đại nhân, đại trí, đại dũng, đã được cả thế giới khẳng định giá trị nội dung bất hủ và hình thức nghệ thuật điêu luyện. Kiệt tác đã được dịch ra 25 thứ tiếng trên thế giới!
Phủ nhận, hạ thấp, xuyên tạc con người và tư tưởng Hồ Chí Minh
Hạt nhân tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng đoàn kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công. Đây không chỉ là tư tưởng thời nay mà còn là chân lý lịch sử tổng kết hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, sẽ mãi là nguồn sáng cho mai sau. Vì lẽ đó, nhiều “tác giả” tập trung công kích nhằm vào tư tưởng này.
Dựa vào cách xưng hô đại từ “Bác”, Vũ Thư Hiên và Bùi Tín thể hiện “băn khoăn” cho rằng, Hồ Chí Minh xưng là “Bác” khi nói chuyện với dân chúng, trong đó có cả những cụ già cao tuổi.
Để giải đáp sự “băn khoăn” của hai “tác giả” này cần phải đặt vấn đề vào hoàn cảnh lịch sử. Một là, cả nước ta gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là Bác Hồ, tức coi Người như là một thành viên trong mỗi gia đình người Việt. Đó cũng là ý nguyện, là tâm nguyện của Người. Thế nên Hồ Chí Minh xưng "Bác" nhưng chủ yếu là xưng hô với các cháu thanh thiếu niên. Còn với các cụ tuổi cao, có lần Bác gọi “cụ” xưng “cháu”, còn thường là gọi “các cụ” xưng “tôi”, không như sự xuyên tạc của hai “tác giả” Vũ Thư Hiên và Bùi Tín.
Bùi Tín cũng từng đặt vấn đề đúng hay sai về việc Hồ Chí Minh truyền bá mạnh mẽ Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ nghĩa Stalin và Chủ nghĩa Mao ở Việt Nam…
Tuy chỉ là đưa ra những câu hỏi tưởng chừng khách quan nhưng cũng rõ cái ẩn ý thâm độc: Sự thật (Hồ Chí Minh truyền bá Chủ nghĩa Mác là chân lý lịch sử, là quy luật tất yếu) đã hiển nhiên nhưng lại tạo ra tình huống có vấn đề mới để lái sự tranh luận vào chỗ lẽ ra không đáng có mà thành có. Thứ nhất, các thế lực phản động, thù địch tập trung xuyên tạc, hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh là cách để hạ thấp vai trò lịch sử của Bác trong việc truyền bá chủ nghĩa yêu nước về Việt Nam, từ đó xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là sai lầm. Thứ hai, xuyên tạc về tiểu sử, đời tư là một cách “bôi đen” thần tượng để tạo ra những cái nhìn lệch lạc dẫn tới dần xóa bỏ thần tượng trong nhận thức của một bộ phận nhân dân. Thứ ba, các thế lực phản động rất có ý thức Bác Hồ là sự kết tinh hài hòa những giá trị văn hóa truyền thống và văn hóa của nền cách mạng mới nên chúng ra sức “xây dựng” một mô hình Hồ Chí Minh khác. Thứ tư, càng thấy nhiệm vụ xây dựng, đào tạo, giáo dục đội ngũ văn nghệ sĩ cách mạng là cực kỳ quan trọng. Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật và cũng rất đúng với bản chất nghệ thuật, việc giáo dục lý tưởng cho văn nghệ sĩ nên tập trung vào 3 vấn đề trọng tâm: Tình yêu văn hóa truyền thống; niềm quý trọng nhân dân; niềm tin vào Đảng, cách mạng và tiền đồ tươi sáng của dân tộc. Từ vấn đề thứ nhất cho thấy, cần đưa văn hóa truyền thống vào chương trình giảng dạy bắt buộc ở tất cả các trường văn hóa, nghệ thuật. Vì theo lẽ tự nhiên, có thấu hiểu mới thấu cảm, mới yêu và say mê. Với vấn đề thứ hai thì biện pháp tốt nhất là tăng cường đưa văn nghệ sĩ (đi thực tế) về với nhân dân, sống đời sống của nhân dân. Có gần gũi mới hiểu để yêu thương, quý trọng. Vấn đề thứ ba là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền. Mỗi cán bộ lãnh đạo phải là tấm gương soi trong sáng nhất. Mỗi nghị quyết, chỉ thị của Đảng được thực thi một cách triệt để, kiên quyết sẽ là sự thuyết phục cao nhất với văn nghệ sĩ vốn rất nhạy cảm với chính trị.
Cuộc vận động sáng tác và quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về Bác Hồ cần thực hiện một cách rộng rãi, quy mô, thường xuyên, liên tục. Vì Bác Hồ là một hiện tượng văn hóa mang tầm nhân loại, với tầm vóc tư tưởng và nghệ thuật lớn lao để sáng tạo đến không cùng!
Cây xanh văn nghệ sĩ hôm nay phải cắm 3 chùm rễ sâu vào 3 mảnh đất: Văn hoá dân tộc/nhân dân; văn hóa Đảng/cách mạng; văn hóa nhân loại/nhân văn và vươn cao cành lá lên bầu trời thời đại quang hợp ánh sáng tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để kết trái nghệ thuật phục vụ nhân dân.
(*) Viện Văn học (1993). Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù. Nxb Giáo dục, tr. 620, 621.


KHÔNG THỂ VƠ ĐŨA CẢ NẮM, PHỦ NHẬN SẠCH TRƠN



Lợi dụng việc một số cán bộ quân đội có sai phạm bị xử lý, các thế lực thù địch, phản động, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị cố tình tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ nhằm hạ thấp uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhưng ai cũng biết rằng, không thể đánh tráo giữa bản chất và hiện tượng, đừng thấy cây mà không thấy rừng. Bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội và sự thật các vụ việc không cho phép chúng thực hiện được hành vi vơ đũa cả nắm, phủ nhận sạch trơn đó…
Quan trọng là biết sửa sai
Giữ nghiêm kỷ luật quân đội là bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây cũng là cội nguồn sức mạnh để quân đội ta luôn chiến thắng, trưởng thành và phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng xác định: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua”. Người chỉ rõ: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm. Vì vậy kỷ luật phải nghiêm minh”. Thực hiện nghiêm chỉnh lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh,  trong hơn 75 năm qua, cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân đã không ngừng rèn luyện, chấp hành nghiêm kỷ luật quân đội, đồng thời giữ vững kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, được Đảng, Nhà nước và nhân dân trân trọng, tin tưởng. Trong xã hội đã từ lâu xuất hiện dư luận đánh giá: Môi trường quân đội rất mẫu mực, là nơi rèn luyện con người nghiêm túc nhất! Nhiều thanh niên, gia đình mong muốn bản thân và con em mình được vào quân đội để rèn luyện, thử thách, trưởng thành.
Trong hoạt động quân sự đầy gian nan, thử thách với biết bao khắc nghiệt đòi hỏi nhiều hy sinh, cống hiến, bên cạnh những chiến công, thành tích, ưu điểm của tuyệt đại bộ phận cán bộ, chiến sĩ, thì cũng có một số người mắc phải sai lầm, khuyết điểm, vi phạm kỷ luật quân đội, kỷ luật Đảng, thậm chí vi phạm pháp luật Nhà nước. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trên con đường cách mạng của mình, Đảng ta, quân đội ta cũng như mỗi đồng chí chúng ta luôn luôn có ưu điểm và không tránh khỏi có khuyết điểm. Chỉ có không ngừng đấu tranh, phê bình và tự phê bình, nhận rõ đúng, sai, phát huy cái đúng, khắc phục cái sai, mới có thể làm cho mình, cho Đảng, cho cách mạng tiến bộ mãi”. “Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa”. Thấm nhuần tinh thần ấy, quân đội luôn có quan điểm, thái độ đúng trong đánh giá, xử lý vấn đề này. Số ít cán bộ, chiến sĩ mắc sai phạm tuy chỉ là hiện tượng cá biệt, đơn lẻ, không làm phai nhạt, lu mờ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, không làm thay đổi bản chất tốt đẹp của quân đội. Phải hiểu rõ như vậy để chúng ta không chán nản, bi quan, hiểu sai về kỷ luật quân đội, mà cần lấy đó làm bài học kinh nghiệm răn dạy chính mình và đồng đội, không mắc vào những vi phạm tương tự. Thực tế đáng mừng là quân đội, từ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đến các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn nhất quán thống nhất kiên quyết đấu tranh, phê phán, xử lý nghiêm minh với những cá nhân, tập thể, sự việc sai phạm. Sai phạm đến mức phải xử lý là kiên quyết xử lý. Đã có một số cán bộ, chiến sĩ, kể cả cán bộ cao cấp trong quân đội bị khai trừ Đảng, tước quân tịch, lĩnh án tù, thậm chí trong kháng chiến chống Pháp từng có một cán bộ quân hàm đại tá bị tử hình vì vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước. Trong quá trình xem xét xử lý các sai phạm của một số cán bộ, chiến sĩ, quân đội cũng như  Đảng, Nhà nước, pháp luật cũng đã luôn chú ý xem xét đến những công lao, thành tích, bối cảnh, mức độ sai phạm  của người vi phạm, hài hòa giữa sự nghiêm minh và tính răn đe, giáo dục để xử lý thấu lý, đạt tình, vừa kiên quyết, vừa nhân văn. Việc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lãnh đạo chỉ huy các cơ quan đơn vị trong toàn quân luôn có quan điểm đúng, sự nhìn nhận đánh giá khách quan, có biện pháp xem xét, xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng việc, đúng tội, công khai, minh bạch, không có vùng cấm, không bao che, giấu giếm… đã làm cho Đảng, Nhà nước, nhân dân hiểu hơn, đánh giá đúng hơn và thêm tin tưởng, yêu qúy, qua đó góp phần để quân đội thêm trưởng thành, vững mạnh.
Description: Không thể vơ đũa cả nắm, phủ nhận sạch trơn
 Bộ đội Binh chủng Hóa học thực hiện tiêu độc, khử trùng tại ổ dịch Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội (tháng 3-2020) càng tô thắm thêm hình ảnh cao đẹp "Bộ đội Cụ Hồ". Ảnh: TRỌNG HẢI.
Không để bị lợi dụng 
Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị đã lợi dụng sai phạm đơn lẻ, “con sâu làm rầu nồi canh” của một số cán bộ, chiến sĩ để cố tình tiến hành âm mưu, thủ đoạn bôi nhọ, vu cáo nhằm hạ thấp uy tín quân đội. Họ thổi phồng các vi phạm, bóp méo sự việc, thậm chí là bịa đặt, vu cáo một cách vô căn cứ, theo kiểu võ đoán, áp đặt, vơ đũa cả nắm, phủ nhận sạch trơn. Xin nêu một vài ví dụ: Trong việc phòng, chống dịch Covid-19 vừa qua, quân đội đã tham gia rất tích cực, hiệu quả, được Đảng, Chính phủ và nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế đánh giá cao. Biết bao người xúc động, cảm phục trước việc cán bộ, chiến sĩ quân đội vào rừng mắc võng ở, trải chiếu dưới đất nằm để nhường chỗ cho người dân cách ly có nơi ở tốt; rồi lo chu đáo cơm ngon, áo ấm, chăm sóc, cứu chữa, nghiên cứu khoa học tìm ra những thiết bị tiên tiến… để chữa bệnh cho nhân dân, ủng hộ các nước cùng bị dịch…
Ngày 28-3-2020, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc gửi thư khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, trong đó viết: “Là lực lượng nòng cốt, tuyến đầu, các đồng chí không quản ngại khó khăn, gian khổ, chấp nhận hy sinh, đối mặt với nguy cơ lây nhiễm để hoàn thành sứ mệnh cao cả, thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc, và nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội với những đêm ngủ ngoài trời, những bữa cơm ăn vội trong cuộc chiến chống dịch Covid-19 đã tô thắm truyền thống cao đẹp của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Những hành động và đóng góp nổi bật của toàn lực lượng Quân đội được lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao, xứng đáng là điểm tựa tinh thần của quần chúng nhân dân, là chỗ dựa vững chắc của đồng bào, đồng chí cả nước trong công cuộc phòng, chống và quyết tâm đẩy lùi, chiến thắng đại dịch Covid-19”. Thế mà các thế lực thù địch, phản động, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị đã lợi dụng việc một vài cán bộ quân đội có sai sót trong quá trình tham gia phòng, chống dịch để vu cáo, bôi nhọ danh dự quân đội, phủ nhận sự đóng góp tích cực, hiệu quả của quân đội trong thực hiện nhiệm vụ đột xuất, quan trọng này. Trên thực tế quân đội cũng đã kịp thời có biện pháp xử lý kiên quyết, nghiêm minh với vi phạm của một vài cán bộ đó, được dư luận chung đánh giá cao, thêm tin tưởng, yêu quý  quân đội, đồng thời bày tỏ sự bất bình, phê phán thái độ, hành động cực đoan với dụng ý không tốt của những kẻ xấu. 
Đối với sai phạm của Đô đốc Nguyễn Văn Hiến và một số đồng phạm, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã thẳng thắn, nghiêm minh trong việc xem xét, xử lý vụ việc theo thẩm quyền của mình và quy định của pháp luật (theo kế hoạch, ngày 18-5-2020, Tòa án Quân sự Quân chủng Hải quân sẽ đưa vụ án ra xét xử ). Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã báo cáo với Trung ương để có hình thức xử lý nghiêm khắc về Đảng và chính quyền với Đô đốc Nguyễn Văn Hiến.
Nhưng các thế lực thù địch, phản động, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị phớt lờ thực tế đó, cố tình xuyên tạc, vu cáo quân đội bao che, lấp liếm, đấu đá nội bộ. Đặc biệt nguy hiểm khi chúng áp đặt, xuyên tạc cho rằng các sai phạm xảy ra trong quân đội là từ bản chất, đặc điểm của quân đội, quân đội không thể sửa chữa sai phạm, không thể lấy lại được danh dự, uy tín… Phải thẳng thắn thừa nhận rằng sai phạm xảy ra là do chủ quan rèn luyện, phấn đấu chưa tốt của các cá nhân, tập thể vi phạm và có cả phần trách nhiệm trong việc quản lý, giáo dục, xử lý của lãnh đạo, chỉ huy một số cơ quan đơn vị trong quân đội. Từ đó quân đội đã luôn xử lý nghiêm minh, có biện pháp ngăn chặn, khắc phục kịp thời, nên có những hiệu quả thiết thực. Nhiều cá nhân, tập thể mắc sai phạm đã sửa chữa tiến bộ, các cơ quan, đơn vị nói riêng và toàn quân nói chung vẫn không ngừng giữ vững kỷ luật, kỷ cương và trưởng thành phát triển. Điều rất hạnh phúc của quân đội là dù trong quân đội vẫn còn một số sai phạm, dù các thế lực thù địch, phản động, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị  thường xuyên dùng các âm mưu, thủ đoạn thâm độc, tinh vi vu cáo, nói xấu…nhưng Đảng, Nhà nước và tuyệt đại bộ phận nhân dân vẫn dành cho quân đội sự tin tưởng, yêu thương. Đây là niềm tự hào, hạnh phúc, mà cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam cần trân trọng, trăn trở suy nghĩ để sống, làm việc tốt hơn, không phụ sự bao dung, tin yêu ấy.
Chúng ta cần bình tĩnh, tỉnh táo, tin tưởng vào sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội. Những hình thức kỷ luật cũng như các bản án nghiêm khắc, nhân văn không làm quân đội yếu đi, mà ngược lại sẽ giúp quân đội trưởng thành, phát triển hơn. Điều quan trọng là mỗi cán bộ, chiến sĩ, cơ quan, đơn vị trong quân đội phải luôn đoàn kết thống nhất, chủ động rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, chấp hành nghiêm kỷ luật quân đội, kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, trở thành tấm gương mẫu mực để cả cộng đồng tin tưởng, yêu thương và học tập, để ngăn chặn hiệu quả sự lợi dụng xuyên tạc, chống phá. Tại Hội nghị Quân ủy Trung ương phiên họp cuối năm 2017, đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân ủy Trung ương, đã phát biểu: “Phải đặc biệt giữ gìn, phát huy hình ảnh, uy tín của quân đội, giữ vững niềm tin yêu của nhân dân đối với quân đội. Muốn vậy, kỷ luật, kỷ cương phải nghiêm, quân đội phải làm gương cho các nơi khác”. Các cơ quan, đơn vị cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nắm bắt tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ để tránh hiện tượng dao động, nghi ngờ, a dua, thiếu tin tưởng, mắc mưu kẻ xấu, ảnh hưởng đến tư tưởng, hành động của bộ đội. Cần thực hiện tốt những quy định về kỷ luật của quân đội, là kỷ luật tự giác, nghiêm minh; chú trọng mối quan hệ chặt chẽ giữa dân chủ và kỷ luật, cá nhân và tập thể, tự phê bình và phê bình; phát huy cao nhất tính nêu gương của đội ngũ cán bộ các cấp; kiên quyết không để xảy ra sai phạm, nếu có sai phạm thì phải kịp thời xử lý nghiêm minh, công khai, minh bạch.

HỒ CHÍ MINH: NGƯỜI THEO CHỦ NGHĨA DÂN TỘC HAY CHIẾN SĨ CỘNG SẢN



 Hiện nay, trong khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bạn bè quốc tế đang tổ chức các hoạt động trọng thể kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh thì các thế lực phản động, cơ hội chính trị lại tăng cường các luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, nhằm phủ định tư tưởng và “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh. Một trong số đó là cáo buộc vô căn cứ khi cho rằng: Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc theo ý nghĩa tiêu cực.
Chủ nghĩa dân tộc là gì?
Theo Chủ nghĩa cộng sản khoa học-Từ điển quan niệm: Chủ nghĩa dân tộc-tâm lý, hệ tư tưởng, thế giới quan và chính sách thích những dân tộc này hơn những dân tộc khác, tán dương dân tộc mình, gây căm thù dân tộc và thù hằn chủng tộc” (1). Theo đó, chủ nghĩa dân tộc có nhiều thứ, từ chủ nghĩa sôvanh phát xít trắng trợn cho đến chủ nghĩa dân tộc tinh tế được che đậy bằng những lời lẽ Marxist sáo rỗng. Nó là chủ nghĩa sôvanh nước lớn của một dân tộc đi áp bức và khinh miệt các dân tộc khác, lại cũng là chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi của dân tộc bị áp bức, biểu hiện trong khuynh hướng khép kín và không tin vào các dân tộc khác. Mặt trái của chủ nghĩa dân tộc là chủ nghĩa thế giới của bọn đế quốc, tuyên truyền cho việc hòa tan các dân tộc và các sắc tộc vào trong các dân tộc “kiểu mẫu” (các dân tộc thống trị).
Về nguồn gốc và bản chất của chủ nghĩa dân tộc. Các quan hệ tư hữu và bóc lột đẻ ra chủ nghĩa dân tộc. Những đại diện của nó là giai cấp tư sản và tiểu tư sản. Chủ nghĩa dân tộc xa lạ với bản chất của giai cấp vô sản là giai cấp đại diện cho chủ nghĩa quốc tế. Về bản chất, chủ nghĩa dân tộc là thù địch với chủ nghĩa xã hội (CNXH), với thế giới quan Marxist-Leninist, nó mâu thuẫn với quá trình khách quan của sự phát triển và sự xích lại gần nhau của các dân tộc xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Về thái độ của người cộng sản chân chính đối với chủ nghĩa dân tộc. Đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cũng là một tất yếu khách quan của cách mạng XHCN, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; là sự bảo đảm thắng lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc bị áp bức. Đúng như Lênin đã chỉ rõ, cuộc đấu tranh chống những thành kiến dân tộc chủ nghĩa “càng có ý nghĩa trọng đại khi vấn đề chuyển nền chuyên chính vô sản từ phạm vi quốc gia (tức là mới tồn tại ở trong một nước và không có khả năng quyết định được chính trị thế giới) thành chuyên chính vô sản trên quy mô quốc tế (tức là chuyên chính vô sản ít nhất cũng ở một số nước tiên tiến và có khả năng tác động quyết định đến toàn bộ chính trị thế giới), ngày càng trở nên bức thiết” (2).
Tìm đáp án câu hỏi “Chủ nghĩa dân tộc là gì?” ở trên và đối chiếu với trả lời nhà báo quốc tế vào tháng 12-1965 của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nói rằng lúc còn thanh niên, tôi theo “chủ nghĩa dân tộc”, có lẽ không đúng. Vì hồi đó tôi chỉ biết thương đồng bào tôi, chứ chưa biết “chủ nghĩa” gì cả. Khi đi sang châu Phi, tôi thấy nhân dân thuộc địa ở đây cũng cực khổ, cũng bị áp bức, bóc lột như nhân dân Đông Dương. Khi sang các nước châu Âu, tôi thấy ở đó cũng có một số người rất giàu, “ngồi mát ăn bát vàng”, và lớp người nhân dân lao động rất nghèo khổ. Tôi suy nghĩ nhiều lắm. Trong lúc đó thì Cách mạng Tháng Mười vĩ đại thành công ở Nga. Lênin tổ chức Quốc tế Cộng sản. Rồi Lênin phát biểu Luận cương cách mạng thuộc địa. Những việc đó làm cho tôi thấy rằng: Nhân dân lao động Đông Dương, nhân dân các thuộc địa và nhân dân lao động muốn tự giải phóng thì phải đoàn kết lại và làm cách mạng. Vì vậy, tôi trở nên người theo Chủ nghĩa Mác-Lênin” (3) là luận cứ khoa học quan trọng nhằm bác bỏ luận điệu sai trái: Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc khi họ đồng nhất “chủ nghĩa dân tộc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc sôvanh, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, mang bản chất của giai cấp tư sản. Về vấn đề này, không ai khác và hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư sản; vì vậy, tán thành bản Tuyên bố của Hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân các nước XHCN, họp ở Moscow từ ngày 14 đến 16-11-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Bản Tuyên bố nhắc nhở chúng ta cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần Chủ nghĩa Mác-Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sôvanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại” (4).
Hồ Chí Minh có phải người theo chủ nghĩa dân tộc không?
Câu trả lời dứt khoát là “CÓ”-nhưng đó là chủ nghĩa dân tộc vô sản-tức là không như các thế lực phản động, các phần tử cơ hội chính trị, thoái hóa, bất mãn ở trong, ngoài nước vẫn xuyên tạc và cáo buộc. Cùng quan điểm này, tác giả Dương Quốc Dũng đã kết luận thực chất đó trong bài viết cùng tên Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc vô sản đăng trên Tạp chí Cộng sản, ngày 19-5-2011; đồng thời khẳng định sự sai lầm về nhận thức, tính phản động về tư tưởng và sự nguy hại của luận điệu trên: “Kết luận trên cũng có nghĩa là luận điểm “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là một cách hiểu và diễn đạt không chính xác, không đầy đủ và xuyên tạc tư tưởng của Người. Luận điểm sai trái ấy đi ngược lại lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH-tư tưởng chỉ đạo chiến lược lớn xuyên suốt cả quá trình cách mạng Việt Nam. Rõ ràng luận điểm ấy muốn Việt Nam từ bỏ ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, từ bỏ con đường mà dân tộc ta đã lựa chọn và quyết hy sinh phấn đấu trong hơn 80 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” (5). Theo đó, cũng rút ra kết luận Chủ tịch Hồ Chí Minh là chiến sĩ cộng sản chân chính.
Đâu là sự thật? Chỉ có một sự thật là: Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc vô sản. Chính vì vậy, từ rất sớm, năm 1924, trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, tại mục "D. Chủ nghĩa dân tộc", Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên đề cập và khẳng định vai trò của chủ nghĩa dân tộc chân chính: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người cu li biết phản đối; nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khóa, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917…” (6).
Về mặt thực tiễn, chính chủ nghĩa dân tộc chân chính đã làm nên sức mạnh Việt Nam Độc lập Đồng minh (tên chính thức trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương), còn gọi là Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội, hay gọi tắt là Việt Minh, là liên minh chính trị do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập ngày 19-5-1941 với mục đích công khai là “Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật-Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”-một tổ chức có mục tiêu lý tưởng cao cả. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tán thành và dẫn lại lời Giáo sư Giugơlát khi cho rằng: “Pháp không thể tẩy được Việt Minh một lẽ là vì chính trị Pháp lu mờ. Lực lượng của Việt Minh trước hết là một lực lượng tinh thần, họ là xương thịt của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Một lực lượng nữa của Việt Minh là những lãnh tụ của nó chẳng những hy sinh tất cả cho lý tưởng của họ mà lại có tài chỉ huy, thạo cách điều khiển chính quyền, và cực kỳ liêm khiết” (7). Đó là lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, lý tưởng cao đẹp nhất mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Trong bài viết Con đường dẫn tôi đến Chủ nghĩa Lênin đăng trên Báo Nhân Dân, số 2226, ngày 22-4-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định một sự thật không thể xuyên tạc được, đó là: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có CNXH, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Ở nước ta và ở Trung Quốc cũng vậy, có câu chuyện đời xưa về cái “cẩm nang” đầy phép lạ thần tình. Khi người ta gặp những khó khăn lớn, người ta mở cẩm nang ra, thì thấy ngay cách giải quyết. Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới CNXH và chủ nghĩa cộng sản” (8).
Đây không chỉ khẳng định Chủ tịch Hồ Chí Minh là người luôn kiên trì theo chủ nghĩa dân tộc vô sản và bản thân Người được nhân loại tiến bộ thừa nhận là chiến sĩ lỗi lạc trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; mà còn là bằng chứng đanh thép, là cơ sở khoa học để bác bỏ luận điệu cho rằng Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc. Do vậy, khi cho rằng "tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc" là một cách diễn đạt thiếu chính xác, không đầy đủ, là sai lầm về mặt lý luận, phản động về mặt thực tiễn và đã bị thực tiễn bác bỏ.
----------------------
(1) A.M.Ru-mi-an-txép (chủ biên), Chủ nghĩa cộng sản khoa học-Từ điển, Nxb. Tiến Bộ, M.1986, tr.106.
(2) V.I.Lê-nin, Toàn tập, tập 26, Tiếng Việt, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1980, tr.202-203
(3) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011; Sđd, Hồ Chí Minh, tr.699-700
(4) Sđd, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, tr.189-190
(5) http://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chi-tiet-tim-kiem/-/2018/12006/chu-nghia-dan-toc-trong-tu-tuong-ho-chi-minh-thuc-chat-la-chu-nghia-dan-toc-vo-san.aspx
(6) Sđd, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, tr.511
(7) Sđd, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, tr.161
(8) Sđd, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, tr.563

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...