Thứ Hai, 15 tháng 4, 2019

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ, KHƠI DẬY VÀ PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN



Thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở tiếp tục trở thành mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới và phát triển của đất nước hiện nay nhằm phát huy vai trò làm chủ, tinh thần sáng tạo của nhân dân, củng cố và nhân nguồn sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc.
SỰ NỖ LỰC CỦA CẢ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
Thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và tổ chức thành viên các cấp đã quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn và phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai thực hiện QCDC, gắn với hoạt động giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền theo các Quyết định số 217-QĐ/TW và 218-QĐ/TW ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị về “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” và “Quy định về việc MTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”. Trong những năm gần đây, MTTQ Việt Nam đã thực hiện phản biện có chất lượng, chiều sâu; giám sát có trọng tâm, trọng điểm, nhất là những lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến nhân dân, đồng thời phát huy vai trò của nhân dân cùng thực hiện giám sát hoạt động của chính quyền. 
Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng, tổ hòa giải ở cơ sở nhiều nơi hoạt động khá hiệu quả, phát huy được dân chủ trực tiếp của nhân dân tại địa bàn dân cư. MTTQ các cấp tham gia giám sát người đứng đầu, cán bộ, công chức, đảng viên ở cơ sở, phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo; tổ chức tiếp xúc cử tri của đại biểu dân cử; phối hợp tổ chức đối thoại với nhân dân; tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và ngăn chặn những biểu hiện “suy thoái”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Cùng với những hoạt động của MTTQ các cấp, nhân dân đã tham gia tích cực hơn vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng chính quyền. 
Quyết tâm đổi mới các cuộc vận động, các phong trào thi đua để chăm lo tốt hơn đời sống cho nhân dân, “Ngày hội đại đoàn kết ở khu dân cư” được tổ chức hằng năm vào dịp 18-11 thực sự là diễn đàn trao đổi dân chủ của nhân dân, góp phần tăng cường đoàn kết, gắn bó trong cộng đồng. Công tác nắm tình hình trong đồng bào dân tộc, tôn giáo và tổ chức thăm, tặng quà được quan tâm thiết thực. Qua đó, quyền làm chủ của nhân dân được đề cao, các hình thức dân chủ đại diện được phát huy; dân chủ trực tiếp được mở rộng; phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được cụ thể hoá trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Các cơ quan hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập đã nghiêm túc thực hiện QCDC trong cơ quan, đơn vị; quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong thực thi nhiệm vụ, nhằm thực hiện tốt hơn các nhu cầu của người dân. Nhiều địa phương đã thực hiện tốt quy định về việc lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên thực thi công vụ. Công tác cải cách hành chính được tập trung chỉ đạo quyết liệt. 
Việc thực hiện QCDC tại nơi làm việc cũng được các cấp, các ngành, doanh nghiệp quan tâm và có nhiều chuyển biến tích cực. Chính quyền tăng cường đối thoại với doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn, đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân thực hiện khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, áp dụng khoa học, công nghệ tiên tiến vào sản xuất, kinh doanh. Chủ doanh nghiệp đã quan tâm tổ chức đối thoại định kỳ, thực hiện các cam kết với người lao động, khen thưởng kịp thời để động viên tinh thần, đảm bảo các chính sách hợp pháp, chính đáng của người lao động. 
Nhân dân đã thể hiện sự quan tâm đến việc góp ý kiến về xây dựng chính sách, pháp luật, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền, tham gia giám sát hoạt động của cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư. Nhiều khó khăn trong quá trình phát triển và thực hiện được nhân dân bàn bạc, tháo gỡ, giải quyết có hiệu quả. Việc thực hiện QCDC đã góp phần đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, triển khai hiệu quả hơn cuộc vận động xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, tạo sự đồng thuận trong xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.  
THẲNG THẮN NHÌN NHẬN NHỮNG HẠN CHẾ
Mặc dù Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và luôn chỉ đạo các cấp phát huy tốt việc thực hiện QCDC, ở một số địa phương,cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị, việc phát huy vai trò của nhân dân trong thực hiện dân chủ còn mờ nhạt, hiệu quả chưa rõ. Việc thực hành dân chủ một số nơi còn hình thức, cán bộ lãnh đạo chưa thực sự nêu gương trong “nói và làm”. Việc xây dựng và ban hành các quy chế, quy định, quy trình thực hiện công khai, dân chủ chưa phát huy hiệu quả; việc tiếp cận thông tin của người dân còn khó khăn.  
Hoạt động của một số ban chỉ đạo thực hiện QCDC ở địa phương chưa hiệu quả; sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền, sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, cơ quan, đơn vị có nơi, có lúc chưa được đề cao; tuyên truyền, giáo dục chưa được coi trọng đúng mức. Một số nội dung cần công khai để nhân dân biết và bàn bạc, đóng góp còn hình thức, chưa thực sự phát huy hiệu quả về vai trò của nhân dân trong xây dựng chính sách và chính quyền cơ sở. Một số chủ trương, chương trình, dự án chưa thực hiện tốt việc công khai lấy ý kiến nhân dân, nên chưa tạo được sự đồng thuận, nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai, bảo vệ tài nguyên, môi trường, đầu tư xây dựng cơ bản, bồi thường, tái định cư dẫn đến khiếu kiện đông người, bức xúc kéo dài ở một số địa phương. Thời gian giải quyết công việc còn chậm; người đứng đầu chưa quan tâm đến đối thoại, lắng nghe ý kiến và giải quyết phản ánh, khiếu nại của người dân. Việc phát huy vai trò, trách nhiệm của nhân dân tham gia bàn và quyết định các vấn đề của địa phương, giám sát, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền còn hạn chế. Việc nắm tình hình và xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm quyền làm chủ của nhân dân chưa kịp thời. 
Việc thực hiện QCDC trong các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngoài nhà nước, khu vực dân doanh còn nhiều khó khăn; còn tồn tại tình trạng nhiều doanh nghiệp chưa đảm bảo các chính sách về thời gian lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền lương, tiền thưởng của người lao động.
Trong khi đó, các tổ chức chính trị - xã hội ở một số nơi chưa phát huy tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, người lao động. Chất lượng hoạt động giám sát và phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp huyện và cơ sở chưa thực sự phát huy như mong muốn. Một số đề xuất, kiến nghị của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội trong quá trình giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý ở một số nơi, có lúc còn chưa được chính quyền các cấp quan tâm xem xét, giải quyết một cách thỏa đáng.
TẬP TRUNG THỰC HIỆN 6 NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM
 Để thực hiện tốt hơn nữa QCDC ở cơ sở, nhằm khơi dậy và phát huy vai trò của nhân dân trong thực hiện QCDC ở cơ sở, cần quan tâm thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm như sau:
Thứ nhất, các cấp uỷ đảng, chính quyền, MTTQ, các đoàn thể tiếp tục quán triệt sâu sắc, nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn nữa các quan điểm chỉ đạo trong Chỉ thị 30-CT/TW và Kết luận 120-KL/TW của Bộ Chính trị và các văn bản liên quan của Đảng, Nhà nước gắn với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện QCDC tại từng địa phương, cơ quan, đơn vị bảo đảm thực chất và hiệu quả; triển khai đồng bộ, hiệu quả hơn nữa, đưa việc xây dựng và thực hiện QCDC ở các loại hình cơ sở đi vào nền nếp. 
Thứ hai, các cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền các cấp tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đẩy mạnh cải cách hành chính; đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của nhân dân và doanh nghiệp. Người đứng đầu các ngành, các cấp thực hiện nghiêm túc việc tiếp công dân, tăng cường đối thoại, quan tâm giải quyết những kiến nghị, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân, giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo, không để phát sinh các điểm nóng, vụ việc phức tạp, kéo dài. Nêu cao tinh thần trách nhiệm, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; nâng cao đạo đức công vụ, chất lượng phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; xây dựng chính quyền thật sự liêm chính, phục vụ nhân dân.
Thứ ba, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện tốt hơn vai trò giám sát và phản biện xã hội, nhất là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Phát huy hiệu quả và nâng cao chất lượng hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng tại địa phương. Tiếp tục lồng ghép có hiệu quả các nội dung của QCDC ở cơ sở với việc thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua gắn với việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Thông qua đó, vừa góp phần thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở vừa chăm lo tốt hơn đời sống của nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc còn nhiều khó khăn, đồng bào bị thiệt hại do ảnh hưởng của thiên tai.

 Thứ tư, thường xuyên củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC các cấp. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện QCDC ở cơ sở tại, kịp thời chấn chỉnh sai phạm, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; đồng thời, xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật, kích động gây rối, làm mất an ninh, trật tự ở cơ sở, làm hại đến lợi ích của nhân dân. 
Thứ năm, tạo điều kiện để nhân dân tiếp cận với thông tin, nhất là thông tin về các chính sách, pháp luật; chú trọng tuyên truyền, vận động nhân dân, đoàn viên, hội viên thực hiện tốt quy chế, hương ước, quy ước ở địa phương. Kịp thời khuyến khích và nhân rộng các điển hình tiên tiến, các mô hình tốt về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở, làm cho việc thực hành dân chủ ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động phong phú, đa dạng của đời sống xã hội.

Trần Thanh Mẫn
Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

ĐOÀN KẾT LÀM NÊN SỨC MẠNH CỦA ĐẢNG!



Xây dựng và củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, giữ gìn truyền thống cực kỳ quý báu đó “như giữ gìn con ngươi của mắt mình”, phát huy vai trò là trung tâm đoàn kết của toàn dân tộc theo lời Hồ Chí Minh căn dặn trong Di chúc là một trong những thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện.  
KHÔNG ĐOÀN KẾT THÌ SUY VÀ MẤT. CÓ ĐOÀN KẾT THÌ THỊNH VÀ CÒN”
Từ nhận thức sâu sắc rằng, “đoàn kết làm ra sức mạnh”, “đoàn kết là thắng lợi”, Hồ Chí Minh đã không chỉ vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin để thành lập một Đảng Mácxít ở Việt Nam mà còn luôn chăm lo xây dựng, củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, để Đảng ta thực sự là đội tiền phong, bộ tham mưu vững mạnh, người lãnh đạo - người đầy tớ trung thành của nhân dân.
Ngay từ thập niên 1930, trước nguy cơ phân liệt về tư tưởng và tổ chức của những người cộng sản Việt Nam đang đe dọa bước tiến của phong trào cách mạng, Hồ Chí Minh hiểu rõ rằng, vấn đề sống còn đối với đất nước, đối với dân tộc lúc này là “phải hành động, hành động mau lẹ và kiên quyết, không được phép chậm trễ hơn nữa, thiếu một Đảng cách mạng thống nhất lãnh đạo phong trào công nhân, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta sẽ như con tàu không có người cầm lái”(1). Trên tinh thần “bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương”, Người đã sáng suốt, kịp thời, hành động kiên quyết triệu tập và tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa Xuân năm 1930.
Suốt tiến trình xây dựng và phát triển, để đảm bảo vai trò lãnh đạo và xứng đáng là đội tiền phong, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi đoàn kết, thống nhất trong Đảng là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất trong xây dựng Đảng, là sự vận động và phát triển theo đúng quy luật của Đảng cách mạng; là sinh mệnh của Đảng, là vấn đề sống còn của sự nghiệp cách mạng, là cơ sở để xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Đảng Cộng sản là một bộ phận trong hệ thống chính trị nhưng là lực lượng lãnh đạo, là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân, cho nên “sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo”(2). Trên tinh thần tuyệt đối không thỏa hiệp với những xu hướng bè phái, coi sự chia rẽ là tội ác lớn nhất đối với Đảng, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Đoàn kết là là một truyền thống quý báu và “đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành lấy thắng lợi”(3). Cơ sở để xây dựng đoàn kết thống nhất trong Đảng - “Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người”, để không có hiện tượng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” chính là đường lối, quan điểm và Điều lệ của Đảng; là thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc về xây dựng Đảng; là phát huy vai trò gương mẫu trong mọi lĩnh vực công tác cũng như cuộc sống đời thường của đội ngũ cán bộ, đảng viên…
Để xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, yêu cầu trước hết là phải tôn trọng và giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ. Thực tế, Đảng có sức mạnh khi mọi tổ chức Đảng và đảng viên tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Mọi sự rạn nứt, mất đoàn kết trong nội bộ Đảng đều bắt nguồn từ sự buông lỏng nguyên tắc tập trung dân chủ và không chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, không thường xuyên tự phê bình và phê bình. Vì vậy, muốn đoàn kết và thống nhất thật sự trong tư tưởng và hành động, nhất định phải phát huy dân chủ và mở rộng dân chủ. Tuy nhiên, dân chủ không thể tách rời tập trung nghiêm túc mà phải gắn chế độ lãnh đạo tập thể với cá nhân phụ trách; đồng thời, chống tập trung quan liêu, dân chủ quá trớn, chống những tư tưởng và hành động cơ hội chủ nghĩa vô nguyên tắc. Bên cạnh đó, phải chống tình trạng dân chủ hình thức, thống nhất một chiều, thiếu sự tranh luận, thảo luận thấu đáo hoặc hiểu không đúng nguyên tắc này, dẫn đến mất đoàn kết nội bộ và chống dân chủ giả hiệu “miệng nói dân chủ nhưng thực chất là quan chủ”...

Nói về đoàn kết, trong Lời kêu gọi ở Lễ mừng Quốc khánh 2/9/1955, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đoàn kết là một lực lượng vô địch. Lực lượng đoàn kết đã giúp Cách mạng Tháng Tám thành công. Lực lượng đoàn kết đã giúp kháng chiến thắng lợi. Lực lượng đoàn kết sẽ động viên nhân dân từ Bắc đến Nam đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước”. Sau đó, Người nhiều lần khẳng định: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”; “Đoàn kết là thắng lợi”; “Đoàn kết là then chốt của thành công”... Vì thế, đoàn kết là cội nguồn tạo nên sức mạnh lãnh đạo của Đảng, là nhân tố để phát huy trí tuệ và khả năng sáng tạo của những chiến sĩ tiên phong nhằm đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam đến thắng lợi cuối cùng.
Coi trọng đoàn kết, thống nhất trong Đảng - hạt nhân cốt lõi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - cội nguồn sức mạnh làm nên thắng lợi sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, trước khi đi xa về cõi vĩnh hằng, Hồ Chí Minh đã trăn trở, chỉnh sửa, bổ sung nhiều lần bản Di chúc viết tay của mình cho phù hợp với sự phát triển của đất nước và sự chuyển biến của tình hình thế giới; trong đó, Người nêu rõ tầm quan trọng, trách nhiệm, phương thức để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Cụ thể, Người căn dặn trong Di chúc (4): “Trước hết nói về Đảng - nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và dân tộc ta”. Đoàn kết trong Đảng ở đây theo Người: 1) Xuyên suốt và nhất quán trong tư tưởng và hành động, đoàn kết đã trở thành một “truyền thống quý báu của Đảng và của dân ta”. 2) Đó là cơ sở của khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế - là một cội nguồn làm nên sức mạnh của Đảng. Vì thế, “các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. 3) Đoàn kết phải được bảo vệ, gìn giữ và không ngừng củng cố, phát triển trong Đảng. 
Trong gần 90 năm qua, thấm nhuần những chỉ dẫn của Người về đoàn kết thống nhất: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công”(5) và “không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”(6), Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn thành trọng trách mà Tổ quốc và nhân dân giao phó. Trong mỗi bước chuyển của cách mạng, căn cứ vào tình hình trong nước và quốc tế, với chủ trương, đường lối đúng đắn và lãnh đạo thống nhất, với sức mạnh của khối đoàn kết thống nhất trong tư tưởng và trong hành động từ Trung ương xuống cơ sở, Đảng đã lãnh đạo khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước. Từ thực tiễn lịch sử xây dựng và trưởng thành của Đảng, có thể thấy, đoàn kết trong Đảng - cơ sở của khối đại đoàn kết toàn dân không phải chỉ là nhiệm vụ chiến lược của Đảng mà còn là đòi hỏi khách quan của toàn thể dân tộc trong cuộc đấu tranh để giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cho nên, nhất quán và xuyên suốt, mục đích của Đảng “có thể gồm trong 8 chữ là: “ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”(7).
THẤM NHUẦN LỜI DẶN CỦA NGƯỜI VỀ ĐOÀN KẾT
Đoàn kết trong Đảng là sức mạnh, làm nên sức mạnh của Đảng, song như Hồ Chí Minh đã nói, muốn quy tụ được cả dân tộc, Đảng cách mạng phải trong sạch, vững mạnh, đoàn kết thống nhất, “vừa là đạo đức, vừa là văn minh”, phải “tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại”. Tiên phong về trí tuệ, vững vàng về bản lĩnh chính trị, mẫu mực về đạo đức cách mạng; đoàn kết thống nhất trong tư tưởng và hành động của Đảng là yêu cầu khách quan, là nguyên tắc sống còn và đó là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng càng được củng cố thì sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân tộc càng được tăng cường. Đảng đoàn kết, dân tộc đại đoàn kết sẽ nhân nguồn sức mạnh nội lực để đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn và nội dung này đã được khẳng định trong Văn kiện các kỳ đại hội của Đảng.
Thực hiện lời dặn của Người, nhất là trong hơn 30 năm tiến hành đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng đã luôn coi việc giữ gìn đoàn kết nhất trí trên cơ sở đường lối chính trị và các nguyên tắc xây dựng Đảng là sinh mệnh của Đảng; đã kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, gây mất đoàn kết trong Đảng. Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng đều nhấn mạnh vai trò của đoàn kết, coi đoàn kết thống nhất trong Đảng, trước hết là ở cơ quan lãnh đạo có ý nghĩa quyết định sự thành công của cách mạng; cụ thể, Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc”(8).
Theo đó, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền phải có phẩm chất đạo đức, có vai trò tiên phong, gương mẫu và năng lực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo; phải thực sự công bằng, công tâm trong xử lý công việc, thực sự là trung tâm quy tụ, đoàn kết của tổ chức Đảng, của tập thể cơ quan, đơn vị sẽ góp phần vào việc xây dựng và củng cố khối đoàn kết thống nhất trong nội bộ. Đồng thời, phải chú trọng và kịp thời phát hiện, tập trung xử lý dứt điểm tình trạng mất đoàn kết từ khi những biểu hiện này mới manh nha; chủ động, cảnh giác và đấu tranh không khoan nhượng với việc lợi dụng những mâu thuẫn trong nội bộ để kích động, chống phá, phá hoại khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng trên cơ sở đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức và hoạt động theo quy định; mỗi tổ chức Đảng phải giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong tập thể lãnh đạo, trong nội bộ trên tình đồng chí thương yêu lẫn nhau…
Đối với những cấp ủy, tổ chức Đảng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, không thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình, kiểm tra, giám sát; cán bộ lãnh đạo thiếu rèn luyện đạo đức cách mạng, sa vào cá nhân chủ nghĩa: độc đoán, chuyên quyền, kéo bè, kéo cánh, gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ thì phải kịp thời tiến hành kiểm điểm làm rõ đúng sai, xử lý nghiêm những người có khuyết điểm, để củng cố sự đoàn kết thống nhất; phải kịp thời báo cáo lãnh đạo cấp trên...
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” gắn với Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các Quy định, Điều lệ Đảng,v.v.. cho thấy, vẫn còn một số tổ chức Đảng có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở, không thống nhất giữa nói và làm. Trong khi đó, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ xuất hiện ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty...
Không chỉ dừng ở đó, Nghị quyết còn đồng thời nhấn mạnh và chỉ ra 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay trong tổng số 27 biểu hiện suy thoái. Cụ thể, một trong những biểu hiện đó là việc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành… Thực trạng này có biểu hiện kéo dài, chậm được khắc phục, thậm chí còn có xu hướng gia tăng không chỉ ở địa bàn cơ sở. Không ít tổ chức Đảng chưa tôn trọng và thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát. Việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật, Điều lệ Đảng và quy định về những điều đảng viên không được làm, quy định về việc nêu gương ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực còn chưa nghiêm. Những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân có chiều hướng gia tăng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao; những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, “lợi ích nhóm”, cục bộ địa phương, tha hóa quyền lực… chưa được phát hiện và ngăn chặn kịp thời, dẫn đến sự đoàn kết thống nhất trong tư tưởng và hành động của một số cấp ủy còn yếu.
Trong khi đó, tác động của bối cảnh toàn cầu hóa với những thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn đan xen; với nhiều diễn biến nhanh chóng, khó lường và phức tạp càng đòi hỏi Đảng phải có quyết tâm chính trị cao, sự đoàn kết thống nhất chặt chẽ để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ. Hơn lúc nào hết, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng càng phải được thể hiện rõ, phải được khẳng định trong thực tiễn để làm cơ sở cho khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần phòng và chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; phòng và chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Để giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng theo tinh thần Đại hội XII của Đảng và làm theo những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, trong thời gian tới, cấp ủy các cấp cần chú trọng những nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một là, xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, tạo sự thống nhất về chính trị tư tưởng và các chương trình hành động; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, bởi đây là cơ sở quan trọng nhất để xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đảm bảo thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thiểu số phục tùng đa số, cá nhân phục tùng tổ chức, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương. Cụ thể, “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi”, đảm bảo công khai, cởi mở, bình đẳng, dân chủ giữa cấp trên và cấp dưới; dân chủ trên mọi lĩnh vực chính trị, tư tưởng, văn hóa; kết hợp hài hòa giữa dân chủ gián tiếp và dân chủ trực tiếp, nhất là trong xây dựng, ban hành các chỉ thị, nghị quyết, chính sách. Để thực hiện dân chủ thực chất, phải khắc phục bệnh dân chủ hình thức; khắc phục tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, độc đoán, coi thường ý kiến người khác, coi thường quần chúng,v.v.. song cũng phải ngăn ngừa việc lợi dụng dân chủ để gây rối theo kiểu tự do vô chính phủ.
Hai là, “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Coi tự phê bình và phê bình là nguyên tắc để phát triển Đảng, là thang thuốc nhằm mục đích “trị bệnh cứu người”, qua đó củng cố và tăng cường kỷ luật của Đảng, phát huy dân chủ và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Trong tự phê bình và phê bình, phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu; đồng thời, thông qua tự phê bình và phê bình trên tinh thần nêu gương, tự giác, chân thành, thẳng thắn, khách quan, trung thực, không mệnh lệnh, áp đặt,v.v.. mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu phải gương mẫu“tự soi, tự sửa”, giúp đồng chí và quần chúng “tự soi, tự sửa”, để mỗi người có tinh thần trách nhiệm hơn trong hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. 
Ba là, “mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, tận tâm, tận lực vì Tổ quốc và nhân dân phục vụ để “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Qua đó, tạo sự chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm của tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên đối với việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt, phải lựa chọn và xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực công tác; luôn thống nhất giữa nói và làm; có vai trò tiên phong, nêu gương, đi đầu trong mọi lĩnh vực, thực sự là trung tâm quy tụ, đoàn kết của mỗi tổ chức Đảng, mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; đồng thời, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
Bốn là, tăng cường và đẩy mạnh thực hiện công tác kiểm tra và giám sát, mở rộng trong kiểm tra và giám sát. Trong kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm với tinh thần quyết tâm cao, bản lĩnh vững vàng, giữ vững nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong nhiệm kỳ và hằng năm để sớm phát hiện những biểu hiện vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, những biểu hiện đoàn kết hình thức, giả hiệu, “bằng mặt không bằng lòng”... Đồng thời, tập trung xử lý dứt điểm tình trạng mất đoàn kết nội bộ, những việc lợi dụng bất đồng ý kiến, mâu thuẫn trong nội bộ dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm tan rã khối đoàn kết thống nhất trong Đảng.
Năm là, đẩy mạnh, tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với các quy định về nêu gương trên các phương tiện truyền thông, nhất là Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương". Thông qua việc nêu gương, nhân rộng các tấm gương điển hình của tập thể và cá nhân để “giáo dục lẫn nhau”, thiết thực giữ gìn và củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xây dựng sự đồng thuận, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị.
50 năm sau khi Hồ Chí Minh đi xa, những điều Người trăn trở, dặn lại trong Di chúc về đoàn kết trong Đảng vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự, đặc biệt là ở những giai đoạn có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của một
Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh./.
TS. Đinh Quang Thành
 -------

(1) Épghênhi Cabêlép: Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh Niên, H, 1998, tr.244.

(2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, xuất bản lần thứ 3, H, 2011, t.9, tr.368, 177.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.611-612.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.119.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.55.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.49.

(8) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, H, 2016, tr.160. 

MINH CHỨNG SINH ĐỘNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM



Từ khi thành lập ngày 2-9-1945, Việt Nam luôn kiên trì theo đuổi mục tiêu không ngừng đảm bảo quyền con người cho mọi người dân. Những thành tựu trong đảm bảo các quyền dân sự và chính trị là minh chứng sinh động nhất.
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT
Kể từ khi nộp Báo cáo quốc gia lần thứ hai về việc thực thi Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 2002 đến nay, Việt Nam ngày càng chú trọng công tác xây dựng pháp luật và đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, đặc biệt là sau Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Chỉ trong vòng hơn 10 năm, rất nhiều luật quan trọng liên quan trực tiếp đến các quyền dân sự, chính trị đã được ban hành và liên tục được rà soát để sửa đổi, bổ sung nhằm mục đích ngày càng ghi nhận đầy đủ nhất các quyền này.
Hiến pháp được Quốc hội thông qua năm 2013 đã đánh dấu bước tiến quan trọng của Việt Nam trong nhận thức về quyền con người cũng như trách nhiệm của Nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trên tất cả các lĩnh vực. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới, trong đó bao gồm các nội dung về quyền con người, quyền công dân. Chỉ tính từ tháng 1-2014 đến nay, đã có khoảng hơn 100 luật, pháp lệnh được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua, trong đó có nhiều luật quan trọng về quyền con người, chẳng hạn như: Bộ luật Hình sự năm 2015; Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; Luật Báo chí năm 2016; Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; Luật An ninh mạng năm 2018; Luật Tố cáo năm 2018; Luật Đặc xá năm 2018... Các đạo luật này quy định đầy đủ, rõ ràng hầu hết các quyền dân sự và chính trị; các cơ chế bảo đảm và phát huy các quyền này tại Việt Nam...

Các đạo luật điều chỉnh các lĩnh vực chuyên ngành cụ thể có liên quan đến quyền dân sự và chính trị cũng đều có quy định về nguyên tắc đảm bảo thực thi quyền. Pháp luật về quyền giám sát của các cơ quan dân cử, quyền trực tiếp giám sát, kiểm tra của công dân đối với các hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức đã đổi mới một bước, theo đó hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội đã được thực hiện thường xuyên hơn. Các hình thức giám sát được tổ chức đa dạng, phong phú như việc trả lời chất vấn của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát; bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn...
TỰ DO NGÔN LUẬN, BÁO CHÍ, TÔN GIÁO 
Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam luôn coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp giữa các tôn giáo, đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo. Pháp luật Việt Nam đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân. 
Ở Việt Nam, không có việc cưỡng ép từ bỏ niềm tin, theo dõi, đe dọa, xúc phạm, giam giữ, tra tấn, hạn chế quyền tiếp cận tôn giáo. Việt Nam nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để kích động hận thù, chia rẽ, gây mâu thuẫn và xung đột, làm tổn hại đến an ninh, ổn định của đất nước và cuộc sống yên bình của người dân. Các tôn giáo ở Việt Nam chung sống hòa hợp trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hiện có 42 tổ chức thuộc 15 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo, thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo. Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo in ấn, phát hành kinh sách và đồ dùng việc đạo; đảm bảo tự do tôn giáo tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số.
 Về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do hội họp, thực tiễn cuộc sống là bằng chứng rất rõ nét về việc thụ hưởng quyền này ở Việt Nam. Có thể thấy, báo chí ở Việt Nam đã phát triển không ngừng, trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội, nhân dân, là công cụ bảo vệ quyền của người dân, lợi ích của xã hội, hỗ trợ công tác kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật, chính sách. 
Tính đến tháng 6-2018, cả nước đã có tới có 857 cơ quan báo chí với 1.119 ấn phẩm, số lượng trang thông tin điện tử tổng hợp được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép đến hết tháng 6-2018 là 1.510. Hơn 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam. Internet phát triển vô cùng nhanh chóng đang tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận thông tin, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa. Tỷ lệ hộ gia đình có truy cập internet là 28,35%, số người dùng Internet ở Việt Nam là khoảng 50 triệu người, chiếm 54% dân số (so với 30,8 triệu người năm 2013). Việt Nam có 58 triệu tài khoản sử dụng Facebook.
Quyền lập hội đã được quy định trong Hiến pháp 2013, Bộ luật hình sự 2015 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Đến năm 2017, Việt Nam có 68.125 hội, trong đó có các tổ chức, hiệp hội của thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông dân, người cao tuổi, người khuyết tật, các hội từ thiện, các tổ chức khoa học, nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ. 5 tổ chức chính trị-xã hội lớn có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội là: Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng Luật về Hội. Dự thảo Luật về Hội đã được tham vấn nhiều lần ý kiến của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, các chuyên gia và người dân để trình Quốc hội cho ý kiến.
Quyền bình đẳng trước tòa án và quyền được xét xử công bằng đã được quy định trong Hiến pháp, các đạo luật liên quan và đã đi vào thực tế. Năm 2017, Tòa án gia đình và người chưa thành niên đã được thành lập nhằm bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em dưới 18 tuổi. Các cơ chế tố tụng được bảo đảm theo hướng công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người; thủ tục phiên tòa được đổi mới. Việc tiếp cận công lý của người dân luôn được khẳng định … Năm 2018, các Trung tâm trợ giúp pháp lý (TGPL) đã tiếp nhận, thực hiện 58.887 vụ việc TGPL cho 51.608 lượt người, trong đó có 18.358 vụ việc tham gia tố tụng (tăng 12,7% so với năm 2017). Đặc biệt, 100% các vụ án hình sự mà yêu cầu phải chỉ định luật sư bào chữa thì đều có sự tham gia của luật sư, trợ giúp viên pháp lý.
Lĩnh vực hành chính và tư pháp - lĩnh vực gắn chặt với người dân, doanh nghiệp - đã được chú trọng nâng cao chất lượng. Một khối lượng lớn nhu cầu liên quan đến vấn đề hộ tịch, quốc tịch, chứng thực đã được giải quyết, trong đó các cơ quan có chức năng của Việt Nam thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính, từng bước hiện đại hóa, tạo thuận lợi cho người dân cũng như đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản lý nhà nước. 
Năm 2018, số lượng đăng ký hộ tịch đều tăng so với năm 2017, đặc biệt là số lượng đăng ký khai sinh lại tăng rất lớn (đăng ký khai sinh mới cho 2.180.030 trường hợp, đăng ký khai sinh lại cho 1.413.987 trường hợp và 5.354 trường hợp khai sinh có yếu tố nước ngoài; đăng ký kết hôn cho tổng số 787.764 cặp, trong đó có 20.849 trường hợp có yếu tố nước ngoài). Năm 2018, Bộ Tư pháp đã tham mưu, trình Chủ tịch nước giải quyết 5.452 hồ sơ về quốc tịch (gồm 5.278 hồ sơ xin thôi, 164 hồ sơ xin nhập, 10 hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam); trả lời tra cứu quốc tịch Việt Nam của 1.875 trường hợp theo đề nghị của các cơ quan.
GIẢI PHÁP KHI THỰC THI CÔNG ƯỚC
 Trong quá trình thực hiện Công ước ICCPR với mục tiêu hết sức tốt đẹp, Việt Nam phải đương đầu với một số khó khăn,thách thức cả về chủ quan và khách quan. Một là, hậu quả của nhiều cuộc chiến tranh và sự phát triển kinh tế đã khiến môi trường bị tàn phá; Hai là, thu nhập của người dân còn ở mức trung bình thấp; điều kiện kinh tế - xã hội còn hạn chế; Ba là, khuôn khổ pháp luật về quyền con người vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, năng lực tổ chức thực hiện pháp luật còn hạn chế, hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật còn chưa cao; Bốn là, mức độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng và nhóm dân cư chưa đồng đều; thiếu hụt nguồn lực; Năm là, chất lượng giáo dục về quyền con người mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin; phong tục, tập quán lạc hậu; biến động của tình hình khu vực và quốc tế...
Những thách thức trên không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến mỗi người dân mà còn làm phân tán nguồn lực của đất nước, làm giảm hiệu quả của các chính sách khuyến khích và thúc đẩy phát triển quyền dân sự và chính trị ở Việt Nam. Tuy vậy, Việt Nam vẫn nỗ lực vượt qua và đặt ưu tiên cao nhất là tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách pháp luật và tư pháp, thực thi có hiệu quả các quy định pháp luật để thành công hơn nữa trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền dân sự và chính trị ở Việt Nam.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, để thực hiện các mục tiêu trên, cần tập trung vào một số giải pháp sau: Một là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ, thúc đẩy và phát triển quyền con người, quyền công dân; Hai là, xây dựng chế độ trách nhiệm của cán bộ, công chức nhà nước và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát bảo đảm nhân dân tham gia thực sự công việc Nhà nước; Ba là, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, giảm sự phân hóa giàu nghèo, nền tảng cho phát triển bền vững; Bốn là, tăng cường bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự; Năm là, tăng cường sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đối với cơ quan tư pháp. Sáu là, tăng cường sự giám sát của đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm sự tham gia trong lĩnh vực đấu tranh phát giác tội phạm và tham gia hoạt động xét xử./.
Pham Tuấn Nghĩa

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...