Thứ Năm, 13 tháng 2, 2020

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG LÀ NHIỆM VỤ THIÊNG LIÊNG VỚI LỊCH SỬ, VỚI ĐẢNG, BÁC HỒ VÀ NHÂN DÂN



 Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có sức sống lâu bền trong dòng chảy cách mạng Việt Nam suốt 90 năm qua chính là ở sự vận dụng sáng tạo, sự hoàn thiện, bổ sung và phát triển không ngừng về lý luận.
1. Công tác tư tưởng là cầu nối giữa nhận thức và hành động vì sự tồn tại xã hội và phát triển lịch sử, nếu không có tư tưởng đúng thì con người sẽ theo đuổi những lợi ích nhỏ lẻ có tính xung đột với nhau, phá vỡ mọi quy tắc ứng xử xã hội, gây rối loạn, bất ổn, bất an, thậm chí tan rã chính quyền, mất chế độ.
Sự xung đột đáng sợ nhất chính là sự xung đột về hệ tư tưởng; mỗi người, mỗi cộng đồng xã hội và từng quốc gia đều lựa chọn một hệ tư tưởng cụ thể, nếu mất phương hướng vì thiếu niềm tin vào hệ tư tưởng chính thống thì tất yếu sẽ loạn lạc.
Từ khi loài người xuất hiện đến nay, có 3 điều trở thành quy luật tồn tại và phát triển xã hội: 1) Con người là chủ thể của sự cải biến, thích ứng với môi trường tự nhiên và xã hội, nếu không có cải biến thì con người không thể tồn tại. Các nền văn minh nhân loại đã trải qua và đang hướng tới chính là sự tích tụ hàng triệu năm tiến hóa và hàng ngàn năm sáng tạo. 2) Vì sự sinh tồn, con người buộc phải tìm ra những phương thức tác động tới tâm lý, tư tưởng, cố kết cộng đồng, hợp lực đấu tranh với thiên tai, địch họa. Sức mạnh của con người không nằm trong sức mạnh của số đông, cơ bắp hay sức mạnh vũ khí hiện đại, mà được tiềm ẩn và khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần. Trước mỗi việc đại sự của cộng đồng, thường người ta phải làm thông tư tưởng cho mọi người, đó chính là vũ khí đặc biệt của con người, thiếu nó mọi sự bất thành. 3) Thủ lĩnh của một bộ tộc, bộ lạc, quốc gia trước hết phải là người biết thu phục nhân tâm. Một chính đảng có khả năng cầm quyền và tồn tại trước hết phải dựa vào nền tảng tư tưởng tiến bộ, biết phụng sự vì lợi ích tối cao của nhân dân, của đất nước, bảo đảm quyền dân chủ thực sự cho nhân dân, giữ được niềm tin của nhân dân; dựa vào luật pháp là tối thượng để quản lý xã hội. Khi những người cầm quyền bị lợi ích cục bộ thao túng, mất niềm tin trong quần chúng nhân dân thì chế độ tất yếu sụp đổ.
Bài học xương máu từ sự thất bại của Công xã Paris, sự sụp đổ của Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là minh chứng điển hình về sự thiếu hụt hoặc đánh mất nền tảng tư tưởng.
2. Sự hình thành, tồn tại của nhà nước và chế độ dân chủ ở Hy Lạp, La Mã trước hết là dựa vào ý nguyện của dân được tham gia, được thể hiện quyền công dân của mình đối với việc điều hành xã hội. Những bộ luật sơ khai được khắc trên đá của thành Athens cổ đại (Hy Lạp) đã công khai, minh bạch quyền công dân, người dân thấy mình được tôn trọng, được hiện diện trong quá trình kiến tạo và duy trì nhà nước. Tuy nhiên, đến khi chế động phong kiến, rồi chế độ tư sản thì quyền công dân của con người đã bị tước bỏ; phân chia lợi ích và phân tầng xã hội dần trở thành mâu thuẫn đối kháng. Cách mạng xã hội vì thế mà bùng nổ.
Công xã Paris, Cách mạng Tháng Mười Nga, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là kết quả của sự vùng lên chống áp bức cường quyền. Trong các sự kiện đó, con người đã được giác ngộ hướng tới một xã hội, một chế độ tốt đẹp, bình đẳng, dân chủ hơn. Công tác tư tưởng chính là tuyên truyền, giác ngộ, giáo dục con người biết phản kháng, đấu tranh với những loại hình áp bức, bất công, xây dựng một chế độ xã hội dân chủ, người biết tôn trọng người; nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội đều phải hướng vào hiện thực hóa những giá trị nhân văn, nhân bản được nêu trong hiến pháp, được khẳng định trong chủ trương, đường lối của đảng cầm quyền.
Dân tộc ta có một giá trị tư tưởng bất biến, trở thành giá trị riêng có để trường tồn chính là sự tự tôn, tự lập, tự cường. Làm cho giá trị cao quý ấy trở thành nguồn cảm hứng chủ đạo trong mỗi con người, mỗi cộng đồng và toàn xã hội thì chắc chắn đó sẽ là sức mạnh sáng tạo lớn lao chưa từng có trong thời đại hiện nay. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã cùng Đảng ta sử dụng vũ khí tư tưởng để đánh tiêu tan tâm lý nhược tiểu, buông xuôi số phận lịch sử. Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ năm đầu sau Tuyên ngôn Độc lập, rồi 2 cuộc kháng chiến thần thánh, vĩ đại đã cho thấy sức mạnh của một dân tộc có Đảng, có Bác Hồ soi đường chỉ lối.
Chủ nghĩa Mác - Lênin chính là kim chỉ Nam cho sự hoạch định đường lối lãnh đạo của Đảng, là sự giải tỏa mọi bế tắc lịch sử mà những bậc tiền bối trước Nguyễn Tất Thành từng cam chịu (điều này đã được Phan Bội Châu thừa nhận: trăm thất bại không một lần thành công).
3. Để tiếp tục mài dũa cho thứ vũ khí linh nghiệm của Đảng ngày một sắc bén hơn, rất cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhất là mối quan tâm của Nhân dân. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài, với những nội dung cụ thể như:
Thứ nhất, cần phải tuyên truyền, giáo dục, khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lựa chọn cách nay 100 năm là sự lựa chọn của lịch sử; là sự bắt nhịp xu hướng thời đại; đã được kiểm định bởi lịch sử dân tộc ta qua 90 năm có Đảng lãnh đạo.
Các bậc tiền bối cách mạng đã luôn nghiên cứu, học tập và sẵn sàng hy sinh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Sau nhiều thập kỷ đối đầu, thù địch, sử dụng sức mạnh của kinh tế, vũ khí hiện đại hòng thủ tiêu Đảng cộng sản Việt Nam, đến nay các nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam đều chấp nhận vị thế cầm quyền của Đảng ta.
Giữa những hỗn mang của các luồng tư tưởng không chính thống dưới các màu sắc tôn giáo, sắc tộc, dân túy, dân chủ, nhân quyền, bảo vệ môi trường, bảo vệ chủ quyền biển, đảo… đang được các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị ra sức thúc đẩy, thì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn là dòng chảy chủ đạo trong đời sống tư tưởng chính trị của Việt Nam.
Bất kỳ ai còn yêu Đảng, yêu Bác Hồ, yêu chế độ, yêu Nhân dân thì không được phép lơ là, mất cảnh giác hoặc dao động trước những “viên đạn bọc đường” mang tên “Chiến lược diễn biến hòa bình”. Chiến lược đó đã thành công ở đâu đó, nhưng chắc chắn không thể thành công tại Việt Nam.
Thứ hai, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có sức sống lâu bền trong dòng chảy cách mạng Việt Nam suốt 90 năm qua chính là ở sự vận dụng sáng tạo, sự hoàn thiện, bổ sung và phát triển không ngừng về lý luận. Vì thế, việc chú trọng  nghiên cứu những vấn đề mới, những vấn đề khó, phức tạp phát sinh từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, cung cấp cơ sở lý luận, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn ở tầm khái quát lý luận là nhiệm vụ phải được đặt ra thường xuyên hơn.
Tổng kết 30 năm đổi mới đất nước, tổng kết 30 năm thực hiện Cương lĩnh 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) là dịp để Đảng nhìn lại một chặng đường sáng tạo lý luận cho cách mạng Việt Nam; từ đó có những dự cảm chính trị mới, mở rộng, nâng cao tầm tư duy chiến lược cho đất nước hướng tới mục tiêu xây dựng thành công một nước Việt Nam cường thịnh vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, 100 năm lập nước.
Thứ ba, có được sự trung thành tuyệt đối với nền tảng tư tưởng của Đảng thì mọi chủ trương, đường lối, chính sách do Đảng, Nhà nước ban hành sẽ đáp ứng được yêu cầu lịch sử, tức là đáp ứng được lòng mong mỏi của Nhân dân.
Ca dao xưa có câu “Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng”. Lòng dân luôn hướng về sự bình an, nên cho dù cuộc sống vật chất được nâng cao mà dân vẫn phải “nơm nớp” lo sợ trăm điều bất ổn, bất an thì khó có sự “tuyệt đối trung thành với Đảng” được. Ngày xưa, Trần Hưng Đạo từng khuyên Vua Trần phải khoan thư sức dân, làm kế rễ sâu, gốc bền, đó là thượng sách giữ nước. Chu Văn An từng dâng “Thất trảm sớ” đòi Vua Trần chém đầu những kẻ bất chính trong triều đình. Nguyễn Trãi từng khuyến nghị với Vua Lê phải lấy tiếng cười hoan hỉ của dân chúng nơi thâm sơn cùng cốc để làm gốc của nhã nhạc.
Hồ Chí Minh đã từng chỉ dạy phải lấy dân làm nền móng vững chắc nền xây lâu đài chế độ. Ngày nay, kinh tế nước ta đã mạnh hơn, đời sống khá giả hơn, nhưng người dân vẫn phải đối mặt với không ít những nguy cơ bất ổn, bất an, từ môi trường thiên nhiên đến môi trường xã hội. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải đi vào phòng, chống, đấu tranh đẩy lùi, làm tiêu tan mọi nguy cơ gây họa cho dân. Trong đó, đấu tranh với nạn tham nhũng là việc làm có ý nghĩa “trị một số người để cứu muôn người” như chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng.
4. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó ngành Tuyên giáo đóng vai trò chủ lực mà Ban Tuyên giáo Trung ương là cơ quan đầu não của Ngành.
Nhờ có mối quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sắc của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nên từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có nhiều chuyển biến quan trọng, góp phần bảo đảm an ninh tư tưởng, gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để đất nước phát triển bền vững.
Việc tham mưu với Đảng, Nhà nước về cơ sở khoa học để ban hành chủ trương, chính sách mới đã được nâng cao chất lượng, bảo đảm tính dự báo, phát hiện, hiến kế có cơ sở lý luận và thực tiễn; đồng thời không ngừng đối mới học tập, quán triệt, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết nghị quyết, nên sức sống của nghị quyết được gia tăng rõ nét.
Công tác tuyên truyền, cổ động ngày một kịp thời, sinh động, thiết thực, hiệu quả hơn; góp phần định hướng tư tưởng chính trị, dư luận xã hội, tạo sức lan tỏa xã hội sâu rộng. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được thực hiện kiên trì, sáng tạo, mang đến cho cả hệ thống chính trị và toàn xã hội những suy nghĩ và hành động tốt đẹp, trong sáng.
Báo chí đang tự mình xây dựng và chỉnh đốn cả về bộ máy tổ chức, sắp xếp mạng lưới cho khoa học hơn, tinh gọn và hiệu lực, hiệu quả hơn, nhất là đấu tranh với những thói hư tật xấu. Báo chí ngày càng thể hiện rõ là một binh chủng thiện chiến trên mặt trận đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, cổ vũ cho những nhân tố mới, làm bà đỡ cho những phát kiến sáng tạo.
Văn hóa, văn nghệ vẫn tiếp tục trăn trở với sứ mệnh “soi đường cho quốc dân đi”, đấu tranh đẩy lùi những thói hư tật xấu trong ứng xử xã hội, bảo vệ, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, xác định và định vị các giá trị văn hóa dân tộc ở tầm di sản thế giới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để hình thành tầm văn hóa dân tộc thời đại mới.
Các lĩnh vực khoa giáo có bước chuyển biến tích cực, đã và đang hướng tới tham mưu có tính căn cơ, đi vào chiều sâu, góp phần quyết định vào chất lượng nguồn lực con người, nguồn lực khoa học, công nghệ, bảo đảm an sinh xã hội để đất nước phát triển nhanh, bền vững và hội nhập thành công.
Kể từ sau khi Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII được ban hành, ngành Tuyên giáo đã chủ động, tích cực vào cuộc, đổi mới phương thức đấu tranh, kết nối lực lượng tạo thành thế trận nhiều tầng, nhiều lớp làm phá sản mọi âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước. Việc học tập, giáo dục lý luận chính trị có bước đổi mới theo hướng thiết thực, thực chất, hiệu quả, học để trang bị lý luận cách mạng, giữ được bản lĩnh chính trị trước mọi thử thách; vận dụng vào thực tiễn cách mạng, để thực hiện nhiệm vụ của Đảng tốt hơn, có cơ sở khoa học hơn, tránh bệnh duy chí chí. Công tác lịch sử Đảng ngày càng đi vào chiều sâu, coi trọng giá trị lịch sử trong sự kiện, quan tâm tính giáo dục truyền thống lịch sử, truyền thống cách mạng. Đối với thế hệ cách mạng cho đời sau, việc giáo dục lý luận chính trị và lịch sử sẽ là cẩm nang cho nhận thức và hành động, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, phụng sự Tổ Quốc, phục vụ Nhân dân, sống có ích cho xã hội, cống hiến cho đất nước.
*         *        *
Ngành Tuyên giáo của Đảng có 90 năm lịch sử tồn tại và phát triển, nhưng lịch sử công tác tư tưởng đã được tổ tiên ta khai mở, tiếp biến, phát huy trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, coi đó là kế sách bảo đảm tính “bách chiến bách thắng” chống kẻ ngoại xâm và chế ngự thiên nhiên.
Trong bóng đêm tưởng chừng như không có lối ra của lịch sử dân tộc, Nguyễn Tất Thành và những người yêu nước cùng thời đã không nhụt ý chí ra đi tìm đường cứu nước. Có nhiều bậc chí sĩ bất thành, duy chỉ có Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã thành công, đó không phải là may rủi trên đường đời, đó là tất yếu của quá trình tìm kiếm luồng tư tưởng tiên tiến, phùng thời cho dân tộc.
Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập và rèn luyện Đảng ta, truyền tư tưởng cách mạng chân chính theo chủ nghĩa Mác - Lênin vào chính đảng của mình. Cốt lõi của tư tưởng cách mạng mà Người bền bỉ, nhất quán tạo nên sức sống của Đảng ta là: Đảng không có lợi ích nào khác là làm cho nước nhà độc lập, đồng bào được tự do. Dựa trên nền tảng tư tưởng ấy, ngành Tuyên giáo đã và sẽ làm cho đồng bào ta thấu hiểu: Một lòng sắt son với Đảng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là biểu thị tính cách mạng của sự tôn vinh Đảng, biết ơn Bác Hồ./.

ĐỘI LỐT “THEO DÕI NHÂN QUYỀN” CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ CỦA VIỆT NAM LÀ TRÁI CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ



 Nhân quyền là giá trị thiêng liêng mà toàn thế giới hướng tới. Thế nhưng đây cũng là chủ đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch và một số tổ chức phi chính phủ được sự bợ đỡ của phương Tây luôn tìm cách lợi dụng nhằm thực hiện những động cơ đen tối, trong đó có Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch-HRW)-đặt trụ sở tại New York, Hoa Kỳ.
"Con rối" đội lốt nhân quyền
Tổ chức HRW được thành lập năm 1988 trên cơ sở hợp nhất tổ chức Helsinki Watch (do Robert L.Bernstein thành lập năm 1978 với mục đích "giám sát" Liên Xô bằng cách thu thập tư liệu liên quan tới việc Liên Xô thực hiện quy ước của Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE), hỗ trợ các nhóm "bảo vệ" nhân quyền tại nước này) với một số tổ chức quốc tế khác có cùng tôn chỉ, mục đích nghiên cứu và cổ vũ cho phát triển nhân quyền. Nói là chuyên nghiên cứu và cổ vũ cho nhân quyền, nhưng nhìn vào những hoạt động của HRW người ta không khó để nhận ra tổ chức này đã và đang “lời nói không đi đôi với việc làm”, ngày càng xa rời, thậm chí đi ngược tôn chỉ, mục đích.
Tổ chức này thường xuyên lợi dụng nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Nhiều quốc gia trên thế giới đã cáo buộc HRW chịu quá nhiều chi phối từ chính phủ Hoa Kỳ, hoạt động không đúng tôn chỉ, mục đích. Chẳng hạn Liên bang Nga đã nhiều lần chỉ trích HRW về những động thái tuyên truyền, xuyên tạc, kích động tạo cớ can thiệp vào những vấn đề nội bộ của nước này. Tương tự, do có những hành động vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và các quy tắc cơ bản của quan hệ quốc tế, cũng như can thiệp vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc nên chính phủ nước này đã áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với HRW. Không phải ngẫu nhiên mà trang web của HRW lại bị cấm hoạt động tại Thái Lan. Chính phủ nước này buộc phải làm điều ấy là vì thông qua trang web này tổ chức HRW thường xuyên đội lốt "theo dõi nhân quyền" để tuyên truyền xuyên tạc, tán phát những nội dung thông tin sai lệch, kích động, vi phạm các quy định về an ninh quốc gia của họ. Ngoài ra HRW còn bị nhiều quốc gia, như: Đức, Cuba, Sri Lanka, Triều Tiên, Ethiopia, Syria... chỉ trích, phản đối với những nội dung và mức độ khác nhau vì đã can thiệp làm phức tạp tình hình, gây khó khăn cho việc bảo đảm nhân quyền ở các nước này.
Không là ngoại lệ, HRW đã nhiều lần đưa ra những thông tin thiếu khách quan, không chính xác, mang tính xuyên tạc, phủ nhận thành quả, bôi nhọ bức tranh nhân quyền Việt Nam. Những việc làm mang dụng ý xấu của HRW ít nhiều khiến cộng đồng quốc tế hiểu chưa đúng về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Có thể thấy HRW đã lộ nguyên hình là "con rối" đội lốt "thúc đẩy nhân quyền" phục vụ cho mục tiêu chính trị của một thế lực đen tối.
HRW đã vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế
Hành động của HRW vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Quy định về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác được đề cập trong các điều ước quốc tế. Đặc biệt trong Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ) năm 1945, lần đầu tiên đã quy định về nguyên tắc cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác ở Điều 2. Sau đó tại Nghị quyết 2625 năm 1970 của Đại hội đồng LHQ, nguyên tắc cấm can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác tiếp tục được ghi nhận cụ thể và rõ ràng hơn.
Nền tảng pháp lý của nguyên tắc này là các nước, các tổ chức quốc tế có nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và toàn vẹn chính trị của một quốc gia. Nội dung chính của nguyên tắc theo Nghị quyết 2625 là: Không quốc gia nào hay nhóm quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay gián tiếp, vì bất kỳ lý do gì vào công việc đối nội và đối ngoại của bất kỳ quốc gia nào khác. Theo đó: Can thiệp vũ trang và tất cả các hình thức can thiệp hay đe dọa chống lại tư cách của quốc gia hay chống lại các đặc trưng chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia đó, đều là vi phạm luật pháp quốc tế; không quốc gia nào có thể sử dụng hay khuyến khích sử dụng các biện pháp cưỡng ép bằng kinh tế, chính trị hay các hình thức khác nhằm buộc quốc gia khác phải phụ thuộc mình khi thực hiện các quyền chủ quyền và nhằm bảo đảm các lợi thế ở bất kỳ hình thức nào. Ngoài ra Nghị quyết 2625 còn quy định: Không quốc gia nào được tổ chức, hỗ trợ, khuyến khích, tài trợ, kích động hay dung thứ cho hành vi lật đổ, khủng bố hay các hoạt động vũ trang trực tiếp nhằm lật đổ bằng bạo lực thể chế của quốc gia khác, hoặc can thiệp vào các cuộc bạo động dân sự ở quốc gia khác;... Theo Nghị quyết 2625, việc sử dụng bất cứ hình thức nào nhằm ngăn cản các dân tộc có bản sắc quốc gia cấu thành hành vi vi phạm các quyền không thể tách rời của các dân tộc đó và vi phạm nguyên tắc không can thiệp...
Đối với Việt Nam, trong nhiều văn bản pháp luật Nhà nước Việt Nam cũng quy định rõ các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam và thành viên của những cơ quan đó phải: Tôn trọng pháp luật và phong tục, tập quán của Việt Nam; không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam;... Thế nhưng HRW đã phớt lờ những quy định và nguyên tắc ấy. Điều này càng lộ rõ thông qua những việc làm và phát ngôn của một số nhân vật đại diện cho HRW thời gian gần đây.
Xuyên tạc nhân quyền Việt Nam là bản chất của HRW
Ngày 14-1-2020, HRW đã ra cái gọi là “Báo cáo Thế giới 2020” điểm lại bức tranh nhân quyền của khoảng 100 quốc gia... Phần nói về Việt Nam, báo cáo này viết: “Năm 2019 là một năm tàn bạo đối với các quyền tự do căn bản ở Việt Nam khi chính quyền kết án tù ít nhất 30 nhà hoạt động và bất đồng chính kiến”;... Trước khi đưa ra bản báo cáo này, HRW đã không ít lần đòi trả tự do cho một số đối tượng mà họ khoác lên chiếc áo “nhà dân chủ”; “nhà hoạt động nhân quyền”;... đang thụ án do vi phạm pháp luật Việt Nam.
Những việc làm và giọng điệu trên thêm một lần nữa chứng minh, mang danh là tổ chức nhân quyền nhưng hoạt động của HRW không phục vụ cho sự phát triển nhân quyền ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Không quá lời khi nói rằng: Xuyên tạc về nhân quyền ở Việt Nam đã trở thành bản chất của HRW. Cần khẳng định rằng: “Báo cáo Thế giới 2020” mà HRW đưa ra đã dựa trên những thông tin xuyên tạc, bịa đặt và không có cơ sở, không phản ánh đúng bức tranh nhân quyền của Việt Nam.
Sau gần 35 năm đổi mới, bằng sự nỗ lực vượt bậc, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ. Theo đánh giá của cộng đồng quốc tế, trong hơn 30 năm đổi mới nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng trung bình gần 7%/năm, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm trung bình hằng năm 5%... Việt Nam ngày càng nổi lên như một nền kinh tế có thu nhập trung bình và là nước xuất khẩu đang phát triển mạnh. Năm 2019, Việt Nam lần đầu tiên xuất hiện trong nhóm 60 nền kinh tế sáng tạo nhất thế giới. Ông Justin Wood, Giám đốc khu vực châu Á của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), nhận định: "Những năm gần đây kinh tế Việt Nam đang phục hồi trở lại và tăng trưởng rất nhanh. Lạm phát và nợ công được giữ ở mức ổn định, xuất-nhập khẩu tăng mạnh; các vấn đề cũ liên tục được Chính phủ khắc phục; đầu tư nước ngoài đang gia tăng mạnh mẽ... Có thể thấy bức tranh kinh tế Việt Nam đang sáng sủa hơn rất nhiều nhờ những nỗ lực cải tổ nền kinh tế của Chính phủ..."
Mục tiêu cao nhất của quá trình phát triển ở Việt Nam không ngoài ý nghĩa vì con người, cho con người. Sự phát triển, nhất là về kinh tế những năm qua là tiền đề, là nhân tố trước hết để Việt Nam bảo đảm quyền con người. Trên thực tiễn Việt Nam liên tục đạt được những tiến bộ vượt bậc trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người. Sự nỗ lực cố gắng của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người những năm qua, đặc biệt trong năm 2019 được bạn bè quốc tế ghi nhận. Không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam được chọn là nơi tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều lần hai. Sự kiện này đã chứng tỏ sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế về vai trò của Việt Nam trong vấn đề bảo đảm an ninh, an toàn, giữ gìn hòa bình trong khu vực và thế giới. Việt Nam lần thứ 3 đăng cai tổ chức thành công Đại lễ Phật đản LHQ Vesak 2019. Đây là bằng chứng sinh động khẳng định chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đại đoàn kết tôn giáo và đoàn kết dân tộc ở Việt Nam. Với việc trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đang góp phần tích cực cho hòa bình và an ninh quốc tế, trong đó có việc thúc đẩy nhân quyền. Việt Nam là khách mời của Hội nghị thượng đỉnh nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) chứng tỏ sự ghi nhận của quốc tế về những nỗ lực của Việt Nam trong công cuộc phát triển KT-XH... Rõ ràng năm 2019, Việt Nam tiếp tục trở thành tâm điểm của thế giới với những thành tựu đối nội, đối ngoại nổi bật. Thực tiễn sinh động ấy đã bác bỏ hoàn toàn những nhận định hồ đồ, vô căn cứ về Việt Nam mà HRW bịa đặt trong “Báo cáo Thế giới 2020”.
Hệ thống pháp luật Việt Nam được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương LHQ và các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia; lịch sử văn hóa truyền thống và điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Mục tiêu cao nhất mà hệ thống pháp luật Việt Nam hướng tới là bảo đảm cho người dân được thụ hưởng quyền con người một cách tốt nhất. Mọi công dân sống, làm việc trên lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt tuổi tác, giới tính, địa vị xã hội, thành phần dân tộc hay trình độ đều bình đẳng trước pháp luật. Những trường hợp mà HRW gọi là "nhà hoạt động và bất đồng chính kiến" đã và đang bị chính quyền Việt Nam kết án tù, thực chất đó là những công dân đã vi phạm pháp luật Việt Nam và họ phải chịu những hình phạt của luật pháp là hoàn toàn chính xác. Đòi trả tự do cho những công dân Việt Nam vi phạm pháp luật của HRW là hành động trắng trợn can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế.
Thực tế khẳng định, bảo đảm cho mọi người dân được hưởng các quyền của mình và có cơ hội phát triển toàn diện, làm cho cuộc sống của người dân ngày càng được nâng cao, bảo đảm an sinh xã hội… là mục tiêu mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn nỗ lực hướng tới. Việt Nam kiên quyết phản đối, bác bỏ những cái nhìn phiến diện, những luận điệu vô căn cứ của HRW. Những chiêu trò của HRW dù có tinh vi, xảo quyệt tới đâu đi chăng nữa cũng không thể đánh lừa được dư luận và càng không thể phủ nhận hoặc làm lu mờ những thành tựu nhân quyền của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. 

LUẬN ĐIỆUXUYÊN TẠC THIẾU CĂN CỨ CỦA DÂN NGUYỄN



KHÁNH ANH

Lợi dụng Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2019 – 2024. Ngày 15/12/2019, trên trang Danlambaovn.blogspot.com, Dân Nguyễn lại đăng bài: Không nên ngộ nhận giữa chủ nghĩa yêu nước và lòng yêu nước. Thực chất bài viết của Dân Nguyễn không có gì khác đó là xuyên tạc và phản động, hòng đánh lừa người đọc nếu như không tìm hiểu các hoạt đông, các diễn đàn mà Đại hội đã thảo luận.
Thứ nhất, bằng cách đưa thông tin không đầy đủ về các hoạt động của Đại hội, các nội dung trong phong trào “Tôi yêu Tổ quốc tôi” của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Dân Nguyễn cho rằng, Đại hội đã: “Ngộ nhận về chủ nghĩa yêu nước”.
Chúng ta đều biết, từ ngày 10-12/12/2019 tại Hà Nội đã diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, nhiệm kỳ 2019 – 2024. Với khẩu hiệu hành động “Thanh niên Việt Nam yêu nước, sáng tạo, tình nguyện, hội nhập, phát triển”, Đại hội đã tập trung đánh giá việc triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ VII và phong trào “Tôi yêu Tổ quốc tôi”. Mục đích là: thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến để đưa phong trào đến với thanh niên, vận động thanh niên thi đua rèn luyện, vận động thanh niên thi đua cống hiến, vận động thanh niên sống có trách nhiệm….
Đại hội đã xác định tiếp tục triển khai phong trào: “Tôi yêu Tổ quốc tôi” trong nhiệm kỳ 2019 -2024, với 5 nội dung chính, bao gồm: Thanh niên Việt Nam yêu nước, bản lĩnh; Thanh niên Việt Nam sáng tạo, khởi nghiệp; Thanh niên Việt Nam sống đẹp, sống có ích; Thanh niên Việt Nam tình nguyện vì cộng đồng; Thanh niên Việt Nam khỏe thể chất, vững kỹ năng, chủ động hội nhập quốc tế. Như vậy, với việc thông tin không đầy đủ các nội dung của phong trào “Tôi yêu Tổ quốc tôi”, Dân Nguyễn đã dùng cách đánh tráo khái niệm, so sánh khập khiễng, sau đó lập luận một cách vô căn cứ để rồi cho rằng Đại hội đã ngộ nhận về chủ nghĩa yêu nước.
Thứ hai, Dân Nguyễn đã “chỉ ra” những tác hại của sự ngộ nhận đó là: “Xã hội từ đó hỗn loạn về mọi mặt, đặc biệt về nhân cách và đạo đức; lòng yêu nước chi phối toàn diện, tất nhiên pháp luật sẽ không được thực thi. Một xã hội vô chính phủ hiện nguyên hình bằng những hành vi hoang dã nhân danh ‘lòng yêu nước gắn liền yêu CNXH…”
Không biết tên Dân Nguyễn có đọc những nội dung mà phong trào “Tôi yêu Tổ quốc tôi” của Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã phát động hay không?! Thiết nghĩ, những nội dung đó với bất kỳ ai, bất kỳ người thanh niên nào, kể cả thanh niên các nước trên thế giới đều thấy đó là những mục tiêu rất cao cả, rất tốt đẹp để mỗi thanh niên Việt Nam trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, mọi miền của Tổ quốc đều hướng tới và mong muốn phấn đấu đạt được. Với mục tiêu xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn về nhân cách, phẩm chất đạo đức, có trí tuệ, thể lực; sống có lý tưởng, có ý chí vươn lên, biết cống hiến, hy sinh vì cộng đồng và luôn hướng tới những giá trị chân, thiện, mĩ của cuộc sống. Tốt đẹp là vậy, thế nhưng Dân Nguyễn lại cho rằng những giá trị đó sẽ làm cho “xã hội từ đó hỗn loạn về mọi mặt, đặc biệt về nhân cách và đạo đức; lòng yêu nước chi phối toàn diện…” Phải chăng, theo cách hiểu của Y thì thế hệ thanh niên ngày nay chỉ biết sống hưởng thụ, sống buông thả ngoài khuôn khổ pháp luật, không theo các chuẩn mực xã hội, sống không có trách nhiệm với cộng đồng thì mới là những công dân tốt? Và, thật phi lý khi Dân Nguyễn còn cho rằng, những giá trị cao đẹp đó “lại xóa bỏ hệ thống pháp luật của xã hội? và làm cho đất nước trở thành một xã hội vô chính phủ…?”. Dân Nguyễn phải hiểu rằng, khi con người có phẩm chất đạo đức tốt, sống có ích, có lý tưởng, có trách nhiệm với cộng đồng… thì đó chính là những người sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, điều này làm cho nền tảng pháp luật của xã hội ngày càng được củng cố vững chắc. Đó chính là cơ sở xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, hoàn toàn không như những gì mà Dân Nguyễn đề cập.
Như vậy có thể thấy, tất cả những nội dung mà Dân Nguyễn nêu ra trong bài viết chỉ là xuyên tạc, vu khống, chống phá đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà thôi. Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam, nhất là thanh niên hãy cảnh giác vạch trần, lên án và kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu nêu trên của Dân Nguyễn./.


VẠCH TRẦN SỰ NHAM HIỂM CỦA TRÍ NGUYỄN



Công Đặng
Bằng những thủ đoạn như: trích dẫn cắt xén, thêm bớt nội dung, hình ảnh; bịa đặt thông tin rồi mập mờ nói đó là nguồn tin riêng;… Trí Nguyễn và những kẻ vẫn tự xưng hay vẫn tán dương nhau là “nhà dân chủ, người yêu nước” đã tự lộ rõ bản chất bất lương của chúng, nên không ngẫu nhiên dư luận lại thường gọi chúng là “nhà dân chủ cuội, người yêu nước dỏm”. Đến nay, dù những trò dối trá luôn bị cư dân mạng vạch trần, truy nguyên nguồn gốc, nhưng chúng vẫn không dừng lại, vì đó là cái cần câu cơm của những kẻ sống nhờ những đồng USD bẩn thỉu từ những tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam. Chính vì thế, khi tiếp xúc với thông tin chúng đưa ra, chúng ta cần hết sức tỉnh táo, để không bị mê hoặc, thao túng, lợi dụng.
Chúng ta đều biết, việc xem xét kỷ luật đối với ông Hoàng Trung Hải và khởi tố các lãnh đạo liên quan đến Dự án Gang Thép Thái Nguyên đã được tiến hành một cách bài bản, thận trọng với tinh thần sai phạm đến đâu xử lý đến đó, đúng người, đúng tội. Đặc biệt, công khai trước dư luận, đã chỉ rõ đến từng cá nhân vi phạm, không còn là lỗi của tập thể và không có “vùng cấm”.
Nhìn lại các cá nhân, tập thể bị thi hành kỷ luật và xử lý hình sự trong thời gian qua chúng ta có thể khẳng định, không có chuyện “phe phái” hay là vì bất cứ lý do “không chính đáng” nào, cũng không có chuyện “thanh trừng” như luận điệu xuyên tạc một số đối tượng cơ hội chính trị rêu rao. Trong “cuộc chiến” giữa thanh thiên bạch nhật này, nếu có chuyện thanh trừng thì đó chỉ là “giặc nội xâm” đang bòn rút bạc tiền của người dân. Không thể để một bộ phận cán bộ đảng viên được Đảng và nhân dân giao trọng trách lại có thể dùng trọng trách được giao để “moi ruột nước, móc túi dân” như một số kẻ đã từng làm. Chủ trì phiên họp thứ 16 Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban chỉ đạo đã khẳng định, “một không khí phấn khởi đang lan tỏa trong toàn xã hội” bởi niềm tin của người dân vào “cuộc chiến” chống tham nhũng ngày càng được củng cố.
Như vậy có thể thấy, việc xem xét kỷ luật ông Hoàng Trung Hải – một Ủy viên Bộ Chính trị, từng giữ chức vụ Phó Thủ tướng (hay trước đây là xét xử ông Đinh La Thăng) đã truyền đi thông điệp mạnh mẽ, quyết tâm của Đảng trong việc làm trong sách bộ máy Nhà nước. Có vi phạm sẽ phải bị xử lý, không có vùng cấm. Đây chính là “cú tát” vào những kẻ chuyên đi xuyên tạc, bịa đặt như Trí Nguyễn và đồng bọn.
Vì vậy, cho dù công cuộc phòng chống tham nhũng, suy thoái có không ít những chua xót. Việc “cho củi vào lò” là bất đắc dĩ song không thể không làm vì nó liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ và việc “đốt lò” cần đến trí tuệ chứ không phải nơi dành cho những kẻ “phàm phu tục tử” buông lời chọc ngoáy thiếu đạo đức. Những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của Trí Nguyễn và đồng bọn tuy chẳng thể lừa phỉnh được ai, nhưng những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của chúng cần phải được vạch trần, lên án và đấu tranh bác bỏ một cách triệt để, kiên quyết./.


PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG



Công Đặng
"Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi "phi chính trị hóa" quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an" là một trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây cũng chính là âm mưu thâm độc trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, vì vậy, chúng ta cần phê phán, đấu tranh, bác bỏ.
Các thế lực thù địch luôn công kích, phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; đề nghị “bỏ quy định lực lượng vũ trang phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam” (Điều 65, Chương IV) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Đi cùng với phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an, các thế lực thù địch còn xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.
Đây là sự chống phá cực kỳ nguy hiểm và trên thực tế, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác quốc phòng, an ninh, về xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Chúng ra sức xuyên tạc, bôi nhọ bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; làm giảm lòng tin của nhân dân đối với quân đội và công an; xuyên tạc các sự kiện lịch sử có ý nghĩa chính trị trọng đại của đất nước có lực lượng quân đội và công an tham gia, nhằm làm mất uy tín, vị thế, vai trò của hai lực lượng này trước nhân dân. Thâm độc hơn, chúng còn thực hiện các thủ đoạn tạo mối nghi ngờ, hiềm khích, gây ly gián Quân đội nhân dân với Công an nhân dân, lực lượng vũ trang với các cơ quan Đảng, Nhà nước... 
Sự chống phá của các thế lực thù địch là vậy, nhưng một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân do thiếu hiểu biết, thiếu rèn luyện, học tập chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, đã bị dao động, bi quan, dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra. Đáng lưu ý, thông qua internet, các trang mạng xã hội, blog cá nhân... biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ngày càng rõ nét và bị các thế lực thù địch lợi dụng để thúc đẩy chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Có thể khẳng định, biểu hiện này trong một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân là rất nguy hiểm và cần phải kiên quyết loại trừ. Bởi thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chỉ rõ, bài học thành công của Đảng trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới của giai cấp vô sản chính là xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cốt lõi là giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; chăm lo xây dựng bản chất giai cấp công nhân gắn với xây dựng tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. 
Chỉ dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, với đường lối vũ trang cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng, lực lượng vũ trang mới tôi luyện được bản lĩnh chính trị vững vàng, nâng cao sức mạnh chiến đấu tổng hợp, thực sự là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong thực hiện các chủ trương, đường lối, chiến lược, sách lược bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Và trên thực tế, trong hơn 70 năm qua, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam luôn vượt qua những khó khăn trở ngại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đó là sự thật hiển nhiên không thể xuyên tạc, bóp méo.
Chúng ta cần phải đẩy mạnh đấu tranh phản bác lại những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đặc biệt là biểu hiện: “Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an”. Muốn làm được điều đó, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:
Một là, cần cung cấp thông tin chính thống về lĩnh vực quốc phòng - an ninh đến cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân một cách kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực. Bởi quốc phòng - an ninh là lĩnh vực đặc thù, có liên quan trực tiếp đến sự an nguy của quốc gia, dân tộc. 
Hơn nữa, khi cán bộ, đảng viên và nhân dân được cung cấp thông tin chính thống nhanh chóng và chính xác, các thế lực thù địch sẽ ít có cơ hội thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình”, đồng thời ngăn chặn hiệu quả những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Hai là, luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với QĐND và CAND trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Đây vừa là nguyên tắc, vừa là quy luật cơ bản trong xây dựng quân đội và công an kiểu mới, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng chỉ rõ: “... phải tiếp tục giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”, làm cho quân đội và công an thật sự đoàn kết, gắn bó, là lực lượng xung kích đi đầu trong ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Ba là, tăng cường đấu tranh phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng làm cho QĐND, CAND Việt Nam “tự diễn biến” theo khuynh hướng “phi chính trị hóa”. Theo đó, phải tăng cường xây dựng QĐND, CAND vững mạnh về chính trị, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; củng cố và tăng cường sức mạnh đoàn kết quân dân, góp phần giữ gìn và phát huy hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, người “Công an cách mạng”.
Bốn là, thường xuyên đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ quân đội và công an, tạo chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa tinh thần, khắc phục các biểu hiện tiêu cực trong đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ. Cùng với đó phải tích cực giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ có ý thức và hành động đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng với mọi biểu hiện dao động, giảm sút ý chí, niềm tin; mơ hồ, mất cảnh giác; cá nhân chủ nghĩa; suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; không tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá nội bộ. 
Đồng thời, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức cho các nhà khoa học, bằng cơ sở lý luận, thực tiễn sắc bén, có tính thuyết phục cao, tham mưu, đề xuất những biện pháp, cách thức đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội.




Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2020

THỰC HIỆN THẮNG LỢI HAI NHIỆM VỤ CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI - BIỆN PHÁP HỮU HIỆU TRONG PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” Ở NƯỚC TA HIỆN NAY



                                                                                     Tất Thắng
Thực tiễn đã chỉ ra, cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”  ở nước ta chỉ có thể dành thắng lợi bằng sức mạnh tổng hợp, với sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh nội lực với ngoại lực, bên trong và bên ngoài, v.v.. Trong đó, cơ bản và cốt lõi nhất là phải thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam - xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bởi suy đến cùng, xây dựng đất nước vững mạnh, kinh tế phát triển bền vững, đời sống của các tầng lớp nhân dân ngày càng nâng cao, tình hình chính trị - xã hội ổn định,… là tạo điều kiện vững chắc cho bảo vệ Tổ quốc, đẩy lùi nguy cơ “diễn biến hòa bình”.
Ngược lại, bảo vệ tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng; và bản thân lực lượng trực tiếp bảo vệ cũng phải tham gia xây dựng đất nước; tăng cư­ờng quốc phòng, an ninh là trực tiếp nhằm giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia, tạo sức mạnh cần thiết để ngăn chặn, làm thất bại “diễn biến hòa bình”, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh cũng chính là tạo điều kiện cho đất nước phát triển bền vững. Theo đó, phải kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh. Đồng thời, phải nắm chắc quan điểm: nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.
Hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với Việt Nam là sự tiếp tục âm mưu chiến lược cơ bản của chúng hòng tiêu diệt chủ nghĩa xã hội. Chúng đã, đang và sẽ sử dụng tổng hợp các biện pháp và thủ đoạn tinh vi, thâm độc để chống phá cách mạng nước ta trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, răn đe quân sự,... Các thế lực thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới. Ðến nay, nền kinh tế của nước ta đã vượt qua thời kỳ suy giảm và có sự phát triển tương đối toàn diện. Tuy nhiên, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tiềm ẩn, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục. Các thế lực thù địch tiếp tục triệt để khoét sâu những khó khăn, yếu kém của chúng ta để thực hiện âm mưu chiến lược của chúng. Ðộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có thể mất bằng nhiều cách, không nhất thiết bị đánh chiếm bằng quân sự.
Vì vậy, trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, chúng ta phải luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng. Đây vừa là yêu cầu, vừa là một trong những phương hướng cơ bản, biện pháp hữu hiệu cần nắm vững trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam.



PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU “QUỐC HỘI VIỆT NAM DO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LẬP RA VÀ CHỈ PHỤC VỤ CHO ĐẢNG”



                                                                                                  Tất Thắng
Theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội, Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mặt khác, vị trí lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung và Quốc hội nói riêng được quy định bởi Hiến pháp “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Vậy nhưng trong thời gian qua và có lẽ cả trong thời gian tới, vẫn có không ít phần tử cơ hội chính trị, các thế lực thù địch phản động rêu rao tuyên truyền rằng “Quốc hội Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam dựng nên và để phục vụ cho lợi ích độc quyền của Đảng”.
Thực chất của quan điểm này là âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm bôi nhọ, hạ thấp và xuyên tạc Đảng, Quốc hội nước ta, nhằm mục đích làm giảm, mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, Quốc hội, cũng như chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; gây chia rẽ Đảng với Nhà nước và hệ thống chính trị. Bởi lẽ, cả lý luận và thực tiễn đã chứng minh:
Thứ nhất, với tư cách là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Quốc hội là cơ quan Nhà nước duy nhất do nhân dân cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Thông qua bầu cử nhân dân ủy thác quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội. Kể từ khi ra đời cho đến nay, Quốc hội nước ta vẫn thực hiện theo hình thức này.
Mặt khác, đại biểu quốc hội là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất cấu thành Quốc hội. Trên thực tế, Quốc hội bao gồm các đại biểu đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân, là hình ảnh thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân, đại diện cho trí tuệ của đất nước. Nói cách khác, đại biểu Quốc hội có đủ các tầng lớp, thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp,... thể hiện nền tảng của liên minh công, nông, trí thức, các tổ chức quần chúng, lực lượng vũ trang, v.v..
Do đó, nếu cho rằng Quốc hội nước ta là do Đảng Cộng sản Việt Nam lập ra là hoàn toàn thiếu cơ sở khoa học, là sự xuyên tạc thô thiển, lố bịch thực tiễn.
Thứ hai, với tính cách cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội  là cơ  quan duy nhất  có thẩm quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, thể hiện ý chí chung của nhân dân và của dân tộc thông qua hoạt động lập hiến và lập pháp. Đồng thời, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và của dân tộc.
Tất cả nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội được Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội quy định rõ là đều nhằm phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân và dân tộc. Vì vậy, nếu cho rằng, Quốc hội chỉ phục vụ lợi ích duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, suy đến cùng vẫn là quan điểm chính trị phản động.
Chính vì thế, chúng ta phải hết sức cảnh giác, tỉnh táo trước những âm mưu, thủ đoạn thâm độc và xảo quyệt như quan điểm nói trên để bảo vệ sự trong sáng của Nhà nước ta, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như chế độ xã hội chủ nghĩa - một chế độ ưu việt nhất mà toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực xây dựng.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...