Thứ Tư, 25 tháng 9, 2019

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN ĐƯỢC MỐI QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - CUBA


 Thời gian qua, các thế lực thù địch bên ngoài, cả một số người trẻ tuổi trong nước thông qua mạng xã hội tìm cách phủ nhận mối quan hệ giữa hai đất nước anh em Việt Nam-Cuba. Họ tìm cách gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa hai dân tộc, phủ nhận vai trò và sự giúp đỡ chí tình của nhân dân Cuba trong kháng chiến cứu nước và trong xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam; cũng như sự giúp đỡ về vật chất, tinh thần mà nhân dân Việt Nam đã dành cho Cuba.
Đó là những luận điệu thù địch nhằm xuyên tạc lịch sử, phá vỡ mối quan hệ gắn bó bền chặt giữa hai dân tộc vốn được Nhà nước và nhân dân hai nước gìn giữ, vun đắp bấy lâu nay.
"Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu mình", câu nói bất hủ của Chủ tịch Cuba Fidel Castro đã in sâu vào trái tim các thế hệ người Việt Nam, thể hiện sâu sắc tình anh em, tình đồng chí keo sơn giữa Việt Nam-Cuba trong những năm tháng chiến tranh ác liệt và trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước hiện nay. Quan hệ đoàn kết, anh em giữa Việt Nam và Cuba do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Fidel Castro đặt nền móng được thúc đẩy ngày càng phát triển lớn mạnh không ngừng. Ngay sau ngày cách mạng Cuba thành công (1-1-1959), Cộng hòa Cuba là quốc gia Mỹ Latin đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam (2-12-1960), đồng thời công nhận Phái đoàn đại diện thường trú của Mặt trận (7-1962) và thành lập Ủy ban toàn quốc đoàn kết với miền Nam Việt Nam (25-9-1963); công nhận về mặt ngoại giao Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (20-12-1965) và cũng là nước đầu tiên cử Đại sứ bên cạnh Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng (3-1969). Những năm thập niên 1970 của thế kỷ trước, trong thời kỳ gian khổ nhất cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, dù cuộc sống còn khó khăn, song Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba luôn đồng hành, chắt chiu dành cho Việt Nam sự ủng hộ lớn nhất cả về vật chất lẫn tinh thần; đã bán hàng vạn tấn đường lấy ngoại tệ gửi cho Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam đánh Mỹ; gửi nhiều kỹ sư, công nhân, bác sĩ và nhân viên y tế cùng thuốc men, dụng cụ y tế giúp chữa trị cho người dân Việt Nam. 
Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam lần đầu tiên vào tháng 9-1973, bất chấp tình hình nguy hiểm, Chủ tịch Fidel Castro đã đến tận khu giải phóng Quảng Trị. Thay mặt nhân dân Cuba, Chủ tịch Fidel Castro tặng Việt Nam 5 công trình kinh tế-xã hội (KT-XH) có giá trị vật chất rất lớn, gồm: Khách sạn Thắng Lợi, Trại bò giống Ba Vì, tuyến đường Sơn Tây-Xuân Mai (Hà Nội), Bệnh viện Việt Nam-Cuba (Đồng Hới, Quảng Bình), Xí nghiệp gà Lương Mỹ(1). Trong đó, việc đưa Bệnh viện Việt Nam-Cuba hiện đại nhất lúc bấy giờ vào hoạt động mở ra chặng đường mới trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Trong suốt thập niên 1980-1990, dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, đặc biệt là chống lại chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ, Cuba tiếp tục viện trợ thuốc men, vacxin, lương thực cho Việt Nam.
Đáp lại tình cảm to lớn của nhân dân Cuba đã dành cho Việt Nam, khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu sụp đổ, Mỹ siết chặt cấm vận, Cuba đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, trong hoàn cảnh đó, Việt Nam đã dành cho đất nước anh em Cuba sự ủng hộ hết lòng, đã gửi gạo, quần áo, đồ dùng học tập và nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu sang giúp nhân dân Cuba. Từ đó đến nay, Việt Nam tiếp tục viện trợ lương thực, thực phẩm, máy móc và trang thiết bị giúp nước bạn, đồng thời tích cực vận động các quốc gia trên thế giới kêu gọi Mỹ bỏ bao vây cấm vận Cuba.
Những năm qua, Việt Nam và Cuba đã thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác kinh tế song phương trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là nông nghiệp, dầu khí, viễn thông, giáo dục và y tế… Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ hai của Cuba tại khu vực châu Á và châu Đại Dương. Tổng kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam-Cuba năm 2018 đạt mức gần 350 triệu USD và có khả năng tăng hơn nữa bởi trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cuba Miguel Mario Diáz Canel hồi tháng 11-2018, hai bên đã ký nhiều văn bản, thỏa thuận hợp tác, tạo căn cứ pháp lý cho hợp tác kinh doanh trước mắt cũng như lâu dài. Trong đó, Hiệp định Thương mại mới giữa Việt Nam và Cuba khi được ký kết sẽ đưa quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước lên ngang tầm quan hệ chính trị đặc biệt sẵn có, tạo cơ sở để nâng kim ngạch thương mại hai chiều lên 500 triệu USD trong vòng 5 năm tới. Phía Cuba cũng chủ động đề xuất doanh nghiệp Việt Nam tham gia đầu tư vào các lĩnh vực tiềm năng, như: Công nghiệp, du lịch, công nghệ sinh học và các lĩnh vực ưu tiên phát triển tại Đặc khu phát triển kinh tế Mariel (ZEDM) và lĩnh vực mới như sản xuất vaccine, dược phẩm. Trong hành trình xúc tiến đầu tư vào ZEDM, Cuba đã chọn Việt Nam là đối tác đầu tiên được cấp phép đầu tư 100% vốn nước ngoài để phát triển khu công nghiệp được khởi công vào tháng 11-2018.
Về quan hệ chính trị, ngoại giao, hai nước luôn nỗ lực duy trì, phát triển quan hệ song phương ngày càng tốt đẹp, gắn bó mật thiết với sự tin cậy cao, thể hiện qua việc thường xuyên trao đổi đoàn ở các cấp trên tất cả các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội cũng như giao lưu nhân dân, nhất là cơ chế hợp tác liên chính phủ giữa hai nước; nhất quán ủng hộ lẫn nhau trên các diễn đàn quốc tế, nhất là tại Liên hợp quốc. Trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Cuba vào tháng 3-2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) đã khẳng định: Với nhân dân Việt Nam, hai tiếng Cuba đồng nghĩa với biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng, khí phách hiên ngang, ý chí quật cường, niềm tin mãnh liệt vào lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quan hệ Việt Nam-Cuba là quan hệ anh em, đồng chí thân thiết, chân thành, trong sáng và đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ ở mỗi nước, đã được thử thách, rèn luyện qua hơn nửa thế kỷ đến ngày nay và đang tiếp tục phát triển tốt đẹp, trở thành biểu tượng của thời đại. 
Gần 60 năm qua, dù tình hình thế giới và khu vực có những biến đổi sâu sắc, với những diễn biến phức tạp, khó lường; song Đảng, Nhà nước, nhân dân hai nước luôn kiên trì và quyết tâm đưa mối quan hệ hợp tác lên tầm cao mới nhằm kế thừa, phát huy mạnh mẽ truyền thống tốt đẹp mà hai dân tộc đã dày công vun đắp, phấn đấu đưa quan hệ giữa hai nước trở thành mối quan hệ đặc biệt, không có tiền lệ, là hình mẫu của quan hệ quốc tế(2). Với đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây", Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam mãi ghi nhớ tình cảm sâu đậm, sự giúp đỡ vô giá mà nhân dân Cuba đã dành cho nhân dân Việt Nam, đồng thời luôn coi việc đoàn kết, ủng hộ và hợp tác với Cuba là mệnh lệnh của trái tim, là chủ trương nhất quán không bao giờ thay đổi. Thực tiễn những năm qua đã chứng minh rằng, chủ trương đó luôn được bảo đảm thực hiện với tinh thần và trách nhiệm cao nhất. Đó cũng là minh chứng sinh động nhất đập tan mọi luận điệu xuyên tạc mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước, phủ nhận vai trò, sự giúp đỡ của nhân dân Cuba với Việt Nam và tình cảm đặc biệt mà nhân dân Việt Nam dành cho đất nước Cuba anh em trong xây dựng và phát triển đất nước những năm qua và trong thời gian tới. 
Quan hệ đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam và Cuba do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Fidel Castro đặt nền móng mãi mãi là biểu tượng bất diệt của chủ nghĩa quốc tế trong sáng, vô tư và thủy chung, là niềm tự hào của các thế hệ sau này của nhân dân hai nước. Được xây dựng, vun đắp từ tình cảm, trí tuệ và sức lực của hai dân tộc, được thử thách qua những năm tháng khó khăn nhất của lịch sử, quan hệ Việt Nam-Cuba trở thành tài sản vô giá và nguồn cổ vũ lớn lao cho sự nghiệp cách mạng ở mỗi nước; là nhân tố quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở hai quốc gia.    
(1),(2). Nguyễn Văn Toàn, Việt Nam-Cuba: Hình mẫu của quan hệ quốc tế, Thế giới & Việt Nam online, ngày 31-12-2016a



VẠCH TRẦN, LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP VÀ ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG



 Trước thềm đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự chống phá của các thế lực thù địch càng quyết liệt, thâm hiểm hơn, nhất là việc xuyên tạc về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về sự lãnh đạo của Đảng, về công tác nhân sự đại hội... Tất cả sự chống phá nêu trên đều nhằm tới mục tiêu: Hạ thấp uy tín và thành quả cách mạng của Đảng và Nhà nước Việt Nam; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 sẽ được tổ chức trong năm 2020. Đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa trọng đại của đất nước, là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Chuẩn bị tốt nhất về mọi mặt là yếu tố, tiền đề hết sức quan trọng để tổ chức thành công đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh và yêu cầu phải chuẩn bị và tổ chức thật tốt đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Theo đó, đại hội đảng bộ các cấp cần chuẩn bị kỹ cả về nội dung báo cáo chính trị và công tác nhân sự. Đặc biệt, việc chuẩn bị nhân sự đại hội có vị trí, ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là nhân tố bảo đảm cho thành công của đại hội và triển khai thực hiện nghị quyết của đại hội.
Trong chuẩn bị, tổ chức đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị xác định và nhấn mạnh, công tác nhân sự cần thực hiện phương châm bảo đảm tính kế thừa, ổn định, đổi mới, sáng tạo và phát triển; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững nguyên tắc, siết chặt kỷ luật, kỷ cương; coi trọng chất lượng, hiệu quả, đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là người đứng đầu. Cấp ủy nhiệm kỳ 2020-2025 phải đặc biệt coi trọng chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý; tiêu biểu về trí tuệ, phẩm chất, uy tín, thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo trong tình hình mới, thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Cùng với đó, báo cáo chính trị cần đánh giá đúng, trung thực, khách quan, toàn diện tình hình và kết quả thực hiện nghị quyết đại hội nhiệm kỳ 2015-2020, nhất là các nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; chỉ rõ ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan và rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện; đồng thời, xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhiệm kỳ tới sát tình hình thực tế, có tính khả thi cao, làm cơ sở để tổ chức thực hiện hiệu quả. Thông qua đại hội đảng bộ các cấp, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên; củng cố, tăng cường hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc và niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Để chuẩn bị cho Đại hội XIII của Đảng, từ đầu tháng 10-2018, các tiểu ban của đại hội (gồm: Tiểu ban Văn kiện; Tiểu ban Kinh tế-Xã hội; Tiểu ban Điều lệ Đảng; Tiểu ban Nhân sự và Tiểu ban Tổ chức phục vụ đại hội) đã được thành lập và sớm đi vào hoạt động, với tinh thần làm việc hết sức khẩn trương, nghiêm túc. Ngay sau khi được thành lập, từng tiểu ban đều do các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư trực tiếp chỉ đạo tiến hành khảo sát tình hình thực tế; tổ chức họp nhiều lần để thống nhất từng nội dung, nhất là những nội dung quan trọng.
Công tác quy hoạch nguồn cán bộ cho Đại hội XIII của Đảng và đại hội đảng các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 được cấp ủy, tổ chức đảng các cấp chuẩn bị từ các nhiệm kỳ trước, đặc biệt là từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII. Đến nay, phần việc này về cơ bản được hoàn thiện. Trung ương cũng đã thống nhất danh sách giới thiệu dự bầu Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII do tổ chức đảng các cấp, các ban, ngành Trung ương và các địa phương giới thiệu quy hoạch. Căn cứ kế hoạch tổng thể, những cán bộ trong diện quy hoạch được Trung ương và các cấp ủy quan tâm, tạo điều kiện cho đi đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển công tác để rèn luyện, thử thách qua thực tiễn với nhiều cương vị công tác từ thấp đến cao. Đây thật sự là bước chuẩn bị chu đáo, chủ động từ sớm, từ xa của Trung ương, của các cấp ủy và hệ thống chính trị trong tiến hành công tác nhân sự khóa mới.
Như vậy, có thể khẳng định, công tác chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng đã và đang được cấp ủy, tổ chức đảng các cấp chuẩn bị chu đáo, công phu, bài bản; được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm, đánh giá cao; qua đó củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng; tạo không khí phấn khởi, đồng thuận trước thềm đại hội đảng các cấp.
Thế nhưng trên internet, mạng xã hội và một số “diễn đàn”, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội cố tình đưa nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc về đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là tuyên truyền xuyên tạc về công tác chuẩn bị đại hội. Họ dựng chuyện và “quy chụp” rằng, “việc chuẩn bị đại hội như là hoạt động thay cho đại hội, xóa bỏ quyền của các đại biểu dự đại hội”; rằng công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ cốt cán cho Đại hội XIII là Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã “tước đi quyền tự do, dân chủ trong việc ứng cử, đề cử và bầu cử của các đại biểu dự Đại hội XIII”… Theo họ (thực chất là những nguồn tin thất thiệt trên internet, mạng xã hội) thì không chỉ là nội dung văn kiện, mà danh sách Ủy viên Trung ương của Đại hội XIII cũng đã có…?
Đặc biệt, vấn đề nhân sự bị một số thế lực bên ngoài can thiệp, chỉ đạo, xuyên tạc. Họ tự “dựng lên” danh sách lãnh đạo cấp cao, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng... như thể họ là người trong cuộc. Họ “tung hô”, ngụy tạo rằng, đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng chỉ còn việc “giơ tay biểu quyết” đồng ý mà không thể có ý kiến gì khác. Đặc biệt, họ trắng trợn dựng chuyện, xuyên tạc: “Đại hội đảng là hình thức; là một dịp tái cơ cấu cán bộ theo lối phe cánh lợi ích nhóm”. Trước việc Đảng, Nhà nước Việt Nam kiên quyết xử lý nghiêm minh, không có “vùng cấm” mọi sai phạm của cán bộ, đảng viên thì họ lợi dụng xuyên tạc, nói xấu, bôi nhọ đội ngũ cán bộ chủ chốt, kích động, gây chia rẽ đoàn kết trong Đảng. Nguy hiểm hơn, họ vu cáo, xuyên tạc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã “đổi màu”, không còn kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường đi lên CNXH.
Vậy, thực chất những luận điệu đó như thế nào? Có phản ánh đúng đời sống chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam? Và mục tiêu của chúng là gì?
Trước hết cần khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Tất nhiên, cũng như các đại hội đảng trước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng việc xem xét, vận dụng lý luận phù hợp với tình hình thực tiễn của từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; gắn kết giữa phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc với tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại.
Cho đến nay, công tác chuẩn bị Đại hội XIII đã và đang được thực hiện tích cực, trách nhiệm, bảo đảm tiến độ ở đảng bộ các cấp, cả về nội dung các báo cáo và công tác nhân sự. Cũng như các đại hội trước, nhân sự Đại hội XIII đã được Ban Chấp hành Trung ương khóa XII chuẩn bị chu đáo, công phu. Quy hoạch cán bộ và công tác đào tạo cán bộ theo quy hoạch đã và đang được triển khai đồng thời với công tác chuẩn bị về nội dung. Việc triển khai công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ chủ chốt theo quy hoạch được thực hiện bài bản, công khai, dân chủ, có chất lượng.
Đại hội XIII của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong hệ thống chính trị các cấp. Công tác chuẩn bị đại hội được phổ biến sâu rộng đến Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội các cấp. Dự thảo Báo cáo Chính trị sẽ được công bố công khai và lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Công tác nhân sự cấp ủy các cấp cũng là một trong những nội dung được lấy ý kiến.
Đảng Cộng sản Việt Nam là một hệ thống tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến cơ sở. Công tác chuẩn bị đại hội các cấp được triển khai theo hệ thống tổ chức của mình, là sinh hoạt chính trị bình thường trong Đảng. Tuy nhiên, như đã thành thông lệ, càng gần đến Đại hội XIII của Đảng, sự chống phá của các thế lực thù địch càng quyết liệt, thâm hiểm hơn. Vì vậy, mỗi chúng ta cần đề cao cảnh giác, nhận diện, vạch trần và kiên quyết đấu tranh phản bác, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội…, góp phần bảo đảm sự thành công của đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng.

NHỮNG ÂM MƯU CHỐNG PHÁ TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XIII



QĐND - Với mục tiêu xuyên suốt không thay đổi của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Thời gian gần đây, nhất là khi chúng ta đang chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, chúng càng đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách toàn diện, trong đó tập trung vào các lĩnh vực tư tưởng chính trị, kinh tế, pháp luật, quốc phòng, an ninh, nguyên tắc tổ chức, cán bộ, công tác nhân sự đại hội...
Có thể nói, chủ nghĩa đế quốc là lực lượng đi đầu thúc đẩy chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam rất quyết liệt, nhưng không ra mặt trực diện, mà hoạt động ngấm ngầm thông qua lôi kéo, liên kết, hợp tác để từng bước “thẩm thấu, chuyển hóa” (hợp tác để chuyển hóa), sử dụng thế lực phản động ngoài nước câu kết với nhóm phản động và những kẻ cơ hội trong nước để chống phá cách mạng Việt Nam. Ngoài ra, một số đảng viên thoái hóa, biến chất, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cũng hùa theo các luận điệu của các thế lực thù địch, phản động, hòng làm cho tình hình an ninh chính trị ở Việt Nam trở nên phức tạp.
Hiện nay, họ đang sử dụng thủ đoạn là tập trung tác động vào nhận thức, tâm lý, tình cảm, niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN; xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bôi đen hình ảnh, thành tựu của đất nước, hình ảnh lãnh tụ. Họ thường lợi dụng những hạn chế, thiếu sót của ta để “chính trị hóa” các vấn đề về kinh tế-xã hội, từ đó tác động, làm thay đổi nhận thức về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Một mặt, họ ra sức kêu gọi thúc đẩy “dân chủ đa nguyên”, thay đổi thể chế chính trị, đổi tên Đảng, tên nước, sửa cương lĩnh, hiến pháp, “phi chính trị hóa” quân đội, công an; thực hiện “tam quyền phân lập” ở Việt Nam. Thúc đẩy, kích động phong trào “bất tuân dân sự”, tuần hành, biểu tình, bạo động, khiếu kiện, gây điểm nóng về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; mặc cả, đối kháng chính quyền, coi đây là sự “tập dượt” cho “cách mạng màu”. Thời gian qua, họ luôn cho rằng, các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, an sinh xã hội, đất đai, cơ sở thờ tự, môi trường, giao thông, giáo dục, Biển Đông... là những vấn đề nhạy cảm có thể lợi dụng để chống phá. Hiện nay, họ triệt để lợi dụng công tác phòng, chống tham nhũng, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, các sự kiện chính trị, các vấn đề phức tạp, nhạy cảm về an ninh chính trị để phân hóa, chia rẽ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, hòng làm cho đảng viên và nhân dân hiểu sai lệch, hoài nghi, thiếu niềm tin vào bản chất, vai trò lãnh đạo của Đảng. Họ cũng tìm cách thẩm thấu, cấy sâu vào trong xã hội Việt Nam tư tưởng chia rẽ đường lối đối ngoại của Đảng, nhất là trong quan hệ với các nước lớn, nước láng giềng, khu vực. Về phương tiện, họ triệt để lợi dụng công cụ truyền thông, báo chí, không gian mạng và coi đây là ưu thế, mũi nhọn, phương tiện, chất xúc tác để chuyển hóa, gây rối loạn nhận thức tư tưởng, thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, dẫn dắt phong trào “bất tuân dân sự” chống Đảng, chống Nhà nước XHCN...
Chính vì vậy, đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước việc chuẩn bị, tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng là nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách, là trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, của hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên. Để công tác đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có hiệu quả, các cấp ủy đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau đây:
Một là, thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, ban chỉ đạo, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; quan tâm lãnh đạo toàn diện lý luận chính trị, tư tưởng, văn hóa, văn học nghệ thuật, báo chí; tích cực đấu tranh trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh. Tức là phải phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong xây dựng lực lượng đấu tranh nòng cốt chuyên sâu, nhất là cơ quan nghiên cứu, cơ quan báo chí, các học viện, nhà trường, đội ngũ chuyên gia, cộng tác viên. Duy trì, tổ chức thực hiện tốt việc đấu tranh trên các phương tiện thông tin đại chúng, lấy các cơ quan báo chí làm nòng cốt để vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, đồng thời định hướng dư luận xã hội. Đồng thời, thiết lập các trang, nhóm, tài khoản mạng xã hội nhằm tiếp cận, chia sẻ thông tin tham gia đấu tranh phản bác trên internet, mạng xã hội với các hình thức, phương pháp linh hoạt; chú trọng chia sẻ thông tin tích cực, bài viết chuyên sâu của các cơ quan báo chí, học viện, nhà trường tạo “dòng chủ lưu” thực hiện phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”, “lấy thông tin tích cực đẩy lùi thông tin tiêu cực”.
Hai là, thường xuyên bám sát các vấn đề, sự kiện, cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, tạo thế chủ động trong mặt trận đấu tranh trên internet, mạng xã hội.Với phương châm chỉ đạo công tác tư tưởng phải đi trước, đón đầu; không để “khoảng trống” thông tin để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chống phá, Cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo 35 các cấp cần quan tâm biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham khảo, xây dựng ngân hàng comment làm tài liệu phục vụ tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng đấu tranh cho các lực lượng. Thực hiện tốt việc cung cấp thông tin cho cán bộ theo định kỳ, gặp mặt các đồng chí cán bộ nghỉ hưu, nghỉ công tác hằng năm; chủ động gặp các cán bộ có quan điểm khác với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, tạo sự đồng thuận về nhận thức và hành động.
Ba là, thường xuyên tổ chức các cuộc tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm giữa các lực lượng chức năng, lực lượng nòng cốt chuyên sâu, các hội nghị rút kinh nghiệm và các cuộc “diễn tập” đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Với phương châm vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, cấp ủy, tổ chức đảng cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức các cuộc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, hội nghị rút kinh nghiệm theo hướng thiết thực, hiệu quả, “cầm tay, chỉ việc”. Chú trọng tổ chức một số cuộc “diễn tập” đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội làm cơ sở cho các lực lượng hoàn thiện, phát triển kỹ năng đấu tranh. Lực lượng đấu tranh nòng cốt chuyên sâu phải thường xuyên được trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ lý luận, bổ sung kinh nghiệm thực tiễn. Các thông tin đấu tranh phải trung thực, khách quan, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, của đất nước, mang tính Đảng, tính khoa học, tính xây dựng cao.
Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị điện tử phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Ở tầm vĩ mô: Nhà nước cần xây dựng hệ thống thông tin phong phú, hiện đại, có khả năng tiếp cận, xử lý và khuếch tán vào dòng thông tin truyền thống quốc tế với lượng thông tin đủ lớn, đủ mạnh để tạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới.
Ở tầm vi mô: Cần tăng cường và đổi mới cơ sở vật chất, kỹ thuật bảo đảm phát huy tính hiệu quả của các cơ quan báo chí truyền thông, hòa nhập vào trình độ kỹ thuật thông tin thế giới. Các bộ, ngành chức năng, các cơ quan, đơn vị liên quan cần nghiên cứu, tổ chức triển khai hệ thống giải pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện Việt Nam và thông lệ quốc tế để phục vụ việc đấu tranh ngăn chặn, xử lý các nguồn tán phát thông tin tiêu cực, xấu độc, sai sự thật, nhằm tạo môi trường thông tin trung thực, khách quan.
Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đối với cấp ủy, tổ chức đảng, của cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên cần được triển khai đồng bộ, có hệ thống các chủ trương, giải pháp. Thực hiện tốt những vấn đề cơ bản trên sẽ góp phần ngăn chặn hữu hiệu, giảm tác hại từ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động trên internet, mạng xã hội và các phương tiện truyền thông, nhất là khi Đảng ta chuẩn bị tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII.

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2019

TƯ TƯỞNG VÀ HÀNH ĐỘNG XẤU XÍ CỦA ĐỐI TƯỢNG NGUYỄN VĂN ĐÀI




Trên blog rfavietnam, ngày 12/8/2019, đối tượng Nguyễn Văn Đài tán phát đăng tải một số bài viết và ảnh: “Nguyễn Phú Trọng: Dân chết mặc dân!”, nội dung xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng; kích động gây chia rẽ nội bộ Đảng.
Có thể khẳng định ngay rằng những luận điệu đó của đối tượng Nguyễn Văn Đài trên các diễn đàn, cộng đồng mạng là ngụy biện, không có cơ sở. Chính do sự lo sợ uy tín trong quần chúng nhân dân của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã làm cho những kẻ cơ hội như Nguyễn Văn Đài tìm bất cứ thủ đoạn nào để tiến hành tuyên truyền, xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh nhằm hạ uy tín, làm sai lệch sự hiểu biết của quần chúng nhân dân đối với đồng chí. Điều này nếu không được các cơ quan ngôn luận vạch trần những âm mưu, thủ đoạn nêu trên và đưa ra những định hướng kịp thời, đúng đắn thì sẽ để cho những đối tượng như Nguyễn Văn Đài và các tổ chức phản động “ung dung, tự đắc”, tiếp tục tăng cường đăng tải những bài viết có nội dung xấu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Chắc chắn rằng những âm mưu, thủ đoạn và hành vi xuyên tạc về Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn sẽ tiếp diễn, nhất là khi thời gian tiến tới Đại hội lần thứ 13 của Đảng đang rất gần. Chính vì vậy mà các cơ quan chức năng cần làm tốt công tác thông tin tuyên truyền để nhân dân hiểu đúng vấn đề, nắm được thông tin từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá khách quan và chính xác nhất, đồng thời tích cực đấu tranh phản bác và loại trừ những tư tưởng và hành động xấu xí đó.

                                                                                                                           Hồ Nguyễn

SỰ ẤU TRĨ TRONG NHẬN THỨC CỦA LÊ ANH QUỲNH



                                                     
Trên blog Dân làm báo, ngày 27/8/2019 đối tượng Lê Anh Quỳnh tán phát bài: “Cộng sản Việt Nam thắt chặt kiểm duyệt internet trước thềm Đại hội lần thứ 13”, nội dung xuyên tạc tình hình tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam; vu cáo cơ quan chức năng Việt Nam “khống chế”, “kiểm soát” mạng internet; kêu gọi mọi người trong và ngoài nước phản đối Luật An ninh mạng.
Có thể nói rằng bài viết trên thể hiện sự ấu trĩ về nhận thức của đối tượng Lê Anh Quỳnh, từ ấu trĩ về nhận thức nên đã dẫn đến hành động sai trái phản động, kêu gọi mọi người trong và ngoài nước phản đối Luật An ninh mạng.
Như chúng ta đã biết: Ngày 12/6/2018, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV thông dự án Luật An ninh mạng với tỷ lệ đại biểu tán thành 86.86%. Những nội dung quan trọng của Luật An ninh mạng về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trên không gian mạng là điểm nhấn quan trọng thể hiện rõ nét tính chất ưu việt của Luật trong bảo vệ quyền con người ở Việt Nam.
Song, sự ra đời và chế tài áp dụng của Luật An ninh mạng cũng chính là rào cản cho hoạt động lợi dụng không gian mạng chống Đảng, Nhà nước của nhiều phần tử chống đối, trong đó có đối tượng Lê Anh Quỳnh. Vì vậy, chúng bày ra nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để vu khống, xuyên tạc tính chất ưu việt của Luật An ninh mạng, kích động, kêu gọi mọi người trong và ngoài nước phản đối Luật An ninh mạng, với các luận điệu bịa đặt như: Luật An ninh mạng đang “chống lại loài người”, “bịt miệng dân chủ”, “cấm sử dụng Facebook, Google”, vu cáo cơ quan chức năng Việt Nam “khống chế”, “kiểm soát” mạng internet
Song thực chất khi nghiên cứu, nhận thức rõ về Luật An ninh mạng, chúng ta thấy rõ Luật An ninh mạng không cản trở hoạt động bình thường, đúng luật của các tổ chức, cá nhân mà trái lại Luật đang bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trên không gian mạng, bởi lẽ: quy định về những hành vi bị nghiêm cấm trên không gian mạng không hạn chế hay bác bỏ quyền của cá nhân, tổ chức hoạt động trên môi trường mạng. Luật An ninh mạng được xây dựng trên cơ sở có tính thống nhất cao với hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam, trong đó phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp một số nội dung theo 29 điều của Bộ luật Hình sự; có liên quan tới các quy định về bảo vệ quyền con người trong Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự và các văn bản khác có liên quan; đồng thời liên quan chặt chẽ tới Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành. Do đó, trong từng chương, các điều luật đều xoay quanh mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; đồng thời đưa ra những quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân để gắn chặt quyền-nghĩa vụ công dân đối với vấn đề bảo vệ an toàn, an ninh mạng.
Mỗi người dân cần nâng cao ý thức cảnh giác không nghe theo lời kích động, xúi giục của các đối tượng xấu với những luận điệu xuyên tạc, thù địch về tính chất ưu việt của Luật; nghiên cứu, nắm vững các quy định của Luật về những hành vi bị nghiêm cấm, về quyền, lợi ích được Luật bảo vệ để qua đó chủ động phòng ngừa, không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, đồng thời góp phần phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh với các hành vi xâm phạm an toàn, an ninh mạng.

                                                                          Hồ Nguyễn



Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2019

KHÔNG THỂ NÓI “SỰ RA ĐỜI CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 LÀ MỘT SỰ “NGẪU NHIÊN” VÀ “ĂN MAY” CỦA LỊCH SỬ”



                                                                                      
Trong toàn bộ lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc ta, Cách mạng Tháng Tám là một trong những sự kiện có ý nghĩa to lớn nhất. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám đã đập tan phát xít Nhật, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp suốt gần một thế kỷ, xoá bỏ chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm; giành quyền độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân; đồng thời đưa tới sự ra đời của Nhà nước Việt Nam mới - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á. Khẳng định điều này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta”.
Thế nhưng, đã, đang vẫn có không ít kẻ hoặc vì sự thiển cận, ẫu trĩ về nhận thức nên không hiểu hoặc có kẻ cố tình xuyên tạc, bóp méo lịch sử khi rêu rao rằng sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một sự ngẫu nhiên, ăn may của lịch sử.
 Thực tiễn đã chứng minh Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã đập tan bộ máy nhà nước cũ, đồng thời kiến tạo một nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Điều này cũng hoàn toàn đúng về mặt lý luận của học thuyết mácxít: vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội là vấn đề chính quyền. Thắng lợi của cách mạng xã hội tất yếu sẽ đưa tới sự ra đời của chính quyền nhà nước mới. Vì thế, Cách mạng Tháng Tám cũng không nằm ngoài quy luật chung đó - lật đổ bộ máy nhà nước cũ, thiết lập một nhà nước kiểu mới trên lãnh thổ Việt Nam.
Mặt khác, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không những được các nhà khoa học, sử học, các nhà quân sự Việt Nam chứng minh, mà còn được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới thừa nhận sự ra đời và phát triển của Nhà nước Việt Nam mới sau Cách mạng tháng Tám là hoàn toàn khách quan, phù hợp với lý luận khoa học và đòi hỏi của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trong đó, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám chính là điều kiện, tiền đề, cơ sở quan trọng và trực tiếp nhất đưa tới sự ra đời của Nhà nước Việt Nam mới; đồng thời tạo cơ sở hợp pháp, hợp hiến cho nhà nước mới; tạo tiền đề cho sự khơi nguồn và sáng tạo những hình thức thực hành dân chủ của nhân dân; đặt nền móng cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Đó là những bằng chứng lịch sử không thể chối cãi, là những luận cứ, luận chứng sinh động, đầy sức thuyết phục để một lần nữa khẳng định, các quan điểm cho rằng sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một sự ngẫu nhiên, ăn may của lịch sử hoàn toàn là vô căn cứ, là những luận điệu lạc lõng trước lịch sử và thời cuộc.
                                                                                                                 Tất Thắng




NHỮNG MƯU ĐỒ ĐEN TỐI HÒNG PHỦ NHẬN CỐNG HIẾN CỦA HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI THẮNG LỢI CỦACÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945


                                                                                    
Như một chiêu trò cũ rích, càng gần đến những ngày lễ lớn của dân tộc ta, các thế lực thù địch lại ra sức tập trung mọi lực lượng và phương tiện nhằm tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử. Chính vì thế, nhân kỷ niệm 74 năm Cách mạng tháng Tám chúng ta lại càng phải cảnh giác với những âm mưu, thủ đoạn và hành động chống phá của kẻ thù, nhất là phải luôn tỉnh táo trước những luận điệu sai trái của chúng. Đáng chú ý trong số đó là mưu đồ phủ nhận vai trò, công lao, cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là kết quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân, nhiều yếu tố khác nhau. Trước hết, đó là thành quả vĩ đại trong quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng; nhưng gắn liền với đó là tên tuổi và sự cống hiến vô cùng to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà nổi bật là tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo, cách mạng và khoa học, sự nhạy bén và nhãn quan chính trị sắc sảo, tầm nhìn chiến lược trong quá trình chuẩn bị, tiến hành và kết thúc cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945. Trong đó, Người đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt lên hàng đầu nhiệm vụ đánh đế quốc và tay sai, giải phóng dân tộc. Chủ trương đó đã thể hiện tư duy chiến lược, nhãn quan chính trị nhạy bén và việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp, vấn đề dân tộc và dân chủ ở Hồ Chí Minh. Mặt khác, chủ trương đó không chỉ phản ánh đúng diễn biến của tình hình, nắm bắt rõ xu thế phát triển của thời cuộc, mà còn đáp ứng đúng tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân ta là thoát khỏi ách áp bức “một cổ hai tròng” của đế quốc và phong kiến tay sai. Cũng chính vì thế, chu trương đó đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, được nhân dân đồng tình ủng hộ, đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh của toàn dân tộc chống lại bè lũ cướp nước và bọn tay sai bán nước lên cao, đưa phong trào hành động cách mạng của các tầng lớp nhân dân tiến những bước lớn lao. Đây là bước chuẩn bị rất quan trọng mà trực tiếp là về chủ trương, đường lối, mục tiêu và nhiệm vụ, cũng như về chính trị tư tưởng, tạo cơ sở cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.
Để tiến hành và bảo đảm cho cách mạng thành công thì tất yếu phải có lực lượng cách mạng, với cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang. Do vậy, cùng với các yếu tố, các lĩnh vực thiết yếu khác, trong quá trình chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám, Hồ Chí Minh chủ động, sáng tạo trong lãnh đạo quá trình chuẩn bị lực lượng (cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang) cho Cách mạng Tháng Tám. Đặc biệt, Người đã rất nhạy bén và linh hoạt trong tạo thời cơ, nắm thời cơ, chớp thời cơ và tài tình trong sử dụng phương pháp cách mạng trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám. Biểu hiện rõ nét nhất đó là khi phát xít Đức đầu hàng Đồng minh, ở Đông Dương quân Nhật hoảng loạn, phong trào cách mạng cả nước sôi sục, những điều kiện cho Tổng khởi nghĩa đã chín muồi. Với sự nhạy bén và linh hoạt tuyệt vời cùng kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: thời cơ “ngàn năm có một” để giành chính quyền đã đến. Nắm chắc và chớp lấy cơ hội đó, Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng đã nhanh chóng, kịp thời phát động toàn dân đứng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ Nhật và tay sai trước khi quân Đồng minh vào nước ta giải giáp quân đội Nhật. Đây là một quyết định lịch sử chính xác đến tuyệt vời, thể hiện một tầm nhìn chiến lược, tư duy sắc sảo và nhạy bén của Hồ Chí Minh trong lãnh đạo tạo thời cơ, nắm thời cơ và chớp thời cơ cho cách mạng.
Lược lại toàn bộ quá trình chuẩn bị, tiến hành và kết thúc của cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 đã minh chứng rõ ràng một tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo, một tầm nhìn xa trông rộng, vượt thời đại và nhãn quan chính trị sắc sảo, nhạy bén của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những tố chất đó ở Người không những góp phần tạo nên một con người vĩ đại, mà còn góp phần đưa lịch sử dân tộc Việt Nam và cách mạng nước ta bước sang một trang mới. Tư duy, tầm nhìn và hành động đó của Người có tính chất vạch lịch sử, không những đáp ứng đúng yêu cầu của dân tộc Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, mà còn phù hợp với xu thế của thời đại.
Hơn bảy mươi năm đã trôi qua, với những sự kiện lịch sử và tư liệu mới thu thập được, chúng ta càng có điều kiện để phân tích, lý giải một cách đầy đủ, sâu sắc và khoa học nguyên nhân, tầm vóc, giá trị to lớn của cuộc Cách mạng Tháng Tám, mà gắn liền với đó là công lao vô cùng to lớn của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Vì thế, những luận điệu cố tính xuyên tạc phủ nhận vai trò, công lao, cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945 quả là một trò lố bịch.

 Tất Thắng

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...