Thứ Tư, 4 tháng 12, 2019

ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG CÓ PHẢI LÀ "MỆNH LỆNH" ĐỔI MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC?



 (ĐCSVN) - Phải là người Việt Nam yêu nước thực sự mới thấm thía hết được giá trị của những thành quả mà nhân dân ta đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam gần chín thập kỷ qua, mới có thể nhận thức được đâu là “mệnh lệnh” đích thực của đất nước và quyết tâm phấn đấu theo “mệnh lệnh” đó.
Hiện nay, trong khi nhân dân ta đang có những hoạt động sôi nổi tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội càng ráo riết, quyết liệt chống phá cách mạng Việt Nam. Chiêu trò “đa nguyên, đa đảng” lại được chúng phát động, tung lên dồn dập trên các phương tiện thông tin, truyền thông, trên internet, mạng xã hội với thái độ hằn học và giọng điệu thù địch. Chúng ra sức kêu gọi và yêu sách nhân dân ta phải thiết lập một “chế độ dân chủ đa nguyên”, coi đó là một “mệnh lệnh” của đất nước hiện nay! Chúng lớn tiếng xằng bậy rằng, “đất nước sẽ tàn tạ đến nỗi tàn tật”, nếu vẫn chấp nhận “chế độ cộng sản”!
Những người đưa ra luận điệu trên xem ra cũng chẳng hiểu gì về lịch sử Việt Nam và cũng chưa hiểu, hay cố tình làm sai lệch nội dung bản chất “mệnh lệnh” của đất nước Việt Nam lúc này.
Mọi người đều biết, những thập kỷ đầu thế kỷ XX qua sự “sàng lọc” dữ dội của lịch sử, dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người duy nhất dẫn dắt mình đi đến độc lập, tự do, hạnh phúc thực sự. Thực tiễn cũng chứng tỏ, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là đội tiền phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và của toàn thể dân tộc Việt Nam, là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Năm 1945, Đảng lãnh đạo toàn dân tộc, toàn thể nhân dân ta đứng lên khởi nghĩa, giành chính quyền, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong những ngày đầu giữ chính quyền, Đảng đã tự tuyên bố giải tán và Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã mở rộng thành phần cho mọi tổ chức, chính đảng cùng tham gia...
Lịch sử Việt Nam hiện đại cũng đã có và cũng đã phủ định đa đảng. Song điều quan trọng là, toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam và hoạt động của Nhà nước Việt Nam mới là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nền chính trị của nước ta vẫn là nền chính trị nhất nguyên. Chế độ chính trị đó là do nhân dân ta lựa chọn từ những trải nghiệm trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống xâm lược và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho dân tộc và toàn thể nhân dân lao động thực sự được làm chủ cuộc sống của mình, được sống cuộc đời tự do, hạnh phúc.
Không thể phủ nhận những hy sinh, mất mát to lớn của nhiều thế hệ người Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm nên kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc ở thế kỷ XX, và vững bước đi lên trên con đường xã hội chủ nghĩa với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Tinh thần anh dũng hy sinh và lao động sáng tạo của dân tộc ta là tấm gương để nhân dân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới noi theo; là điểm sáng được bạn bè thế giới ngưỡng mộ và lạc quan tin tưởng vào tương lai phát triển phồn thịnh của Việt Nam.
Đó là sự thật. Nó đó đã, đang và vẫn diễn ra, hoàn toàn bác bỏ những luận điệu muốn bóp méo, xuyên tạc, phủ định thành quả của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nó đập tan mọi luận điệu thù địch, chống đối, cố tình nói xằng rằng “đất nước sẽ tàn tạ đến nỗi tàn tật”, nếu dân tộc Việt Nam vẫn chấp nhận “chế độ cộng sản độc tài”!
Thực chất luận điệu đòi thiết lập “chế độ dân chủ đa nguyên”, coi đó là “mệnh lệnh” của đất nước là nhằm hướng lái nền chính trị nước ta sang chính trị tư sản. Điều tệ hại dẫn đến sẽ là: Đất nước diễn ra cảnh hỗn loạn, mất ổn định, đổ vỡ nền kinh tế, rơi vào thảm họa như đã từng xảy ra ở một số nước. Thảm họa đó chắc chắn sẽ giáng cả lên đầu nhân dân. Và nhân dân chỉ là cái cớ cho sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái.
Họ đã mượn ở đâu cái cụm từ “mệnh lệnh” của đất nước khi cho rằng thực hiện đa nguyên chính trị là “mệnh lệnh” của đất nước hiện nay. Ở đây vừa cho thấy họ chẳng hiểu thế nào là “mệnh lệnh” của nước ta hiện nay, lại vừa cho thấy sự méo mó và dã tâm cố tình lái nguyện vọng, lợi ích của dân tộc ta theo một hướng khác. Họ đã cố tình không thấy, không biết thực chất mục tiêu, động lực và “mệnh lệnh” - như họ nói” của nhân dân ta hiện nay là: Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; xây dựng nền tảng để sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Phải là người Việt Nam yêu nước thực sự mới thấm thía hết được giá trị của những thành quả mà nhân dân ta đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam gần chín thập kỷ qua, mới có thể nhận thức được đâu là “mệnh lệnh” đích thực của đất nước và quyết tâm phấn đấu theo “mệnh lệnh” đó./.

KHOÁC ÁO “CHỦ NGHĨA KHÁCH QUAN” TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC - MỐI NGUY HẠI CẦN BÓC TRẦN VÀ LOẠI BỎ



Nghiên cứu lý luận, nhất là lý luận chính trị đòi hỏi người nghiên cứu và cả đội ngũ của họ phải thường xuyên và đồng thời trau dồi trình độ chuyên môn, học thuật, tích lũy vốn sống và kinh nghiệm, rèn luyện phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị. Đó là điều cần thiết. Chính vì vậy, thấm nhuần quan điểm khách quan khoa học trong nghiên cứu thì phải đấu tranh phê phán và loại bỏ những biểu hiện bất minh, bất chính khoác áo “chủ nghĩa khách quan” trong nghiên cứu khoa học...
Khách quan khoa học trong nghiên cứu lý luận và khoa học xã hội - nhân văn
Khoa học xã hội - nhân văn là một tập hợp lớn các ngành, chuyên ngành khoa học khác nhau cùng nghiên cứu về xã hội và con người, lấy xã hội và con người làm đối tượng và khách thể nghiên cứu. Triết học, đặc biệt là triết học xã hội, chính trị học và các khoa học chính trị, sử học, xã hội học, đạo đức học, tâm lý học, văn hóa học,... là những môn khoa học nằm trong hệ thống chỉnh thể các khoa học xã hội và nhân văn. Trong hệ thống các môn khoa học này, lý luận kinh điển Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh có vị trí và vai trò quan trọng đặc biệt. Với tính cách là một khoa học, lý luận Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh đóng vai trò nền tảng tư tưởng, tinh thần của xã hội, định hướng về lập trường và quan điểm, nguyên tắc và phương pháp cho nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn, bảo đảm cho nghiên cứu khoa học về xã hội, về con người đúng đắn, có kết quả, có tác động hữu ích và thiết thực đối với đời sống xã hội và con người, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, sự hoàn thiện nhân cách con người, phù hợp với quy luật khách quan - quy luật của tiến bộ lịch sử. Theo đó, lý luận - ở đây là lý luận kinh điển Mác-xít (hay còn có thể gọi là các môn khoa học lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin) là bộ phận cốt yếu của khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta, cũng như ở các nước xã hội chủ nghĩa với vai trò lãnh đạo, cầm quyền của đảng cộng sản và sự quản lý của nhà nước pháp quyền, trong đó có chức năng quản lý nhà nước về khoa học, về hoạt động nghiên cứu khoa học.
Sự khác biệt căn bản giữa khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ với khoa học xã hội - nhân văn và lý luận là sự khác biệt về đối tượng và phương pháp nghiên cứu. Nếu khoa học tự nhiên nghiên cứu giới tự nhiên, môi trường tự nhiên, tồn tại độc lập khách quan bên ngoài đời sống xã hội, lịch sử xã hội và con người, không phụ thuộc vào ý thức con người, nhằm khám phá quy luật vận động của giới tự nhiên - “thân thể vô cơ” của con người như C. Mác nói, thì khoa học xã hội - nhân văn lại nghiên cứu về xã hội, đời sống xã hội, cấu trúc xã hội và các quan hệ xã hội của con người. Chính trong đời sống hiện thực xã hội đó diễn ra những hoạt động của con người - những chủ thể có ý thức để con người và loài người sáng tạo ra lịch sử như “một tự nhiên thứ hai” (C. Mác) của mình. C. Mác cũng từng nhấn mạnh rằng, con người và loài người sáng tạo ra lịch sử, không phải tùy tiện, chủ quan mà tuân theo những quy luật khách quan, do những điều kiện và hoàn cảnh khách quan quy định, chi phối và chế ước. Con người nhận thức giới tự nhiên, khám phá các quy luật tự nhiên, chúng tác động tự phát vào trong quá trình tự vận động, tự biến đổi của tự nhiên để tồn tại trong môi trường tự nhiên, cải biến tự nhiên một cách có ý thức, phù hợp với quy luật khách quan, phục vụ cho nhu cầu tồn tại và phát triển của mình, đó là sáng tạo ra xã hội, ra lịch sử, không phải hư vô, thần bí mà trên những tiền đề vật chất nhất định. Giới tự nhiên có thể ví như cái giá đỡ vật chất, không có cái nền tảng hiện thực đó, không thể có xã hội và lịch sử.
Do đó, con người và loài người trước khi sáng tạo ra xã hội và lịch sử của mình, nó đã từng là một bộ phận của giới tự nhiên như một tất yếu. Tuân theo quy luật tự nhiên để cải biến tự nhiên vì mục đích xã hội và nhân văn cũng là một tất yếu khách quan. Khám phá bản chất, quy luật và hành động thuận theo quy luật chính là sức mạnh và khả năng sáng tạo của chủ quan, chủ thể trong sự ràng buộc tất yếu của cái khách quan. Ph. Ăng-ghen đã từng cảnh báo: con người đối xử với tự nhiên đúng như quy luật của nó thì tự nhiên sẽ phục vụ con người như một “cô hầu gái ngoan ngoãn”, trái lại nếu con người can thiệp tùy tiện vào giới tự nhiên một cách trái quy luật thì giới tự nhiên sẽ trả thù con người, sẽ tác oai tác quái như một “mụ phù thủy độc ác”. Do đó, con người không thể đối xử với tự nhiên như một “tên thực dân xâm lược” mà trái lại, phải “hiểu” tự nhiên (bởi tự nhiên thường tự giấu mình) để ứng xử “thuận hòa” với tự nhiên. Đòi hỏi đó là khách quan. Một triết lý sống được đưa ra trước loài người: để “làm chủ” tự nhiên, để “chinh phục” tự nhiên theo chiều hướng nhân văn vì mục đích sống an toàn, hạnh phúc cho cộng đồng nhân loại thì con người văn minh và xã hội hiện đại phải “làm bạn” với tự nhiên, phải “thân thiện” với nó chứ không phải tàn phá nó một cách vô lối và khai thác nó đến kiệt quệ, phá vỡ tính cân bằng của môi trường sinh thái. Những biến đổi của khí hậu, thiên tai, lũ lụt, những con sóng thần hung dữ, những dòng sông chết, nước biển dâng như hiện nay,... đều là cái giá phải trả do hành vi làm trái quy luật của chính con người gây ra. Thảm họa môi trường đang là một vấn đề toàn cầu, đe dọa từng ngày, từng giờ đến cuộc sống con người càng cho thấy thái độ tôn trọng khách quan, tuân thủ quy luật khách quan có tầm quan trọng sống còn đối với con người và loài người như thế nào.
Khoa học xã hội - nhân văn và lý luận thấm nhuần quan điểm khách quan khoa học trong nghiên cứu cơ bản và ứng dụng phải góp phần thích đáng vào công cuộc bảo vệ môi trường tự nhiên đang bị hủy hoại - mà sự hủy hoại này lại do chính con người gây ra như một hành vi tự sát - bằng cách xây dựng vững chãi cơ sở khoa học cho một triết lý sống mới: từ tàn phá tự nhiên sang bảo vệ tự nhiên, thực hiện sự hài hòa tự nhiên - xã hội trong phát triển. Từ đây, có thể nhận rõ tính đặc thù của các quy luật xã hội và tính đặc thù của khoa học xã hội - nhân văn, của lý luận trên quan điểm khách quan khoa học.
Nếu quy luật tự nhiên tác động một cách tự phát trong biến đổi tự nhiên thì quy luật xã hội lại tác động vào xã hội thông qua nhận thức và hành động tự giác của con người. Khoa học tự nhiên và nghiên cứu khoa học tự nhiên không có tính giai cấp nhưng ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học của các nhà tự nhiên học vào đời sống xã hội, khi xã hội đã phân chia thành giai cấp, có đối kháng và mâu thuẫn giai cấp do những khác biệt và xung đột lợi ích giai cấp mà ra, thì lại chịu tác động từ các giai cấp, các chủ thể thống trị và cầm quyền, thông qua lăng kính giai cấp, thông qua thể chế chính trị, tập trung ở quyền lực nhà nước cũng như chịu tác động từ ý thức hệ của giai cấp thống trị. Một ví dụ kinh điển mà mọi người đều thấy, nghiên cứu và ứng dụng sức mạnh của năng lượng nguyên tử vào mục đích hòa bình, phát triển sản xuất và kinh tế, làm giảm nhẹ sức lao động của con người và phục vụ dân sinh khác về bản chất với việc dùng những sức mạnh ấy của bom đạn vào chiến tranh, xâm lược, giết hại và hủy diệt hàng loạt sinh mạng, gây ra thảm họa cho loài người.
Khoa học xã hội - nhân văn và lý luận trên quan điểm khách quan khoa học giúp ta nhận rõ những tính khác biệt đặc thù của nó so với khoa học tự nhiên và kỹ thuật - công nghệ. Những tính khác biệt đặc thù này, một mặt, vẫn không xa rời tính phổ biến của khoa học, của tri thức và chân lý khoa học nói chung; mặt khác, đặt ra những yêu cầu cho nhà khoa học, nhà lý luận trong nghiên cứu các vấn đề về xã hội và con người. Yêu cầu ấy, xét đến cùng, cũng do tính khách quan quy định.
Đây là một vấn đề lớn, phức tạp, cần được nghiên cứu công phu, thấu đáo bằng những chuyên khảo lớn, làm rõ lịch sử và lô-gíc của nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn để luận chứng những tính quy luật đặc thù của lĩnh vực khoa học vô cùng quan trọng này. Những dự báo về khoa học và khoa học luận đã cho thấy, trong đà phát triển của khoa học, của các dòng thác thông tin trên toàn cầu, nhất là trong sự phát triển nhảy vọt của cách mạng khoa học - công nghệ, kể cả cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra hiện nay thì khoa học xã hội - nhân văn, nhất là lý luận chẳng những không bị suy giảm như có người lầm tưởng mà trái lại ngày càng có vai trò quan trọng, nổi bật trong sự phát triển của xã hội hiện đại, trong nhận thức luận về thế giới đương đại trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Xã hội càng phát triển văn minh hiện đại bao nhiêu càng cần đến vốn hiểu biết sâu sắc bấy nhiêu về xã hội, về con người. Kỹ thuật - công nghệ dù có hiện đại đến đâu, các dòng sản phẩm công nghệ, các thế hệ công nghệ liên tiếp xuất hiện mới, thay thế nhau, đó là một thực tế, song không vì thế mà phương diện kỹ thuật, công nghệ có thể đè bẹp, lấn át con người, thay thế con người được. Mọi thành tựu công nghệ đều chỉ là bằng chứng nói lên sức mạnh sáng tạo của con người, đều từ trí tuệ con người sáng tạo ra. Trí tuệ nhân tạo cũng vậy, là sản phẩm do trí tuệ con người tạo ra, không có con người sáng tạo sẽ không có bất cứ thành tựu nào có thể tự sản xuất ra được. Sự không ngừng tăng lên của tri thức nhân văn, của khoa học xã hội - nhân văn là đòi hỏi khách quan của tiến bộ lịch sử, rằng, đời sống xã hội ngày càng phải nhân văn hơn, ngày càng phải bộc lộ đầy đủ hơn sức mạnh của nhân tính, cái mà C. Mác trù tính “sức mạnh bản chất người”, “sức mạnh của nhân tính” phải được không ngừng bộc lộ, “phải làm cho hoàn cảnh ngày càng có tính người nhiều hơn”. Kỹ thuật - công nghệ là những phương tiện kỳ diệu để giải phóng và nâng cao con người chứ không phải để biến thành “chủ nghĩa kỹ trị” thống trị con người và xã hội.
Đó là khách quan khoa học mà các khoa học nghiên cứu về xã hội, về con người cần phải chứng tỏ sức mạnh cần thiết, hữu ích của mình. Nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn cần phải luôn luôn đứng vững trên quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể, phát triển hướng tới những giá trị nhân văn đích thực.
Có thể khái quát những đặc điểm đặc thù của khoa học xã hội - nhân văn và lý luận như sau:
Thứ nhất, khoa học xã hội - nhân văn cũng như mọi khoa học phải bảo đảm tính đúng đắn, chính xác trong những kết quả nghiên cứu. Phản ánh đúng đắn, chính xác hiện thực khách quan trong phạm vi đối tượng nghiên cứu là tiêu chí (thước đo) của tri thức, của chân lý khoa học. Song tính đúng đắn, chính xác của khoa học xã hội - nhân văn, đặc biệt của lý luận không giống như tính đúng đắn chính xác của tự nhiên học được lượng hóa, được thực chứng, thực nghiệm một cách chi tiết trong phòng thí nghiệm. Trong khi có thể áp dụng phương pháp phân tích định lượng nhằm lượng hóa đối tượng và kết quả nghiên cứu thì khoa học xã hội - nhân văn, nhất là lý luận lại chú trọng nhiều hơn phương pháp phân tích định tính, phương pháp phân tích so sánh, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa.
Tri thức, chân lý của khoa học xã hội - nhân văn đúng đắn, chính xác ở chỗ, nó vạch ra xu thế của phát triển, bản chất, quy luật hay tính quy luật trong phát triển, biểu đạt bằng các luận điểm, luận cứ và luận chứng nhằm giúp cho chúng ta nhận biết bản chất của đối tượng, dự báo xu hướng vận động, biến đổi của đối tượng. Nó đúng đắn, chính xác bởi tính chặt chẽ của lô-gíc khoa học và các quan điểm nghiên cứu, các tư tưởng khoa học có tác dụng gợi mở, hình thành cơ sở khoa học của niềm tin đối với mọi người trong xã hội. Tính đúng đắn, chính xác của khoa học xã hội - nhân văn, nhất là lý luận, học thuyết lý luận, phương pháp luận là ở tác dụng, hiệu ứng xã hội của nó, giá trị và ý nghĩa khai sáng (khai tâm, khai trí) của nó đối với con người, với xã hội nói chung.
Hiểu để tin, tin để hành động tự giác và sáng tạo, sáng suốt chứ không phiêu lưu, mù quáng. Tính đúng đắn, chính xác từ những tri thức khoa học xã hội - nhân văn và lý luận như vậy nhằm vào định hướng tư tưởng, lựa chọn giá trị mục tiêu hành động của con người, khác với thực chứng, thực nghiệm của tự nhiên học.
Thứ hai, khoa học xã hội - nhân văn, đặc biệt là lý luận, do đối tượng và khách thể nghiên cứu của nó là đời sống xã hội và hoạt động của con người quy định, lại mang tính đặc thù về tính đúng đắn, chính xác của các tri thức khoa học xã hội - nhân văn như đã nêu trên nên nghiên cứu cơ bản gắn chặt với nghiên cứu ứng dụng. Trong không ít trường hợp, các loại hình nghiên cứu này thâm nhập, thẩm thấu vào nhau rất sâu sắc, thậm chí có thể đồng nhất. Đặc điểm này thể hiện rõ nhất ở lý luận. Đó cũng là chỗ khác căn bản giữa khoa học xã hội - nhân văn với khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ.
Thứ ba, khác căn bản với khoa học tự nhiên và các nhà tự nhiên học, khoa học xã hội - nhân văn và lý luận, các nhà khoa học, các nhà lý luận gắn chặt với chính trị (hoạt động), chính thể (thể chế đảng chính trị, nhà nước và pháp luật), chính giới (giới chính trị lãnh đạo, cầm quyền, tầng lớp tinh hoa có ảnh hưởng quan trọng tới các quyết sách tầm quốc gia, quốc tế), tác động trực tiếp tới chất lượng và hiệu quả của tham chính (tham gia chính trị của mọi công dân) và chấp chính (của những người nắm giữ cương vị quyền lực, thực thi quyền lực công được ủy thác từ dân chúng và xã hội). Do đó, đội ngũ trí thức khoa học xã hội - nhân văn và lý luận có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc củng cố nền tảng tư tưởng, ý thức hệ của xã hội.
Thứ tư, bản thân khoa học và giới trí thức khoa học sáng tạo luôn đòi hỏi sự tôn trọng chân lý và đạo lý. Đòi hỏi này đặc biệt nổi trội trong khoa học xã hội - nhân văn, trong lý luận.
Thứ năm, để phát triển tiềm năng và tiến bộ trong nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn, đặc biệt là nghiên cứu lý luận, trước hết là lý luận chính trị, cần phải tạo ra môi trường xã hội dân chủ, tôn trọng tự do tư tưởng, xác lập quan hệ hợp tác, tin cậy, trách nhiệm giữa lãnh đạo, quản lý với giới nghiên cứu để thúc đẩy sáng tạo vì lợi ích chung của xã hội. Đó cũng chính là đòi hỏi tất yếu khách quan mà bản thân khoa học và đời sống đặt ra trong quá trình phát triển.
Đó cũng là cơ sở khách quan quy định sự thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng, giữa tính đảng với tính khoa học, giữa khoa học với chính trị, giữa khoa học với đạo đức, với văn hóa.
Sự liên kết và thống nhất chặt chẽ những thuộc tính nêu trên trong nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn, đặc biệt là nghiên cứu lý luận, nhất là lý luận chính trị đòi hỏi người nghiên cứu và cả đội ngũ của họ phải thường xuyên và đồng thời trau dồi trình độ chuyên môn, học thuật, tích lũy vốn sống và kinh nghiệm, rèn luyện phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị. Đó là điều cần thiết. Chính vì vậy, thấm nhuần quan điểm khách quan khoa học trong nghiên cứu thì phải đấu tranh phê phán và loại bỏ những biểu hiện bất minh, bất chính khoác áo “chủ nghĩa khách quan” trong nghiên cứu khoa học.
Tôn trọng hiện thực khách quan và nhận thức đúng bản chất của sự thật khách quan - yêu cầu hàng đầu của mọi nghiên cứu khoa học
Thấm nhuần sâu sắc quan điểm duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật - một chỉnh thể thống nhất hữu cơ không thể tách rời của triết học Mác, triết học khoa học và cách mạng, không chỉ giải thích thế giới mà còn cải tạo thế giới đó, V. I. Lê-nin đã khẳng định rằng, quan điểm thực tiễn, quan điểm đời sống là quan điểm cơ bản, số một, hàng đầu của lý luận nhận thức. Luận điểm có tính nền tảng này đặt cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xác lập thái độ khách quan khoa học của người nghiên cứu, của hoạt động nghiên cứu để tìm ra bản chất của mọi sự vật, hiện tượng, những đặc điểm, thuộc tính của đối tượng, nhận thức đúng về nó và cải biến nó bằng hoạt động sáng tạo trong thực tiễn, phù hợp với quy luật khách quan, thúc đẩy sự phát triển.
Sứ mệnh của khoa học, của các nhà khoa học là cho dù đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu khác nhau, tùy thuộc các lĩnh vực, ngành và chuyên ngành khác nhau, song đã là khoa học thì điểm chung, phổ biến và tất yếu đều là tìm tòi chân lý và phát hiện quy luật để hiểu bản chất của thế giới khách quan, xu hướng vận động và biến đổi của nó, đồng thời cắt nghĩa xem, con người và loài người có vị trí, vai trò và khả năng như thế nào trong thế giới ấy, con người có thể và cần phải làm gì để trở thành tự do trong cái tất yếu, để sáng tạo ra đời sống, tức là lịch sử của mình và thụ hưởng hạnh phúc đích thực.
Ph. Ăng-ghen đã từng đánh giá về thời đại Phục hưng và thế kỷ Ánh sáng (Khai sáng) trong lịch sử nhân loại. Đó là thời đại “khổng lồ” sản sinh ra những con người “khổng lồ”. Họ vĩ đại về mọi phương diện: trí tuệ, tài năng, đạo đức và nhân cách. Hoàn toàn có thể mượn lời này của Ph. Ăng-ghen để nói về các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, của chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa cộng sản khoa học. Là nhà tư tưởng Mác-xít sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào hoàn cảnh, điều kiện Việt Nam mà còn có những phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, làm phong phú, sống động chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong thời đại ngày nay. Cống hiến vô giá về lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh được chứng thực bởi thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới trong thế kỷ XX đã đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh lên tầm vóc một tác gia kinh điển. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam hành động của cách mạng Việt Nam.
Nhận thức là một quá trình, đi từ hiện tượng tới bản chất, như V. I. Lê-nin nói, từ nông đến sâu, từ đơn giản đến phức tạp, từ “bản chất cấp 1” đến “bản chất cấp 2”,... tới vô tận.
Bàn về nhận thức, C. Mác cho rằng, để từng bước chiếm lĩnh đối tượng, con người ta đi từ trừu tượng tới cụ thể. Cái trừu tượng ban đầu thật ra là cái cụ thể nhưng trong hình thức trừu tượng của nó, là một cảm nhận chung, giản đơn, cảm tính, trực tiếp, toàn bộ. Quá trình phân tích, đi sâu vào các mối liên hệ, quan hệ giữa đối tượng - khách thể với chủ thể, giúp con người dần dần nhận ra từng thuộc tính bản chất của nó. Cái trừu tượng ban đầu vốn là điểm xuất phát của tư duy, nhận thức trong hình thức của những trực quan và biểu tượng, vốn là cái cụ thể chưa đi qua các thao tác phân tích của lô-gíc khoa học, chưa được tái sản sinh trong tư duy để đạt tới một khái quát lý luận. Chỉ có phân tích và tổng hợp mới giúp cho chủ thể nhận thức phát hiện ra những mối liên hệ bên trong phản ánh bản chất. Từ cái trừu tượng ban đầu về cái cụ thể còn nghèo nàn sơ lược đi qua trừu tượng hóa khoa học - đặc trưng cho sức mạnh của lý tính, “khoảng trống về nội dung” của cái trừu tượng - cụ thể được khỏa lấp làm cho cái cụ thể - trừu tượng đã được tái sản sinh trong tư duy trở nên phong phú, sâu sắc, sống động. Bởi thế, càng xa cái cụ thể ban đầu trong hình thái trừu tượng bao nhiêu, con người càng tiến gần tới cái cụ thể đích thực bấy nhiêu. Đó chính là cái cụ thể được nhận thức về bản chất nhờ sức mạnh của tư duy lý luận, đem lại cho con người - chủ thể tri thức, những “hạt” chân lý, những xu hướng, quy luật và tính quy luật về sự vật, về đối tượng, về thế giới khách quan trong tiến trình vận động, biến đổi và phát triển của nó.
Với ý nghĩa đó, khoa học, từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội - nhân văn, khoa học kỹ thuật - công nghệ, trong mỗi loại hình ấy, lý luận, triết học và khoa học luận có vị trí, vai trò quan trọng nổi bật... Nghiên cứu khoa học chính là hoạt động sản xuất ra tri thức, biểu đạt năng lực trí tuệ của con người và loài người. Hành trình của lịch sử khoa học là hành trình của hiểu biết - khám phá - sáng tạo. Đó cũng là yêu cầu mà chính cuộc sống đặt ra đối với nghiên cứu khoa học, cũng là thiên chức cao quý thuộc về lẽ sống của nhà khoa học chân chính.
Để tồn tại và tiến hành hoạt động sống(1) của mình, con người, từ cá thể đến tộc loại, tức là cả loài người, phải tất yếu và thường xuyên nhận thức thế giới xung quanh, đồng thời nhận thức chính bản thân mình. Quá trình nhận thức và tự nhận thức ấy, bao gồm cả tự điều chỉnh, “tự phê phán” là một tương tác giữa đối tượng - khách thể với chủ thể, giữa khách quan với chủ quan. Ở cấp độ triết học, khoa học về thế giới quan, về bản thể luận và nhận thức luận, trong tư duy triết học thường xuất hiện “những phản tư” ở những thời kỳ phát triển bước ngoặt. Triết học Phục hưng, triết học Khai sáng trong buổi bình minh của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là triết học Mác vào những năm 40 của thế kỷ XIX dẫn đến sự hình thành lý luận của chủ nghĩa xã hội, chuyển chủ nghĩa xã hội từ không tưởng tới khoa học là những ví dụ điển hình, làm nên cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại. Bản “Luận cương về Phoi-ơ-bắc” (năm 1845) với 11 luận đề do C. Mác xác lập và được hoàn thiện bởi Ph. Ăng-ghen sau khi C. Mác qua đời, dù dung lượng rất nhỏ nhưng tầm vóc tư tưởng lại vô cùng lớn, bởi đó là “một phác thảo thiên tài về một thế giới quan mới” - khoa học và cách mạng. Thành tựu ấy của tư duy và tư tưởng không phải là sản phẩm của chủ quan và tư biện mà trái lại, là “con đẻ” của thực tiễn lịch sử, của hiện thực khách quan đã chín muồi, nó “gợi ý”, “mách bảo” cho những thiên tài sáng tạo của chủ quan và chủ thể như C. Mác phát hiện và thể hiện. Cho nên, chỉ có xuất phát từ thực tiễn khách quan, với thái độ khách quan khoa học thì mới tiếp cận được chân lý, mới đem lại câu trả lời chính xác, đúng đắn mà thực tiễn đòi hỏi.
Câu hỏi nghiên cứu nào, giả thuyết khoa học nào cũng đều nằm trong thực tiễn, trên mảnh đất hiện thực của cuộc sống thực tế chứ không hư ảo. Câu trả lời nào - trong hình thái tư tưởng lý luận được khái quát lên từ nghiên cứu cũng đều “ủ mầm”, “thai nghén” trong lòng hiện thực khách quan chứ không chủ quan, tư biện. Chỉ với thái độ khách quan khoa học mới giúp cho việc nghiên cứu và người nghiên cứu tìm thấy lời giải minh xác. C. Mác phân biệt rất rõ ràng “tồn tại người” khác căn bản với “tồn tại vật”, “động vật”, dù con người, trước hết cũng là một thực thể sinh học. Động vật bị bản năng (thú tính) chi phối và thống trị. Con người có ý thức dẫn dắt và chế ngự bản năng để có nhân tính. “Tồn tại người” là tiền đề vật chất để con người và chỉ có con người mới có hoạt động, đó là “hoạt động sống - sáng tạo”.
Song thế giới khách quan là rộng lớn, phức tạp và biến đổi không ngừng, bởi vận động là tuyệt đối trong cả không gian lẫn thời gian.
Hê-ra-clit, nhà biện chứng và duy vật thuần phác thời cổ Hy-La đã nói một câu nổi tiếng, thành một danh ngôn: “Người ta không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Nhận thức thế giới đối tượng không chỉ một lần là xong và cũng không chỉ một lần mà nhận thức được tất cả. Tri thức lớn dần lên theo năm tháng. Chân lý cũng sâu sắc hơn cùng thời gian, thậm chí qua những biến cố của lịch sử, của thời cuộc, thời đại, không ít trường hợp con người ta phải nhận thức lại, phải “làm mới” những tri thức, những chân lý đã có. Đòi hỏi ấy của khách quan, của hoàn cảnh mà chủ quan của chủ thể phải đáp ứng. Cho hay, để đổi mới xã hội phải bắt đầu từ đổi mới tư duy. Đó là tất yếu, là đặc điểm mang tính quy luật.
Thế giới là một chỉnh thể. Toàn bộ “cái phổ” rộng lớn của khoa học và từng lĩnh vực, ngành, chuyên ngành, kể cả những chuyên ngành rất hẹp do chuyên môn hóa rất sâu quy định trong đời sống khoa học như là “những lát cắt” riêng biệt, đặc thù đều nỗ lực nhận biết, phản ánh gần đúng cái chỉnh thể ấy. Đòi hỏi ấy là khách quan, từ thế giới khách quan đặt ra.
Lịch sử khoa học đã biết đến sự phân ngành lại còn biết đến hợp ngành nữa. Về mặt phương pháp, sự kết hợp các phương pháp chuyên ngành với liên ngành và đa ngành trở nên cần thiết, nhất là trong nghiên cứu các lĩnh vực xã hội của khoa học xã hội - nhân văn nhằm có một cái nhìn đa chiều, tiếp cận hệ thống chỉnh thể, nhận thức sâu hơn bản chất của cấu trúc đối tượng. Yêu cầu này mang tính khách quan, bởi hoạt động của các chủ thể người trong xã hội hiện đại muốn nâng cao được năng lực sáng tạo, muốn đạt được hiệu quả ngày một tốt hơn tất yếu phải huy động tri thức tổng hợp, liên kết các tri thức trong tính hệ thống chỉnh thể của nó phù hợp với hệ thống - chỉnh thể của bản thân thế giới đối tượng(2). Ph. Ăng-ghen đã từng nhấn mạnh, bản chất của thế giới là biện chứng và chỉ có tư duy biện chứng mới giúp cho người nghiên cứu nhận ra tính biện chứng vốn có của thế giới. Phép siêu hình đã phản ánh sai lạc, phiến diện, cực đoan, do đó xuyên tạc bản chất biện chứng của thế giới. Tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” nổi tiếng của ông giúp cho việc định hình nhận thức luận đúng đắn, đó là biện chứng khách quan quy định biện chứng chủ quan. Chỉ với thái độ, đồng thời là quan điểm, nguyên tắc và phương pháp khách quan khoa học thì mới có thể dẫn đường cho hoạt động nghiên cứu đúng đắn, tránh phạm vào sai lầm của chủ nghĩa chủ quan trong nghiên cứu, trong hoạt động thực tiễn nói chung.
Tính liên kết tri thức thành một hệ thống - nhìn nhận tri thức hệ thống, tư duy hệ thống ở tầm tri thức của mọi tri thức(3) hết sức cần thiết trong nghiên cứu khoa học, nhất là nghiên cứu về con người và đời sống xã hội với tính phong phú, muôn vẻ của các quan hệ và liên hệ trong lô-gíc và lịch sử của nó. Quan điểm của C. Mác coi con người là “một thực thể song trùng”, “tự nhiên và xã hội”, đòi hỏi phải nghiên cứu, bằng cách sử dụng có hiệu quả các phương pháp chuyên ngành (triết học) kết hợp với liên ngành (sử học, xã hội học, đạo đức học, tâm lý học...) và đa ngành (nhân học, văn hóa học). Ngay cả các phương pháp nghiên cứu khoa học tự nhiên, từ thống kê toán học, sinh lý học, y học, sinh học,... cũng có thể hữu ích và cần thiết cho nghiên cứu phức hợp con người. Hai lĩnh vực then chốt của đời sống xã hội là kinh tế và chính trị mà nghiên cứu phức hợp con người không thể tách rời, do đó những tri thức và phương pháp kinh tế học, chính trị học cũng được huy động vào nghiên cứu con người, nhất là nghiên cứu các nhân tố động lực thúc đẩy con người hoạt động, các vấn đề phát huy nguồn lực con người như một nguồn vốn xã hội quan trọng nhất, các chương trình và biện pháp quản lý, quản trị nhân lực trong xã hội hiện đại.
Các tác gia kinh điển Mác-xít không chỉ là các triết gia, các nhà tư tưởng kiệt xuất mà họ còn có tầm viễn kiến với “sức bay” của tư duy khoáng đạt, của tư tưởng “vòng quanh chân trời” - nên đã có những dự báo và dự phóng tương lai theo chủ nghĩa lạc quan lịch sử trên một tinh thần khoa học nghiêm túc. Nhiều dự báo tương lai trong chủ nghĩa Mác, cho đến nay vẫn còn có ý nghĩa thức tỉnh và xây dựng niềm tin khoa học vào xu thế vận động của lịch sử. Điển hình là những dự báo của Mác - Ăng-ghen trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (năm 1848): “Thắng lợi của giai cấp vô sản (giai cấp công nhân hiện đại) và thất bại của giai cấp tư sản đều là một tất yếu lịch sử như nhau”. “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” (Đây là mục tiêu cao quý của chủ nghĩa cộng sản, là mục đích tự thân của lịch sử).
Lý thuyết về mô hình phát triển bền vững dựa trên ba trụ cột: kinh tế - xã hội - môi trường càng xác tín tư tưởng về bảo vệ môi trường sinh thái trong chủ nghĩa Mác là một giá trị đặc sắc và hiện đại. Trong những dự báo của C. Mác, dự báo cho rằng, đến một lúc nào đó, mọi khoa học sẽ gặp nhau trong một khoa học tổng hợp duy nhất - khoa học về con người ngày càng tỏ rõ tính triển vọng hiện thực của nó. Rõ ràng, tính khách quan khoa học, tôn trọng hiện thực khách quan luôn luôn đồng hành với hoạt động nghiên cứu, là nguyên tắc hàng đầu, là yêu cầu sống còn làm cho khoa học không đánh mất bản chất và sứ mệnh cao cả của mình trước đời sống và xã hội. Tôn trọng hiện thực khách quan, nhận thức đúng bản chất sự thật khách quan cũng đồng thời là nhân cách của nhà khoa học, là một trong những thước đo về bản lĩnh trong nghiên cứu khoa học. Với khoa học và nhà khoa học chân chính, kiên trì đấu tranh bảo vệ sự thật, lẽ phải, chân lý, không chỉ là vấn đề của lý trí tỉnh táo, sáng suốt mà còn là một thước đo đạo đức, gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ công dân của họ trước xã hội, với danh dự, lương tâm, nhân phẩm có trong thiên chức cao quý của nhà khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội - nhân văn và lý luận.
Lẽ dĩ nhiên, tôn trọng khách quan và nhận thức đúng bản chất sự thật khách quan đòi hỏi nghiên cứu khoa học phải xuất phát từ tiền đề đúng và có phương pháp nghiên cứu đúng. Yêu cầu ấy lại gắn liền với trình độ và năng lực sáng tạo của người nghiên cứu.
Phản ánh đúng đắn, chân thực hiện thực khách quan không có một chút gì chung với “chủ nghĩa tự nhiên”, cơ giới, máy móc và cứng nhắc. Nó biện chứng chứ không siêu hình, sáng tạo chứ không giáo điều, phải thấm nhuần tinh thần khách quan khoa học chứ không chủ quan tư biện. Thống nhất về bản chất với nhận thức luận của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, V. I. Lê-nin đã nhấn mạnh, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường nhận thức chân lý, là biện chứng của nhận thức.
Chân lý là sự phản ánh đúng hiện thực khách quan. Những tri thức khoa học sở dĩ được xem là chân lý bởi nó đúng đắn, chính xác. Song, chân lý có tính tuyệt đối, chỉ với nghĩa là nó đúng đắn. Và chân lý còn có tính tương đối, bởi nó có tính mức độ và tính giới hạn. Thực tiễn biến đổi không ngừng, “động” chứ không “tĩnh”. Tri thức khoa học phải thường xuyên được bổ sung, phát triển để ngày càng phản ánh đầy đủ, chính xác hơn chân lý khách quan, phù hợp hơn với hiện thực khách quan.
Nỗ lực sáng tạo của chủ thể nhận thức chính là dựa trên nguyên tắc và quan điểm khách quan khoa học để phản ánh đúng bản chất của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.
C. Mác nhấn mạnh những luận đề quan trọng soi sáng cho nhận thức khoa học trong nghiên cứu:
- Nếu hiện tượng luôn trùng khít với bản chất thì khoa học trở nên thừa. Sở dĩ cần đến khoa học và nghiên cứu khoa học bởi phải trải qua phân tích vô số các hiện tượng mới đi tới bản chất. Lại có những hiện tượng xuyên tạc bản chất, đó là những “giả tượng”. Cho nên người nghiên cứu thấm nhuần quan điểm khách quan phải biết phân biệt hiện tượng với bản chất, phân biệt những hiện tượng phản ánh bản chất với những “giả tượng” xuyên tạc bản chất, để “lọc bỏ” nó, để đạt tới tính đúng, gần đúng và phòng ngừa những sai lầm chủ quan. Gi.V.Ph. Hê-ghen có một nhận xét sâu sắc, “bản chất “ánh lên” qua các hiện tượng”.
- C. Mác còn nói, chỗ nào “tư biện” dừng lại (ý nói những hạn chế, những bất lực) thì đó là chỗ khởi đầu, bắt đầu của nhận thức khoa học thực sự (đó là thực tiễn, vừa là điểm xuất phát và kiểm chứng, vừa là chỗ đến của nghiên cứu khoa học. Thực tiễn là nguồn gốc của nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lý, nhận thức và cải biến thực tiễn là mục đích của mọi nghiên cứu).
- Nghiên cứu phải triệt để và nhất quán. Triệt để là nắm lấy sự vật tận gốc rễ của nó, mà “gốc rễ đối với con người chính là bản thân con người”, như C. Mác nhấn mạnh.
- Ph. Ăng-ghen cũng xác định, “hãy gọi tên sự vật đúng như bản thân nó...”.
Một trong những vấn đề sâu xa của khách quan khoa học là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan, giữa lý luận và thực tiễn.
Tinh thần và phương pháp mà lý luận kinh điển Mác-xít do C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin đề ra chính là “khách quan hóa chủ quan” gắn liền với “chủ quan hóa khách quan”. Đây là hai mặt của một vấn đề, làm cho nhận thức của con người ngày càng đúng đắn, phù hợp với khách quan và cũng không ngừng mở rộng phạm vi, đối tượng của thế giới khách quan vào trong nhận thức và hoạt động của chủ thể.
Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách “nhà biện chứng thực hành xuất sắc” của cách mạng Việt Nam, kết hợp nhuần nhuyễn lý luận với thực tiễn, trên tinh thần khách quan khoa học, Người nhấn mạnh: “Thực hành sinh ra hiểu biết/ Hiểu biết tiến lên lý luận/ Lý luận lãnh đạo thực hành”(4).
Hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn của Người là một minh chứng sinh động cho sự thống nhất hữu cơ giữa “lý luận hóa thực tiễn” với “thực tiễn hóa (hay “kinh nghiệm hóa”) lý luận”. Tôn trọng khách quan và quy luật khách quan đồng thời phải đặc biệt chú trọng phát huy tính năng động chủ quan, vai trò độc lập tự chủ sáng tạo của nhân tố chủ quan. Đề cao vai trò của nhân tố chủ quan nhưng không rơi vào chủ quan duy ý chí - đó là bản lĩnh sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

------------------------------
(1) Theo C. Mác, con vật chỉ tồn tại theo bản năng, bị bản năng (thú tính) thống trị. Chỉ con người mới có hoạt động, dựa trên những tiền đề vật chất để tồn tại và trên cơ sở đó mới có hoạt động. Đó là hoạt động sống - sáng tạo, biểu lộ và làm bộc lộ những sức mạnh bản chất người của con người. Đó là nhân tính (Xem các tác phẩm: “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844” của C. Mác và “Hệ tư tưởng Đức” của C. Mác và Ph. Ăng-ghen)
(2) Ét-ga Mo-rin: “Bảy tri thức tất yếu của nền giáo dục tương lai”, Nguyễn Hồi Thủ dịch, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2008
(3) Ét-ga Mo-rin: “Tri thức về tri thức (Nhân học về tri thức)”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2006
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 7, tr. 120

TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH



 (ĐCSVN) - Đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được xác định tại Hội nghị giao ban công tác tuyên giáo 6 tháng cuối năm 2019 các tỉnh khu vực Tây Bắc, miền núi phía Bắc và một số tỉnh Bắc Trung Bộ do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức ngày 4/12 tại Thanh Hóa.
Đồng chí Lê Mạnh Hùng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương và đồng chí Đỗ Trọng Hưng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa chủ trì hội nghị.
Nhiều kết quả tích cực trong công tác tuyên giáo. Báo cáo của Ban Tuyên giáo Trung ương trình bày tại Hội nghị cho biết, trong 6 tháng cuối năm 2019, ban tuyên giáo các tỉnh ủy trong cụm các tỉnh khu vực Tây Bắc, miền núi phía Bắc và một số tỉnh Bắc Trung Bộ đã bám sát hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương, sự lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh ủy để thực hiện toàn diện, đồng bộ các nhiệm vụ, đạt một số kết quả chủ yếu: Công tác tham mưu, tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai, sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị của Đảng được thực hiện nghiêm túc, đổi mới phương thức, đảm bảo tiến độ và chất lượng. Công tác tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị, các sự kiện, ngày lễ lớn, quan trọng của đất nước, địa phương được đẩy mạnh, tạo hiệu ứng mạnh mẽ và nhận được sự đồng thuận của nhân dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị ngày càng đi vào thực chất, với nhiều cách làm cụ thể, thiết thực, gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Quy định số 08-Qđi/TW và đợt sinh hoạt chính trị 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Công tác nắm bắt, điều tra dư luận xã hội thực hiện thường xuyên, giúp cấp ủy chỉ đạo, kiểm tra, khắc phục, giải quyết kịp thời những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, không để phát sinh “điểm nóng” trên địa bàn. Công tác báo chí đảm bảo đúng định hướng, chấn chỉnh, nhắc nhở các cơ quan báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, bám sát nhiệm vụ chính trị. Công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc trên Internet và mạng xã hội ngày càng đi vào nền nếp và mang lại hiệu quả bước đầu, đã tổ chức được một mạng lưới chỉ đạo, điều phối thông tin thông suốt từ tỉnh đến cơ sở.
Ban tuyên giáo các tỉnh ủy trong khu vực đã thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện công tác lý luận chính trị, lịch sử Đảng, văn hóa, văn nghệ trên địa bàn. Công tác khoa giáo tiếp tục thể hiện rõ tính thiết thực, hiệu quả, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Kiện toàn tổ chức bộ máy, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực, trình độ cho đội ngũ tuyên giáo các cấp để đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình hiện nay.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền triển khai các nghị quyết, chỉ thị của Đảng ở một số đảng bộ, cơ sở trực thuộc còn hạn chế, chưa thường xuyên, chưa sâu rộng. Chất lượng tham mưu sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị có lúc, có nơi chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác kiểm tra, hướng dẫn, đốn đốc, sơ kết, tổng kết các nghị quyết, quy định, kết luận của Trung ương, của địa phương còn có mặt hạn chế. Công tác dự báo, nắm bắt tình hình dư luận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là tại một số điểm tái định cư; vùng sâu, vùng xa có lúc, có việc chưa kịp thời nên công tác tham mưu, đề xuất các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, giải quyết, ngăn chặn đối với một số vụ việc phức tạp, phát sinh còn chậm..
Tại hội nghị, lãnh đạo ban tuyên giáo các tỉnh ủy trong khu vực đã đề cập đến những vấn đề, sự kiện của thế giới, trong nước, trong khu vực và ở địa phương có ảnh hưởng, tác động sâu sắc đến công tác tuyên giáo thời gian qua; những khó khăn, thách thức đối với công tác tuyên giáo hiện nay. Nhiều địa phương đã nêu ra một số kinh nghiệm, giải pháp, cách làm hay và đề xuất, kiến nghị một số nội dung cần thiết với Ban Tuyên giáo Trung ương. Trên cơ sở ý kiến trao đổi, thảo luận của lãnh đạo các ban tuyên giáo tỉnh ủy, đại diện một số vụ, đơn vị thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương đã có giải trình và trao đổi trở lại.  
Tập trung thực hiện tốt 6 nhiệm vụ trọng tâm.
Phát biểu kết luận Hội nghị, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Lê Mạnh Hùng ghi nhận, biểu dương những kết quả đạt được của ban tuyên giáo các tỉnh khu vực Tây Bắc, miền núi phía Bắc và một số tỉnh Bắc Trung bộ thời gian qua, đồng thời nêu rõ những tồn tại, hạn chế cần khắc phục, yêu cầu ban tuyên giáo các địa phương phải chủ động, sáng tạo, quyết tâm cao hơn nữa để hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Phân tích rõ bối cảnh trong nước và quốc tế tác động tới công tác tuyên giáo hiện nay, đồng chí Lê Mạnh Hùng đề nghị ban tuyên giáo các tỉnh, thành ủy trong khu vực tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian tới:
Thứ nhất, tham mưu giúp Ban Thường vụ Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ liên quan đến Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020 -2025 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng theo đúng tinh thần Chỉ thị 35-CT/TW của Bộ Chính trị. Ban tuyên giáo các tỉnh ủy cần xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2020.
Thứ hai, tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” và theo Hướng dẫn 96-HD/BTGTW ngày 05/6/2019 của Ban Tuyên giáo Trung ương. Cần tăng cường nắm bắt các âm mưu, hành động chống phá, luận điệu xuyên tạc để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái. Mỗi địa phương phải giữ vững an ninh tư tưởng cho địa bàn mình; đồng thời chia sẻ, kết nối để tăng sức mạnh chống “diễn biến hòa bình” cho cả khu vực.
Thứ ba, đẩy mạnh công tác thông tin, báo chí, chú trọng tuyên truyền toàn diện về tình hình đất nước trong năm 2019; biểu dương nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, kết quả đạt được trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, chủ quyền biển, đảo Tổ quốc; cổ vũ động viên các tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua, lao động sản xuất, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, chào mừng Đại hội Đảng các cấp.
Thứ tư, chủ động tham mưu tỉnh ủy về kế hoạch tuyên truyền và tổ chức các hoạt động kỷ niệm một số sự kiện quan trọng của đất nước sẽ diễn ra trong 6 tháng đầu năm và cả năm 2020; trước hết là kỷ niệm 90 năm thành lập Đảng đúng vào dịp đón Xuân Canh Tý 2020, 45 năm Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, 130 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh... gắn với nhiều sự kiện chính trị quan trọng ở các địa phương. 
Thứ năm, báo cáo với Ban Tổ chức Trung ương và Ban Tuyên giáo Trung ương về những khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện việc sắp xếp bộ máy tổ chức theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 và Quyết định 04 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của ban tuyên giáo cấp tỉnh. 
Thứ sáu, tích cực tham gia Cuộc thi tìm hiểu 90 năm lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam trên hệ thống tuyên giáo VCNET, ban tuyên giáo các tỉnh ủy phải chủ động, tích cực tham gia và vận động cán bộ, đảng viên, nhân dân trên địa bàn tham gia. Tích cực cung cấp thông tin để Ban Tuyên giáo Trung ương xây dựng Tài liệu “Toàn cảnh Công tác tuyên giáo nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng” có chất lượng, hiệu quả./.

PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG ANH HÙNG, XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VỮNG MẠNH LÀM NÒNG CỐT CHO SỰ NGHIỆP QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN



Cách đây 75 năm, trước yêu cầu của cách mạng Việt Nam và thực hiện chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập. Đây là sự kiện chính trị, lịch sử trọng đại, đánh dấu sự ra đời, phát triển của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam; đồng thời, khẳng định sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Ngày 22-12-1944, ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - đội quân chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng - được lấy làm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và cách đây 30 năm, ngày 17-10-1989, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) đã ban hành Chỉ thị 381-CV/TW quyết định lấy ngày 22-12 là Ngày hội Quốc phòng toàn dân.
Dưới sự lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện của Đảng ta và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đã cùng với nhân dân làm nên những chiến thắng huy hoàng, xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, với 34 cán bộ, chiến sĩ, trang bị vũ khí thô sơ nhưng Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã làm nên chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần, mở đầu cho trang sử truyền thống “bách chiến, bách thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chưa đầy một năm sau, Quân đội ta đã cùng toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa, làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Và ngay sau đó, Quân đội ta đã cùng với lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân đập tan mọi âm mưu, hành động chống phá của thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng và nền độc lập, tự do của dân tộc.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Quân đội ta đã trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt; nêu cao ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần quả cảm “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, cùng toàn dân trường kỳ kháng chiến, đánh bại chiến lược “Đánh nhanh, thắng nhanh”, âm mưu “bình định”, “phản công” của địch, giành những thắng lợi quan trọng. Nổi bật là trên các mặt trận: Việt Bắc Thu - Đông 1947, Biên giới 1950 và cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954, đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, giáng đòn quyết định, đập tan dã tâm xâm lược của các thế lực đế quốc, thực dân hiếu chiến, mở ra trang mới cho cách mạng Việt Nam.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quân đội nhân dân Việt Nam có bước phát triển, lớn mạnh vượt bậc cả về tổ chức lực lượng, trình độ chỉ huy tác chiến, nghệ thuật quân sự; từng bước hình thành các quân chủng, binh chủng, quân đoàn chủ lực cơ động mạnh, làm nòng cốt bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và tiến hành chiến tranh cách mạng ở miền Nam. Mặc dù phải đương đầu với tên đế quốc sừng sỏ, có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh vào loại bậc nhất thế giới, nhưng dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống anh hùng, tinh thần dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, ý chí quyết chiến, quyết thắng, “dám đánh, quyết đánh, biết đánh và biết thắng”, cùng toàn dân đập tan hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ, làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, bảo vệ vững chắc Thủ đô Hà Nội và hậu phương lớn miền Bắc; lần lượt đánh thắng các chiến lược: “Chiến tranh đặc biệt”; “Chiến tranh cục bộ”; “Việt Nam hoá chiến tranh”; tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, viết lên trang sử hào hùng, oanh liệt của thời đại Hồ Chí Minh; hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa non sông thu về một mối, đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình, độc lập, tự do, đi lên chủ nghĩa xã hội.
Sau ngày đất nước thống nhất, Quân đội ta đã thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ chính quyền cách mạng, đấu tranh làm thất bại kế hoạch hậu chiến của các thế lực thù địch; xung kích khắc phục hậu quả chiến tranh và một lần nữa lại anh dũng chiến đấu hy sinh, cùng toàn dân tộc tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, giữ vững cuộc sống bình yên của nhân dân và làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả, giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng. Trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát huy bản chất cách mạng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất” trong tình hình mới; chủ động làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược, tham mưu với Đảng, Nhà nước có quyết sách đúng đắn, xử lý kiên quyết, kịp thời, hiệu quả các tình huống quốc phòng, an ninh cả trên không, trên biển, biên giới và nội địa, không để bị động, bất ngờ. Đồng thời, thể hiện rõ vai trò là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc; luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Cùng với nhiệm vụ chiến đấu, Quân đội ta luôn đi đầu trong tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; tham gia tích cực, có hiệu quả vào phát triển kinh tế - xã hội, giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, xây dựng cơ sở chính trị, đời sống văn hóa mới,... nhất là trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; luôn xung kích, nòng cốt trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, v.v. Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn có mặt ở những nơi xung yếu, khó khăn, nguy hiểm, xả thân để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và làm công tác dân vận đã tô thắm thêm phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”; thắt chặt mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt quân - dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, tăng cường niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững mạnh. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, Quân đội đã tích cực, chủ động hội nhập, thực hiện công tác đối ngoại quốc phòng theo đúng chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, v.v.
Nhìn lại chặng đường 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, chúng ta vô cùng vinh dự, tự hào về những chiến công hiển hách và truyền thống vẻ vang của Quân đội ta. Những chiến công mà Quân đội giành được trước hết là nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; sự đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân; sự nỗ lực rèn luyện, phấn đấu, anh dũng chiến đấu hy sinh của lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Trong suốt 75 năm qua, bất luận trong hoàn cảnh nào, Quân đội ta cũng luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; luôn đóng vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; thực sự là quân đội cách mạng “của dân, do dân, vì dân”; xây đắp nên truyền thống “… trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”1 như lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh; xứng đáng là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng và danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.
Hiện nay, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đang đứng trước nhiều vận hội, thời cơ thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Trên thế giới, hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, nhưng tình hình thế giới, khu vực biến động rất phức tạp, khó dự báo; tranh chấp chủ quyền, xung đột sắc tộc, dân tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, tấn công mạng và những vấn đề an ninh phi truyền thống gia tăng, diễn ra gay gắt; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt. Tình hình Biển Đông đã và đang có những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định. Các thế lực thù địch, phản động tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội, chia rẽ Quân đội với Đảng, Nhà nước, nhân dân, bằng những thủ đoạn mới rất tinh vi, thâm độc. Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 đã và đang tác động nhiều chiều đến mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có quốc phòng, an ninh. Trước tình hình đó, Quân đội nhân dân cần phát huy truyền thống vẻ vang, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, tạo bước phát triển mới về chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, làm nòng cốt cùng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Để hoàn thành trọng trách thiêng liêng đó, toàn quân cần kế thừa và phát huy truyền thống, kinh nghiệm 75 năm qua, tập trung trước hết xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tạo cơ sở nền tảng vững chắc để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, đảm bảo cho Quân đội luôn giữ vững phương hướng, mục tiêu chiến đấu, xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Theo đó, tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng; không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, đảm bảo cho Quân đội luôn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, có tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc. Đảng bộ Quân đội tiếp tục đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng Đảng với bảo vệ Đảng; kiên quyết đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, nhất là âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; coi trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng sinh hoạt và năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phê bình và tự phê bình, giữ nghiêm kỷ luật Đảng; đề cao tính tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy và chỉ huy đơn vị, v.v. Trước mắt, chủ động chuẩn bị tốt mọi mặt để tổ chức thanh công đại hội đảng nhiệm kỳ các cấp, góp phần vào thành công Đại hội XIII của Đảng.
Quán triệt sâu sắc tư tưởng “người trước, súng sau” trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đơn vị Quân đội tăng cường và nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ; làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bảo vệ chính trị nội bộ, làm cho cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu của Quân đội, truyền thống lịch sử dân tộc, bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”. Tiếp tục tổ chức tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phong trào thi đua Quyết thắng và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Mặt khác, kiên quyết đấu tranh với biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin, mơ hồ, mất cảnh giác, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Qua đó, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, vững chắc về ý chí, niềm tin, trách nhiệm chính trị; xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị, tâm thế vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh, đảm bảo trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, luôn trung thành vô hạn, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa, đang đặt ra cho Quân đội nhiệm vụ rất nặng nề. Để phát huy truyền thống “bách chiến, bách thắng”, “càng đánh càng mạnh, càng thắng lớn”, đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân ngày càng hùng mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Thực tiễn 75 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, đây là vấn đề rất quan trọng, trực tiếp quyết định đến khả năng hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao. Bởi vậy, cùng với tăng cường nền tảng chính trị, tinh thần, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp xây dựng Quân đội nhân dân ngày càng chính quy, tinh nhuệ, thiện chiến, hiện đại, ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ. Để hoàn thành mục tiêu trên, bên cạnh sự quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước, Quân đội tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tốt khâu đột phá về điều chỉnh tổ chức biên chế, tăng cường kỷ luật, đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Trước hết, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các kết luận, nghị quyết của Bộ Chính trị về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2021; bảo đảm vũ khí, trang bị đến năm 2025; tích cực sắp xếp, điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng “tinh, gọn, mạnh”. Đồng thời, đẩy mạnh đổi mới, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, giáo dục, đào tạo, rèn luyện kỷ luậtthể chấtxây dựng chính quy, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, tiêu biểu, mẫu mực. Toàn quân tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết 765-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về “Nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo”; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phù hợp với yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó, thực hiện tốt phương châm huấn luyện “cơ bản, thiết thực, vững chắc”; đẩy mạnh đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp huấn luyện, diễn tập; coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu, địa bàn hoạt động, đối tượng tác chiến, phù hợp với tổ chức biên chế, sự phát triển của vũ khí, trang bị và nghệ thuật quân sự Việt Nam, yêu cầu tác chiến trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao; kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị, rèn luyện kỷ luật, xây dựng niềm tin vào cách đánh, vũ khí, trang bị hiện có. Đặc biệt, tập trung tạo sự chuyển biến về chất lượng huấn luyện làm chủ vũ khí, trang bị thế hệ mới, hiện đại; huấn luyện, diễn tập tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng, diễn tập đối kháng trong các môi trường và tác chiến khu vực phòng thủ, làm cơ sở để nâng cao trình độ, khả năng tác chiến của Quân đội. Cùng với đó, cần chủ động phát huy thành tựu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp cận, ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 vào nghiên cứu phát triển nghệ thuật quân sự, khoa học, công nghệ quân sự, công nghiệp quốc phòng, đẩy nhanh hơn nữa tiến trình hiện đại hóa Quân đội, trước hết là các lực lượng được xác định tiến thẳng lên hiện đại, tạo bước chuyển mang tính đột phá về trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, sức mạnh chiến đấu của Quân đội.
Kế tục truyền thống đánh thắng ngay từ trận đầu, đã ra quân là chiến thắng, trong bối cảnh phức tạp hiện nay, toàn quân quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng, thường xuyên nêu cao cảnh giác, chủ động làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo chính xác tình hình, tình huống có thể xảy ra trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh; kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước có chiến lược, sách lược linh hoạt, đúng đắn, phù hợp, chủ động giải quyết các vấn đề nhạy cảm, tình huống phức tạp, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, không để đất nước bị động, bất ngờ. Đồng thời, tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc. Trong đó, đẩy mạnh xây dựng khu vực phòng thủ quân khu và các tỉnh, thành phố; xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân vững mạnh, tiềm lực, thế trận khu vực phòng thủ, đặc biệt là “thế trận lòng dân” vững chắc, nhất là ở các địa bàn chiến lược, trọng điểm. Các đơn vị Quân đội duy trì nghiêm chế độ, nền nếp sẵn sàng chiến đấu, luôn ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao; làm tốt công tác tuần tra, kiểm soát, quản lý chặt chẽ vùng biển, vùng trời, biên giới, hải đảo; xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống quyết tâm, kế hoạch, phương án tác chiến, chủ động phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với Công an nhân dân và các lực lượng khác, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống quốc phòng, an ninh, không để bất ngờ về chiến lược.
Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, dựa vào dân, đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân là quy luật phát triển, cội nguồn sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong suốt 75 năm qua. Kế thừa, phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp đó, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cần đề cao trách nhiệm, gương mẫu trong lời nói, quyết liệt trong hành động, nhằm giữ gìn, phát triển mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân. Hiện nay, các thế lực thù địch đang tìm mọi cách chống phá, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết gắn bó “máu - thịt”, “cá - nước” giữa Quân đội và nhân dân bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc, nên cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân càng phải giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, chấp hành nghiêm kỷ luật trong quan hệ quân dân, gây lòng tin cậy, yêu mến của nhân dân, thực hiện quân với dân một ý chí. Các đơn vị Quân đội tiếp tục thực hiện tốt chức năng “đội quân công tác”; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị, hỗ trợ, giúp nhân dân phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, nhất là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng căn cứ cách mạng. Thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp xây dựng, củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; thực hiện tốt chính sách hậu phương Quân đội, công tác “đền ơn đáp nghĩa”, v.v. Cùng với đó, Quân đội tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng xung kích, nòng cốt, chỗ dựa tin cậy của nhân dân trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục hậu quả chiến tranh, góp phần củng cố vững chắc “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Kỷ niệm 30 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1989 - 22-12-2019) và 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 - 22-12-2019) là một sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và Quân đội. Đây là dịp để toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân và nhân dân ta nhìn lại chặng đường đã qua, tự hào về truyền thống vẻ vang của Quân đội anh hùng, dân tộc anh hùng. Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, với niềm tự hào dân tộc, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu cùng toàn Đảng, toàn dân xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thật sự làm nòng cốt cho toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Đại tướng NGÔ XUÂN LỊCH, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ươngBộ trưởng  Bộ Quốc phòng

_____________
1 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 14, Nxb CTQG, H. 2011, tr.435.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...