Thứ Tư, 20 tháng 2, 2019

PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA - SỰ SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA - SỰ SÁNG TẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Trong nền kinh tế thế giới tồn tại các mô hình kinh tế thị trường: kinh tế thị trường tự do, kinh tế thị trường xã hội, kinh tế thị trường hỗn hợp. Và trong mỗi quốc gia lại có những biến thể khác nhau xuất phát từ quan niệm, trình độ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tham khảo kinh nghiệm phát triển của các quốc gia trên thế giới, và từ thực tiễn phát triển Việt Nam, Đảng ta đã đề ra đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là bước phát triển mới về tư duy lý luận, một sự vận dụng độc lập, sáng tạo của Đảng ta.
1. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích sự phát triển của chủ nghĩa tư bản (CNTB), C. Mác đã dự báo về xã hội tương lai trên những nét đại thể. C. Mác cho rằng, với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất xã hội, dẫn đến phá vỡ trật tự, kết cấu của quan hệ sản xuất tư bản, mở đường, xác lập quan hệ sản xuất mới, phù hợp với trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất để thúc đẩy một phương thức sản xuất mới ra đời. 
C. Mác không chỉ dự báo chủ nghĩa xã hội ra đời từ xã hội tư bản đã phát triển cao, mà C. Mác cũng đã nói đến kiểu phát triển “rút ngắn” lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) qua trường hợp nước Nga. Theo C. Mác, khi vừa thoát thai từ xã hội tư bản, xã hội cộng sản không thể bước ngay vào giai đoạn cao, tức giai đoạn xã hội cộng sản “đã phát triển trên cơ sở của chính nó”. Nó phải trải qua giai đoạn đầu hay giai đoạn thấp của xã hội cộng sản, mà “về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó lọt lòng ra”(1). Xã hội cộng sản với tính cách chỉnh thể thì không có sẵn trong lòng xã hội tư bản, song những tiền đề, mầm mống, yếu tố, thì đã nảy sinh trong lòng xã hội tư bản. 
Như vậy những mầm mống, yếu tố của CNXH, nảy sinh trong lòng xã hội tư bản trên cơ sở phát triển kinh tế thị trường. Chính C. Mác cũng đã chỉ ra vai trò quan trọng của sản xuất hàng hóa đối với sự phát triển của xã hội. Ông viết: “Trong những xã hội do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối thì của cải xã hội biểu hiện ra là một đống hàng hóa khổng lồ, những hàng hóa chồng chất lại”(2).
C. Mác khi dự báo về sự phát triển của xã hội tương lai, xã hội cộng sản chủ nghĩa ở giai đoạn cao, lúc đó nhà nước tự tiêu vong và khi ấy kinh tế hàng hóa (kinh tế thị trường) cũng không còn tồn tại. “Nhà nước sẽ có thể tiêu vong hoàn toàn khi xã hội đã thực hiện được nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, nghĩa là khi người ta đã rất quen tôn trọng những quy tắc cơ bản của đời sống chung trong xã hội, và năng xuất lao động của người ta đã lên cao đến mức người ta sẽ tự nguyện làm hết năng lực”(3) và “Cơ sở kinh tế làm cho nhà nước tiêu vong hoàn toàn là chủ nghĩa cộng sản đạt tới một trình độ phát triển cao khiến mọi sự đối lập giữa lao động trí óc và lao động chân tay không còn nữa, và do đó, cũng không còn một trong những nguồn gốc chủ yếu của sự bất bình đẳng xã hội hiện nay”(4). Như vậy, nhà nước và kinh tế thị trường trước khi không còn cơ sở tồn tại, thì bản thân chúng lại cần thiết cho quá trình xây dựng thành công một xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Logic này được V.I.Lê-nin khẳng định từ chính thực tiễn phát triển của nước Nga. Chúng ta biết, khi Cách mạng Tháng Mười thành công, ngay bản thân V.I.Lê-nin, trong giai đoạn đầu ông cũng triển khai chính sách cộng sản thời chiến. Tuy nhiên, sau đó Người nhận ra sai lầm, nóng vội, và chỉ ra chính sách cộng sản thời chiến trước đây được rất nhiều người trong Đảng hiểu như là một chính sách cần phải được tiếp tục trong chặng đường tiếp theo của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thì thực tế đã cho thấy, sau chiến tranh, không thể tiếp tục con đường đó, bởi nó đối lập Đảng với quần chúng nhân dân, công nhân với nông dân và chỉ làm trầm trọng thêm nền kinh tế vốn đã hoang tàn của đất nước. Và người chỉ ra con đường khắc phục thông qua triển khai thực hiện chính sách kinh tế mới. Thực chất của chính sách kinh tế mới là chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang khuyến khích phát triển kinh tế hàng hóa, chấp nhận mức độ nhất định cơ chế thị trường. Để phát triển lực lượng sản xuất trong điều kiện mới hình thành còn nhiều khó khăn, cần phải duy trì nền kinh tế nhiều thành phần. Trong khi vận dụng chính sách kinh tế mới, V.I.Lênin đã dùng từ “quá độ” để chỉ rõ trong nền kinh tế của nước Nga khi đó “có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội”(5). Và V.I.Lê-nin còn khẳng định rằng: “Chúng ta không thể hình dung một thứ chủ nghĩa xã hội nào khác hơn là chủ nghĩa xã hội dựa trên tất cả nhũng bài học mà nền văn minh lớn của chủ nghĩa tư bản đã thu được”(6). Rất tiếc rằng, mấy năm sau khi V.I.Lênin qua đời, chính sách kinh tế mới đã sớm bị dừng lại, không được tiếp tục hoàn chỉnh, bổ sung trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô.
2. Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước ta bắt đầu một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hoà bình, thống nhất, độc lập và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên do chủ quan, nóng vội, trong kế hoạch kinh tế - xã hội 1976 - 1980 đề ra một số chỉ tiêu quá lớn về quy mô, quá cao về tốc độ xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất; đã duy trì quá lâu cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp, chậm đổi mới các chính sách, chế độ kìm hãm sản xuất; đã quan liêu, xa rời thực tế, không nhạy bén với những thay đổi của vận động xã hội, bảo thủ, trì trệ, lạc quan thiếu cơ sở. Bên cạnh đó tình hình quốc tế hết sức phức tạp đã tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nền kinh tế đến khủng hoảng.
Trong thực tiễn xuất hiện các mô hình mới, vượt qua khuôn khổ của hoạt động kinh tế theo mô hình kế hoạch hóa tập trung, như khoán hộ ở Đồ Sơn (Hải Phòng) và ở Vĩnh Phúc. Chủ động nắm bắt và khái quát thành chủ trương, Đảng ta đã ban hành Chỉ thị 100 năm 1981 và Nghị quyết số 10 năm 1988 làm thay đổi căn bản kinh tế nông nghiệp của Việt Nam.
Đại hội VI đã đề ra đường lối đổi mới, trong đó có đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm tạo ra động lực thúc đẩy các đơn vị kinh tế và quần chúng lao động tích cực phát triển sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Kiên quyết xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thiết lập và hình thành đồng bộ cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa (XHCN), đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Cơ chế mới lấy kế hoạch hoá làm trung tâm, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ, quản lý bằng phương pháp kinh tế là chủ yếu kết hợp với biện pháp hành chính, giáo dục, thực hiện phân cấp quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thiết lập trật tự, kỷ cương trong mọi hoạt động kinh tế.
Như vậy, trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, Đảng mới nêu ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên CNXH, chưa đề cập đến cơ chế thị trường và phát triển nền kinh tế thị trường. Tuy vậy, đây là dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về con đường và phương pháp xây dựng CNXH ở nước ta.
Tại Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3-1989), Đảng đã khẳng định thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, coi đây là chính sách có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH. Đồng thời, Nghị quyết đã đưa ra quan điểm mới, mang tính chất bước ngoặt về kinh tế quốc doanh, tạo cơ sở quan trọng cho việc đẩy mạnh sắp xếp lại khu vực kinh tế này. Cụ thể, kinh tế quốc doanh phải được củng cố và phát triển, nắm vững vị trí then chốt trong nền kinh tế, có lực lượng đủ sức chi phối thị trường để thực hiện tốt vai trò chủ đạo, bảo đảm cho sự phát triển ổn định và có hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo định hướng XHCN, song không nhất thiết chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành, nghề. Đáng chú ý, tại Hội nghị này, lần đầu tiên Đảng khẳng định rằng, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, thị trường xã hội là một thể thống nhất, thông suốt trong cả nước và gắn với thị trường thế giới với nhiều lực lượng khác nhau tham gia lưu thông hàng hoá, đồng thời đề cập đến cơ chế thị trường. Mặc dù chưa được đề cập trực tiếp với tư cách là cơ chế quản lý nền kinh tế, song Đảng cũng chỉ rõ, cơ chế thị trường phải được vận dụng nhất quán trong kế hoạch hóa và các chính sách kinh tế.
Đến Đại hội VII (6-1991), Văn kiện đã nêu rõ cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác. Trong cơ chế đó, các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh; hợp tác, liên doanh tự nguyện, bình đẳng, cạnh tranh hợp pháp. Bên cạnh đó, Đảng cũng chỉ rõ, phải xây dựng và phát triển đồng bộ các thị trường, xóa bỏ độc quyền và đặc quyền ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế. Như vậy, đây là lần đầu tiên Đảng đề cập đến cơ chế thị trường với tư cách là cơ chế vận hành nền kinh tế. Có thể xem đây là một bước tiến lớn trong nhận thức, trong tư duy về thị trường, cơ chế thị trường của Đảng ta.
Đến Đại hội VIII (6-1996), trên cơ sở tổng kết 10 năm đổi mới (1986 - 1996), Đảng đã rút ra một số kết luận mới về mối quan hệ giữa sản xuất hàng hóa và chủ nghĩa xã hội, giữa kế hoạch hóa và thị trường, giữa thị trường trong nước và quốc tế, giữa quyền quản lý của Nhà nước và quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp, về phân phối và lấy đó làm cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với mục tiêu xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, tiếp tục tạo lập đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Trong đó đáng chú ý Đảng ta đưa ra quan niệm mới, rất quan trọng về kinh tế hàng hóa và CNXH: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng”(7).
Tại Đại hội IX (4-2001), khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN mới được chính thức sử dụng trong các văn kiện của Đảng. Và cũng từ Đại hội này, Đảng xác định nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, đồng thời làm rõ một số khía cạnh liên quan đến nội hàm của mô hình kinh tế này(8).
Đại hội XII đã xác định rõ: Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.
Điều kiện cơ bản để huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển là bảo đảm tự do kinh doanh và thúc đẩy cạnh tranh; thiết lập và hoàn thiện cơ chế thị trường lành mạnh, minh bạch; phát triển đầy đủ, đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường; các chủ thể thị trường cạnh tranh bình đẳng; đặc biệt cần có sự bình đẳng trong cơ hội đầu tư, sản xuất và kinh doanh đối với mọi chủ thể kinh tế, không phân biệt đối xử với cá nhân hay tập thể, doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nhà nước.
Thị trường cũng chính là cơ chế chủ yếu thực hiện phân phối các thành quả của tăng trưởng kinh tế, trong đó thu nhập của mỗi người được hình thành trên cơ sở và phù hợp với kết quả lao động cũng như mức đóng góp về các nguồn lực trong quá trình tạo ra của cải xã hội. Đây là những tiền đề quan trọng để mọi chủ thể xã hội phát huy năng lực và sức sáng tạo, làm giàu cho chính mình và làm giàu cho xã hội.
3. Như vậy bản thân vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn nước ta là quá trình chuyển biến hết sức sâu sắc, mang tính cách mạng. Việc vận dụng một cách độc lập, tự chủ và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Đảng ta có thể khái quát chung ở mấy điểm như sau:
Thứ nhất, từ sự thúc bách của cuộc sống, từ nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trong quá trình đổi mới cũng như nghiên cứu kế thừa tư tưởng của các nhà kinh điển về một xã hội tương lai, Đảng ta đã thực hiện đổi mới, sáng tạo thừa nhận kinh tế nhiều thành phần, chấp nhận cơ chế thị trường và khẳng định nó không đối lập với chủ nghĩa xã hội, thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Có thể nói đây là sự lựa chọn khách quan, sáng tạo, độc lập và phù hợp với xu thế vận động chung của nền kinh tế thế giới. Quá trình đổi mới nhận thức này diễn ra từng bước và được kiểm nghiệm bởi thực tiễn phát triển của nền kinh tế và tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện phù hợp với thực tiễn phát triển của nền kinh tế nước nhà. Quá trình đổi mới không theo liệu pháp sốc như một số quốc gia, mà nó là quá trình thích ứng, tạo cơ chế cho sự phát triển của lực lượng sản xuất và kiện toàn quan hệ sản xuất cho thích ứng với mỗi giai đoạn, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sau sự kiện sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu cũ, nhiều quốc gia thực hiện chuyển đổi mô hình kinh tế, song Việt Nam căn cứ vào thực tế phát triển của mình, đã hoàn toàn tự chủ, độc lập, sáng tạo trong xác lập mô hình kinh tế mới phù hợp, khai thác được sức mạnh các nguồn lực tạo sự phát triển ấn tượng trong hơn 30 năm qua, đưa Việt Nam từ quốc gia thiếu đói trở thành nước xuất khẩu hàng đầu thế giới về nhiều mặt hàng quan trọng và có thu nhập đạt mức trên 2.500 USD/người (năm 2018).
Thứ hai, cùng với quá trình, bước đi đổi mới hợp lý, đó là sự độc lập, sáng tạo, có sơ sở khoa học trong xác định mô hình kinh tế mới - mô hình kinh thế thị trường định hướng XHCN. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng XHCN chính là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN có những điểm tương đồng, nhưng cũng có những điểm khác biệt về bản chất so với kinh tế thị trường tư bản hiện đại. Điểm tương đồng với kinh tế thị trường tư bản hiện đại như: Dựa trên nền tảng của chế độ phân chia sở hữu và đa sở hữu; Vận hành của nền kinh tế chủ yếu thông qua và bằng cơ chế thị trường; Có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước; Thực hiện các hình thức phân phối đa dạng. Và đương nhiên cũng khác với kinh tế thị trường XHCN mà Trung Quốc thực hiện. Trung Quốc đã kết thúc thời kỳ quá độ, và nền kinh tế thị trường của họ hiện nay được họ gọi là nền kinh tế thị trường XHCN.
Thực hiện mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và CNXH, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay. Bản thân kinh tế thị trường cho đến nay được xem là phương cách hiệu quả nhất trong phân bổ, khai thác các nguồn lực cho sự phát triển đi lên văn minh hiện đại. Chủ nghĩa xã hội là xã hội tương lai, một xã hội bảo đảm các điều kiện phát triển toàn diện của con người. Do vậy, lựa chọn kinh tế thị trường là sự lựa chọn phù hợp với các quy luật phát triển và các điều kiện lịch sử cụ thể của thời đại và của những nước đi sau, cho phép các nước này rút ngắn được con đường đi của mình tới CNXH trên cơ sở sử dụng được ưu thế cũng như hạn chế những khuyết tật của thị trường.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN là kiểu tổ chức kinh tế đặc biệt, vừa tuân theo những nguyên tắc và quy luật của hệ thống kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng XHCN. Chính tính chất, đặc trưng cơ bản này chi phối và quyết định phương tiện, công cụ, động lực của nền kinh tế và con đường đạt tới mục tiêu là sử dụng kinh tế thị trường, đồng thời với nâng cao hiệu lực và hiệu quả điều tiết của Nhà nước XHCN, gắn với việc phát huy các nguồn lực xã hội, vai trò của xã hội, nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển rút ngắn để sớm đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN là một dạng mô thức kinh tế mới, chưa từng có trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường. Cũng có thể nói kinh tế thị trường là “cái phổ biến”, còn kinh tế thị trường định hướng XHCN là ‘cái đặc thù” của Việt Nam, tương thích với điều kiện, đặc điểm cụ thể của Việt Nam và phù hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế thế giới. Nói kinh tế thị trường định hướng XHCN là muốn nhấn mạnh đích đến CNXH, khác với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và tất nhiên cũng chưa phải kinh tế thị trường XHCN như quan niệm của Trung Quốc. Bởi vì, Việt Nam đang ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa, đã có nhưng chưa đầy đủ các yếu tố của CNXH. Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là hướng tới xây dựng thành công CNXH thông qua sử dụng kinh tế thị trường.
Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là sự tiếp thu có chọn lọc thành tựu của văn minh nhân loại, phát huy vai trò tích cực của kinh tế thị trường trong việc thúc đẩy phát triển sức sản xuất, xã hội hóa lao động, cải tiến kỹ thuật - công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều của cải, góp phần làm giàu cho xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Đây là sự lựa chọn tự giác con đường và mô hình phát triển trên cơ sở quán triệt chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nắm bắt đúng quy luật khách quan và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là bước phát triển mới về lý luận của Đảng ta trong quá trình đổi mới. Đây là sự vận dụng sáng tạo từ chỉ dẫn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về CNXH và con đường đi lên CNXH, đặc biệt những chỉ dẫn của Lê-nin trong chính sách kinh tế mới; đồng thời, xuất phát từ tổng kết thực tiễn phát triển của Việt Nam giai đoạn vừa qua.
Thứ ba, sự sáng tạo trong triển khai kinh tế thị trường định hướng XHCN, còn là ở chỗ, phát triển kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Chúng ta biết, trong kinh tế thị trường các chủ thể cạnh tranh nhau với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Chính vì vậy, đi liền với tăng trưởng là sự phân hóa giàu nghèo, không ít người yếu thế bị bật ra khỏi vòng quay của nền kinh tế, cũng vì vậy nảy sinh không ít hiện tượng tiêu cực và các tệ nạn xã hội. Trong chủ nghĩa tư bản (CNTB), nhân dân lao động là người làm thuê, mục tiêu của CNTB là tăng lợi nhuận, duy trì sự thống trị của giai cấp tư sản. Để đạt tới mục tiêu đã được xác định, CNTB đã có nhiều chủ trương, giải pháp về các vấn đề xã hội, trong đó có những mặt tiến bộ như thực hiện giảm nhẹ sự bất bình đẳng trong xã hội cũng như tìm cách giảm căng thẳng trong xã hội. Tuy nhiên, những mặt tiến bộ ấy không bền vững vì mâu thuẫn cơ bản của CNTB là xã hội hóa của sản xuất và chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vẫn còn tồn tại. Trong kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển kinh tế phải đi liền với việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội. “Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưng mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế”(9) và “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển”(10). Đây là nét sáng tạo của Đảng ta trong vận dụng các tư tưởng của các nhà kinh điển nhằm hiện thực hóa mục tiêu của xã hội mới trong từng chặng đường phát triển kinh tế thị trường. Không ít quốc gia trên thế giới trong thực tiễn phát triển đã có thời kỳ phát triển kinh tế bỏ qua các vấn đề xã hội và họ đã phải trả giá. Ngay bản thân Trung Quốc, thời kỳ đầu cải cách họ cũng chưa chú ý đến vấn đề xã hội, và vì vậy phân hóa giàu nghèo gia tăng mạnh mẽ. Đến Đại hội XVII Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 2007) họ đã phải chủ trương từ “tam vị nhất thể” - bao gồm kinh tế, chính trị và văn hoá sang “tứ vị nhất thể” - bao gồm kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội. 
Thứ tư, tự chủ, sáng tạo trong đổi mới phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam không chỉ là ở xác định nội dung, bước đi mà còn ở phương thức thực hiện. Việt Nam thực hiện đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN theo phương cách tạo sự phát triển để ổn định xã hội. Việt Nam là nước nghèo, hạ tầng kém phát triển, đời sống của người dân khó khăn, do đó rất cần có sự phát triển kinh tế, tạo cơ sở, nguồn lực cho giải quyết các vấn đề xã hội. Chính vì vậy trong đổi mới, Việt Nam bắt đầu từ đổi mới kinh tế, sau đó mới thực hiện đổi mới đồng bộ giữa kinh tế với chính trị. Đây cũng là cách làm chủ động, sáng tạo và hiệu quả của Việt Nam. Khác với chúng ta, Liên Xô trước đây đã thực hiện quá trình cải cách, đổi mới chính trị, lấy đó làm cơ sở cho cải cách, đổi mới kinh tế. Và thực tế Liên Xô đã mất cơ sở chính trị cho quá trình đổi mới, đẩy quá trình đổi mới kinh tế chệch hướng (tư nhân hóa hàng loạt tài sản quốc gia, mà sau này chính quyền ông Putin phải điều chỉnh). Trung Quốc thực hiện cải cách theo phương châm ổn định để phát triển. Điều này được luận giải bởi đặc thù của đất nước Trung Quốc quá rộng lớn, đông dân, cần có sự ổn định mới có thể tạo sự phát triển./.
-----------------------------------------------------------
(1) C. Mác - Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, t 19, tr.33
(2) V.I. Lenin Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2005, t.27, tr.472
(3) V.I.Lenin: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2005, t.33. tr.125
(4) V.I.Lenin: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2005, t.33. tr.118
(5) V.I.Lênin. Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, t.43, tr.248
(6) V.I.Lênin. Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, t.36, tr.334
(7) Văn kiện Đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, Nxb CTQG, H.1996, tr.72
(8) Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H.2001, tr.86 - 88
(9) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI. NXB Sự thật, H. 1987, tr 86
(10) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Nxb CTQG, H. 1996, tr 113
PGS, TS. Vũ Văn Hà
Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản
http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2019/54145/Phat-trien-nen-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu.aspx

THỰC TIỄN DÂN CHỦ VÀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM – SỰ THẬT KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN


THỰC TIỄN DÂN CHỦ VÀ NHÂN QUYỀN
Ở VIỆT NAM – SỰ THẬT KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN
Khánh Anh

Ngay từ những ngày đầu năm 2019, vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” lại được những “nhà dân chủ mới” tìm mọi cách “làm nóng lên” nhằm phục vụ mưu đồ chống Đảng, Nhà nước Việt Nam. Điển hình là bài viết “Thành tích vi phạm nhân quyền năm 2018 của Việt Nam”, đăng trên trang mạng Bauxite Việt Nam của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW). Nội dung bài viết đã xuyên tạc trắng trợn tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc này.
Pháp luật Việt Nam thể hiện tôn trọng quyền con người
Với mưu đồ chống phá, mở đầu bài viết “nhà dân chủ” này “lớn tiếng”: Tại Việt Nam nhân quyền là một ân huệ do nhà cầm quyền ban phát cho người dân… đảng và nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã có một định nghĩa về nhân quyền trái ngược với định nghĩa về nhân quyền phổ quát ở các nước tự do dân chủ trên thế giới. Tuy nhiên, những lời lẽ xuyên tạc ngông cuồng đó của Y không thể “che lấp” sự thật, không thể phủ nhận được bản chất nhân quyền ở Việt Nam hiện nay.
Đối với Việt Nam, nhân quyền được đặt ra xuất phát từ mục tiêu và bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời bao quát rộng rãi trên các lĩnh vực. Để xác lập cơ sở cho việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, Đảng ta đã xác định những tư tưởng và đường lối về nhân quyền. Các quan điểm của Đảng, Nhà nước về nhân quyền được thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng (Cương lĩnh chính trị, Nghị quyết, Chỉ thị,…) và văn kiện của các cơ quan Nhà nước (Báo cáo của Chính phủ, Sách trắng của Bộ Ngoại giao,…).  Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã hiến định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Bên cạnh đó, Việt Nam luôn ủng hộ việc tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nhân quyền trên cơ sở đối thoại bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, vì mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền con người. Việt Nam cũng cho rằng, không nước nào có quyền sử dụng vấn đề nhân quyền làm công cụ can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia, gây đối đầu, gây sức ép chính trị, thậm chí sử dụng vũ lực hoặc làm điều kiện trong quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại,… với các nước khác. Với Việt Nam, quan điểm của Đảng, Nhà nước về nhân quyền là đúng đắn, khoa học, hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc, nội dung cơ bản và xu thế phát triển theo hướng tiến bộ của luật pháp quốc tế nói chung và trong lĩnh vực nhân quyền nói riêng.
2. Thực tiễn dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam năm 2018 là không thể phủ nhận.
“Dựa hơi” vào tài liệu phi lý của HRW, bằng lối suy diễn tự biện, vô căn cứ người viết đã xuyên tạc: năm 2018 là một năm tồi tệ nhất về “thành tích” vi phạm nhân quyền ở Việt Nam. Để “minh chứng” cho những lời lẽ của mình, HRW đã dẫn ra nhiều ví dụ điển hình như: hàng loạt các thành viên của Hội Anh em Dân chủ, Luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thu Hà, Nguyễn Trung Tôn, Nguyễn Bắc Truyển, Trương Minh Đức, và Phạm Văn Trội với mức án tổng cộng lên đến 66 năm tù giam, 17 năm quản chế… Không cần bàn luận thêm về những lời lẽ đặt điều trắng trợn. Bởi thực tế, Việt Nam trong vấn đề thực hiện nhân quyền thời gian qua được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Riêng năm 2018, kỷ niệm 70 năm ngày nhân quyền thế giới và cũng là năm Việt Nam xây dựng Báo cáo quốc gia theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ 3 (UPR), Bộ Lao động Thương binh và xã hội phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan đã tích cực xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật đảm bảo quyền con người, như: trình Chính phủ, Bộ ban hành một số Nghị định, thông tư về lao động, tiền lương, việc làm, trẻ em, bình đẳng giới… Đồng thời, Việt Nam tích cực thúc đẩy nghiên cứu, trình phê chuẩn các Công ước cơ bản số 87, 89, 105 của ILO; thành lập Tổ công tác về các Hiệp định Thương mại tự do (Tổ công tác FTA); tăng cường hợp tác với các đối tác quốc tế (UNICEF, Bộ Lao động Hoa Kỳ, ILO, EU) xây dựng và thực hiện các hoạt động, chương trình, dự án về quyền con người về lao động, việc làm, an sinh xã hội… Bên cạnh đó, các quyền cơ bản như: Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp… luôn được Hiến pháp, pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Cả nước hiện có 857 cơ quan báo chí với 1.119 ấn phẩm; hơn 50 triệu người dùng internet (chiếm 54% dân số với 58 triệu tài khoản Facebook). Từ năm 2015 đến nay có 5 cơ sở đào tạo tôn giáo được thành lập mới, mọi người được tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào… Trong năm 2018, đã có nhiều thành viên của Hội Anh em Dân chủ bị xét xử và chịu hình phạt tù bởi đã vi phạm pháp luật Việt Nam, có hành vi lật đổ chính quyền, nhà nước, tụ tập, lôi kéo gây mất an ninh trật tự, chống người thi thành công vụ… Xử phạt những kẻ đó là thích đáng, không thể “đánh đồng” với việc vi phạm nhân quyền.
Những lời lẽ xuyên tạc của bài viết trên là âm mưu, thủ đoạn muốn lợi dụng vấn đề “nhân quyền” để chống phá sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội./.

PHẢI CHĂNG LUẬT AN NINH MẠNG CỦA VIỆT NAM LÀ KHÔNG CẦN THIẾT HIỆN NAY?


PHẢI CHĂNG LUẬT AN NINH MẠNG CỦA VIỆT NAM
LÀ KHÔNG CẦN THIẾT HIỆN NAY?
Khánh Anh
Ngày 01/01/2019, Luật An ninh mạng chính thức có hiệu lực. Điều này khiến những nhà “YÊU NƯỚC”, “DÂN CHỦ” dổm, các đối tượng cơ hội chính trị lợi dụng mạng xã hội để thực hiện các hành vi xuyên tạc, vi phạm pháp luật rơi vào cảnh lo lắng và tìm mọi cách ca thán, phản kháng. “Họ” luôn cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, luật an ninh mạng là không cần thiết. Phải chăng đó là sự thật?
1. Sự ra đời của Luật An ninh mạng là hết sức cần thiết hiện nay. Sau hơn hai thập kỷ “du nhập” vào Việt Nam, mạng Internet đã trở thành một phần không thể thiếu trong phát triển kinh tế – xã hội và cuộc sống của người dân. Với sự bùng nổ mạnh mẽ của mạng xã hội, sự ảnh hưởng của nó vào đời sống thực tiễn ở Việt Nam ngày càng sâu sắc. Tuy nhiên, ở khía cạnh ngược lại, rất nhiều vấn đề tiêu cực cũng đã phát sinh trên không gian mạng, đặc biệt là việc các đối tượng chống đối, thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng mạng xã hội để xuyên tạc, bôi nhọ, đả kích Đảng, Nhà nước và tuyên truyền các quan điểm, luận điệu sai trái, phản động chống phá cách mạng Việt Nam. Trước bối cảnh đó, Luật An ninh mạng được ra đời. Đây là bước đi vô cùng quan trọng để bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia nói chung và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng nói riêng. Sự ra đời của Luật An ninh mạng đáp ứng nhu cầu, mong muốn của mọi người dân. Nhưng lại là nỗi lo sợ của không ít kẻ đã và đang lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Viêt Nam.
2. Bộ mặt thật của các nhà “yêu nước”,“dân chủ” dổm và biện pháp ngăn ngừa của Việt Nam. Ngay từ khi Quốc hội có kế hoạch xây dựng Luật An ninh mạng, các đối tượng cơ hội chính trị, những nhà yêu nước, dân chủ dổm đã xuyên tạc nội dung của Luật An ninh mạng với mục đích là ngăn chặn không để Luật này được thông qua và không có hiệu lực trên thực tế. Nhưng Luật An ninh mạng của Việt Nam đã chính thức có hiệu lực, các đối tượng trên vẫn cố “thoi thóp” tung ra các thông tin sai lệch để tạo ra sự hoài nghi trong quần chúng nhân dân. Lướt qua một số trang Facebook của các nhà “dân chủ” dổm, chúng ta dễ dàng bắt gặp ngay các bài viết đả phá, xuyên tạc nội dung của Luật An ninh mạng. Luận điệu được những đối tượng này đưa ra là “Luật An ninh mạng tước đoạt quyền tự do riêng tư, tự do sử dụng internet và tự do ngôn luận của nhân dân, nói đơn giản là “bịt miệng dân”, nhằm đàn áp dẫn đến triệt tiêu những tiếng nói phản biện. Luật An ninh mạng sẽ làm kìm hãm sự phát triển của đất nước, và duy trì, gia tăng áp bức, bất công”. Thậm chí, chúng còn mạnh miệng xuyên tạc rằng: “Luật An ninh mạng đưa chúng ta vào thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử, cũng như bắt đầu đi ngược lại với quy luật tự nhiên, ngược lại với tiến trình phát triển của xã hội loài người”.
Khi những luận điệu sai lệch trên được đưa ra và tiếp cận đến người dân, nếu ai không hiểu biết sẽ rất dễ bị sập bẫy và tin vào các thông tin sai lệch đó. Việc các nhà dân chủ dổm kịch liệt phản đối Luật An ninh mạng là một điều dễ hiểu. Vì suy cho cùng, khi mà “cần câu cơm” của các nhà dân chủ dổm bị mất đi thì hiển nhiên họ sẽ la lối om sòm. Chúng ta nhìn vào những cái tên quen thuộc trong nhóm dân chủ dổm, những kẻ kiếm sống bằng nghề xuyên tạc, chửi bới chế độ như: Mẹ Nấm, Trần Thị Nga, Huỳnh Thục Vy…Những đối tượng này đều triệt để sử dụng mạng xã hội, từ facebook đến blog để đăng tải, chia sẻ những bài nói, bài viết có nội dung xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta. Và hiển nhiên, không ai làm việc không công, đằng sau những bài viết sai trái đó là những khoản vật chất không nhỏ của những cá nhân, tổ chức phản động được chuyển về cho các đối tượng tiến hành.
 Nguồn gốc sâu xa của các nhà dân chủ dổm và “cuộc chiến” trên không gian mạng bắt nguồn từ chính chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. Thông qua các chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền… theo kiểu phương Tây, các đối tượng cơ hội chính trị, những kẻ thù địch, chống đối một mặt đả kích chế độ ta, một mặt cổ suý lối sống tư bản nhằm tạo ra sự phân hoá ngay trong lòng xã hội Việt Nam. Để đạt được mục đích này, các thế lực thù địch, chống đối sử dụng nhiều phương thức khác nhau. Trong đó, mạng xã hội nói riêng và thế giới mạng nói chung đã được các nhà dân chủ dổm triệt để sử dụng để đăng tải những bài nói, bài viết sai trái nhằm đánh thẳng vào nhận thức, tư tưởng của người dân. Tư tưởng kỳ thị chế độ, thù hằn lãnh đạo, không có niềm tin vào chế độ đã nhen nhóm phát sinh trong một số cá nhân suy thoái, biến chất và trong những người thiếu hiểu biết, bị lôi kéo. Những điều này một phần bắt nguồn từ việc các đối tượng thù địch, chống đối đẩy mạnh chống phá trên không gian mạng, nhưng một phần nguyên nhân không nhỏ xuất phát từ bất cập và những khoảng trống về pháp lý.
Khi Luật An ninh mạng có hiệu lực trên thực tế, các hoạt động trên không gian mạng được thắt chặt hơn. Với những người dùng bình thường thì không có vấn đề gì. Vì Luật này sẽ góp phần tạo dựng một môi trường mạng trong sạch hơn và bảo vệ chặt chẽ hơn những quyền lợi của người dân trên mạng. Nhưng ngược lại, những nhà dân chủ dổm, những kẻ lợi dụng mạng xã hội để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật chống phá Đảng, Nhà nước ta sẽ lo lắng, tìm mọi cách phản ứng. Vì không còn không gian quậy phá, chống đối và mất đi nguồn bất chính của họ.
Sự ra đời của Luật An ninh mạng là bước đi cần thiết trong bối cảnh công nghệ số đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay. Đây là hành lang pháp lý quan trọng để bảo vệ an ninh quốc gia cũng như các quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Đồng thời, qua đó để phòng ngừa, ngăn chặn và dập tắt các hành vi lợi dụng thế giới mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân ta trong thời gian tới.​/.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...