Thứ Ba, 5 tháng 11, 2019

LỢI DỤNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG ĐỂ KÍCH ĐỘNG CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC



Vừa qua, vấn đề ô nhiễm môi trường là đề tài được báo chí phản ánh và nhận được rất nhiều sự quan tâm của người dân. Trong đó, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm không khí ở Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và sự cố ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt liên quan đến vụ án đổ dầu thải ở nhà máy nước sạch Sông Đà.
Lợi dụng vào những sự việc này, truyền thông hải ngoại, nhiều trang phản động, cộng động “xã hội dân sự” trong nước xuyên tạc, vu cáo, kích động, lỗi kéo, kêu gọi biểu tình nhằm gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Trên các đài BBC, RFA, VOA, các trang mạng, blog của các tổ chức, phần từ phản động lợi dụng tập trung khai thác, phân tích, thông tin dẫn dắt dư luận theo chiều hướng tiêu cực. Họ lợi dụng vấn đề ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm nguồn nước vừa qua để xuyên tạc, nói xấu, bôi nhọ, quy kết thành vấn đề chính trị.
Các phần tử này đặt vấn đề: húng ta sẽ phải sống ra sao, con trẻ sẽ phải chịu đựng ô nhiễm đến khi nào? Nhân dân không thể không trông cậy chính quyền. Họ trả lương cho chính quyền để chính quyền bảo vệ họ. Đừng để dân phải nai lưng đóng thuế nuôi bộ máy nhà nước, rồi sau đó họ phải làm hết mọi việc, từ phát hiện vấn đề, nói lên thực trạng, rồi rốt cuộc phải tự mình giải quyết. Họ quy kết Nhà nước che dấu, bưng bít thông tin về vấn đề ô nhiễm môi trường, ô nhiễm không khí, nước sạch.
Viện dẫn một vài ý kiến cá nhân, một số phương tiện truyền thông quốc tế đăng bài, dẫn lại, cho rằng “Người nước ngoài rời bỏ Hà Nội vì môi trường”… Đặc biệt các tổ chức “xã hội dân sự” lợi dụng vấn đề này cho rằng Nhà nước bỏ mặc người dân, họ kêu gọi, tổ chức tụ tập, biểu tình tại Nhà Thờ lớn Hà Nội, gây mất an ninh, trật tự trên địa bàn.
Một trong các dữ liệu về môi trường không khí được họ dẫn nhiều để phân tích tình trạng ô nhiễm ở Việt Nam là dữ liệu, số liệu của IQAir AirVisual (một tổ chức theo dõi, đánh giá chất lượng không khí trên toàn thế giới, được thành lập 2015, có trụ sở ở Thụy Sĩ, Mỹ và Trung Quốc).
Trên các phương tiện truyền thông, đại diện IQAir AirVisual cho biết, tại Việt Nam đơn vị này thu thập dữ liệu từ 14 trạm kiểm soát không khí, gồm có 10 trạm thuộc chính phủ. Đó là mạng lưới quản lý chất lượng không khí Hà Nội, Trung tâm quan trắc môi trường miền Bắc, Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội và các tổ chức phi chính phủ.
Tại TP Hồ Chí Minh, IQAir AirVisual có dữ liệu từ 7 trạm gồm Lãnh sự quán Mỹ và các tổ chức phi chính phủ, các đối tác của AirVisual. Ở mỗi trạm, các chỉ số được thu thập theo thời gian thực, chất ô nhiễm được đo và dựa theo Chỉ số chất lượng không khí của Mỹ (U.S. Air Quality Index value).
Tuy vậy, trước những thông tin do IQAir AirVisual cung cấp về chất lượng không khí đáng báo động của Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, đặc biệt theo chỉ số của đơn vị này thông báo chất lượng không khí tại Hà Nội có ngày là ô nhiễm nhất thế giới.
Trên nhiều phương tiện truyền thông và cộng đồng mạng, nhiều người cho rằng độ tin cậy không cao về kết quả đo của đơn vị này.Bởi theo nhiều người, IQAir AirVisual vẫn chưa cung cấp được một cách đầy đủ cách thức mà họ đánh giá chất lượng không khí. Hơn thế nữa, để đánh giá chính xác chất lượng không khí của một thành phố, cần phải so sánh số liệu từ nhiều trạm, với mỗi trạm được đo vào nhiều thời điểm khác nhau trong ngày.
Được biết, IQAir AirVisual còn sử dụng kết quả đo từ các khách hàng là cá nhân, tổ chức mua thiết bị đo của hãng. Độ tin cậy của dữ liệu từ nguồn này thường thấp vì không thường xuyên được bảo dưỡng và hiệu chuẩn để tăng độ chính xác. Mặt khác, AirVisual còn sử dụng số liệu không phải từ trạm đo thực tế mà thông qua ảnh vệ tinh.
Theo các chuyên gia môi trường, điều này đã dễ dẫn tới sự sai lệch nhất định trong số liệu. Ngoài ra, điều người ta còn nghi ngờ bởi ngay trên website chính thức của IQAir AirVisual giới thiệu, quảng cáo rất nhiều sản phẩm của công ty này chuyên cung cấp các sản phẩm liên quan đến môi trường, bảo vệ sức khỏe, như phần mềm ứng dụng chất lượng không khí trên các nền tảng công nghệ, các sản phẩm tự động hóa chất lượng không khí tòa nhà, mặt nạ không khí, máy lọc không khí….
Nhiều người đặt câu hỏi tính minh bạch, tin cậy của dữ liệu mà đơn vị này đưa ra là thế nào trong bối cảnh số liệu đó có tác động, liên hệ trực tiếp đến thị phần, thị trường, doanh thu các sản phẩm của công ty này.
Bên cạnh đó, liên quan đến vụ việc đổ dầu thải gây ô nhiễm nguồn nước sông Đà, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hòa Bình đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam các đối tượng để điều tra về tội “Gây ô nhiễm môi trường”, theo quy định tại Điều 235, BLHS. Hiện Công an tỉnh Hòa Bình đang thu thập các tài liệu, củng cố chứng cứ để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Nói vậy không có nghĩa là phủ nhận hay bao biện cho thực trạng ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước sạch sông Đà diễn ra trong những ngày vừa qua mà theo số liệu của các cơ quan chức năng Việt Nam là ảnh hưởng trực tiếp, nguy hiểm, nghiêm trọng đến sức khỏe con người.
Đây là những sự việc thực tế đáng báo động. Đối với vấn đề ô nhiễm không khí, để đánh giá đúng tình hình, các cơ quan đang tích cực theo dõi, thu thập số liệu quan trắc, phân tích số liệu, tìm ra nguyên nhân và có giải pháp hữu hiệu để xử lý, phòng ngừa và chăn chặn.
Đối vụ án đổ dầu gây ô nhiễm nguồn nước sông Đà, cơ quan chức năng, người dân đang có biện pháp tích cực để xứ lý, khắc phục, đồng thời khẩn trương làm rõ vụ án và đưa các đối tượng phạm tội ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Mỗi người dân, với tư cách là một công dân có trách nhiệm, trước những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường đều có thể lên tiếng, góp ý, phản ánh mang tính xây dựng với chính quyền, cơ quan quản lý nhà nước theo đúng chức năng nhiệm vụ mà pháp luật quy định.
Những ý kiến xác đáng, tinh thần xây dựng đều được Nhà nước, cộng đồng, ghi nhận, tiếp thu để giải quyết,  xử lý tình hình đảm bảo cuộc sống của người dân tốt hơn, hoạt động của chính quyền, hệ thống chính trị hiệu lực, hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn.
Tuy nhiên, lợi dụng vào những vấn đề này để tuyên truyền xuyên tạc với mục đích “diễn biến” tình hình theo chiều hướng tiêu cực, kích động, kêu gọi, tổ chức biểu tình gây mất an ninh, trật tự thì phải lên án, đấu tranh, ngăn chặn.
Có thể thấy thủ đoạn của họ là lợi dụng vấn đề môi trường để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Họ tập trung khai thác, cố tình “thổi phồng” vấn đề, thông tin một cách có chủ đích, xuyên tạc “người nước ngoài chạy khỏi Việt Nam vì ô nhiễm môi trường” để làm méo mó hình ảnh Việt Nam trong mắt bè bạn, cộng đồng quốc tế; kích động một bộ phận quần chúng nhân dân tổ chức khiếu kiện, tụ tập biểu tình, gây mất an ninh trật tự, thủ đoạn của họ là tạo ra điểm nóng, bất ổn để “đục nước béo cò”.
Họ quy kết Nhà nước bưng bít thông tin, chính quyền thờ ơ với đời sống người dân; mục đích của họ là phủ nhận sự nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong vấn đề giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tác động biến đổi khí hậu, hòng làm mất niềm tin, chia rẽ giữ Đảng, Nhà nước với nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Qua theo dõi và nắm tình hình, trong những ngày vừa qua, các tổ chức núp bóng “xã hội dân sự” gọi là “đấu tranh vì môi trường” lợi dụng tình hình trên để mượn cớ đẩy mạnh các hoạt động sai trái, họ phân công tổ chức tuyên truyền trên các mạng xã hội, các trang hải ngoại để xuyên tạc; kêu gọi, tổ chức tụ tập đông người, biểu tình chống phá chính quyền. Họ xác định, môi trường là vấn đề tác động trực tiếp đến đời sống hằng ngày, là lĩnh vực được được người dân đặc biệt quan tâm.
Do vậy ngoài vấn đề dân chủ, nhân quyền, vấn đề môi trường được các phần tử này lựa chọn là một trong những mũi nhọn để đẩy mạnh các hoạt động chống phá, triệt để lợi dụng bởi dễ thu hút dư luận, dễ kích động, lôi kéo, tập hợp lực lượng như thực tế đã diễn ra qua sự cố môi trường các tỉnh miền Trung nước ta.
Qua đây cần nhận diện rõ sự thật, một mặt quan tâm xử lý tốt những bất cập về môi trường để phát triển bền vững, đảm bảo môi trường sinh thái đối với cuộc sống người dân. Song bên cạnh đó cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn của truyền thông xuyên tạc, các hội,nhóm, phần tử cơ hội, phản động núp bóng vấn đề môi trường để phá hoại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.


BẮT MẠCH TRÒ TUNG HỎA MÙ CHỐNG PHÁ HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 11



Trước, trong và sau Hội nghị Trung ương 11 (khoá XII), vấn đề biển Đông, trực tiếp là bãi Tư Chính được các thế lực thù địch, phản động đẩy lên cao trào, xem đó như mấu chốt để phán xét hội nghị.
Hàng loạt bài về bãi Tư Chính được các trang báo mạng nước ngoài đưa liên tiếp như: “Bãi Tư Chính – đã đến lúc kiện Trung Quốc ra toà quốc tế”; “Bàn tròn BBC: Hội nghị Trung ương 11, bãi Tư Chính và ứng phó”; “Bãi Tư Chính, tình hình cực kỳ nguy hiểm với chủ quyền Việt Nam”; “Bãi Tư Chính, nhiều trí thức muốn Việt Nam kiện Trung Quốc”…
Ngay trong những ngày diễn ra hội nghị, trên nhiều trang báo như BBC, RFA, VOA… lược thuật, dõi xem Trung ương họp và bàn về vấn đề này như thế nào. Họ còn vẽ ra “bàn tròn bàn luận” với việc cho các vị khách mời nêu chính kiến, quan điểm. Chỉ cần nhìn thành phần khách mời với không ít người có nhân thân chống phá đất nước quyết liệt, đủ biết họ sẽ  nói gì, nói như thế nào về biển Đông và Việt Nam, nói gì về Hội nghị Trung ương 11. Đến khi hội nghị kết thúc, thấy hội nghị không đưa ra tuyên bố hay áp dụng biện pháp như số này đã “kiến nghị”, lập tức các đối tượng rêu rao rằng hội nghị “nhạt”, “không đáp ứng kỳ vọng của đất nước”…
Tại sao các đối tượng lại quan tâm đặc biệt tới Hội nghị Trung ương 11 với mũi nhọn là vấn đề biển Đông, bãi Tư Chính? Nếu nhìn qua những bài viết, người thiếu tỉnh táo có thể dẫn tới ngộ nhận: Họ nêu về chủ quyền biển Đông, diễn biến phức tạp ở bãi Tư Chính trong bối cảnh hiện nay là vì lòng yêu nước, vì trách nhiệm với Tổ quốc, muốn góp ý cho Đảng, Nhà nước có giải pháp quyết liệt để giữ vững chủ quyền, lãnh thổ! Sự ngộ nhận đó khiến trong cách nhìn cảm tính, người ta bị đánh đồng giữa bạn và thù, giữa lòng yêu nước đúng nghĩa và kẻ lợi dụng phá hoại.
Ở đây cần thấy rõ: Việc dấy lên chuyện chủ quyền biển Đông, bãi Tư Chính thực chất là cái cớ, là thủ đoạn mượn gió bẻ măng của những kẻ chống phá. Nếu như những Hội nghị trước, khi Trung ương bàn đến quy hoạch nhân sự hay xem xét xử lý kỷ luật lãnh đạo cấp cao mắc sai phạm thì các đối tượng sẽ tập trung bình phán, tung hoả mù vấn đề nhân sự, xuyên tạc việc xử lý cán bộ sai phạm thành phe cánh thanh trừng, đấu đá nội bộ. Còn nay, khi diễn biến ở biển Đông đang là vấn đề thời sự, chúng xác định đây là cơ hội để tung hứng, đẩy vấn đề lên cao trào, tạo thành điểm nóng dư luận, gây áp lực lên Trung ương, lên hội nghị.
Ở đây, có thể thấy 3 khung thời điểm: Trước, trong và sau hội nghị. Trước hội nghị, chúng đưa các bài viết, hình ảnh kiểu tung hoả mù, làm người đọc, người xem thấy rối bời vì tính nghiêm trọng, như cách dùng từ của họ là “cực kỳ nguy nan”, vận mệnh dân tộc bị thử thách, từ đó đòi hỏi Trung ương phải có “biện pháp cứng rắn”! Các kiến nghị hay “tham vấn” được đưa ra như cần khởi kiện, cần triệu tập “hội nghị Diên Hồng về biển Đông”, cần trưng cầu ý dân… Trong thời gian diễn ra hội nghị, họ dõi theo diễn biến từng ngày rồi đưa ra các nghi vấn “sao chưa thấy họp, chưa thấy bàn”, lẽ nào Đảng còn nội dung khác quan trọng hơn biển Đông?
Sau hội nghị, bằng việc đánh giá những “tham vấn, kiến nghị” trước đó không được nói đến, bàn đến, chúng quy kết Trung ương thờ ơ, bàng quan về chủ quyền biển đảo, rằng hội nghị chỉ bàn chuyện văn kiện, không đáp ứng được kỳ vọng, bức xúc của người dân. Đây chính là chiêu sau khi tung hoả mù là té nước, lập lờ đánh lận. Chủ quyền biển đảo chính là cái cớ để họ sử dụng chống phá mà đích nhắm là Hội nghị Trung ương.
Yêu nước là lẽ thiêng liêng. Vấn đề là cần tỉnh táo để lòng yêu nước, tiếng nói và hành động yêu nước đúng nghĩa, giúp ích với đất nước. Nếu nhận thức sai lệch, bị kẻ xấu lợi dụng để làm điều sai trái thì lòng yêu nước, tiếng nói yêu nước ấy đi sai lối, gây hại cho đất nước, cho nhân dân. Hiện, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội đang triệt để lợi dụng vấn đề chủ quyền biển đảo, lợi dụng lòng yêu nước và nhận thức không đầy đủ của một bộ phận người dân để kích động, chống phá.
Dựa trên hành động của tàu Trung Quốc vi phạm chủ quyền vùng biển của Việt Nam trên biển Đông, nhất là hành động xâm phạm thềm lục địa Việt Nam, các đối tượng tung ra các thông tin, hình ảnh, đưa ra các bình luận cho rằng tình thế chủ quyền hết sức cấp bách, nguy cơ xung đột chiến tranh, rung dọa “vận mệnh dân tộc” nguy nan…
Việc thổi phồng thông tin là kế “rung cây” khiến người dân hoang mang lo lắng, gây tâm lý bất an, thậm chí hoảng loạn trong xã hội. Bằng việc viện dẫn sai lệch chủ trương, biện pháp của Đảng, Nhà nước, chúng phê phán các quyết sách của Đảng. Nhân danh góp ý, hiến kế, chúng lợi dụng tình hình này để bác bỏ đường lối đối ngoại, đường lối quốc phòng, phê phán đường lối quốc phòng “ba không” là lạc hậu, lỗi thời, đòi  hỏi phải theo nước này để chống lại nước kia, phải dựa vào “đồng minh” để giữ chủ quyền biển đảo.
Đồng thời, từ chỗ phê phán, đả kích đường lối, quyết sách của Đảng, Nhà nước trong vấn đề biển Đông, các đối tượng kích động vào lòng yêu nước của người dân, cho rằng để tránh họa xâm lăng, bảo vệ nước nhà thì người dân phải tự bảo vệ lấy, phải đứng lên, phải xuống đường, tuần hành, biểu tình…, đích cuối cùng là nhằm làm suy yếu, tan rã chính quyền, sụp đổ chế độ. Sự kích động này rất nguy hiểm bởi với những người yêu nước nhưng thiếu hiểu biết, thiếu thông tin có thể bị luồng thông tin này hướng lái, dẫn tới những hành động sai trái, nguy hại như từng xảy ra năm 2014.
Quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, trong đó có chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông được thể hiện rõ ràng, nhất quán và mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng đã trả lời cụ thể trong cuộc tiếp xúc cử tri trước thềm Kỳ họp thứ 8 – Quốc hội khoá XIV. Thế nhưng, các đối tượng xấu đã đưa những bài viết, thông tin sai lệch, họ cố tình bóp méo, đẩy vấn đề sang hướng khác để lên án Đảng, Nhà nước ta trong vấn đề biển Đông. Trên trang RFA tiếng Việt đưa bài viết nói rằng, tại cuộc tiếp xúc này, người đứng đầu Đảng, Nhà nước đã “chỉ trích những tiếng nói yêu nước ngoài Đảng”.
Một số trang mạng đã chia sẻ lại bài viết này và có những lời bình tiêu cực. Thực tế, đây là nội dung hoàn toàn sai lệch, bịa đặt, họ cố ý hướng lái vấn đề nhằm gây phân tâm, chia rẽ, gây mất đoàn kết trong nhân dân. Quan điểm của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng như quan điểm của Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong phát triển kinh tế, xã hội cũng như giữ vững an ninh, quốc phòng, không phân biệt thành phần, tầng lớp, không phân biệt trong hay ngoài đảng. Lòng yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc ta, người dân đều có quyền và nghĩa vụ thể hiện tình cảm, trách nhiệm của mình đối với đất nước.
Thực tế, tại cuộc tiếp xúc cử tri ngày 15-10-2019, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh quan điểm của Đảng, Nhà nước ta là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, đồng thời phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng, để xử lý tốt mối quan hệ này không đơn giản chút nào, phải tính toán lợi ích quốc gia dân tộc, phải giữ vững nguyên tắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, nhưng phải giữ ổn định để phát triển.
“Đất nước ta có được sự ổn định, tốt như thế này, phải giữ lấy nó. Phải cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc. Thái độ của Đảng ta đã tuyên bố dứt khoát, ta rất kiên quyết nhưng cần phải khôn khéo, mềm dẻo, phải xử lý các mối quan hệ hài hòa, biện chứng, toàn diện với con mắt chiến lược… Giữ đất nước yên bình để tiến lên, nhưng vẫn giữ được độc lập, chủ quyền. Giữ quan hệ cho tốt, nhưng việc gì thuộc về độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chúng ta không bao giờ nhân nhượng” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định.
Về vấn đề này, trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 11 khoá XII, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền biển, đảo quốc gia trên cơ sở luật pháp quốc tế. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”.
Trong vấn đề Biển Đông, quan điểm của Việt Nam là rõ ràng: Vùng biển, đảo của Việt Nam trên biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam. Việt Nam kiên quyết phản đối mọi hành vi xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, phản đối những việc làm thay đổi nguyên trạng, đặc biệt là việc tôn tạo đảo phục vụ cho việc mạo nhận chủ quyền và khống chế quyền tự do hàng hải, hàng không trên Biển Đông.
Để giải quyết các tranh chấp về chủ quyền, Việt Nam tái khẳng định các biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế.


THÀNH QUẢ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA VẪN LUÔN TỎA SÁNG



 Dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản (Bôn-sê-vích) Nga, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Mười năm 1917, mở ra bước ngoặt mới trong tiến trình lịch sử nhân loại. Thế nhưng, các thế lực thâm thù với cách mạng vẫn không ngớt xuyên tạc, phủ nhận về Cách mạng Tháng Mười Nga. Song, "bàn tay không che nổi mặt trời”, cuộc cách mạng vĩ đại này của giai cấp vô sản vẫn luôn tỏa sáng và sống mãi trong lòng nhân loại.
Sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc cùng những kẻ thâm thù với Chủ nghĩa Mác-Lênin nhằm thay đổi lịch sử và giá trị Cách mạng Tháng Mười Nga
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga giành được thắng lợi, giai cấp tư sản Nga vừa bị đánh đổ đã cầu viện 14 đế quốc liên kết, tập trung toàn bộ sức mạnh nhằm tiêu diệt chính quyền cách mạng Xô-viết non trẻ, ra sức xuyên tạc, vu cáo lãnh tụ V.I.Lênin và những người cộng sản Nga. Chúng cho rằng, đó là sự “đảo chính”, “tiếm quyền” lãnh đạo của giai cấp tư sản và việc thiết lập Nhà nước công-nông Xô-viết là “đi chệch” khỏi quy luật phát triển chung của xã hội loài người. Đặc biệt, từ khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Ðông Âu lâm vào thoái trào trong thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ trước, các thế lực thù địch tăng cường chống phá quyết liệt chủ nghĩa xã hội (CNXH). Chúng tìm mọi cách công kích, bôi nhọ, xóa nhòa những lý tưởng nhân văn, nhân đạo của Cách mạng Tháng Mười Nga và cơ sở tư tưởng, lý luận của cuộc cách mạng này là Chủ nghĩa Mác-Lênin. Chúng tung ra và cổ xúy đủ mọi luận điệu xuyên tạc trắng trợn, thâm độc, như: Cách mạng Tháng Mười chỉ là “cuộc nổi dậy mang tính chất Nga thuần túy”; là “một cuộc bạo động phản dân chủ”; là “quái thai của lịch sử”, thậm chí cho rằng đó là một sự “đẻ non”… nhằm lừa bịp, đánh đồng sự sụp đổ của mô hình XHCN hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu với sự thất bại của Chủ nghĩa Mác-Lênin và võ đoán rao giảng rằng: “Mô hình đổ thì học thuyết cũng đổ theo”(!). Từ đó, chúng không ngớt rao giảng rằng, CNXH đã đến “hồi kết thúc”. Chúng còn ra sức khuếch trương cổ xúy chỉ có chủ nghĩa tư bản (CNTB) là “vĩnh hằng” nhằm hướng lái các quốc gia, dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đi theo quỹ đạo của CNTB.
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 mở ra trang sử mới đối với nước Nga và tiến trình phát triển của nhân loại-mở ra thời đại mới, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới
Cuộc cách mạng vĩ đại đó của giai cấp vô sản Nga đã khai phá con đường đi lên CNXH cho toàn thể nhân loại, đưa đến khả năng sáng tạo to lớn và cách mạng triệt để của giai cấp vô sản cùng nhân dân lao động ở các nước trong cuộc đấu tranh tự giải phóng, thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, đế quốc. Đồng thời, trở thành “ngọn đuốc” soi đường, chỉ lối cho giai cấp vô sản các nước vững niềm tin bước lên vũ đài chính trị với tư cách là giai cấp trung tâm của thời đại mới-“hạt nhân” của phong trào cách mạng thế giới, đưa thời kỳ “bão táp cách mạng” từ châu Âu lan tỏa nhanh chóng và mạnh mẽ sang châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latin, đã khiến cho giai cấp tư sản vô cùng hoảng sợ, buộc phải lùi bước, xuống thang và điều chỉnh để tồn tại.
Thực tiễn cho thấy, sau Cách mạng Tháng Mười Nga, với đường lối phù hợp với tiến bộ xã hội, Đảng Cộng sản Nga, đứng đầu là lãnh tụ V.I.Lênin đã lãnh đạo giai cấp vô sản và nhân dân lao động Nga tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, khoa học-kỹ thuật, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh... đưa Liên Xô từ nước tư bản trung bình trở thành quốc gia hùng mạnh trên thế giới. Điều đó tạo nên thế và lực để Hồng quân Liên Xô trở thành lực lượng chủ yếu quyết định tiêu diệt chủ nghĩa phát-xít, cứu nhiều dân tộc trên thế giới thoát khỏi thảm họa diệt chủng trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Dưới tác động to lớn, sâu sắc của Cách mạng Tháng Mười Nga và chế độ XHCN ở Liên Xô, hàng loạt nước trên khắp các châu lục đã tiến hành thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc, giành được độc lập; nhiều quốc gia, dân tộc đã lựa chọn con đường phát triển lên CNXH.
Từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga đến cuối thập niên 1980, CNXH hiện thực với mục tiêu “độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội” đã trở thành giá trị phổ quát mang tính thời đại, được đông đảo các nước, các dân tộc trên thế giới hướng tới xây dựng và nhanh chóng phát triển thành một hệ thống XHCN hùng mạnh trên thế giới. Thực tế đó đã làm sụp đổ hệ thống thuộc địa do chủ nghĩa thực dân, đế quốc được thiết lập trên toàn thế giới trong nhiều thế kỷ; do đó, sự “vĩnh hằng” của CNTB không còn nữa, nó đã bị phủ định về mặt nguyên tắc; mọi mưu toan của các thế lực phản động, cơ hội chính trị hòng bôi nhọ, xóa bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin và CNXH, phủ nhận những giá trị to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga đều vô vọng.
 Ngày nay, mặc dù thế giới có nhiều biến động, đổi thay, nhưng Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn giữ nguyên giá trị
Trong quá trình vận động, phát triển hơn một thế kỷ đã qua (kể từ khi Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi năm 1917), nhân loại đã chứng kiến biết bao biến cố thăng trầm, phức tạp. Trong đó, tổn thất do những kẻ thâm thù với cách mạng gây ra cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế suốt mấy thập kỷ qua là vô cùng lớn, nhưng xu thế vận động khách quan của lịch sử mà Cách mạng Tháng Mười Nga vạch ra và tính tất yếu thắng lợi của CNXH là không thể đảo ngược. Hiện nay, các nước trên thế giới đang đẩy mạnh quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; tình hình thế giới thay đổi nhanh chóng, diễn biến rất phức tạp, khó lường, nhưng hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác, phát triển và tiến bộ xã hội vẫn là xu thế lớn của thời đại. Lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại vẫn đang hiện diện và đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới đã và đang lựa chọn con đường tiến lên XHCN bằng những phương thức cụ thể khác nhau. Đồng thời, đảng cánh tả ở nhiều nước tư bản đang từng bước chiếm ưu thế trên chính trường... Điều đó cho thấy, mặc dù CNXH hiện thực đang gặp nhiều sóng gió, thử thách lớn; các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách phủ định, hạ thấp ý nghĩa, tầm vóc vĩ đại và ảnh hưởng to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga đối với tiến trình phát triển của nhân loại, nhưng con đường mà Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra vẫn là “ngọn đuốc” vạch thời đại, là mục tiêu, lý tưởng phấn đấu của nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới; bởi nó phù hợp với quy luật tiến hóa của lịch sử và ước nguyện ngàn đời của con người. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên Trái Đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.
Cách mạng Tháng Mười Nga là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam vững bước vào kỷ nguyên mới
Thấu hiểu hơn ai hết nỗi thống khổ của người dân mất nước, từ tháng 6-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh) đã bôn ba khắp bốn biển, năm châu để tìm con đường cứu nước, cứu dân. Khi nghiên cứu “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” do V.I.Lênin soạn thảo và được thông qua tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản (năm 1920), Nguyễn Ái Quốc đã vui mừng đến phát khóc, ngồi một mình nhưng Người đã nói to như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”2. Từ đó, Người khẳng định: “Cách mạng Việt Nam muốn thành công phải đi theo con đường của V.I.Lênin-con đường Cách mạng Tháng Mười Nga; muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”3. Năm 1924, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Giô-van-ni Giéc-man-ét-tô, đăng trên Báo L'Unita của Đảng Cộng sản Italy, Người nói: “Chúng tôi đã đau khổ nhiều và chúng tôi còn phải đau khổ nữa. Những người “khai hóa” ở các nước chúng tôi không để chúng tôi tự do. Nhưng chúng tôi tiếp tục đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười đã vạch ra, chúng tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn những bài học đã học được”4.
Trong gần 90 năm qua, Đảng ta luôn trung thành với lý tưởng cao đẹp của Chủ nghĩa Mác-Lênin, kiên định với con đường Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vĩ đại, thành lập Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á; lãnh đạo toàn dân tiến hành các cuộc kháng chiến thần kỳ chống ngoại xâm, làm nên Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; tiếp theo giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng do bè lũ phản động Pol Pot-Ieng Sary gây ra…
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, Đảng ta đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm từ sự thoái trào của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và một số nước ở Đông Âu, để kịp thời đề ra những quyết sách đúng đắn, khắc phục triệt để các sai lầm, khuyết điểm và khởi xướng, lãnh đạo đường lối đổi mới toàn diện đất nước (từ năm 1986). Đảng ta đã khẳng định quan điểm nhất quán: Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà là làm cho các mục tiêu đó được thực hiện tốt hơn bằng những quan niệm đúng, hình thức, biện pháp và bước đi thích hợp.
Qua hơn 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, những lý tưởng nhân văn, nhân đạo cao cả của Cách mạng Tháng Mười Nga đã được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hiện thực hóa bằng nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ XHCN. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao”5. Những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới đất nước chứng tỏ đường lối lãnh đạo của Đảng ta là hoàn toàn đúng, phù hợp với xu thế thời đại; “lòng dân, ý Đảng” luôn hòa quyện, gắn kết chặt chẽ với nhau trong thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Kỷ niệm 102 năm Cách mạng Tháng Mười Nga thành công trong bối cảnh tình hình thế giới còn nhiều diễn biến phức tạp, chứa đựng những yếu tố khó lường. Các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị đã và đang tranh thủ lợi thế về kinh tế, khoa học-công nghệ, mạng xã hội, sử dụng nhiều âm mưu, thủ đoạn mới, chống phá quyết liệt Chủ nghĩa Mác-Lênin, xuyên tạc, phủ nhận giá trị và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga. Bởi thế, sự nghiệp đấu tranh của nhân dân các dân tộc trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga sẽ còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Song, dấu ấn lịch sử của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn không ngừng tỏa sáng, giữ nguyên giá trị là một cuộc cách mạng “vạch thời đại”.

Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2019

TỔNG BÍ THƯ HỌP BỘ CHÍNH TRỊ VỀ NHIỆM VỤ CỦA BAN CHỈ ĐẠO TW VỀ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG



Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng có quyết tâm rất cao, chỉ đạo quyết liệt, với cách làm khoa học, chặt chẽ, nền nếp, bài bản, phối hợp nhịp nhàng, từng bước chắc chắn.
Ngày 1-11-2019, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã chủ trì họp Bộ Chính trị để cho ý kiến về Đề án sửa đổi, bổ sung Quy định số 163-QĐ/TW, ngày 1-2-2013 của Bộ Chính trị khóa XI về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và Đề án sửa đổi, bổ sung Quyết định số 159-QĐ/TW, ngày 28-12-2012 của Bộ Chính trị khóa XI về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Nội chính Trung ương.
Tham dự cuộc họp có đại diện lãnh đạo các ban đảng, Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ và các bộ, ngành có liên quan.
Sau khi nghe lãnh đạo Ban Nội chính Trung ương báo cáo về những nội dung cơ bản của Đề án, Văn phòng Trung ương Đảng báo cáo tổng hợp ý kiến các cơ quan liên quan và ý kiến phát biểu của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đánh giá cao Ban Nội chính Trung ương - Cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã chuẩn bị công phu, chu đáo, tiếp thu nghiêm túc, kỹ lưỡng ý kiến góp ý của các cơ quan chức năng.
Bộ Chính trị cơ bản tán thành những nội dung đã nêu tại Tờ trình và Đề án, nhất trí những nội dung kiến nghị sửa đổi, bổ sung.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định sau hơn 6 năm thực hiện Quyết định 159 của Bộ Chính trị, Ban Nội chính Trung ương đã triển khai nhiều công việc, khá toàn diện, tích cực, chủ động nghiên cứu, tham mưu, đề xuất nhiều chủ trương, quan điểm, định hướng lớn của Đảng về công tác nội chính; chủ động, sáng tạo thực hiện tốt nhiệm vụ Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, kiên trì, quyết liệt trong tham mưu, chỉ đạo xử lý những khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xử lý các vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm.
Bám sát Quy định 163 của Bộ Chính trị khóa XI, trong hơn 6 năm qua, nhất là từ đầu nhiệm kỳ khóa XII đến nay, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng có quyết tâm rất cao, chỉ đạo quyết liệt, với cách làm khoa học, chặt chẽ, nền nếp, bài bản, phối hợp nhịp nhàng, từng bước chắc chắn, rõ đến đâu xử lý đến đó, công khai, minh bạch.
Nhất là, đã phát huy tốt cơ chế chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế; chỉ đạo phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa các khâu trong công tác phát hiện, xử lý tham nhũng từ thanh tra, kiểm toán, kiểm tra, rồi đến điều tra, truy tố, xét xử, thu hồi tài sản tham nhũng.
Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và Ban Nội chính Trung ương đã có những đóng góp quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng và góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Tuy nhiên, để khắc phục những hạn chế, khó khăn sau hơn 6 năm thực hiện Quy định 163 và Quyết định 159 của Bộ Chính trị khóa XI, nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Ban Nội chính Trung ương, đáp ứng yêu cầu công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới, Bộ Chính trị thống nhất cao cần thiết phải sửa đổi, bổ sung.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh việc sửa đổi, bổ sung Quy định 163 và Quyết định 159 nhằm khẳng định và làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, đề cao quyền hạn, trách nhiệm trước Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trong lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống tham nhũng, nhất là công tác thanh tra, kiểm toán, xử lý các vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án các vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận quan tâm; nhiệm vụ của Ban Nội chính Trung ương trong tham mưu, giúp việc cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng về công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, cải cách tư pháp; khẳng định quyết tâm mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước ta trong việc tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác phòng, chống tham nhũng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng yêu cầu Ban Nội chính Trung ương phối hợp Văn phòng Trung ương Đảng tiếp thu ý kiến của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, các cơ quan liên quan khẩn trương hoàn thiện Đề án và các dự thảo quy định, quyết định, ký ban hành để tổ chức thực hiện.
Cũng tại Hội nghị này, sau khi xem xét Tờ trình của Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Chính trị đã quyết định một số trường hợp nhân sự thuộc thẩm quyền của Bộ Chính trị./.

NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG



Ngày 25-10, trao đổi với phóng viên Báo Hànộimới bên lề kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XIV, các đại biểu Quốc hội cho biết, cử tri rất đồng tình, hoan nghênh sự quyết liệt trong công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước thời gian qua. Công tác này cần được tiếp tục thực hiện hiệu quả hơn nữa để củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Làm tốt công tác cán bộ để phòng, chống tham nhũng
Công tác phòng, chống tham nhũng trong năm 2019 đã có thêm những bước tiến mạnh mẽ, với nhiều chủ trương, giải pháp đột phá, đạt kết quả rõ rệt, không chỉ trong nước mà dư luận quốc tế cũng hoan nghênh. Tuy nhiên, đây là cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp, vì không phải đấu tranh với bên ngoài, với người khác, mà đấu tranh với chính chúng ta, trong từng con người chúng ta.
Để nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, Quốc hội đã ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018. Năm 2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2019/NĐ-CP ngày 10-4-2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo; Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22-4-2019 về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc. Hiện, Chính phủ đang khẩn trương hoàn thành nghị định quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập và xây dựng Đề án cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập.
Thời gian tới, bên cạnh việc đẩy mạnh các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống tham nhũng đã được Chính phủ nêu trong báo cáo gửi đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XIV, các cấp phải làm tốt công tác cán bộ và tổ chức cán bộ. Cơ quan chức năng cần đưa nội dung, tinh thần Quy định số 205-QĐ/TƯ ngày 23-9-2019 của Bộ Chính trị về việc “Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” vào các quy định cụ thể trong Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức; Luật Kiểm toán nhà nước… 
Cần quyết liệt loại bỏ “tham nhũng vặt” 
Công tác phòng, chống tham nhũng thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực với sự vào cuộc quyết liệt của Đảng và Nhà nước. Những vụ việc tham nhũng đã được xử lý đến nơi đến chốn, phát hiện đến đâu xử lý đến đó. Qua công tác tiếp xúc cử tri, tôi nhận thấy, nhân dân rất đồng tình, hoan nghênh.
Tuy nhiên, cử tri còn nhiều băn khoăn về vấn đề thu hồi tài sản do tham nhũng mà có. Đồng thời tình trạng “tham nhũng vặt” vẫn tồn tại. Đây là vấn đề người dân rất quan tâm bởi “tham nhũng vặt” luôn hiện diện trong các lĩnh vực thực thi công vụ, khiến người dân, doanh nghiệp cảm thấy bất an. Mặc dù đã có sự vào cuộc của các cấp nhưng tình trạng này chưa thuyên giảm, có nguy cơ ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của Đảng và Nhà nước. Do đó, phải có những giải pháp quyết liệt nhằm loại bỏ triệt để “tham nhũng vặt” để củng cố lòng tin của nhân dân.

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ NỢ CÔNG



Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhanh, dự báo trong năm 2019 sẽ tăng trưởng vượt mức 6,8%, vào tốp 20 nền kinh tế thúc đẩy tăng trưởng GDP của toàn cầu. Thế nhưng, vẫn có những thông tin không khách quan, xuyên tạc, thổi phồng về nguy cơ nợ công của nền kinh tế Việt Nam. Chính vì vậy, cán bộ, đảng viên cần nhìn nhận đúng vấn đề, từ đó tuyên truyền cho quần chúng nhân dân, tránh nhận thức lệch lạc, sai trái.
Nợ công đang trong tầm kiểm soát
Nợ công của Việt Nam vẫn đang nằm trong tầm kiểm soát. Cụ thể, chiều 21-10, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ báo cáo Quốc hội về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2019, dự toán NSNN và phân bổ ngân sách Trung ương năm 2020. Theo đó, thu NSNN 9 tháng đạt 77,5% dự toán, mức cao nhất so với cùng kỳ một số năm gần đây và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2018. Ước thực hiện thu cả năm 2019 vượt 3,3%, khoảng 46.000 tỷ đồng so với dự toán. Thu ngân sách Trung ương là năm thứ hai liên tiếp vượt dự toán. 
Về cân đối ngân sách, theo Bộ trưởng Bộ Tài chính, bội chi ngân sách năm 2019 khoảng 3,4% GDP. Nợ công là 56,1% GDP, nợ Chính phủ 49,2% GDP và nợ nước ngoài quốc gia là 48,5% GDP. Như vậy, với quy mô GDP năm 2019 khoảng 6,2 triệu tỷ đồng (266,5 tỷ USD) thì quy mô nợ công tương ứng 3,48 triệu tỷ đồng. 
Hiện nay trên thế giới, các nghiên cứu về bền vững nợ tuy không chỉ ra ngưỡng nợ nào là an toàn, áp dụng chung cho tất cả các nước nhưng có sự đồng thuận chung rằng, mức nợ công cao đến hơn 100% tổng sản phẩm nội địa (GDP) được coi là mức đáng báo động và tiềm ẩn nhiều rủi ro, mất khả năng trả nợ. Tuy nhiên, cũng có những nước nợ công rất cao, ví như Nhật Bản, mặc dù là nền kinh tế trong tốp đầu thế giới, dự trữ ngoại hối dồi dào, có hoạt động cho vay, cung cấp hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) lớn trên toàn cầu, thị trường vốn trong nước rất phát triển, nhưng mức nợ công cao nhất thế giới (hơn 179% GDP), nền kinh tế nước này tiềm ẩn rủi ro.
Bất kỳ nền kinh tế nào cũng có nhu cầu vay nợ để phát triển. Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu vay nợ càng lớn. Theo báo cáo tháng 2-2019, Mỹ đang có số nợ kỷ lục là 22.021 tỷ USD, bội chi ngân sách trong năm tài khóa 2018 của Mỹ là 779 tỷ USD. Tuy nhiên, khả năng vay nợ được cũng chính là thể hiện sức hút và mức độ tín nhiệm của nền kinh tế. Với nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh như Việt Nam thì nhu cầu vay nợ để bảo đảm các nhu cầu cân đối tài chính, có nguồn lực để thúc đẩy phát triển là vô cùng cần thiết. Tính bền vững của nợ công không chỉ phụ thuộc vào mức độ nợ của một quốc gia mà còn phụ thuộc vào khả năng tiếp tục vay nợ của quốc gia, trong đó mức tín nhiệm quốc gia đóng vai trò hết sức quan trọng để các nhà đầu tư có lòng tin đối với quốc gia vay nợ, tránh được khủng hoảng về tính thanh khoản.
Hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam tăng
Qua các đợt đánh giá bền vững nợ hàng năm, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đều đánh giá cao việc triển khai hiệu quả cam kết củng cố tài khóa và biện pháp tái cơ cấu, kiểm soát chặt chẽ nợ công của Chính phủ Việt Nam. Các tổ chức này đánh giá, nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam hiện ở mức bền vững. Yếu tố này cũng góp phần quan trọng để các tổ chức xếp hạng quốc tế liên tục nâng hạng hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam trong thời gian gần đây.          
Cụ thể, ngày 5-4-2019, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Standard & Poor’s (S&P) nâng hệ số tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam lên 1 bậc, từ mức BB- lên mức BB, triển vọng "Ổn định". Đây là lần đầu tiên tổ chức này cải thiện xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam kể từ tháng 12-2010. Theo nhận định của S&P, ổn định chính trị, tăng trưởng kinh tế vĩ mô vững chắc trong thời gian dài phản ánh cải thiện rõ rệt về nền tảng thể chế của Việt Nam. S&P dự báo triển vọng tăng trưởng của Việt Nam sẽ được duy trì trong thời gian tới, góp phần cải thiện hồ sơ tín dụng của nước ta. Triển vọng "Ổn định" thể hiện dự báo nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhanh, phản ánh môi trường hoạch định chính sách của nước ta dần được cải thiện. Theo đánh giá của hãng xếp hạng này, nhìn chung, các chỉ tiêu kinh tế đối ngoại của Việt Nam được đánh giá tích cực. Quy mô nợ nước ngoài của Việt Nam được cải thiện.
Với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, công tác quản lý nợ công những năm gần đây đạt nhiều kết quả tích cực, đóng góp quan trọng vào việc hoàn thành toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, ổn định vĩ mô và tăng cường hệ số tín nhiệm quốc gia.
Việt Nam đã thực hiện tốt nhiệm vụ huy động vốn vay với chi phí thấp gắn liền với mức độ rủi ro hợp lý để bổ sung nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế-xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển thị trường vốn, thị trường trái phiếu trong nước. Việc kiểm soát hiệu quả, bảo đảm các chỉ tiêu về nợ nằm trong giới hạn cho phép; với chủ trương thực thi chính sách tài khóa thận trọng, tốc độ tăng quy mô nợ công đã giảm từ mức 18,1% giai đoạn 2011-2015 xuống còn 8,2%/năm trong giai đoạn 2016-2018; nợ công so với GDP giảm từ mức 63,7% vào năm 2016 xuống còn 56,1% hiện nay. 
Trên cơ sở dự báo tình hình thực hiện vay, trả nợ và các hạn mức nợ, Chính phủ cho rằng đến cuối năm 2019 dự kiến các chỉ tiêu nợ so với GDP duy trì trong các ngưỡng an toàn được Quốc hội cho phép và tiếp tục xu hướng giảm. Chính phủ dự báo đến cuối năm 2020 nợ công còn khoảng 54,3% GDP, nợ Chính phủ khoảng 48,5% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP khoảng 45,5%. Dự báo này được tính toán trên cơ sở dự kiến GDP theo giá hiện hành năm 2020 đạt 6.807 nghìn tỷ đồng. Nợ công năm tới dù tiếp tục giảm về tỷ lệ so với GDP nhưng xét về số tuyệt đối thì vẫn tăng do quy mô GDP của nền kinh tế Việt Nam tăng lên (quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2018 là 5.535,3 nghìn tỷ đồng). 3 nguyên nhân khiến nợ công so với GDP tiếp tục giảm trong năm nay. Đầu tiên là tình hình cân đối NSNN diễn biến thuận lợi, qua đó giảm nhu cầu huy động vốn của Chính phủ để bù đắp bội chi cho đầu tư phát triển. Kế đó, các giải pháp quyết liệt nhằm đẩy mạnh tốc độ giải ngân trong những tháng cuối năm nếu được triển khai hiệu quả sẽ đưa tỷ lệ giải ngân nguồn vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài năm 2019 đạt khoảng 78,7% kế hoạch năm. Nguyên nhân thứ ba là dư nợ bảo lãnh Chính phủ tiếp tục giảm do Chính phủ siết chặt.
Theo ông Võ Hữu Hiển, Phó cục trưởng Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính), nhằm tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại nợ công, Bộ Tài chính đã giảm dần tỷ trọng nợ nước ngoài, tập trung huy động vốn trong nước với lãi suất hợp lý, phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP) kỳ hạn dài để giảm áp lực trả nợ trong ngắn hạn. Nhờ đó, thúc đẩy phát triển thị trường TPCP trong nước thông qua đa dạng hóa các sản phẩm và mở rộng cơ sở nhà đầu tư dài hạn, đồng thời siết chặt việc cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay mới, hạn chế rủi ro nghĩa vụ nợ dự phòng cho NSNN. Cụ thể, cơ cấu nợ Chính phủ có chuyển biến khả quan theo hướng giảm dần sự phụ thuộc vào các khoản vay nước ngoài. Tỷ trọng dư nợ trong nước hiện nay chiếm khoảng 62% nợ Chính phủ (so với tỷ trọng 40% vào năm 2010). Từ đầu năm 2019 đến nay, kỳ hạn phát hành TPCP bình quân duy trì ở mức rất dài là 13,3 năm, tăng mạnh so với mức bình quân 4,8 năm trong giai đoạn 2011-2015. Lãi suất phát hành giảm đáng kể, góp phần giảm chi phí huy động vốn cho NSNN. Lãi suất phát hành TPCP trong nước giảm từ mức bình quân 12%/năm trong giai đoạn 2011-2015 xuống còn khoảng 4,95%/năm từ đầu năm 2019 đến nay. 
Bố trí đủ nguồn để trả nợ theo cam kết
Trong những năm vừa qua, Chính phủ luôn chủ động bố trí đủ nguồn trong dự toán cân đối ngân sách để trả nợ trong mức đã được Quốc hội phê duyệt, theo đúng cam kết với các nhà đầu tư, không để xảy ra tình trạng nợ quá hạn ảnh hưởng đến uy tín của Chính phủ và hình ảnh của Việt Nam trên thị trường tài chính quốc tế. Chỉ tiêu nghĩa vụ trả nợ so với thu NSNN được duy trì ở mức hợp lý. Đến cuối năm 2018 đạt khoảng 15,9%, thấp hơn ngưỡng an toàn được Quốc hội cho phép là 25%...
Trong bối cảnh cân đối ngân sách cho chi trả nợ còn nhiều khó khăn, đồng thời để phòng ngừa rủi ro thanh khoản cho danh mục nợ công, trong thời gian tới Bộ Tài chính cho biết, sẽ tiếp tục theo dõi diễn biến thị trường để triển khai các phương án mua lại, hoán đổi TPCP đáo hạn trong năm 2020 và năm 2021 tại các thời điểm trung-dài hạn. Việc quản lý nợ công và tái cơ cấu nợ công từ nay đến cuối giai đoạn 2020 và giai đoạn 5 năm tiếp theo cần được tiếp tục triển khai đồng bộ với việc thực hiện các mục tiêu, giải pháp cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh; trong đó, có cơ cấu lại NSNN, đầu tư công, khu vực doanh nghiệp nhà nước, hệ thống các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng (TCTD). Bộ Tài chính sẽ tiếp tục kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu an toàn nợ công. Việc nghiên cứu, đề xuất các ngưỡng an toàn nợ công cho giai đoạn 5 năm tới sẽ được đánh giá hết sức thận trọng, không chỉ tập trung vào quy mô nợ so với GDP mà còn phải phù hợp khả năng chi trả nợ của NSNN, ưu tiên tạo thêm dư địa để bố trí nguồn lực ngân sách cho đầu tư phát triển.
Đối với vốn vay nước ngoài, Bộ Tài chính sẽ thực hiện đồng bộ các chủ trương, chính sách lớn trong việc huy động, quản lý và sử dụng vốn vay ODA, vay ưu đãi, tập trung cho chi đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên. Đặc biệt, Bộ Tài chính sẽ kiểm soát chặt chẽ các khoản vay của cơ quan địa phương, hoạt động vay nợ nước ngoài của doanh nghiệp và TCTD theo hình thức tự vay, tự trả, đặc biệt là các khoản nợ ngắn hạn.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, nợ công của Việt Nam vẫn đang được kiểm soát chặt chẽ. Do đó, các cán bộ, đảng viên cần nắm vững tình hình, tuyên truyền cho người thân, bạn bè và quần chúng. Để từ đó củng cố niềm tin về sự phát triển ngày càng bền vững của nền kinh tế nước ta, tránh bị tác động tiêu cực bởi các thông tin không khách quan, xuyên tạc sự thật nhằm mục đích xấu.

CẦN NHẬN THỨC THẤU ĐÁO VỀ KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ VỚI CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG, AN NINH



Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế-xã hội (KH-XH), với củng cố quốc phòng, an ninh (gọi tắt là kết hợp kinh tế với quốc phòng) là quan điểm, chủ trương của Đảng ta và đã triển khai thực hiện qua nhiều kỳ đại hội.
Quan điểm này xuất phát từ truyền thống dựng nước phải đi đôi với giữ nước của dân tộc Việt Nam đã hình thành từ hàng nghìn năm qua và được trao truyền từ thời đại này sang thời đại khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Chính từ sự kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng đã giúp cho đất nước ta luôn ổn định về chính trị, giữ vững độc lập, chủ quyền, bảo đảm tốt trật tự an toàn xã hội, không ngừng mở rộng các quan hệ đối ngoại... Đó là cơ sở để đưa nước ta từ một nước lạc hậu, kém phát triển, trở thành một nước đang phát triển, với mức thu nhập trung bình như hiện nay.
Những năm gần đây, với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương, sự tham mưu đúng, trúng của các cơ quan, đơn vị thuộc LLVT, công tác kết hợp kinh tế với quốc phòng từ cấp vĩ mô đến vi mô đã thu được những kết quả rất đáng khích lệ. Qua tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc cho thấy: Việc kết hợp kinh tế với quốc phòng đã được nhiều bộ, ngành, địa phương chú trọng thực hiện. Ở các bộ, ngành đã nhận thức rõ công tác quốc phòng không phải là chỉ riêng LLVT tiến hành, nên đã có những đóng góp tích cực từ việc tham mưu với Đảng, Nhà nước hoạch định chính sách, đường lối, cho đến trực tiếp phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc LLVT triển khai thực hiện các dự án, đề án về kết hợp kinh tế với quốc phòng trên khắp các vùng miền, biên giới, hải đảo. Do đó thế trận phòng thủ trên bộ, trên không, trên biển không ngừng được củng cố, góp phần giữ vững chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, giữ vững không phận và chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Đối với các địa phương, nhận thức của đội ngũ cán bộ chủ trì cũng đã có những chuyển biến tích cực. Hệ thống văn bản lãnh đạo, chỉ đạo việc phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng, an ninh đã được ban hành có tính thường kỳ. Nhiều địa phương đã cố định một tỷ lệ ngân sách, bố trí diện tích tự nhiên để xây dựng các công trình quân sự, quốc phòng, xây dựng căn cứ chiến đấu trong khu vực phòng thủ. Tổng hợp tất cả các yếu tố lại chúng ta có thể thấy, hệ thống khu vực phòng thủ trên địa bàn cả nước đang dần được hình thành và có sự liên kết khá vững chắc cả trên bộ, trên không, trên biển; tiềm lực quân sự trong khu vực phòng thủ đang được tăng cường, có thể đáp ứng được yêu cầu tác chiến khi có chiến tranh xảy ra.
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế cũng thấy nổi lên một số vấn đề, đó là vẫn còn một số người cho rằng hiện nay chỉ cần tập trung phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập là được, còn chiến tranh chưa xảy ra nên chưa cần đầu tư nhiều nguồn lực vào công tác quốc phòng. Nguyên nhân dẫn đến nhận thức sai lệch này là do hiểu không đúng về vai trò, mối quan hệ của kinh tế đối với quốc phòng, quốc phòng đối với kinh tế trong một quốc gia độc lập, thống nhất có chủ quyền. Do đó họ muốn tách rời quan hệ kinh tế với quan hệ quốc phòng, tách rời việc tạo tiềm lực kinh tế với tạo tiềm lực quốc phòng. Một phần nữa là do tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, cho rằng đã làm kinh tế thì chỉ quan tâm đến lợi nhuận, lợi ích cá nhân hoặc lợi ích cục bộ. Chính từ nhận thức trên đã dẫn đến những hiện tượng, hành vi có tác động xấu tới việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trong thực tiễn, đó là:
Trước hết, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư phát triển KT-XH ở một số địa phương đã có những dấu hiệu chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ của ngành mình, địa phương mình hoặc của một nhóm người; không chú trọng đến tính liên kết, đồng bộ trong phát triển của các lĩnh vực, vùng miền. Điều này một phần xuất phát từ cái gọi là “tư duy nhiệm kỳ” đang tồn tại trong một số cán bộ. Việc làm đó đã khiến nguồn lực đầu tư đổ dồn vào chỗ có thể sinh lợi, còn các nơi khác thì không, kể cả vùng trọng điểm về quốc phòng, an ninh. Hệ lụy của nó là tạo ra sự mất cân đối về nguồn lực giữa các vùng miền, nới rộng khoảng cách giàu nghèo, làm ảnh hưởng đến việc xây dựng thế trận quốc phòng, thế trận lòng dân. Việc ban hành văn bản nhằm vào lợi ích cục bộ là một hiện tượng rất đáng báo động, bởi đây cũng là gốc rễ sinh ra sự thiếu công bằng trong xã hội, là một phần nguyên nhân của hiện tượng khiếu nại, tố cáo vượt cấp, và điều nguy hại là nó sẽ gây ra những hệ lụy rất khó khắc phục trong thực tiễn.
Thứ hai là, hiện nay đang tồn tại hiện tượng cố tình làm sai các hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan chức năng và cơ quan cấp trên trong lĩnh vực kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Có những địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, mặc dù đã được cơ quan chức năng hướng dẫn kỹ càng, đầy đủ trước khi thực hiện các dự án, đề án, nhưng trong tổ chức thực hiện đã cố tình làm sai, làm trái. Vấn đề này thể hiện rất rõ trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, lĩnh vực khai thác du lịch, khoáng sản... Có khá nhiều công trình sai phép, trái phép về độ cao, về phạm vi, diện tích xây dựng, hoặc vị trí, quy mô xây dựng không đúng quy hoạch... Vì vậy, nhiều công trình khi xây dựng lên đã uy hiếp sự an toàn của mục tiêu cần bảo vệ (công trình số 8B phố Lê Trực, Ba Đình, Hà Nội là một điển hình và công trình này đang bị UBND TP Hà Nội yêu cầu tháo dỡ, bảo đảm đúng so với thiết kế và giấy phép xây dựng). Trong thực hiện, vì lợi ích kinh tế nên có những địa phương đã cấp phép cho các doanh nghiệp xây dựng và khai thác dịch vụ du lịch vào các vị trí quan trọng trong thế trận phòng thủ ở địa phương. Có những khu du lịch chiếm cứ toàn bộ một dải bờ biển, hoặc chiếm toàn bộ khu vực có thể tạo nên trận địa phòng ngự tại một điểm cao, sau đó xây dựng các công trình, phá vỡ địa hình tự nhiên, làm ảnh hưởng tới kế hoạch tác chiến phòng thủ của địa phương, trong đó khu lịch sinh thái biển Tiên Sa thuộc bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng có thể gọi là một ví dụ điển hình. Rất may là khu resort này đã bị cơ quan chức năng và chính quyền địa phương đình chỉ thi công. Trong cả nước còn có khá nhiều dự án xây dựng, khai thác khoáng sản trái phép, hoặc sai phép, xuất phát từ lợi ích của một nhóm người, nhưng lại làm phương hại đến lợi ích của cộng đồng và lợi ích quốc gia, làm ảnh hưởng tới khả năng cơ động lực lượng, làm sai lệch kết cấu của thế trận phòng thủ, không đúng quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng của Đảng.
Thứ ba là, có hiện tượng cán bộ nhận thức lơ mơ cả về lý luận và thực tiễn đối với quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng. Do đó khi thực hiện nhiệm vụ đã không thể làm tròn trách nhiệm, hoặc không biết mình làm sai. Nguyên nhân của hiện tượng này là do cán bộ không chịu học tập, nghiên cứu về chủ trương, đường lối của Đảng trong lĩnh vực kết hợp kinh tế với quốc phòng, nên không hiểu được căn nguyên, gốc rễ vấn đề, làm việc theo cảm tính, thiếu căn cứ lý luận và không phù hợp với thực tiễn. Một phần khác là do các thế lực thù địch lôi kéo, gây nhiễu loạn thông tin, khiến cho một số cán bộ không phân biệt được lợi và hại, chỉ nhìn một chiều, nên khi hoạch định chính sách, triển khai chính sách phát triển KT-XH, hoặc giám sát thực hiện... đều dễ mắc sai lầm, tiến hành các dự án, đề án theo kiểu đơn lẻ, thiển cận, thiếu sự quan sát, gắn kết có tính tổng quan giữa phát triển KT-XH với củng cố quốc phòng, an ninh.
Trong nhân dân thì còn một bộ phận thiếu hiểu biết về pháp luật, cộng với lòng tham nên thừa lúc công tác quản lý còn lỏng lẻo, đã cố ý lấn chiếm các khu vực quân sự, quốc phòng, biến đất quốc phòng thành đất của riêng mình. Vì vậy nhiều khu đất đã được quy hoạch thành khu vực xây dựng công trình quân sự, phục vụ sự nghiệp quốc phòng, nhưng một bộ phận người dân đã xâm phạm, canh tác hoặc xây dựng các công trình trong khu vực lấn chiếm. Khi Nhà nước thu hồi thì tỏ thái độ chống đối, chây ỳ, không chịu di dời trả lại mặt bằng cho Nhà nước, khiến cho việc giải phóng mặt bằng trở nên phức tạp. Bên cạnh đó đã xuất hiện một số đối tượng có kiến thức về luật pháp, nhưng lại vào hùa với cái sai hòng trục lợi nên đã hướng lái người dân “cố thủ” trên các khu vực đã lấn chiếm để đòi hỏi quyền lợi. Việc lấn chiếm đất quốc phòng ở khu vực sân bay Miếu Môn hiện nay là một ví dụ điển hình.
Khắc phục hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lĩnh vực kết hợp kinh tế với quốc phòng là việc bắt buộc phải làm. Cần phải làm cho mọi cán bộ và nhân dân hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, từ đó xác định rõ trách nhiệm, bổn phận của mình trong thực hiện chủ trương trên. Vì vậy, phải tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, nêu bật các điển hình tích cực, đồng thời cũng chỉ rõ các hành vi tiêu cực trong lĩnh vực này. Các cơ quan chức năng cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm cho hệ thống văn bản này luôn thống nhất với quan điểm, đường lối của Đảng, tạo cơ sở vững chắc và tính chặt chẽ trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng. Các văn bản trước khi ban hành phải được rà soát, loại bỏ mọi kẽ hở có thể tạo ra lợi ích cục bộ cho một ngành, hoặc một nhóm người. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các dự án, đề án phát triển KT-XH cần được tiến hành nghiêm túc, liên tục, từ khâu xét duyệt cho đến lúc triển khai thực hiện và hoàn thành, tất cả các khâu, các bước phải luôn gắn kết với yếu tố bảo đảm quốc phòng, an ninh. Mọi hành vi sai trái, đi ngược lại quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải bị nghiêm trị theo đúng quy định của pháp luật.
Trên thế giới hiện nay, hầu hết các cường quốc về kinh tế thì đều là các cường quốc về quân sự, quốc phòng, điều đó chứng tỏ kinh tế và quốc phòng là hai thực thể không thể tách rời. Việc Đảng ta đề ra và kiên quyết, kiên trì với quan điểm kết hợp giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh là phù hợp cả về mặt lý luận và thực tiễn khách quan. Kinh tế không phát triển thì không có nguồn lực cho quốc phòng vững mạnh, ngược lại quốc phòng không vững chắc thì không có chỗ dựa cho KT-XH phát triển. Cha ông chúng ta từ xa xưa đã dạy “Thái bình nên gắng sức/Non nước vững nghìn thu”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”... Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, “xây dựng phải đi đôi với bảo vệ”... Đó chính là những khái quát ở tầm mức cao về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong thời đại ngày nay mà cụ thể hóa nó chính là kết hợp kinh tế với quốc phòng. Do vậy, không có lý do gì để quan niệm phát triển kinh tế không gắn kết với quốc phòng, an ninh tồn tại trong tư duy, nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân Việt Nam.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...