Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2019

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC PHẨM CHẤT TRUNG THÀNH CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM NHẤT ĐỊNH BỊ PHÁ SẢN


LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC PHẨM CHẤT TRUNG THÀNH CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM NHẤT ĐỊNH BỊ PHÁ SẢN
                                                          An Nhiên
Thời gian gần đây, những luận điệu xuyên tạc phẩm chất của Quân đội nhân dân Việt Nam mà các thế lực thù địch tung ra là tập trung công kích trực tiếp vào sự trung thành của Quân đội đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ra sức rêu rao rằng: Quân đội “chỉ là của quốc gia – dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào”; Quân đội trung thành với Đảng là sự trung thành “mù quáng”, là “lạc hậu lỗi thời”; Quân đội “chỉ cần trung thành với lợi ích của quốc gia – dân tộc, với nhân dân, bảo vệ nhân dân”, v.v. Họ cố tình cắt xén nội hàm phẩm chất trung thành của Quân đội nhân dân Việt Nam; đối lập sự trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam và trung thành với nhân dân, với dân tộc; đối lập phẩm chất trung với Đảng và hiếu với dân của Quân đội ta.
Thực chất những luận điểm nêu trên là thủ đoạn lừa bịp, phản động, phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn. Họ không những xuyên tạc phẩm chất trung thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, mà còn tách rời, đối lập một cách vô lối các nội dung trong phẩm chất trung thành của Quân đội và các mối quan hệ của Quân đội nhân dân Việt Nam với Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc và nhân dân. Quan điểm “Quân đội chỉ là của dân tộc”, chỉ cần “trung thành với lợi ích quốc gia – dân tộc” là quan điểm phản động về chính trị và đặc biệt nguy hiểm. Quan điểm này có vẻ như được dựa trên “cơ sở” thực tiễn rằng, Quân đội nhân dân Việt Nam có một truyền thống oai hùng gắn với vận mệnh của dân tộc, của đất nước, đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập, tự do của Tổ quốc trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam. Từ cơ sở đó, cho nên họ đặt vấn đề “Quân đội trung thành với dân tộc là “phù hợp”, chứ không cần thiết phải đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào, trung thành với một lực lượng chính trị nào! Điều này dễ làm cho một số người nhẹ dạ cả tin có thể lầm tưởng rằng, các quan điểm đó là phù hợp, cần thiết và những lời “khuyên nhủ” của họ là đầy thiện chí, là hợp lý, khách quan và đúng với thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam!
Biết không thể chia cắt được mối quan hệ mật thiết giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với nhân dân, các thế lực thù địch đã lợi dụng mối quan hệ này để đẩy tới việc đưa ra luận điệu Quân đội “chỉ cần trung thành với nhân dân” là đủ, không cần nói đến phải trung thành với Đảng nữa. Chúng hiểu rất rõ rằng, Quân đội nhân dân Việt Nam có quan hệ máu thịt với nhân dân, là quân đội của dân, do dân và vì dân. Cho nên, chúng đặt vấn đề Quân đội chỉ “trung thành và bảo vệ nhân dân” là “phù hợp”, là “khách quan”, chứ không cần thiết phải đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào, một lực lượng chính trị nào!. Bằng quan điểm đó, các thế lực thù địch đã khéo léo che giấu mưu đồ nhằm loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội, xóa nhòa bản chất chính trị – giai cấp của Quân đội, tiến tới làm biến chất Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây mới là âm mưu đích thực của các thế lực thù địch trong mục tiêu chống phá Quân đội, nhưng lại rất dễ làm cho chúng ta rơi vào chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, khó nhận biết thực chất âm mưu, thủ đoạn của chúng.
Thông qua thủ đoạn công kích, xuyên tạc phẩm chất trung thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch mộng tưởng rằng, sẽ “kích hoạt” làm cho Quân đội mất phương hướng và mục tiêu chiến đấu; sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội bị vô hiệu hóa, Đảng không thể nắm được, không thể lãnh đạo được Quân đội, đặc biệt trong những tình huống phức tạp và thậm chí Đảng có thể trở thành đối tượng trực tiếp của chính công cụ bạo lực này. Chúng muốn chính công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước trở thành lực lượng, công cụ trực tiếp cho hành động chống Đảng và chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vậy là, vấn đề lái chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam theo chiều hướng khác, làm cho Quân đội ngả theo các thế lực phản cách mạng, chống lại Đảng và chế độ là một âm mưu rất thâm độc của các thế lực thù địch mà việc tung ra những luận điệu xuyên tạc phẩm chất trung thành của Quân đội là một ngón đòn rất “lợi hại”.
Lịch sử cách mạng Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua đã chứng minh, Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ là công cụ, lực lượng chính trị tin cậy, trung thành của Đảng, Nhà nước mà còn là của nhân dân, của dân tộc, chiến đấu cho lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn và triệt để quần chúng nhân dân lao động, phấn đấu không mệt mỏi cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng và cũng là vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Quân đội nhân dân Việt Nam sẵn sàng hy sinh phục vụ lợi ích của dân tộc, của giai cấp và của nhân dân Việt Nam; bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo vệ nhân dân, bảo vệ lợi ích và cuộc sống an bình của nhân dân.
Trung thành với Đảng, trung với nước, hiếu với dân là những nội dung phẩm chất cơ bản, cốt lõi gắn bó chặt chẽ với nhau trong bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thể hiện trong mọi công việc cách mạng của Ðảng, trong từng suy nghĩ, việc làm cụ thể của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội tất cả đều vì lợi ích quốc gia – dân tộc. Trung thành với Đảng đã bao hàm cả nội dung hiếu với dân, với lợi ích quốc gia, dân tộc; trung với nước, hiếu với dân cũng bao hàm cả nội dung trung với Đảng. Đó là mối quan hệ biện chứng thống nhất nằm trong thuộc tính bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam, không thể tách rời.
Những luận đề trên, chúng ta thấy rõ tính chất phi lý, phản khoa học của luận điệu xuyên tạc về phẩm chất trung thành của Quân đội nhân dân Việt Nam mà các thế lực thù địch đang ra sức tuyên truyền. Không thể cho rằng, “Quân đội là chỉ của dân tộc”, chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân và đất nước” một cách chung chung, không cần sự lãnh đạo của một đảng chính trị nào, không cần trung thành với Đảng. Quân đội là của dân tộc, của nhân dân, nhưng quân đội ấy do ai lập nên, do ai tổ chức, rõ ràng là phải có một lực lượng chính trị nhất định.
Thử hỏi, nếu quân đội chỉ cần “trung thành và bảo vệ nhân dân”, “bảo vệ đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”, không cần trung thành, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của lực lượng chính trị nào, đảng phái nào, thì quân đội ấy mang bản chất nào, của ai? hay là “không có bản chất”, “không có chính trị”! Đây là một chiêu trò nhằm để đánh lừa người khác, chứ bản thân những kẻ đưa ra các quan điểm trên cũng thừa hiểu quân đội phải mang bản chất chính trị và phải phục vụ cho ai, trung thành với ai.
Nhiệm vụ của quân đội là bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân, nhưng chỉ có quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam như Quân đội nhân dân Việt Nam thì mới có thể làm tròn phận sự trung thành với Tổ quốc, với nhân dân theo đúng nghĩa của nó và gắn bó chặt chẽ sự trung thành với Đảng, Nhà nước, chế độ, Tổ quốc và nhân dân trong chỉnh thể thống nhất, không tách rời.
Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức, lãnh đạo Quân đội và Quân đội phục tùng sự lãnh đạo của Đảng là hai mệnh đề song hành ngay từ khi mới thành lập đến nay suốt hơn bảy thập kỷ xây dựng, trưởng thành và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân khi mới ra đời đã là đội quân mang bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam, gánh vác sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, của nhân dân và dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mục tiêu lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng, của dân tộc cũng là mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hay nói cách khác, Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu là nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân Việt Nam, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của cách mạng, của dân tộc trong từng giai đoạn. Đó là sự biểu hiện sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội nhân dân Việt Nam, một tổ chức quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.
Quân đội nhân dân Việt Nam là của dân tộc, của nhân dân Việt Nam, đồng thời là của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Việc từ bỏ nội dung phẩm chất trung thành với Đảng, tách vấn đề trung thành với Đảng và trung thành với nhân dân, với dân tộc là không thể chấp nhận được vì nó không đúng với bản chất chính trị – xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là sự cố tình xuyên tạc, bóp méo sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, cũng như thực tiễn mối quan hệ giữa Quân đội với Đảng, với dân tộc và nhân dân, nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, chống phá cách mạng Việt Nam. Luận điệu xuyên tạc đó không đánh lừa được ai, nhất định sẽ bị phá sản./.

BÓC TRẦN LUẬN ĐIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


BÓC TRẦN LUẬN ĐIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
                                                                   An Nhiên
Có ý kiến cho rằng: chế độ độc Đảng lãnh đạo là độc tài, mất dân chủ dẫn đến sự độc đoán, chuyên quyền, là nguyên nhân của sự thoái hóa, biến chất ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị của nước Việt Nam hiện nay. Thực chất luận điểm trên là phản động, biểu hiện rõ mục tiêu chính trị và sự thù địch đối với chế độ xã hội chủ nghĩa. Luận điểm đó không xuất phát từ động cơ tích cực mà lợi dụng thực trạng xã hội để phủ định vai trò và bản chất của Đảng Cộng sản, cổ súy cho tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, hướng nền chính trị Việt Nam theo nền chính trị tư sản.Thực tiễn trong xã hội tư bản chủ nghĩa, các đảng phái chính trị với tên gọi khác nhau (trừ đảng cộng sản chân chính) nhưng bản chất đều là đảng của giai cấp tư sản, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Vì lợi ích của mình, các đảng tư sản cũng đã có sự điều chỉnh về sách lược, chiến lược. Song, dù có cố gắng đến đâu thì cũng không thể xóa bỏ được những ung nhọt của xã hội nảy sinh từ cơ sở kinh tế - xã hội của nó, đó chính là quan hệ sản xuất chiếm hữu tư nhân tư bản về tư liệu sản xuất.
Đảng Cộng sản Việt Nam được hình thành trên cơ sở tuân theo quy luật chung đồng thời có tính đặc thù do điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam quy định, là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử dân tộc. Kể từ khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong điều kiện cơ sở vật chất - xã hội Việt Nam tạo ra những thuận lợi nhất định nhưng cũng dễ làm nảy sinh những khó khăn lớn và lâu dài trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: có một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên có biểu hiện thoái hóa, biến chất. Nhưng hiện tượng đó không phải do bản chất của Đảng hay do một đảng lãnh đạo mà phải xem xét từ nguồn gốc tồn tại xã hội. Đảng cũng thẳng thắn nhìn nhận trách nhiệm của mình với tư cách là tổ chức lãnh đạo, giáo dục, quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ, đảng viên; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện thoái hóa, biến chất, chỉ rõ những biểu hiện cụ thể của nó; xác định và triển khai thực hiện những chủ trương, biện pháp quyết liệt, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị để đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những hạn chế, yếu kém, góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới./.

CẦN CÓ ĐÁNH GIÁ KHÁCH QUAN VỀ VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY


CẦN CÓ ĐÁNH GIÁ KHÁCH QUAN VỀ
VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY[1]

Ngày 16-12, Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch, viết tắt: HRW) công khai đệ trình báo cáo về Việt Nam lên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (UNHRC). Mặc dù đã có đánh giá tiến bộ, song tổ chức này tiếp tục có cái nhìn phi lý, quy chụp, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.
Báo cáo của tổ chức này lên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc trong bối cảnh ngày 22-1-2019, Việt Nam sẽ trình bày và đối thoại Báo cáo Quốc gia về nhân quyền theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ 3 của UNHRC. 
Sau khi xem xét, nghiên cứu những nội dung Báo cáo mà HRW đệ trình cho thấy, những cáo buộc của tổ chức phi chính phủ này là hoàn toàn phi lý, thiếu khách quan và đi ngược lại xu thế hợp tác, hòa bình, phát triển trong quá trình hội nhập quốc tế.
Báo cáo của tổ chức này cho rằng: “Kể từ năm 1954 cho đến hiện tại, Việt Nam chưa bao giờ tổ chức bầu cử tự do và công bằng. Đại biểu Quốc hội hầu hết là thành viên của Đảng Cộng sản Việt Nam được chọn lựa vào. Tòa án và các bộ, ngành đều dưới quyền kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam…”?.
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Đại hội đồng Liên hợp quốc quy định: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá (Điều 1). 
Tuyên ngôn về nhân quyền cũng ghi rõ: Ai cũng được hưởng những quyền tự do, không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác.
Trong những tuyên bố chung Việt Nam – Hoa Kỳ, nguyên thủ hai quốc gia đều nhất quán khẳng định: Tiếp tục nỗ lực làm sâu sắc thêm quan hệ hai nước trên cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau.
Chắc hẳn, khi xây dựng Báo cáo đệ trình lên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, HRW cố tình không biết những điều trên? Họ cũng lờ đi tình hình thực tế là, trong Hiến pháp, văn bản luật, pháp lệnh ở Việt Nam đều nhấn mạnh quyền con người, trong đó có những văn bản hết sức quan trọng như Hiến pháp 2013, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự...
Điển hình như Hiến pháp năm 2013 khẳng định, nêu rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính chị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14). Các quyền cơ bản như: quyền bầu cử và quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, quyền và cơ hội bình đẳng giới… đều được nhất quán trong hệ thống quy phạm pháp luật và điều chỉnh, thực hiện trong thực tiễn cuộc sống.
Mọi người dân đều có quyền ứng cử vào cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất là Quốc Hội. Việc lựa chọn ai đều do người dân thông qua lá phiếu bầu cử của mình quyết định. Và thực tế là, trong Quốc Hội có đa dạng thành phần, có đại biểu là đảng viên, có đại biểu ngoài đảng, có đại biểu là chức sắc tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc khác nhau… Quốc hội là cơ quan của dân, vì dân, do dân quyết định. Với thực tế như vậy, những cáo buộc trên của HRW là không khách quan và xuyên tạc tình hình nhân quyền Việt Nam.
Việt Nam là một quốc gia độc lập, thống nhất, có chủ quyền, thể chế chính trị ở Việt Nam là do lịch sử và dân tộc, nhân dân Việt Nam lựa chọn, phù hợp với Công ước Liên hợp quốc, được quốc tế, các quốc gia và các tổ chức thừa nhận, tôn trọng. Trong hệ thống chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam, trung thành với lợi ích nhân dân và cả dân tộc; là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước thống nhất giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Vì vậy, không chỉ tòa án, các bộ, ngành, mà cả hệ thống chính trị hoạt động theo pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng nằm trong quy định pháp luật. Về các quyền dân sự, chính trị, Việt Nam đã đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi công dân. Rõ ràng đánh giá trên là cố tình suy diễn, can thiệp nội bộ tình hình Việt Nam.
Tổ chức Theo dõi nhân quyền nêu lên các vấn đề vi phạm nhân quyền tại Việt Nam điển hình như: “Việt Nam kiểm soát truyền thông, khóa hoặc đóng các trang website nhạy cảm về chính trị, bắt bớ những người sử dụng mạng xã hội để lên tiếng chỉ trích Chính phủ và Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 2018, Quốc Hội Việt Nam thông qua Luật An ninh mạng, có hiệu lực vào năm 2019 để can thiệp sâu hơn liên quan quyền tự do ngôn luận và tự do biểu đạt của người dân. Việt Nam cấm đoán các hiệp hội thương mại độc lập, cũng như kiểm soát chặt chẽ các tổ chức xã hội, các nhóm sinh hoạt tôn giáo và các xã hội dân sự”.
Như đã phân tích ở trên, các quyền cơ bản như: Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp… được Hiến pháp công nhận, tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật. Những nhận định trên là mang tính quy chụp và hoàn toàn không đúng với thực tiễn đang diễn ra ở Việt Nam. Cả nước hiện nay có 857 cơ quan báo chí với 1.119 ấn phẩm; là một trong số quốc gia có tốc độ phát triển, phổ cập Internet nhanh nhất thế giới với hơn 50 triệu người dùng, chiếm 54% dân số, 58 triệu tài khoản Facebook.
Từ năm 2015 đến nay có 5 cơ sở đào tạo tôn giáo được thành lập mới, mọi người được tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Đây là những số liệu cụ thể, là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy những cáo buộc trên là không có căn cứ, phản ánh không đúng tình hình Việt Nam, nếu không muốn nói là cố tình suy diễn, xuyên tạc về tự do nguôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin, tự do tín ngưỡng… ở Việt Nam  
Ngoài ra, báo cáo này cho rằng: “Quốc hội Việt Nam thông qua Bộ luật Hình sự sửa đổi và tiếp tục sử dụng các Điều 79, Điều 89 là điều luật mơ hồ để bỏ tù các nhà hoạt động chính trị và tôn giáo ôn hòa. Việt Nam hiện cầm tù ít nhất 136 người dưới các điều luật này vì họ bị cho là tạo ra mối đe dọa đối với Nhà nước Việt Nam. Trong vòng 6 tháng đầu năm 2018, Chính phủ Việt Nam đã bắt giữ và bỏ tù ít nhất 26 nhà hoạt động nhân quyền và blogger”.
Bộ luật Hình sửa đổi tiếp tục quy định tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” và “Tội phá rối an ninh” (Điều 79, Điều 89, Bộ luật Hình sự 1999). Đây là những điều luật quy định có nội hàm rõ ràng, quy định hành vi, hình phạt tù cụ thể. Theo đó, người có hành vi chống chính quyền nhân dân; kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức.
Đối với mỗi quốc gia có độc lập, chủ quyền, hệ thống pháp luật đầy đủ, nghiêm minh thì những hành vi lật đổ chính quyền, nhà nước, tụ tập, lôi kéo gây mất an ninh trật tự, chống người thi thành công vụ… đều bị nghiêm trị. Do vậy, những người đã bị xét xử và đang chịu hình phạt tù theo quy định của luật này là cá nhân phạm tội cụ thể, rõ ràng, chứ không phải “mơ hồ” như Tổ chức Theo dõi nhân quyền nêu ra.
Tình hình thế giới biến động mau lẹ, phức tạp và khó lường. Ở nơi này, nơi khác, đấu tranh vũ trang, chiến tranh dân tộc, sắc tộc, bạo loạn, lật đổ, chạy đua vũ trang, từng ngày, từng giờ đang diễn ra; ở nước này, thành phố kia, “phe áo đỏ”, “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” luôn luôn rình rập, đe dọa…, hay ngay cả trung tâm được mệnh danh là “Kinh đô ánh sáng Pari” hoa lệ bậc nhất, biểu tình “áo gile vàng” đi liền hỗn loạn, bất ổn, chưa có hồi kết. Trái ngược với hình ảnh đó, ở Việt Nam là cuộc sống thanh bình. Suy cho cùng, đó là thành quả của tự do, nhân quyền của con người được đảm bảo của một xã hội ngày càng tiến bộ.
Soi lại “Đệ trình Báo cáo nhân quyền Việt Nam” năm 2018  với các “Báo cáo”, “Phúc trình”… của Tổ chức Theo dõi nhân quyền qua các năm trước đây đối với vấn đề nhân quyền Việt Nam, người ta thấy chẳng có gì thay đổi. Nội dung vẫn là những đánh giá vô căn cứ, cáo buộc thiếu khách quan, xuyên tạc, bóp méo sự thật về tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Những đánh giá mà tổ chức này đưa ra nhằm “diễn biến” tình hình Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; phủ nhận quá trình đổi mới, phát triển, hội nhập tích cực, chủ động, có trách nhiệm của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Mục đích của tổ chức phi chính phủ này trong nhiều năm qua là hoạt động để thúc đẩy “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, “xã hội dân sự” ở Việt Nam… Đây là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam, cần phải cảnh giác, đấu tranh. Đồng thời cũng là cơ sở để cơ quan chức năng của tổ chức quốc tế có nhìn nhận toàn diện, đánh giá khách quan, xây dựng về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam hiện nay.


[1] Bài viết của tác giả Lê Vĩnh Bình, đăng trên Báo Công an nhân dân điện tử, ngày 22/12/2018

PHƠI BÀY BẢN CHẤT CỦA LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CHO RẰNG: “CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN ĐÃ LỖI THỜI, LẠC HẬU…”


PHƠI BÀY BẢN CHẤT CỦA LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CHO RẰNG: “CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN ĐÃ LỖI THỜI, LẠC HẬU…”[1]
            
Hiện nay, trên những trang mạng xã hội và các website không chính thống, các thế lực thù địch đang tập trung, ráo riết chống phá cách mạng Việt Nam bằng những luận điệu sai trái, thù địch. Một trong những nội dung xuyên tạc, chống phá là cho rằng “Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, hoàn toàn không phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đã và đang cáo chung”.
Đây là một dạng quan điểm thù địch do bản thân nó đã chứa đựng nội dung sai lầm về thực tiễn và khoa học, đồng thời đó là quan điểm mang tính chất đối lập về lợi ích và lập trường giai cấp mà chủ thể của nó thường là những kẻ đối lập về lập trường tư tưởng; đối lập về lợi ích giai cấp, quốc gia, dân tộc.
Để đạt được mục tiêu “tối thượng” là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch, phản động tập trung phản kích, phủ định những giá trị trường tồn Chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trong cuốn sách "1999 - chiến thắng không cần chiến tranh", Tổng thống Mỹ Richard Milhous Nixon đã xác định "Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng".
Để đánh phá vào Chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng ta và của xã hội ta, tạo ra một "khoảng trống tư tưởng" trong cán bộ, đảng viên, nhân dân ta, từ đó tạo điều kiện thuận lợi du nhập hệ tư tưởng tư sản vào quần chúng, vào nội bộ ta, các thế lực thù địch, phản động tập trung mọi cố gắng để chứng minh sự "lỗi thời" của Chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng còn vu cáo Đảng ta đã "đem Chủ nghĩa Mác - Lênin áp dụng máy móc, gượng ép vào Việt Nam", đồng thời quảng cáo cho mô hình "xã hội dân chủ". 
Chúng nuôi dưỡng, kích động các khuynh hướng cơ hội, hữu khuynh, dao động... trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng để nhằm tạo ra sự phân hóa, phân liệt, đối lập, xung đột trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm, tâm lý của xã hội. Các thế lực thù địch cho rằng “Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lạc hậu, lỗi thời, đã và đang bị cáo chung”.
Trên thực tế, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc vai trò của Chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình cách mạng Việt Nam. Theo Người, Chủ nghĩa Mác - Lênin không những là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Nghiên cứu lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rõ con đường Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và Người đã nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin một cách cơ bản, hệ thống, hoàn toàn không rập khuôn, máy móc. Ngày 12-7-1946, trả lời trong cuộc họp báo tại biệt thự Roa-yan Mông-xô, Hồ Chí Minh đã nói: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa.
Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”. Hồ Chí Minh không bao giờ “tách mình” ra khỏi Các Mác, Ăngghen và Lênin để đưa ra các quan điểm riêng mà như Người nói là “cố gắng vận dụng” tư tưởng của các nhà kinh điển đó, “nhưng vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”.
Thực tế đã và đang khẳng định rằng, Chủ nghĩa Mác - Lênin từ khi ra đời đến nay đã thể hiện rõ bản chất khoa học và cách mạng, giá trị và sức sống bền vững của nó. Nhiều chính khách, nhà khoa học ở cả trong và ngoài nước có những bài nói, bài viết, công trình nghiên cứu khoa học khẳng định Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn giữ nguyên ý nghĩa và tầm quan trọng trong bối cảnh hiện nay.
Một số học giả tư sản đã thừa nhận, tinh thần của Các Mác vẫn tỏa sáng và dù muốn hay không người ta vẫn phải dựa vào Các Mác mới có thể phân tích đúng chủ nghĩa tư bản đương đại. Đời sống xã hội đương đại mặc dù rất phức tạp, trải qua biết bao biến cố thăng trầm, quanh co, khúc khuỷu, vẫn không đi ngoài những quy luật phổ biến đã được Các Mác tổng kết.
Thực tiễn đổi mới thành công ở Việt Nam, Trung Quốc trong hơn hai thập kỷ qua; sự vững vàng của cách mạng Cuba trước sự bao vây, cấm vận, chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, cũng như sự trỗi dậy của phong trào cánh tả theo xu hướng xã hội chủ nghĩa ở các nước châu Mỹ Latinh trong những năm gần đây đã khẳng định sức sống mãnh liệt và sự lan tỏa của Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Chúng ta khẳng định rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin với tư cách lý luận và phương pháp nhận thức thế giới, cải tạo thế giới vẫn giữ nguyên giá trị. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, Học thuyết giá trị thặng dư và lý luận về chủ nghĩa xã hội, trong đó Học thuyết giá trị thặng dư được các nhà khoa học coi đó là “hòn đá tảng” của Chủ nghĩa Mác. 
Và cho đến nay, các học thuyết đó vẫn là cơ sở rất quan trọng để xem xét, phân tích sự phát triển của thời đại. Điều đó giải thích vì sao giữa lúc cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu diễn ra vào năm 2008 - 2009, một số nhà tư bản ở Ý, Anh, Đức... lại đổ xô đi mua bộ “Tư bản” của Mác để nghiên cứu với hi vọng tìm lối thoát cho cuộc khủng hoảng.
Giáo sư người Anh Francis Wheen - một trong những nhà khoa học chuyên nghiên cứu về Mác đã viết: "Các Mác chưa bị chôn cất dưới đống đổ nát của bức tường Béc-lin. Thực tế, có lẽ chính lúc này, Các Mác càng cho thấy tầm giá trị lớn của ông. Các Mác đã tỏ ra là nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ XXI". 
Từ ngày 18 đến 21-6-2013, tại Gwangju Nam (Hàn Quốc) Ủy ban Tư vấn quốc tế (IAC) và trang mạng UNESCO “Memory of the World” đã đưa Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và tập đầu tiên trong Bộ Tư bản của Các Mác (xuất bản năm 1867) vào danh sách Trí nhớ của nhân loại (Memory of the World) của UNESCO. UNESCO giải thích sự lựa chọn rằng, cả hai văn bản này đều có ảnh hưởng to lớn đến tất cả “phong trào xã hội”... 
Chính vì thế, bảo vệ học thuyết Mácxít trước sự xuyên tạc, vu cáo của các thế lực thù địch, những người thiếu thiện chí, không chỉ là bảo vệ lý tưởng xã hội, mà còn là bảo vệ quyền lợi thiết thực của dân tộc trong thời kỳ mới.



[1] Bài viết của TS Lê Hoàng Việt Lâm, đăng trên Báo Công an nhân dân điện tử, ngày 25/12/2018

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...