Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2019

BÓC TRẦN LUẬN ĐIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


BÓC TRẦN LUẬN ĐIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
                                                                   An Nhiên
Có ý kiến cho rằng: chế độ độc Đảng lãnh đạo là độc tài, mất dân chủ dẫn đến sự độc đoán, chuyên quyền, là nguyên nhân của sự thoái hóa, biến chất ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị của nước Việt Nam hiện nay. Thực chất luận điểm trên là phản động, biểu hiện rõ mục tiêu chính trị và sự thù địch đối với chế độ xã hội chủ nghĩa. Luận điểm đó không xuất phát từ động cơ tích cực mà lợi dụng thực trạng xã hội để phủ định vai trò và bản chất của Đảng Cộng sản, cổ súy cho tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, hướng nền chính trị Việt Nam theo nền chính trị tư sản.Thực tiễn trong xã hội tư bản chủ nghĩa, các đảng phái chính trị với tên gọi khác nhau (trừ đảng cộng sản chân chính) nhưng bản chất đều là đảng của giai cấp tư sản, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Vì lợi ích của mình, các đảng tư sản cũng đã có sự điều chỉnh về sách lược, chiến lược. Song, dù có cố gắng đến đâu thì cũng không thể xóa bỏ được những ung nhọt của xã hội nảy sinh từ cơ sở kinh tế - xã hội của nó, đó chính là quan hệ sản xuất chiếm hữu tư nhân tư bản về tư liệu sản xuất.
Đảng Cộng sản Việt Nam được hình thành trên cơ sở tuân theo quy luật chung đồng thời có tính đặc thù do điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam quy định, là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử dân tộc. Kể từ khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong điều kiện cơ sở vật chất - xã hội Việt Nam tạo ra những thuận lợi nhất định nhưng cũng dễ làm nảy sinh những khó khăn lớn và lâu dài trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: có một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên có biểu hiện thoái hóa, biến chất. Nhưng hiện tượng đó không phải do bản chất của Đảng hay do một đảng lãnh đạo mà phải xem xét từ nguồn gốc tồn tại xã hội. Đảng cũng thẳng thắn nhìn nhận trách nhiệm của mình với tư cách là tổ chức lãnh đạo, giáo dục, quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ, đảng viên; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện thoái hóa, biến chất, chỉ rõ những biểu hiện cụ thể của nó; xác định và triển khai thực hiện những chủ trương, biện pháp quyết liệt, phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị để đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những hạn chế, yếu kém, góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới./.

CẦN CÓ ĐÁNH GIÁ KHÁCH QUAN VỀ VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY


CẦN CÓ ĐÁNH GIÁ KHÁCH QUAN VỀ
VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY[1]

Ngày 16-12, Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch, viết tắt: HRW) công khai đệ trình báo cáo về Việt Nam lên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (UNHRC). Mặc dù đã có đánh giá tiến bộ, song tổ chức này tiếp tục có cái nhìn phi lý, quy chụp, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.
Báo cáo của tổ chức này lên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc trong bối cảnh ngày 22-1-2019, Việt Nam sẽ trình bày và đối thoại Báo cáo Quốc gia về nhân quyền theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ 3 của UNHRC. 
Sau khi xem xét, nghiên cứu những nội dung Báo cáo mà HRW đệ trình cho thấy, những cáo buộc của tổ chức phi chính phủ này là hoàn toàn phi lý, thiếu khách quan và đi ngược lại xu thế hợp tác, hòa bình, phát triển trong quá trình hội nhập quốc tế.
Báo cáo của tổ chức này cho rằng: “Kể từ năm 1954 cho đến hiện tại, Việt Nam chưa bao giờ tổ chức bầu cử tự do và công bằng. Đại biểu Quốc hội hầu hết là thành viên của Đảng Cộng sản Việt Nam được chọn lựa vào. Tòa án và các bộ, ngành đều dưới quyền kiểm soát của Đảng Cộng sản Việt Nam…”?.
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Đại hội đồng Liên hợp quốc quy định: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá (Điều 1). 
Tuyên ngôn về nhân quyền cũng ghi rõ: Ai cũng được hưởng những quyền tự do, không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác.
Trong những tuyên bố chung Việt Nam – Hoa Kỳ, nguyên thủ hai quốc gia đều nhất quán khẳng định: Tiếp tục nỗ lực làm sâu sắc thêm quan hệ hai nước trên cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế; tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau.
Chắc hẳn, khi xây dựng Báo cáo đệ trình lên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, HRW cố tình không biết những điều trên? Họ cũng lờ đi tình hình thực tế là, trong Hiến pháp, văn bản luật, pháp lệnh ở Việt Nam đều nhấn mạnh quyền con người, trong đó có những văn bản hết sức quan trọng như Hiến pháp 2013, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự...
Điển hình như Hiến pháp năm 2013 khẳng định, nêu rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính chị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14). Các quyền cơ bản như: quyền bầu cử và quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, quyền và cơ hội bình đẳng giới… đều được nhất quán trong hệ thống quy phạm pháp luật và điều chỉnh, thực hiện trong thực tiễn cuộc sống.
Mọi người dân đều có quyền ứng cử vào cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất là Quốc Hội. Việc lựa chọn ai đều do người dân thông qua lá phiếu bầu cử của mình quyết định. Và thực tế là, trong Quốc Hội có đa dạng thành phần, có đại biểu là đảng viên, có đại biểu ngoài đảng, có đại biểu là chức sắc tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc khác nhau… Quốc hội là cơ quan của dân, vì dân, do dân quyết định. Với thực tế như vậy, những cáo buộc trên của HRW là không khách quan và xuyên tạc tình hình nhân quyền Việt Nam.
Việt Nam là một quốc gia độc lập, thống nhất, có chủ quyền, thể chế chính trị ở Việt Nam là do lịch sử và dân tộc, nhân dân Việt Nam lựa chọn, phù hợp với Công ước Liên hợp quốc, được quốc tế, các quốc gia và các tổ chức thừa nhận, tôn trọng. Trong hệ thống chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam, trung thành với lợi ích nhân dân và cả dân tộc; là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước thống nhất giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Vì vậy, không chỉ tòa án, các bộ, ngành, mà cả hệ thống chính trị hoạt động theo pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng nằm trong quy định pháp luật. Về các quyền dân sự, chính trị, Việt Nam đã đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi công dân. Rõ ràng đánh giá trên là cố tình suy diễn, can thiệp nội bộ tình hình Việt Nam.
Tổ chức Theo dõi nhân quyền nêu lên các vấn đề vi phạm nhân quyền tại Việt Nam điển hình như: “Việt Nam kiểm soát truyền thông, khóa hoặc đóng các trang website nhạy cảm về chính trị, bắt bớ những người sử dụng mạng xã hội để lên tiếng chỉ trích Chính phủ và Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 2018, Quốc Hội Việt Nam thông qua Luật An ninh mạng, có hiệu lực vào năm 2019 để can thiệp sâu hơn liên quan quyền tự do ngôn luận và tự do biểu đạt của người dân. Việt Nam cấm đoán các hiệp hội thương mại độc lập, cũng như kiểm soát chặt chẽ các tổ chức xã hội, các nhóm sinh hoạt tôn giáo và các xã hội dân sự”.
Như đã phân tích ở trên, các quyền cơ bản như: Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp… được Hiến pháp công nhận, tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật. Những nhận định trên là mang tính quy chụp và hoàn toàn không đúng với thực tiễn đang diễn ra ở Việt Nam. Cả nước hiện nay có 857 cơ quan báo chí với 1.119 ấn phẩm; là một trong số quốc gia có tốc độ phát triển, phổ cập Internet nhanh nhất thế giới với hơn 50 triệu người dùng, chiếm 54% dân số, 58 triệu tài khoản Facebook.
Từ năm 2015 đến nay có 5 cơ sở đào tạo tôn giáo được thành lập mới, mọi người được tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Đây là những số liệu cụ thể, là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy những cáo buộc trên là không có căn cứ, phản ánh không đúng tình hình Việt Nam, nếu không muốn nói là cố tình suy diễn, xuyên tạc về tự do nguôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin, tự do tín ngưỡng… ở Việt Nam  
Ngoài ra, báo cáo này cho rằng: “Quốc hội Việt Nam thông qua Bộ luật Hình sự sửa đổi và tiếp tục sử dụng các Điều 79, Điều 89 là điều luật mơ hồ để bỏ tù các nhà hoạt động chính trị và tôn giáo ôn hòa. Việt Nam hiện cầm tù ít nhất 136 người dưới các điều luật này vì họ bị cho là tạo ra mối đe dọa đối với Nhà nước Việt Nam. Trong vòng 6 tháng đầu năm 2018, Chính phủ Việt Nam đã bắt giữ và bỏ tù ít nhất 26 nhà hoạt động nhân quyền và blogger”.
Bộ luật Hình sửa đổi tiếp tục quy định tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” và “Tội phá rối an ninh” (Điều 79, Điều 89, Bộ luật Hình sự 1999). Đây là những điều luật quy định có nội hàm rõ ràng, quy định hành vi, hình phạt tù cụ thể. Theo đó, người có hành vi chống chính quyền nhân dân; kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức.
Đối với mỗi quốc gia có độc lập, chủ quyền, hệ thống pháp luật đầy đủ, nghiêm minh thì những hành vi lật đổ chính quyền, nhà nước, tụ tập, lôi kéo gây mất an ninh trật tự, chống người thi thành công vụ… đều bị nghiêm trị. Do vậy, những người đã bị xét xử và đang chịu hình phạt tù theo quy định của luật này là cá nhân phạm tội cụ thể, rõ ràng, chứ không phải “mơ hồ” như Tổ chức Theo dõi nhân quyền nêu ra.
Tình hình thế giới biến động mau lẹ, phức tạp và khó lường. Ở nơi này, nơi khác, đấu tranh vũ trang, chiến tranh dân tộc, sắc tộc, bạo loạn, lật đổ, chạy đua vũ trang, từng ngày, từng giờ đang diễn ra; ở nước này, thành phố kia, “phe áo đỏ”, “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” luôn luôn rình rập, đe dọa…, hay ngay cả trung tâm được mệnh danh là “Kinh đô ánh sáng Pari” hoa lệ bậc nhất, biểu tình “áo gile vàng” đi liền hỗn loạn, bất ổn, chưa có hồi kết. Trái ngược với hình ảnh đó, ở Việt Nam là cuộc sống thanh bình. Suy cho cùng, đó là thành quả của tự do, nhân quyền của con người được đảm bảo của một xã hội ngày càng tiến bộ.
Soi lại “Đệ trình Báo cáo nhân quyền Việt Nam” năm 2018  với các “Báo cáo”, “Phúc trình”… của Tổ chức Theo dõi nhân quyền qua các năm trước đây đối với vấn đề nhân quyền Việt Nam, người ta thấy chẳng có gì thay đổi. Nội dung vẫn là những đánh giá vô căn cứ, cáo buộc thiếu khách quan, xuyên tạc, bóp méo sự thật về tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Những đánh giá mà tổ chức này đưa ra nhằm “diễn biến” tình hình Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; phủ nhận quá trình đổi mới, phát triển, hội nhập tích cực, chủ động, có trách nhiệm của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Mục đích của tổ chức phi chính phủ này trong nhiều năm qua là hoạt động để thúc đẩy “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, “xã hội dân sự” ở Việt Nam… Đây là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam, cần phải cảnh giác, đấu tranh. Đồng thời cũng là cơ sở để cơ quan chức năng của tổ chức quốc tế có nhìn nhận toàn diện, đánh giá khách quan, xây dựng về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam hiện nay.


[1] Bài viết của tác giả Lê Vĩnh Bình, đăng trên Báo Công an nhân dân điện tử, ngày 22/12/2018

PHƠI BÀY BẢN CHẤT CỦA LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CHO RẰNG: “CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN ĐÃ LỖI THỜI, LẠC HẬU…”


PHƠI BÀY BẢN CHẤT CỦA LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CHO RẰNG: “CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN ĐÃ LỖI THỜI, LẠC HẬU…”[1]
            
Hiện nay, trên những trang mạng xã hội và các website không chính thống, các thế lực thù địch đang tập trung, ráo riết chống phá cách mạng Việt Nam bằng những luận điệu sai trái, thù địch. Một trong những nội dung xuyên tạc, chống phá là cho rằng “Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, hoàn toàn không phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đã và đang cáo chung”.
Đây là một dạng quan điểm thù địch do bản thân nó đã chứa đựng nội dung sai lầm về thực tiễn và khoa học, đồng thời đó là quan điểm mang tính chất đối lập về lợi ích và lập trường giai cấp mà chủ thể của nó thường là những kẻ đối lập về lập trường tư tưởng; đối lập về lợi ích giai cấp, quốc gia, dân tộc.
Để đạt được mục tiêu “tối thượng” là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch, phản động tập trung phản kích, phủ định những giá trị trường tồn Chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trong cuốn sách "1999 - chiến thắng không cần chiến tranh", Tổng thống Mỹ Richard Milhous Nixon đã xác định "Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng".
Để đánh phá vào Chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng ta và của xã hội ta, tạo ra một "khoảng trống tư tưởng" trong cán bộ, đảng viên, nhân dân ta, từ đó tạo điều kiện thuận lợi du nhập hệ tư tưởng tư sản vào quần chúng, vào nội bộ ta, các thế lực thù địch, phản động tập trung mọi cố gắng để chứng minh sự "lỗi thời" của Chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng còn vu cáo Đảng ta đã "đem Chủ nghĩa Mác - Lênin áp dụng máy móc, gượng ép vào Việt Nam", đồng thời quảng cáo cho mô hình "xã hội dân chủ". 
Chúng nuôi dưỡng, kích động các khuynh hướng cơ hội, hữu khuynh, dao động... trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng để nhằm tạo ra sự phân hóa, phân liệt, đối lập, xung đột trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm, tâm lý của xã hội. Các thế lực thù địch cho rằng “Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lạc hậu, lỗi thời, đã và đang bị cáo chung”.
Trên thực tế, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc vai trò của Chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình cách mạng Việt Nam. Theo Người, Chủ nghĩa Mác - Lênin không những là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Nghiên cứu lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rõ con đường Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và Người đã nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin một cách cơ bản, hệ thống, hoàn toàn không rập khuôn, máy móc. Ngày 12-7-1946, trả lời trong cuộc họp báo tại biệt thự Roa-yan Mông-xô, Hồ Chí Minh đã nói: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa.
Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”. Hồ Chí Minh không bao giờ “tách mình” ra khỏi Các Mác, Ăngghen và Lênin để đưa ra các quan điểm riêng mà như Người nói là “cố gắng vận dụng” tư tưởng của các nhà kinh điển đó, “nhưng vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”.
Thực tế đã và đang khẳng định rằng, Chủ nghĩa Mác - Lênin từ khi ra đời đến nay đã thể hiện rõ bản chất khoa học và cách mạng, giá trị và sức sống bền vững của nó. Nhiều chính khách, nhà khoa học ở cả trong và ngoài nước có những bài nói, bài viết, công trình nghiên cứu khoa học khẳng định Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn giữ nguyên ý nghĩa và tầm quan trọng trong bối cảnh hiện nay.
Một số học giả tư sản đã thừa nhận, tinh thần của Các Mác vẫn tỏa sáng và dù muốn hay không người ta vẫn phải dựa vào Các Mác mới có thể phân tích đúng chủ nghĩa tư bản đương đại. Đời sống xã hội đương đại mặc dù rất phức tạp, trải qua biết bao biến cố thăng trầm, quanh co, khúc khuỷu, vẫn không đi ngoài những quy luật phổ biến đã được Các Mác tổng kết.
Thực tiễn đổi mới thành công ở Việt Nam, Trung Quốc trong hơn hai thập kỷ qua; sự vững vàng của cách mạng Cuba trước sự bao vây, cấm vận, chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, cũng như sự trỗi dậy của phong trào cánh tả theo xu hướng xã hội chủ nghĩa ở các nước châu Mỹ Latinh trong những năm gần đây đã khẳng định sức sống mãnh liệt và sự lan tỏa của Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Chúng ta khẳng định rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin với tư cách lý luận và phương pháp nhận thức thế giới, cải tạo thế giới vẫn giữ nguyên giá trị. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, Học thuyết giá trị thặng dư và lý luận về chủ nghĩa xã hội, trong đó Học thuyết giá trị thặng dư được các nhà khoa học coi đó là “hòn đá tảng” của Chủ nghĩa Mác. 
Và cho đến nay, các học thuyết đó vẫn là cơ sở rất quan trọng để xem xét, phân tích sự phát triển của thời đại. Điều đó giải thích vì sao giữa lúc cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu diễn ra vào năm 2008 - 2009, một số nhà tư bản ở Ý, Anh, Đức... lại đổ xô đi mua bộ “Tư bản” của Mác để nghiên cứu với hi vọng tìm lối thoát cho cuộc khủng hoảng.
Giáo sư người Anh Francis Wheen - một trong những nhà khoa học chuyên nghiên cứu về Mác đã viết: "Các Mác chưa bị chôn cất dưới đống đổ nát của bức tường Béc-lin. Thực tế, có lẽ chính lúc này, Các Mác càng cho thấy tầm giá trị lớn của ông. Các Mác đã tỏ ra là nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ XXI". 
Từ ngày 18 đến 21-6-2013, tại Gwangju Nam (Hàn Quốc) Ủy ban Tư vấn quốc tế (IAC) và trang mạng UNESCO “Memory of the World” đã đưa Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và tập đầu tiên trong Bộ Tư bản của Các Mác (xuất bản năm 1867) vào danh sách Trí nhớ của nhân loại (Memory of the World) của UNESCO. UNESCO giải thích sự lựa chọn rằng, cả hai văn bản này đều có ảnh hưởng to lớn đến tất cả “phong trào xã hội”... 
Chính vì thế, bảo vệ học thuyết Mácxít trước sự xuyên tạc, vu cáo của các thế lực thù địch, những người thiếu thiện chí, không chỉ là bảo vệ lý tưởng xã hội, mà còn là bảo vệ quyền lợi thiết thực của dân tộc trong thời kỳ mới.



[1] Bài viết của TS Lê Hoàng Việt Lâm, đăng trên Báo Công an nhân dân điện tử, ngày 25/12/2018

Thứ Tư, 13 tháng 2, 2019

NHỮNG CHUYỂN BIẾN TIẾN BỘ VỀ GIÁO DỤC
VỚI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
Một trong những chỉ số quan trọng để minh chứng việc bảo đảm quyền con người ở các quốc gia có được thực thi và đi vào cuộc sống hay không là việc tạo điều kiện, cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được quyền học hành, nâng cao trình độ, đặc biệt là người dân tộc thiểu số (DTTS), người yếu thế trong xã hội. Những năm qua, Việt Nam đã có nhiều chính sách, giải pháp thiết thực, phù hợp để tăng cường bảo đảm các điều kiện học tập và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực vùng DTTS.
Những chuyển biến tích cực trong công tác giáo dục DTTS ở Việt Nam không những góp phần bảo đảm quyền văn hóa cho mọi người dân, mà còn là minh chứng sinh động nhằm phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu giáo dục của nước ta, trong đó có thành tựu nổi bật của công tác giáo dục DTTS. 
Hiện thực hóa khát vọng “ai cũng được học hành” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, trong đó có 53 DTTS, với 13,4 triệu người, chiếm 14,6% dân số cả nước. Đa số người DTTS cư trú ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây duyên hải miền Trung, chiếm 3/4 diện tích của cả nước. Đây là những nơi núi cao, địa hình chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, nhưng đồng thời cũng là địa bàn có vị trí chiến lược, xung yếu về quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái.
Dưới chế độ thực dân, phong kiến trước đây, hầu hết người DTTS ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa quanh năm suốt tháng chỉ biết quẩn quanh nơi rừng sâu núi thẳm, sống tự cấp tự túc, không được đến trường, đến lớp nên rơi vào cảnh mù chữ, ít có kiến thức, hiểu biết về mọi mặt của đời sống xã hội. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công không chỉ là bước ngoặt vĩ đại đưa dân tộc Việt Nam bước sang trang sử mới, mà cũng là thời điểm giúp đồng bào các DTTS từng bước được tiếp cận với ánh sáng tri thức văn hóa của dân tộc và nhân loại. Khi trả lời các nhà báo nước ngoài dịp đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
“Ham muốn tột bậc” của Bác Hồ cũng là mục tiêu cao cả, khát vọng cháy bỏng của Đảng, Nhà nước Việt Nam hơn bảy thập niên qua, đó là làm cho mọi người dân, nhất là đồng bào DTTS “ai cũng được học hành”. Từ khi lập Đảng, lập quốc đến nay, trong các văn kiện đại hội của Đảng và các bản Hiến pháp, bao giờ Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng đề cập đến việc tạo cơ hội bình đẳng, điều kiện thuận lợi cho nhân dân nói chung, các DTTS nói riêng được quyền tiếp cận, hưởng thụ môi trường, dịch vụ giáo dục cơ bản để không ngừng nâng cao kiến thức, trình độ, góp phần bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
http://file.qdnd.vn/data/images/0/2019/02/10/dieuthuy/t49.jpg?dpi=150&quality=100&w=575
Trường phổ thông vùng cao Việt Bắc nơi đào tạo nguồn cán bộ là người dân tộc thiểu số. Ảnh minh họa. Nguồn: qdnd.vn
Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH). Việc quan tâm chăm lo sự nghiệp giáo dục, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho đồng bào DTTS ở biên giới, miền núi không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ của Đảng, Nhà nước đối với những người dân ở khu vực “phên giậu” Tổ quốc, mà còn là vấn đề vừa có ý nghĩa chiến lược, vừa là nhiệm vụ thường xuyên để góp phần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc và nâng cao sức mạnh nội sinh cho đất nước.
Trên cơ sở quán triệt nguyên tắc về chính sách dân tộc “Bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc và giúp nhau cùng phát triển”, những năm qua, cùng với đẩy mạnh phát triển KT-XH, xóa đói giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội, cấp ủy, chính quyền các địa phương đã chú trọng chăm lo công tác giáo dục ở vùng đồng bào DTTS. Xuất phát từ đặc điểm lịch sử dân tộc và điều kiện địa lý, địa hình ở các nơi không giống nhau, Việt Nam đã thành lập nhiều mô hình trường học đáp ứng nhu cầu học tập cho người DTTS, như: Trường thanh niên dân tộc, trường vừa học vừa làm, trường thiếu sinh quân, trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú, trường dự bị đại học dân tộc… Những mô hình này đã được đại diện UNESCO ghi nhận là một trong những nỗ lực, sáng tạo của Việt Nam nhằm tạo cơ hội cho mọi người DTTS được đến trường đến lớp, góp phần xóa nạn mù chữ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Chú trọng chăm lo nguồn đào tạo nhân lực là người DTTS
Mọi chủ trương, chính sách chỉ có ý nghĩa khi đi vào thực tiễn và được thực tiễn kiểm chứng. Thành công của công tác giáo dục DTTS ở Việt Nam được thể hiện sinh động qua những “con số biết nói”. Hiện nay, 100% xã vùng DTTS và miền núi có trường THCS, tiểu học và hầu hết các xã có trường, điểm trường và lớp học mầm non; cả nước có 315 trường phổ thông dân tộc nội trú ở 49 tỉnh, thành phố với tổng số 109.245 học sinh nội trú. Trong đó, số trường phổ thông dân tộc nội trú đạt chuẩn quốc gia chiếm khoảng 40%. Ngoài ra còn 975 trường phổ thông dân tộc bán trú, 5 trường đào tạo dự bị đại học dân tộc.
Theo ông Đỗ Văn Chiến, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, những năm qua, việc đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng DTTS, miền núi được Đảng, Nhà nước và các địa phương xác định là một trong những ưu tiên trong chiến lược phát triển KT-XH. Đến nay, đã có 51/53 DTTS có học sinh cử tuyển đi học đại học, học sinh là người DTTS ở vùng đặc biệt khó khăn được Nhà nước hỗ trợ chi phí ăn, ở, học. Mạng lưới trường, lớp giáo dục mầm non, trường phổ thông ở vùng DTTS, miền núi tiếp tục được củng cố, mở rộng. Trong đó mô hình trường phổ thông dân tộc nội trú đã góp phần to lớn trong tạo nguồn đào tạo cán bộ, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng ở vùng DTTS, miền núi, vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn trong suốt thời gian qua.
Một trong những việc làm thiết thực thể hiện sự quan tâm đối với giáo dục DTTS là nhiều địa phương đã đẩy mạnh triển khai việc dạy tiếng DTTS cho học sinh bản địa. Hiện tại 23 tỉnh, thành phố có đông đồng bào DTTS đang triển khai dạy và học 8 thứ tiếng DTTS, gồm: Tiếng Mông, Chăm, Khmer, Gia Rai, Ba Na, Ê Đê, Mơ Nông, Thái. Đây là minh chứng rõ nét trong việc góp phần bảo đảm quyền văn hóa cho các DTTS theo đúng tinh thần Hiến pháp 2013 đã hiến định: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”.
Nhờ chú trọng chăm lo, vun đắp sự nghiệp “trồng người” ở vùng DTTS, hiện nay tỷ lệ người DTTS biết chữ độ tuổi 15-60 đạt 93,44%. Cả nước có hơn 13.000 người DTTS có trình độ trên đại học, đại học, cao đẳng; hơn 78.000 người có trình độ trung học chuyên nghiệp. Vì vậy, tỷ lệ cán bộ lãnh đạo các cấp là người DTTS trong hệ thống chính trị ngày càng tăng cao. Điển hình là trong 4 nhiệm kỳ Quốc hội liên tiếp gần đây, tỷ lệ đại biểu Quốc hội là người DTTS chiếm từ 15,6% đến 17,3%, cao hơn tỷ lệ người DTTS trên tổng số dân là 14,6%. Một trong những những nhân tố tiêu biểu được dư luận biết đến là chị Triệu Thị Huyền, dân tộc Dao ở thôn Khe Phưa, xã Minh An, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Sau khi tốt nghiệp đại học sư phạm, chị Huyền được đề cử và trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XIV khi mới 24 tuổi và là đại biểu trẻ nhất của Quốc hội nhiệm kỳ 2016-2021.
Ngoài việc chăm lo, hỗ trợ học sinh đi lại, ăn ở để học hành ngày càng tốt hơn, Nhà nước Việt Nam đã có những chính sách hỗ trợ thiết thực góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho các em. Trong số 19 ấn phẩm báo, tạp chí vừa được Thủ tướng Chính phủ quyết định cấp cho vùng DTTS và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2019-2021 có hai ấn phẩm dành riêng cho học sinh các DTTS. Đó là Chuyên đề “Măng non” của Báo Nhi đồng cấp cho trường tiểu học các xã vùng DTTS và miền núi; Chuyên đề “Thiếu nhi Dân tộc” của Báo Thiếu niên Tiền phong cấp cho trường THCS các xã vùng DTTS và miền núi, trường dân tộc nội trú, dân tộc bán trú cụm xã vùng DTTS và miền núi. Những tờ báo này được ví như cánh tay nối dài giữa Đảng, Nhà nước với những chủ nhân tương lai của đất nước ở vùng DTTS, miền núi; đồng thời góp phần cung cấp thông tin, truyền bá tri thức, hướng dẫn học sinh các DTTS thực hiện nếp sống văn minh, khoa học.
Những chuyển biến tiến bộ trong sự nghiệp giáo dục Việt Nam nói chung, công tác giáo dục DTTS nói riêng đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Trong lần thứ ba trở lại thăm Việt Nam vào tháng 8-2017, bà Irina Bokova, Tổng giám đốc UNESCO, đã khẳng định: “Tôi thấy Việt Nam có nhiều thay đổi, nhất là sự phát triển tích cực về kinh tế cũng như chất lượng giáo dục, trong đó có thành tựu về thúc đẩy sự công bằng, bình đẳng về giáo dục”.
PHÚC NỘI

http://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/thanh-tuu-nhan-quyen-viet-nam/nhung-chuyen-bien-tien-bo-ve-giao-duc-voi-dan-toc-thieu-so-o-viet-nam-566189

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...