Thứ Hai, 28 tháng 10, 2019

CẦN NẮM VỮNG NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG



Điều 4 Hiến pháp năm 2013 xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.
Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, điều này ai cũng biết, nhưng để hiểu sâu vì sao Đảng lại lấy đó làm nền tảng và vì sao chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ra sức bắn phá vào nền tảng tư tưởng của Đảng thì không phải ai cũng tường tận.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là thành tựu trí tuệ của loài người, là một học thuyết khoa học và cách mạng, gồm 3 bộ phận hợp thành là Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học. Chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết cách mạng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ giải thích thế giới, chỉ ra bản chất áp bức, bóc lột, bất công của xã hội tư bản chủ nghĩa, chỉ ra con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức, là con đường đấu tranh cách mạng vô sản, trong cuộc cách mạng vô sản đó, giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là giai cấp lãnh đạo thông qua chính đảng của mình là Đảng Cộng sản; mà quan trọng hơn cả, đó còn là học thuyết giải phóng loài người.
Trên con đường tìm đường cứu nước, năm 1920, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Người nói: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”. Lý do để Người nói vậy là vì “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực thì trong nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”. Ngược lại, ở cách mạng Nga, Người viết “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc Pháp khoe khoang bên An Nam...”. Hiểu một cách đơn giản, chỉ có cách mạng vô sản mới đem lại dân chủ, tự do hạnh phúc cho số đông là nhân dân lao động, còn cách mạng tư sản chỉ đem lại dân chủ, tự do cho số ít trong giai tầng xã hội (giai cấp tư sản).
Đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã lãnh đạo con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua hết thác ghềnh này đến thác ghềnh khác, thực hiện thành công cách mạng giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc và đang lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.


ĐẤU TRANH, NGĂN NGỪA CỔ SÚY QUAN ĐIỂM, TƯ TƯỞNG DÂN CHỦ CỰC ĐOAN



           Những ngày gần đây, khi mà toàn Đảng đang tích cực chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng, trên một số diễn đàn mạng xã hội (MXH) liên tục xuất hiện những bài viết chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam của những kẻ cuồng tín, tôn thờ dân chủ, thể chế “tam quyền phân lập” phương Tây, bất đồng chính kiến với Nhà nước Việt Nam. Trong đó bài “Vài suy nghĩ trước thềm Đại hội XIII” và một số bài bình luận về các sự kiện chính trị trong nước như kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên facebook cá nhân của N.Đ.C, cư trú ở quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội là một ví dụ điển hình.

      Điều lo ngại ở đây là, những bài viết với nội dung không có gì mới theo kiểu này đã nhận được hàng chục lượt chia sẻ, hàng trăm bình luận của người theo dõi với những từ ngữ cực đoan, phản động, thể hiện nhận thức lệch lạc, méo mó, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Đây là hiện tượng rất nguy hiểm, giống như thứ vi-rút độc hại lan truyền trong xã hội, ngấm vào tâm can con người, dẫn tới những hệ lụy khó lường, thúc đẩy “tự diễn biến", “tự chuyển hóa”, ảnh hưởng đến sự ổn định của đất nước. 

              Khi xem những bài viết này, trước hết cần khẳng định rằng, những nội dung trong đó chẳng có gì mới so với sự đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội đang diễn ra mạnh mẽ ở nước ta từng ngày. Tuy nhiên, điều lo ngại ở đây là, trong số những kẻ tự khoác áo dân chủ cực đoan ấy lại có cả các trí thức, nhà khoa học có thâm niên cống hiến đã về nghỉ hưu, những người từng được dân chở che, được Đảng nuôi dưỡng học hành để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Vì là những người có ít nhiều ảnh hưởng đến xã hội nên không lạ khi những bài viết của họ được nhiều người đọc, chia sẻ và bình luận. Và biết đâu trong đó những tài khoản chia sẻ, bình luận ấy có cả cán bộ, đảng viên, công chức đang công tác trong các cơ quan, đơn vị, chính quyền các địa phương, những người từng biết, từng kết bạn với những nhà “tư tưởng dỏm”. Bởi có một thực tế là rất khó có thể xác định được danh tính những lời bình luận trong “ngôi nhà ảo” trên in-tơ-nét. 

           Từ lâu, những nội dung chất chứa trong các bài viết chống phá Đảng, Nhà nước ta của các thế lực phản động, thù địch và cả của những nhà “tư tưởng dỏm” ở trong nước đã không còn quá lạ lẫm với xã hội Việt Nam. Điều mới mẻ dễ thấy là mỗi khi có một vụ việc tiêu cực nào đó được đưa ra ánh sáng là chúng chộp lấy, khoét sâu rồi quy chụp đó là bản chất, là lỗi hệ thống. Ví dụ như việc ông Nguyễn Bắc Son và Trương Minh Tuấn, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông bị truy tố là họ vồ lấy, quy kết ngay rằng, nguyên nhân chính là do Đảng dung nạp và sử dụng toàn những cán bộ, đảng viên vụ lợi, thiếu đức, thiếu tài...  

            Một trong những chiêu thức vô cùng nguy hiểm mà các nhà “dân chủ dỏm” hướng tới là kêu gào thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” theo mô thức phương Tây. Núp dưới chiêu bài “dân chủ hóa”, họ câu kết để hình thành “kênh phản biện” và cho ra đời các tổ chức đối trọng với các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đòi giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Họ lợi dụng các diễn đàn tư tưởng, thông qua hoạt động hợp tác, nghiên cứu khoa học... để tuyên truyền về “xã hội dân sự”, đề cao dân chủ tư sản, nhằm chuyển hóa lập trường, tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

         Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã xác định đó là những biểu hiện có nguy cơ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhanh nhất. Tuy nhiên, có một thực tế là việc đấu tranh với những bài viết có tư tưởng lệch lạc và phản động ấy ở ta lại chưa hiệu quả và cá biệt có một số cán bộ, đảng viên thờ ơ với việc đấu tranh này. 

            Như đã biết, không chỉ ở Việt Nam mà ở bất cứ xã hội nào cũng tồn tại những kẻ “bơi ngược”, chống đối với nhiều cách thức, chiêu bài, trong đó có hiện tượng đấu tranh dân chủ cực đoan. Đó là những đối tượng luôn ảo tưởng, khẳng định những nhận định của họ là đúng và theo đuổi mục tiêu đến cùng. Vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà họ nuôi trong mình những tư tưởng trái ngược với nền tảng tư tưởng của Đảng, thể chế nhà nước cũng như nhận thức chung của toàn xã hội. Ở Việt Nam, họ tìm đến nhau để có “tiếng nói chung”, kết bè, kết bạn, thảo luận những vấn đề to lớn liên quan tới vận mệnh quốc gia mà chẳng có gì để bảo đảm ngoài vỏ bọc “yêu nước, thương dân”, “dân chủ, nhân quyền” giả hiệu. Theo các nhà khoa học, tư tưởng cực đoan có thể lây lan nhanh trong xã hội nếu không có biện pháp phòng ngừa kịp thời. 

           Thực tế cho thấy, vào thời kỳ trước khi Liên Xô và các nước XHCN Ðông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí với chính quyền đã tìm mọi thủ đoạn phát tán các tài liệu xuyên tạc, chống đối vào cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân và được gọi bằng tiếng Anh là “samizdat” (xuất bản lậu những sách bị cấm). Còn ở Việt Nam hiện nay, ngoài các ấn phẩm thù địch, cắt ghép, họ tận dụng tối đa lợi thế của truyền thông và MXH, phát tán tư tưởng phản động, hòng từ đó len lỏi, thấm dần vào suy nghĩ, nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân.

Thế nên, để không bị nhiễm độc bởi những tư tưởng lệch lạc, để không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị và đặc biệt là để luôn có được động cơ làm việc đúng đắn, hướng tới sống tốt, cống hiến sức mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì rất cần có những giải pháp căn cơ, đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở mỗi cơ quan, đơn vị và địa phương.

           Một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu là quán triệt phương châm chỉ đạo trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là: Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, cấp bách. Và, để “chống” có hiệu quả. Nghị quyết chỉ rõ: “Chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị”. Cần chủ động hơn nữa trong công tác tuyên truyền để thu hút mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân cùng tham gia đấu tranh trên cơ sở hiểu rõ bản chất của những kẻ dân chủ cực đoan, đặc biệt là về âm mưu, thủ đoạn và các biện pháp tiến hành. Các cấp ủy đảng cần quán triệt tình hình, thông báo, dự báo sát mọi thủ đoạn của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí, có đối sách thích hợp để vạch trần, chứng minh, bác bỏ những luận điệu vu khống, bịa đặt. Nội dung tuyên truyền cần dễ hiểu, dễ nhớ, làm rõ bản chất vấn đề, giúp mọi người trong xã hội luôn nêu cao cảnh giác. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cũng cần tăng cường kiểm tra, kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên có hành vi tiếp tay, chia sẻ, bình luận các bài viết phản động, làm tổn hại lợi ích của xã hội, lợi ích của nhân dân.

          Cơ quan chức năng cần kiểm tra, duy trì và thực hiện tốt Luật An ninh mạng đã ban hành, trong đó kiên quyết xử lý các MXH cố tình dung túng, chứa chấp các nội dung bịa đặt, phản động. Trong khi Đảng, Nhà nước và toàn dân ta hết sức đồng tình với đường lối xây dựng nhà nước XHCN độc lập, tự chủ, đất nước dân chủ, công bằng và giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân, thì những kẻ “chọc gậy bánh xe” ở trong và ngoài nước tăng cường tuyên truyền, đặt điều, nói xấu và vu khống, xuyên tạc đường lối đổi mới và cả những chủ trương, chính sách đúng đắn. Nêu cao cảnh giác, giữ vững trận địa tư tưởng, tham gia MXH một cách thông minh, xây dựng đoàn kết nội bộ và đoàn kết toàn dân tộc chính là phương cách tốt nhất để đấu tranh với các thủ đoạn tuyên truyền của những nhà “dân chủ dỏm”. Tham gia thế giới ảo có bản lĩnh và chừng mực chính là cách tốt nhất để không vô tình trở thành phương tiện, tay chân cho những mưu đồ phản động, bán nước, hại dân. 

https://moha.gov.vn/nghi-quyet-tw4/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/dau-tranh-ngan-ngua-co-suy-quan-diem-tu-tuong-41239.html



BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI



           Năm 2019 là tròn 50 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của Đảng ta, dân tộc ta, đi vào cõi vĩnh hằng và tròn 50 năm chúng ta thực hiện Di chúc của Người. Bảo vệ và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, không gì cụ thể, thiết thực hơn việc cần thấm nhuần sâu sắc những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua bản Di chúc. 
           Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều thời gian và tâm huyết, tự mình lặng lẽ chuẩn bị rất công phu và chu đáo để hoàn thành bản Di chúc trong vòng 4 năm (từ 1965 đến 1969), giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta đang diễn ra rất ác liệt, đầy gian khổ, hy sinh. Chỉ với hơn 1.000 từ, vô cùng ngắn gọn, Di chúc của Người đã truyền cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ý chí và quyết tâm sắt đá, niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh vĩ đại của dân tộc Việt Nam, sức mạnh của chính nghĩa và chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
                "Di chúc của Người tỏa sáng giá trị dân tộc và thời đại, thấm đậm văn hóa và nhân văn Hồ Chí Minh, mãi mãi là ngọn cờ quy tụ sức mạnh toàn dân tộc, đã, đang và sẽ tiếp thêm sức mạnh, nguồn năng lượng to lớn cho Đảng ta, dân tộc ta, nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam muôn vàn yêu quý của chúng ta"- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng. Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Bí thư Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, khẳng định, Di chúc của Bác là sản phẩm của một trí tuệ lỗi lạc, một trái tim nhiệt huyết, giàu lòng yêu thương, kết tinh tình cảm cao đẹp của một nhà yêu nước và đồng thời là người chiến sĩ cộng sản kiệt xuất vĩ đại. Đó là văn kiện lịch sử ở tầm cương lĩnh với tầm nhìn vượt thời gian, mang tinh thần cách mạng cao cả và nhân văn sâu sắc, chứa đựng các giá trị tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, mang niềm tin sắt son không gì lay chuyển được vào tương lai thắng lợi tất yếu của cách mạng. Bản Di chúc sau khi được công bố đã gây xúc động mạnh mẽ, như một lời hiệu triệu, được truyền đi, lan tỏa, trở thành ý chí, quyết tâm và sức mạnh to lớn của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, tiến lên “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. “Trước lúc đi xa, điều dặn dò trước hết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nói về Đảng, vì hơn ai hết, Người hiểu rõ trọng trách, sứ mệnh lịch sử lớn lao mà dân tộc ta, nhân dân ta đã trao trọn cho Đảng. Với bốn chữ “thật” được nhắc đi nhắc lại trong Di chúc, Bác thiết tha mong muốn: Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh.

Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, cho rằng, kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Bác là dịp nghiên cứu và nhận thức sâu sắc hơn về giá trị lịch sử và ý nghĩa lý luận, vai trò cương lĩnh, định hướng của bản Di chúc mà Người để lại cho Đảng và nhân dân ta; đồng thời nhìn nhận, đánh giá về những kết quả đã đạt được, những thành tựu nổi bật và cả những hạn chế, khuyết điểm cần phải khắc phục, sửa chữa qua chặng đường 50 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với quyết tâm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, từ một nước nông nghiệp lạc hậu, thường xuyên thiếu lương thực, thực phẩm, phải xin viện trợ và nhập khẩu, đến nay Việt Nam đã trở thành một trong những nước phát triển và đứng hàng đầu trong xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp trên thế giới…
             Theo đồng chí Phạm Minh Chính, dù đã đạt được nhiều thành tích to lớn, nhưng cần phải nhận thấy rằng, nước ta hiện vẫn ở nhóm thu nhập trung bình thấp, kinh tế phát triển chưa bền vững, nguy cơ tụt hậu về năng suất lao động, chênh lệch giàu nghèo vẫn còn lớn, nhiều vấn đề xã hội còn gây bức xúc, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân ta cố gắng, nỗ lực lao động, sáng tạo, tiếp thu những thành tựu khoa học - công nghệ vào sản xuất, tạo nền tảng để tiếp tục xây dựng đất nước Việt Nam sánh vai các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong muốn. Chúng ta “còn nợ” nhiều điều với Bác Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định rõ: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi. Vì vậy, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã trở thành nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên và lâu dài, đem lại những kết quả thiết thực, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, phát triển nhanh và bền vững đất nước, xây dựng văn hóa con người Việt Nam, tăng cường quốc phòng, an ninh, nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế. GS-TS Mạch Quang Thắng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, cán bộ, đảng viên còn phải tiếp tục thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tu dưỡng, rèn luyện nhiều hơn mới xứng đáng là thành viên của một Đảng cách mạng chân chính do Người sáng lập, rèn luyện. “Thật sự là đội ngũ cán bộ, đảng viên còn “nợ” nhiều điều trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà chưa thực hiện được cho thật tốt. 50 năm chỉ là một chặng đầu của quá trình thực hiện ấy. Việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn ở phía trước...”, GS-TS Mạch Quang Thắng chia sẻ.
          Nhà báo Nhị Lê, nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, khẳng định, noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là để chúng ta học, thực hành làm gương hay nêu gương một cách xứng đáng và danh dự với tư cách là cán bộ, đảng viên của Đảng cầm quyền, trước nhân dân và xã hội. Cán bộ, đảng viên cần phải noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh một cách thành tâm và hiệu quả nhất, thật sự xứng đáng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, để công việc của chúng ta thấm đẫm đạo lý cao cả và tính nhân văn thiêng liêng. Nhìn rộng hơn, điều cần khắc sâu là: làm gương hay nêu gương và noi gương là một trong những phương diện quan trọng, để Đảng không chỉ tiếp tục đổi mới phương thức cầm quyền của mình, mà còn thiết thực xây dựng Đảng về đạo đức. Đây là phương diện thứ tư mà Đại hội XII của Đảng chỉ rõ về việc xây dựng mỗi cán bộ, đảng viên thật sự xứng đáng vừa là đạo đức, văn minh, vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản Di chúc của Người”, nhà báo Nhị Lê dẫn giải.
            Mới đây, trong diễn văn tại lễ kỷ niệm cấp quốc gia 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 50 năm ngày mất của Người, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, chúng ta tự hào với tất cả những thành quả đã đạt được, song cũng không khỏi trăn trở, day dứt trước những gì chúng ta chưa làm được hoặc làm chưa trọn vẹn. Không ít những khuyết điểm, yếu kém và khó khăn, thách thức đang cản trở tiến trình đổi mới, xây dựng đất nước, nếu không kiên quyết, kiên trì ngăn chặn, đẩy lùi sẽ đe dọa tới vận mệnh của Tổ quốc, sự sống còn của chế độ và vai trò lãnh đạo của Đảng. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực phấn đấu, ra sức phát huy ưu điểm, sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, yếu kém, tuyệt đối không chủ quan, tự mãn, không say sưa với thắng lợi, hay bi quan dao động trước thử thách, khó khăn. “Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta nguyện kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiếp tục thực hiện lý tưởng cao cả của Người... Chúng ta nguyện giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng “như giữ gìn con ngươi của mắt mình”, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, làm hạt nhân cho khối đại đoàn kết toàn dân; tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định.

NGĂN CHẶN HIỆN TƯỢNG BÈ PHÁI, LŨNG ĐOẠN CÔNG TÁC CÁN BỘ



Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta rút ra kết luận: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Tuy nhiên thời gian qua, ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương, hiện tượng “cánh hẩu”, kéo bè cánh lũng đoạn công tác cán bộ dẫn tới lũng đoạn các hoạt động khác đã xảy ra ở mức độ nghiêm trọng. Hiện tượng này cần được khắc phục, ngăn chặn kịp thời nhằm xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”.
1. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần lên án “bệnh” kéo bè, kéo cánh và gọi đây là căn bệnh “cánh hẩu” trong Đảng. Người đúc kết: Bè cánh được lôi kéo từ những người có họ hàng, là bà con, cháu, chắt, thân tín, thậm chí mở rộng ra là người cùng xóm, cùng quê; rồi “chén chú, chén anh”, tung hô nhau, ủng hộ nhau, dùng số đông, lợi dụng và bóp méo nguyên tắc tập trung dân chủ, dồn những người tốt, có tài nhưng không cùng “cánh” xuống để “tiêu diệt”, để cát cứ, thao túng…Tuy nhiên, thực trạng này vẫn tồn tại nhức nhối. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) ngày 30-10-2016 “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” đã chỉ ra các hiện tượng: Cục bộ, bè phái; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích…; và coi đây là những biểu hiện cần kiên quyết ngăn chặn.
Trên thực tế, ở nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị, thói cục bộ, bè phái dễ có cơ hội xuất hiện vào những thời điểm nhạy cảm, như: Quyết định về công tác nhân sự (lấy phiếu quy hoạch, lấy phiếu tín nhiệm…), bầu cử trong đại hội hay trong hội nghị biểu quyết đầu tư các dự án quan trọng. Khi những người nắm giữ trọng trách trong các cơ quan, đơn vị không vì lợi ích chung sẽ rất dễ để cho các “nhóm lợi ích” lèo lái, thậm chí tranh giành, “xâu xé” lẫn nhau khiến nội bộ mất đoàn kết. Đây là “mảnh đất màu mỡ” cho chủ nghĩa cá nhân phát triển, chủ nghĩa cơ hội lộng hành. Ngoài ra, tình trạng bè phái cũng không kích thích, khuyến khích được sự tận tâm cống hiến của những cá nhân có thực tài; tạo kẽ hở để những kẻ cơ hội tìm mọi thủ đoạn, kể cả việc "mua quan, bán chức" luồn lách vào hệ thống các cơ quan nhà nước.
Thời gian qua, hiện tượng bổ nhiệm người nhà, người thân diễn ra ở nhiều địa phương, đơn vị. Điển hình như năm 2015, Bộ Giao thông - Vận tải đã vào cuộc xác minh mối quan hệ gia đình của 30 người đang làm việc tại Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Nam và các đơn vị thành viên với tổng giám đốc đơn vị này. Kết quả cho thấy, có 15/30 người có quan hệ gia đình với tổng giám đốc, trong đó 12 người giữ chức vụ quản lý và một người trong số này là phó tổng giám đốc... Năm 2016, Bộ Nội vụ đã chỉ ra 9 địa phương, đơn vị có hiện tượng “cả nhà làm quan”. Đáng chú ý là nhiều trường hợp bổ nhiệm người nhà, người thân không bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn, như ở các tỉnh: Quảng Nam, Gia Lai, Bình Định...Tuy nhiên, ở nhiệm kỳ Đại hội khóa XII, Đảng ta đã đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó có việc xử lý nghiêm sai phạm của cán bộ cấp cao do liên quan đến bổ nhiệm người nhà, người thân không đúng quy định. Nổi bật trong số này là việc Ban Bí thư kỷ luật ông Lê Phước Thanh bằng hình thức cách chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam nhiệm kỳ 2010-2015 do bổ nhiệm “thần tốc” con trai là Lê Phước Hoài Bảo.
Hoặc ông Vũ Huy Hoàng (nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương) đã bị cấp có thẩm quyền xóa tư cách nguyên Bộ trưởng, Bí thư Ban Cán sự đảng Bộ Công Thương nhiệm kỳ 2011-2016 vì nhiều sai phạm, trong đó có việc tiếp nhận, bổ nhiệm con trai là Vũ Quang Hải sai quy định…  Trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng khóa XII, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Tổ chức Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương cũng như các tỉnh ủy, thành ủy đã đề ra nhiều giải pháp mới hướng tới khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác cán bộ, trong đó coi việc ngăn chặn tình trạng bè phái, lũng đoạn công tác cán bộ là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Có thể nói, chưa bao giờ một hệ thống kiểm soát, quy trình về công tác cán bộ lại đầy đủ, công khai, minh bạch như hiện nay. Rõ nhất là gần đây, việc Bộ Chính trị (khóa XII) ban hành Quy định số 205-QĐ/TƯ ngày 23-9-2019 “Về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” đã nhận được sự đồng tình rất cao của dư luận.
Những nội dung rất cụ thể trong Quy định số 205-QĐ/TƯ cùng với nhiều văn bản được Bộ Chính trị (khóa XII) ban hành trong 2 năm qua, như: Quy định 105-QĐ/TƯ ngày 19-12-2017 về “Phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm giới thiệu cán bộ ứng cử”; Quy định số 132-QĐ/TƯ ngày 8-3-2018 về “Việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị”…, sẽ góp phần hữu hiệu để phòng ngừa, kiểm soát và ngăn chặn tình trạng bè phái, lũng đoạn công tác cán bộ.
Điểm nổi bật trong các văn bản mới là quy rõ trách nhiệm cá nhân đến từng vấn đề, từng khâu trong quy trình của công tác cán bộ, tránh tình trạng “công cá nhân, tội tập thể”, “hòa cả làng” như trước đây… Như vậy, vấn đề mấu chốt là những tổ chức, cá nhân được giao trọng trách về công tác cán bộ cần phải thực hiện nghiêm hệ thống các văn bản đã có, không được “đi ngang”, “đi tắt”, phá bỏ quy trình và nếu vi phạm phải xử lý nghiêm. Đặc biệt, phải tiếp tục nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác tổ chức, tránh tình trạng né trách nhiệm hay lợi dụng thông tin để tư lợi. Tăng cường sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân đối với công tác cán bộ. Cùng với đó là người đứng đầu, cá nhân thành viên cấp ủy, tổ chức Đảng, lãnh đạo tổ chức, cơ quan, đơn vị cần đề cao trách nhiệm cá nhân; coi việc thực hiện nhiệm vụ khách quan, công tâm là lương tâm, nhân phẩm, lòng tự trọng của người có thẩm quyền trong công tác cán bộ. Ngoài ra, cần nhân rộng việc thực hiện chế độ thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý theo khung năng lực vị trí việc làm, có đề án tranh cử rõ ràng và ràng buộc trách nhiệm, nhằm lựa chọn được người có phẩm chất và năng lực tham gia xây dựng cơ quan, đơn vị. 
Trước mắt, thực hiện Quy định số 205-QĐ/TƯ và các văn bản khác liên quan cần được triển khai đồng thời với Chỉ thị số 35-CT/TƯ ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, nhất là trong công tác chuẩn bị nhân sự bộ máy Đảng, chính quyền, tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội các cấp. Trong đó, cần thực hiện tốt công tác luân chuyển, điều động, bố trí, sắp xếp cán bộ chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 gắn với việc bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương…
Mục tiêu cụ thể là phải thực hiện cho bằng được chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong phiên bế mạc Hội nghị lần thứ mười một Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII: “Kiên quyết không để lọt vào cấp ủy những cán bộ vi phạm, thoái hóa, biến chất! Bất cứ trường hợp nào mà vi phạm kỷ luật, chúng ta phải xử lý nghiêm minh, làm nghiêm từ trên xuống dưới để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, để lấy lại và củng cố niềm tin và tình thương yêu, quý trọng của nhân dân”. Việc sớm ngăn chặn cho được tình trạng “cánh hẩu”, bè phái, lũng đoạn công tác cán bộ, tiến tới lũng đoạn cơ quan, đơn vị, địa phương cũng đồng nghĩa với việc góp phần đưa Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) vào cuộc sống.


Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2019

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG THƯ NGỎ, GÓP Ý ĐẠI HỘI XIII ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC


                                                                                          [1]

Đảng Cộng sản Việt Nam đang tiến hành các bước chuẩn bị cho đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII. Lợi dụng thời điểm diễn ra sự kiện quan trọng này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, chống phá dưới nhiều hình thức, như “gửi thư”, “trao đổi”, “góp ý cho Đại hội XIII”…
Họ cho rằng, Đại hội XIII là thời cơ để đổi mới chính trị theo hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng nhà nước dựa trên nền tảng “xã hội dân sự”. Thực chất, ẩn khuất đằng sau những góp ý này là ý đồ xóa bỏ, lật đổ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hình thức “gửi thư”, “trao đổi”, “góp ý cho Đại hội XIII” như trên đã trở thành hoạt động mang tính “truyền thống” mỗi kỳ Đại hội Đảng. Nếu thiếu nhận thức chính trị, chỉ nhìn qua những bản góp ý, trao đổi được chuẩn bị khá dày dặn này (có bản dài đến 50 trang) có thể sẽ khiến nhầm lẫn đó là “sự góp ý tâm huyết”. Song kỳ thực, vấn đề đã trở nên cũ rích từ nhiều kỳ đại hội trước được diễn đạt lại với giọng điệu mới tinh vi, được che đậy bởi nghệ thuật sử dụng ngôn từ trau chuốt mà “hoa ngôn xảo ngữ”.
Họ trình bày nhiều vấn đề, nhất là những vụ việc gây rối mang màu sắc chính trị nơi này, nơi khác, một số người mệnh danh là “dân chủ” được thể bới lại và tung hô lên “vấn đề đa đảng” hòng đánh lừa hoặc lôi kéo những người nhẹ dạ, cả tin theo ý đồ chính trị của họ.
Điển hình trên các trang mạng, blog hải ngoại, mạng xã hội đăng tải bản “Góp ý cho Đại hội XIII”, tác giả sau trình bày những nội dung như “Đánh giá về tình hình mới”, quy kết Đảng “giác ngộ yếu kém yếu tố dân tộc, dân chủ đã tạo ra nỗi đau về hòa hợp dân tộc”, dẫn đến “Sự thất bại nghiêm trọng 43 năm xây dựng CNXH của Đảng Cộng sản Việt Nam trong phát huy sức mạnh quốc gia”… đã giả bộ “khẩn thiết kiến nghị” rằng: Chừng nào ở Việt Nam chỉ có độc tài, độc nhất một đảng lãnh đạo thì chừng đó không thể nói tới một nền dân chủ chân chính được; ở Việt Nam muốn phát triển, muốn có dân chủ thực sự thì phải hội nhập vào xu thế đa đảng, “xã hội dân sự” như nước ngoài.
Nhiều phần tử cơ hội chính trị “theo đóm ăn tàn”, “tát nước theo mưa” bôi nhọ Đảng, phủ nhận vị trí, vai trò cầm quyền qua cái gọi là “góp ý”, “trao đổi”. Hay trong bài “Trao đổi về Đại hội XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam”, có vị giáo sư già phản Đảng xuyên tạc rằng “Chủ nghĩa Mác - Lênin như một cái mành che mắt, vì sự kiên trì Mác - Lênin như một cái chụp lên đầu, trong chế độ độc đảng toàn trị Việt Nam thì làm gì có dân chủ, do đó không cần đảng lãnh đạo”...
Các luận điệu dưới mác góp ý trên, kỳ thực là mưu toan xóa bỏ vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được quy định trong Điều 4, Hiến pháp 2013.
Nói cho cùng, bản chất của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, thậm chí nhiều giai cấp, sự xuất hiện của một đảng hay nhiều đảng chính trị cũng là lẽ bình thường. Dù dưới màu sắc chính trị hay xã hội, dân tộc hoặc tôn giáo, tên gọi có khác nhau, nhưng đảng thực chất là đảng chính trị, đảng nào cũng đều hướng tới việc cầm quyền, trong việc giành, giữ, thực thi quyền lực nhà nước.
Tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tương quan lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một giai cấp, mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng. Trong thực tiễn, có thể là một đảng lãnh đạo, hoặc nhiều đảng tranh giành quyền lãnh đạo xã hội theo chế độ nghị trường. Không có một đảng lãnh đạo hoặc không lập được liên minh lãnh đạo giữa các đảng thì tất yếu đất nước sẽ rơi vào tình trạng vô chính phủ và hỗn loạn.      
Dân chủ, dưới sự lãnh đạo của đảng chính trị là dành cho số đông hoặc dành cho thiểu số. Lịch sử các hình thái dân chủ không nằm ngoài điều đó. Dưới chủ nghĩa tư bản, dân chủ nằm trong tay giai cấp tư sản, được tổ chức thành nhà nước tư sản và nhà nước đó bảo đảm quyền dân chủ cho một số ít người là giai cấp tư sản nhằm chống lại đông đảo những người lao động. Ở đó, dân chủ chân chính là thứ bị giai cấp tư sản lợi dụng, bị biến thành thứ dân chủ nửa vời, không triệt để ở mọi cấp độ và tính chất, chỉ trong tay bộ phận thiểu số là giai cấp tư sản chứ không phải quảng đại quần chúng nhân dân lao động.
Họ nói, dân chủ là phải đa đảng. Nhưng thực tế lại không như vậy. Chẳng hạn, ở một số nước tư bản như Hoa Kỳ - được mệnh danh là “thiên đường tự do”, trong suốt hàng trăm năm qua kể từ khi ra đời, trong bối cảnh nhiều đảng, nhưng thực chất chỉ có hai đảng lớn nhất của giai cấp tư sản thay nhau cầm quyền. Tuy là hai đảng nhưng khó ai có thể tìm thấy sự khác nhau về bản chất, về lập trường giai cấp và hệ tư tưởng giữa hai đảng đó, và nếu có khác nhau thì chỉ ở tên gọi và một số chính sách nhất định mà thôi.
Bên cạnh đó, Đảng Cộng sản với lịch sử hơn 100 năm, người đại diện và đấu tranh không mệt mỏi vì quyền lợi của hàng triệu công nhân và những lý tưởng cao đẹp, có thời kỳ bị loại ra ngoài vòng pháp luật, các đảng viên của đảng luôn bị đe dọa, bị khủng bố; luật pháp “khoanh tròn” hoạt động của Đảng Cộng sản trong không gian chính trị nhỏ bé và ngột ngạt nên chẳng có cơ may phát triển, còn nói gì đến cái gọi là dân chủ trong việc đấu tranh giành vị trí cầm quyền?
Trong XHCN, dân chủ là quyền làm chủ đất nước, xã hội và làm chủ bản thân mình một cách toàn vẹn. Nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân bầu ra một cách dân chủ, công khai và vì lợi ích của nhân dân. Quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân lao động và được quyết định bởi chính nhân dân. Nói cách khác, Nhà nước pháp quyền XHCN là công cụ trong tay nhân dân, để nhân dân thực hiện quyền làm chủ một cách toàn diện và tự do, nhằm bảo vệ quyền làm chủ của chính mình và độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, tôn trọng độc lập, chủ quyền của dân tộc khác.
Mặt khác, thể chế chính trị, Nhà nước pháp quyền đó cũng chống lại tất cả những gì xâm phạm tới và làm tổn hại tới quyền dân chủ của nhân dân lao động. Do đó, dân chủ XHCN vừa là mục tiêu cao cả, vừa là động lực căn bản và mạnh mẽ của sự phát triển xã hội và tiến bộ toàn diện không ngừng của nhân dân, đất nước với phẩm giá con người được thừa nhận một cách đầy đủ, tôn trọng và bảo vệ.
Lấy hiện trạng ngày nay xã hội còn những tồn tại, những hạn chế, nhiều vấn đề mất dân chủ, điển hình là những vụ án mà cá nhân lãnh đạo vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ để quy đó là lỗi cơ chế, là lỗi hệ thống? Đó là sự quy kết hoàn toàn sai lệch. Không có bất cứ xã hội nào tránh được những hạn chế khi thực hiện. Với Việt Nam, việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới XHCN tất còn nhiều tồn tại chưa dễ gì gỡ bỏ, và việc xảy ra những vấn đề mất dân chủ ở một số bộ phận, nơi này nơi khác là biểu hiện của tồn tại xã hội mà chúng ta đang đấu tranh, ngăn ngừa, đó không phải là bản chất của xã hội XHCN.
Như vậy, có thể thấy bằng giọng điệu tinh vi để vu khống chế độ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sẽ không có dân chủ, họ cổ súy tư tưởng bài xích Đảng, từ đó thúc đẩy đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi thực hiện nhà nước “tam quyền phân lập”. Phương thức, thủ đoạn rất nguy hiểm mà phần tử cơ hội chính trị, phản động sử dụng trong các “kiến nghị”, “góp ý”, “trao đổi” là đề và gửi đến cơ quan cao nhất của Đảng, đến lãnh đạo Đảng, Nhà nước, sau đó phát tán trên các trang mạng hải ngoại, blog phản động, mạng xã hội. Người đọc cần phải tỉnh táo nhận diện, tránh bị cuốn vào trận địa xảo trá của họ, dẫn tới tư tưởng hoài nghi, hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin với Đảng.



[1] Bài viết của Lê Thế Cương đăng trên Báo Công an Nhân dân điện tử, ngày 02/09/2019

TỔ CHỨC PHÓNG VIÊN KHÔNG BIÊN GIỚI LẠI DIỄN TRÒ HỀ


                                                              [1]

Rạng sáng 13-9-2019, tại Berlin (Đức), tổ chức Phóng viên không biên giới lại giở chiêu trò trao giải Tự do báo chí, hạng mục “Ảnh hưởng” cho Phạm Đoan Trang, đối tượng từng có nhiều hành động lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền vu cáo, xuyên tạc tình hình Việt Nam. Vậy đâu là sự thật về tổ chức Phóng viên không biên giới và vì sao lại dựng Phạm Đoan Trang để trao giải?
Phóng viên không biên giới “hành, ngôn bất nhất”
Phóng viên không biên giới hay Ký giả không biên giới (Tiếng Pháp: Reporters sans frontières: RSF) là một tổ chức phi chính phủ với phạm vi hoạt động trên toàn cầu. Mục đích của họ được cho là bảo vệ tự do báo chí trên toàn thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ.
Tổ chức này lấy Điều 19 của Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền làm cơ sở để hành động. Phóng viên không biên giới được Robert Ménard, Rémy Loury, Jacques Molénat và Élmilien Jubineau sáng lập tại Montpellier, Pháp, năm 1985. Hiện, tổ chức này có trụ sở tại quận 2, Paris; mở văn phòng tại Berlin, Brussels, Geneva, Madrid, Rome, Stockholm, Tunis, Washington DC.
Văn phòng đầu tiên của họ ở châu Á, đặt tại Đài Bắc, Đài Loan vào tháng 7-2017. Ngoài ra tổ chức còn hoạt động chung với 150 thông tin viên, phóng viên trên khắp các châu lục cũng như với hàng chục tổ chức đảng phái độc lập với chính phủ.
Viện dẫn Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc về nhân quyền, tự do ngôn luận, tổ chức này tuyên bố theo đuổi tự do chân lý khách quan là một yếu tố của phẩm giá và tự do của con người, cho rằng tự do ngôn luận và thông tin là tự do đầu tiên.
Những phương châm mang nhiều ý nghĩa câu từ mỹ miều hơn là khẳng định giá trị hành động mà họ đưa ra: “Phóng viên không biên giới – RSF là tổ chức lớn nhất thế giới bảo vệ tự do báo chí, được hiểu là quyền tự do của con người để thông báo và được thông báo”. Với những tuyên bố và phương châm hành động như vậy, song thực tế, hoạt động của tổ chức này có đúng tôn chỉ, mục đích? Các báo cáo, giải thưởng có mang tính khách quan, chân thực?
Đối với Việt Nam, báo cáo của tổ chức Phóng viên không biên giới thường niên vu cáo Việt Nam, cho rằng các cơ quan báo chí đều hoạt động dưới sự chỉ đạo và kiểm soát chặt chẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam nên “nguồn tin độc lập duy nhất mà hiện nay người dân có thể tiếp cận chính là từ các blogger và nhà báo tự do”.
Tổ chức này xuyên tạc chính quyền cộng sản “đang tìm cách đàn áp và sách nhiễu nhiều blogger thông qua việc sử dụng công an thường phục”; vu cáo đã có nhiều blogger và nhà báo tự do bị bỏ tù bởi các tội danh “tuyên truyền chống nhà nước”, “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, “lạm dụng quyền tự do dân chủ” theo các điều luật 88, 79 và 258 trong Bộ luật Hình sự Việt Nam.
Theo Wikipedia dẫn một điều tra của 2 nhà báo thuộc đài truyền thanh và truyền hình nhà nước WDR (Đức) thì tổ chức Phóng viên không biên giới nhận được nhiều ủng hộ từ nhà tỉ phú Mỹ George Soros, người đã từng ủng hộ công đoàn Solidarno hàng triệu đô la Mỹ và từ Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ (National Endowment for Democracy), là tổ chức mà 90% ngân sách xuất phát từ ngân sách quốc gia của Mỹ và thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ.
Rồi nhà tài trợ là nhà công nghiệp vũ khí và “ông hoàng” truyền thông đại chúng của Pháp Serge Dassault, tập đoàn truyền thông đại chúng Vivendi và nhà tỉ phú Franois Pinault. Ngoài ra công ty quảng cáo nổi tiếng Saatchi & Saatchi tại New York đều thực hiện miễn phí toàn bộ các hoạt động chung quanh quan hệ công chúng cho tổ chức này.
Theo thông tin chính thức của RSF, ngay từ 2013, nguồn ngân sách hoạt động hằng năm lên đến nhiều triệu euro, trong đó có đến trên 70% do các chính phủ và các nhà tài phiệt tài trợ.
Với thực tế tài chính như vậy, đủ hiểu để tổ chức này hoạt động vì ai, nhằm mục đích gì. Những cái gọi là “xếp hạng tự do báo chí” hằng năm đối với các quốc gia hay giải “nhân quyền”, “tự do báo chí” mà RSF thực chất chỉ giống như “mồi câu”, nhử các cá nhân có hành vi chống đối nhà nước sở tại cố gắng “lập thành tích” bằng các trò quấy phá, chống đối để lĩnh thưởng! “Ăn cây nào rào cây đấy”, RSF chủ yếu phục vụ mục đích chính trị của các thế lực núp sau cái bóng gọi là tự do báo chí, dân chủ, nhân quyền.
Do vậy, người ta cũng dễ hiểu, xếp hạng của RSF luôn dựa vào danh sách củaBộ Ngoại giao Mỹ dành sự “quan tâm” ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có các nước như Iran, Syria, TriềuTiên, Việt Nam, Cuba, Trung Quốc; tuy nhiên lại né tránh, không đưa ra bất kỳ báo cáo nào về hoạt động chống lại nhà báo của Mỹ và các đồng minh.
Thí dụ, RSF không đưa tin về những người hoạt động trên lĩnh vựctruyền thông bị giết hại tại Philippines, mặc dù từ năm 1986 đến nay có 176 nhà báo bị giết hại ở nước này. Rồi trường hợp 5 người Cuba bị giam ở Miami, nhà báo M.A.Jamal (M.A.Gia-man) bị kết án tử hình, nhưng RSF không đề cập qua bất cứ câu chữ nào trong các bản báo cáo.
Nói về RSF, ngay trên quê hương của Phóng viên không biên giới, đúng như Giáo sư Salim Lamrani - nhà văn và nhà báo người Pháp chuyên về quan hệ Mỹ-Cuba - trên tạp chí “Nghiên cứu toàn cầu” trong bài “Sự lừa dối của Phóng viên không biết giới”, ông viết: “Như người ta có thể dễ dàng thấy, Phóng viên không biên giới không phải là một nguồn đáng tin cậy. Chương trình nghị sự chính trị ẩn giấu của nó đã trở nên quá rõ ràng và ác ý của nó đối với một số quốc gia nằm trong danh sách đen của Mỹ hầu như không phải là vấn đề trùng hợp.
Những đóng góp hào phóng nhận được từ NED giải thích sự liên kết của RSF với Nhà Trắng.Robert Menard không chỉ đạo một tổ chức bảo vệ các quyền tự do báo chí, mà thay vào đó, một văn phòng tuyên truyền được tài trợ bởi các tập đoàn kinh tế và tài chính phục vụ cho thế lực hùng mạnh”. Hay như nhà báo Safaa Kasraoui của tờ Moroco World News đánh giá: “Báo cáo của RSF là sai lệch, không chính xác và không tính đến, theo cách khách quan và vô tư của nhiều chỉ số tích cực về môi trường cởi mở và tự do do báo chí”.
Phạm Đoan Trang: Khi niềm tin lạc lối
Theo dõi hoạt động của Phóng viên không biên giới nhiều năm, nhiều người không lấy làm bất ngờ trong nhiều ngày qua, RSF công bố danh sách đề cử và ngày 13-9-2019 vừa qua tổ chức trao giải tự do báo chí cho 3 người, trong đó có Phạm Đoan Trang. Cô ta là ai?
Phạm Đoan Trang, sinh năm 1978 tại Hà Nội trong một gia đình cơ bản, được ăn học tử tế, từng là học sinh trường Hà Nội – Amstesdam. Nhiều người phải thừa nhận Phạm Đoan Trang có năng lực học hành, viết lách sắc sảo, có tài năng, từng là phóng viên có triển vọng tại nhiều tờ báo ở Việt Nam như: Vnexpress, Vietnamnet, Pháp luật… Tuy nhiên, có chút năng lực nhưng vì các động cơ cá nhân, Phạm Đoan Trang đã đi ngược lại với lợi ích của dân tộc, nhân dân, Đảng và Nhà nước.
Trong nhiều bài viết, nhiều cuốn sách như: “Chính trị bình dân”, “Cẩm nang nuôi tù”... (đều xuất bản chui), Phạm Đoan Trang xuyên tạc, bóp méo tình hình dân chủ, nhân quyền Việt Nam, kích động những người nhẹ dạ cả tin tham gia biểu tình, chống phá chính quyền, nhà nước, làm mất an ninh trật tự, phá hoại môi trường hòa bình, ổn định chính trị ở Việt Nam.
Trong phát ngôn cũng như hoạt động của mình, Phạm Đoan Trang bất chấp đạo lý, luôn thể hiện cái gọi là tinh thần “dấn thân”, đã liên kết với một số blogger chống phá dưới các trướng “dân chủ”, “xã hội dân sự”, hô hào mang lại “tự do, dân chủ, nhân quyền” cho Việt Nam! Nguy hiểm hơn, đối tượng này được cho là thành viên, phối hợp tích cực với Tổ chức Việt Tân (tổ chức đã được Bộ Công an xếp vào tổ chức khủng bố), “ngưu lai, mã khứ tầm quy” cùng với Phạm Chí Dũng, Tạ Phong Tần, Nguyễn Văn Hải... “nội công, ngoại kích”, không từ âm mưu, thủ đoạn nào nói xấu đất nước, chế độ, lên án xã hội, vu cáo chính quyền đến thực hiện âm mưu lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.
Với thủ đoạn “dẫn lang nhập thất”, Phạm Đoan Trang liên hệ với nhiều tổ chức, ủy ban nhân quyền quốc tế để đối thoại, thảo luận trước các báo cáo định kỳ phổ quát liên quan đến tình hình dân chủ, nhân quyền Việt Nam; trả lời phỏng vấn các cơ quan truyền thông, mạng hải ngoại vu cáo thực tiễn vấn đề quyền con người. Từ đó tạo ra nhận thức sai lệch của các tổ chức, cộng đồng quốc tế, gây sức ép đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập, đàm phán, ký kết các hiệp định quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Với một chân tướng như vậy, thật kệch cỡm cho một giải tự do báo chí “treo đầu dê, bán thịt chó” của RSF và cũng thật tiếc cho một niềm tin lạc lối, không biết “quay đầu là bờ”…


[1] Bài viết của Lê Vĩnh Bình đăng trên Báo Công an Nhân dân điện tử, ngày 16/09/2019

THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC MỐI QUAN HỆ VIỆT – TRUNG



                                                                                            Trung Nguyễn



Thời gian gần đây, lợi dụng những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực và thế giới, đặc biệt ở Biển Đông, không ít những cá nhân đóng vai “người yêu nước”, “chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền” đã viết bài phát tán trên internet, mạng xã hội với những giọng điệu nhằm xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là quan hệ Việt Nam- Trung Quốc.
Nhất là sau khi Phó Thủ tướng Phạm bình Minh có bài phát biểu tại kỳ họp thứ 74 Đại hội đồng Liên hợp quốc về chủ nghĩa đa phương, trong đó có nội dung kêu gọi các nước có liên quan ở Biển Đông tuân thủ luật pháp quốc tế, cần kiềm chế những hành động đơn phương làm phức tạp tình hình, gia tăng căng thẳn; trên một số trang mạng phản động trong và ngoài nước đăng tải, phát tán nhiều bài, ảnh có nội dung xuyên tạc sự thật như đối tượng Nguyễn Ngọc Chu với bài “Sao không chỉ mặt gọi tên Trung Quốc?”, hay của Đỗ Ngà với bài “Kêu oan nhưng không tố cáo kẻ thù, chỉ có cộng sản?... Với thủ đoạn vẫn tinh vi như trước, từ những nguồn tin, những tài liệu không có thật với những hình ảnh minh họa với những “lập luận” có vẻ rất “hợp lý, lôgic”.
Quan hệ giữa Việt – Trung là mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, độc lập, tự chủ, bình đẳng, cùng có lợi. Mối quan hệ ấy, do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo tiền bối của hai nước đặt nền móng và dày công vun đắp trong suốt gần 70 năm qua. Đó, là tài sản quý báu được hai nước gìn giữ, kế thừa và phát triển. Đặc biệt, từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ (tháng 11-1991), với việc bình thường hóa quan hệ của hai nước đã thúc đẩy mối quan hệ và tạo điều kiện cho hai nước phát triển nhanh về kinh tế - xã hội. Trên thế giới, hiếm có mối quan hệ nào phát triển nhanh chóng như quan hệ giữa Việt Nam và Trung Hoa.
Thế hiện thông qua các chuyến thăm hữu nghị, các cuộc hội đàm song phương, các cuộc gặp gỡ tại các diễn đàn thế giới, khu vực… Hai nước Việt – Trung đã định ra khuôn khổ hợp tác, từ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” (năm 1999) đến “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” (năm 2005) và cuối cùng là “đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” (năm 2008). Hai nước đã giải quyết được hai trong ba vấn đề bất đồng quan trọng liên quan đến biên giới – lãnh thổ: Ký kết Hiệp định biên giới trên đất liền vào năm 1999 và đã hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên đất liền (năm 2008); ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ (năm 2000); ký Hiệp định Hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ (năm 2004)… trong năm 2018, hai nước đã tiến hành kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung.
Là những người Việt Nam yêu nước, chúng ta phải nhận thức rõ âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch và giữ gìn, phát triển mối quan hệ tốt đẹp Việt – Trung kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch và  luôn bảo vệ thành quả tốt đẹp của mối quan hệ hợp tác Việt – Trung là bằng chứng rõ ràng nhất bác bỏ chiêu trò bịa đặt, xuyên tạc sự thật.


Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...