Thứ Bảy, 17 tháng 11, 2018

VÌ NỀN ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÔ GIÁ, VÌ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ SỰ TOÀN VẸN LÃNH THỔ TỔ QUỐC THIÊNG LIÊNG, ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CÙNG DÂN TỘC VIỆT NAM HỘI NHẬP QUỐC TẾ, PHÁT TRIỂN MẠNH MẼ VÀ BỀN VỮNG


VÌ NỀN ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÔ GIÁ, VÌ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ SỰ TOÀN VẸN LÃNH THỔ TỔ QUỐC THIÊNG LIÊNG, ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CÙNG DÂN TỘC VIỆT NAM HỘI NHẬP QUỐC TẾ, PHÁT TRIỂN MẠNH MẼ VÀ BỀN VỮNG

      “Vì Việt Nam, Cu-ba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình” –
(Phi-đen Ca-xtơ-rô)
Việt Nam bước ra từ trong thế giới 
Khảo cổ học chứng minh sự tồn tại của con người trên lãnh thổ Việt Nam từ thời Đồ đá cũ (cách nay từ 300.000 đến 500.000 năm). Vào thời kỳ Đồ đá mới, các nền văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn (gần 10.000 năm trước Công nguyên) chứng tỏ sự xuất hiện của nông nghiệp và chăn nuôi, có thể là cả nghệ thuật trồng lúa nước.
Mảnh đất hình chữ S đã trải mấy ngàn năm lịch sử!
Ngày 19-8-1945, Nhân dân Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã làm một cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại bậc nhất trong lịch sử Việt Nam: Giành lại nền độc lập dân tộc sau ngót một thế kỷ Nhân dân rên xiết trong vòng nô lệ của chủ nghĩa thực dân Pháp, phá tung xiềng xích áp bức hàng ngàn năm của chế độ phong kiến; khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; lập nên Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; cộng đồng thế giới công nhận Việt Nam, với tư cách là một nước độc lập, có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Đó là chân lý hiển nhiên, phù hợp với xu thế độc lập tự do của thời đại ngày nay.
Gần 73 năm qua, kể từ ấy, và nhất là ở thời khắc lịch sử hiện nay, chân lý giản dị đó đang là linh hồn trong mỗi quyết sách chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xuyên thấm trên mỗi bước dù thăng trầm, đặc biệt ở những khúc quanh khắc nghiệt của lịch sử Việt Nam; và trở thành phương châm hành xử của dân tộc và mỗi người Việt Nam ta trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế hiện nay.
Và theo thời gian, viết tiếp nên lịch sử của mình 
Nhân loại đang sống trong thời kỳ lịch sử phát triển rút ngắn, lịch sử ngắn hạn, một ngày mang sức mạnh bằng của cả trăm năm! Và, chưa bao giờ như hôm nay, Việt Nam cũng đang sống trong không gian lịch sử của một “thế giới phẳng” và cả không “phẳng”, thời cơ thường trực gắn chặt với nguy cơ, khi lẽ hưng vong, mất còn của một quốc gia, dân tộc khó có thể là chuyện riêng của từng bên, càng không thể chỉ là là số phận riêng của mỗi vùng lãnh thổ, mỗi dân tộc hay mỗi quốc gia... thì điều đó đối với Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quốc tế quan trọng và to lớn.
Trong bối cảnh hiện nay, trên lộ trình đất nước hội nhập quốc tế không chỉ về quy mô, tốc độ và cả chiều sâu, hơn bao giờ hết, trước yêu cầu bảo vệ nền độc lập tự do vô giá của đất nước, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, càng đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam về tầm nhìn xa rộng và biện chứng, về sự bảo đảm pháp lý và đạo lý, về sự trung thành lý tưởng xã hội chủ nghĩa, kiên định nguyên tắc và sáng tạo trong từng bước đi, về sự tỉnh táo, sâu sắc và tinh tế, khôn ngoan trong mỗi quyết sách, về tính nhân văn và độc đáo trong mỗi thời kỳ... Vấn đề cơ bản nhất, sinh tử nhất xuyên suốt mọi suy nghĩ và hành động lúc này là, giữ vững vô điều kiện nguyên tắc bất di bất dịch: Bảo vệ vị thế đất nước độc lập tự do, sự toàn vẹn lãnh thổ vô giá ngàn năm, chủ quyền Tổ quốc thiêng liêng và lợi ích cao nhất của dân tộc, của đất nước và của nhân dân Việt Nam, dù trong bất cứ điều kiện nào. 
Đó là “ngọn lửa thử vàng” về tầm nhìn chính trị, về bản lĩnh nhân văn... đối với Đảng, Nhà nước; về lòng yêu nước, thương nòi... của mỗi người Việt Nam ta; về đức dám hy sinh, gan góc... đối với mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng! Phải chủ động giữ nước khi nước còn chưa nguy, phải điềm tĩnh và quyền biến “dĩ bất biến ứng vạn biến” trước mọi sự chi phối hay sức ép dù từ bất cứ phía nào! Toàn Đảng, toàn dân tộc Việt Nam đã và đang hành xử như thế (như ông cha nghìn năm đã nối đời nguyền giữ), một cách kiên định và sáng tạo theo lời chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đưa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc hiện nay tiến những bước dài quan trọng, có ý nghĩa lịch sử to lớn, chưa từng thấy trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam.
Vì lẽ đó, Việt Nam không dung thứ bất cứ ai, bất cứ hành động sợ hãi, hèn nhát nào, làm xâm hại lợi ích của đất nước, của dân tộc, của nhân dân, của Đảng và của chế độ xã hội chủ nghĩa do Nhân dân làm chủ! Đó chính là đạo lý dân tộc thiêng liêng nhất, và chính là pháp lý đất nước công minh nhất! Ai vi phạm hoặc làm vấy bẩn điều vô giá đó, người ấy không xứng đáng là người Việt Nam chân chính. Ai nhân danh đổi mới để tự “làm mới” mình, tự “đánh bóng mình”, theo kiểu “đầu cơ chính trị”, “cơ hội chính trị”... lại nhất là những người giữ cương vị đứng đầu các tổ chức... là người có lỗi. Ai vì quyền lợi của phe nhóm mình, thân tộc mình, cá nhân mình mà coi nhẹ, rắp mưu làm “con buôn quyền lực”, “đục nước béo cò”, “chia nhỏ” lợi ích quốc gia, gây nên tệ cát cứ, cục bộ,... người đó mang tội. Ai mưu toan “quay mặt”, “trở cờ nối dáo cho giặc”, bán rẻ lợi ích quốc gia, xa lánh Nhân dân... kẻ đó mắc trọng tội.V. v... Đó chính là những “cục nghẽn mạch” đau đớn nhất, những “khối u ác tính” nguy hiểm nhất, những “giặc nội xâm” nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh, “hung hãn nhất”,... có thể làm cho nền độc lập dân tộc Việt Nam suy vong, sự thống nhất của quốc gia Việt Nam băng hoại. 
Bởi thế, lại hơn lúc nào hết, vì quyền lợi dân tộc, vì lợi ích quốc gia, vì quyền và lợi ích của nhân dân, đồng thời chúng ta phải chủ động “giữ nước khi nước đang yên” từ xa, “phải kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” ở gần... như điều cách đây hơn bảy trăm năm Hưng Đạo Vương vẫn từng răn dạy. Và, phải phòng ngừa những tai họa mà hơn 250 năm trước, Bảng nhãn Lê Quý Đôn, từng tiên liệu: Có năm nguy cơ sẽ làm mất nước: “Một, trẻ không kính già; hai, trò không trọng thày; ba, binh kiêu tướng thoái; bốn, tham nhũng tràn lan; năm, sĩ phu ngoảnh mặt”. Và, cách đây 72 năm, ngay khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ độc lập chưa đầy năm tháng, Chính phủ ban Quốc lệnh, đề ngày 26-1-1946, do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, gồm 20 điều “Thưởng” và “Phạt”, trong đó ghi rõ ở phần “Phạt”: “1. Thông với giặc, phản quốc sẽ bị xử tử; 2. Trái quân lệnh sẽ bị xử tử; 3. Ra trận tự ý rút lui sẽ bị xử tử;... 8. Trộm cắp của công sẽ bị xử tử...”.
Hiện nay Việt Nam, không trừ một ai, hễ là người Việt Nam có lương tri phải chung tay lên án, chặn đứng và thủ tiêu tất cả những tệ nạn nguy hiểm, chết người, làm khuynh đảo, thậm chí làm suy tàn đất nước ấy. Vì, nếu không thì tầm nhìn và những quyết sách chính trị chiến lược của Đảng và Nhà nước Việt Nam bị xâm hại; lợi ích chiến lược của quốc gia - dân tộc, của nhân dân Việt Nam bị vi phạm; thời cơ chiến lược để đất nước Việt Nam cất cánh bị bỏ lỡ, thậm chí mãi mãi; vị thế quốc gia xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên trường quốc tế bị tổn thương, bị hạ thấp,... mà đau đớn hơn là bởi chính nguy cơ do mất cảnh giác hay tự mình tạo ra; trong khi những thế lực chung quanh, ở xa, có kẻ những rắp mong dân tộc Việt Nam suy tàn, Tổ quốc Việt Nam thiêng liêng của hơn 94 triệu đồng bào Việt Nam lâm vào vòng hỗn loạn, thậm chí trở thành nô lệ. Lúc ấy, hối thì đã muộn!
Lịch sử thế giới hiện nay, tình hình phức tạp từ Đông sang Tây và sự rối ren ở một số quốc gia khu vực và thế giới ngay lúc này đây càng cho Việt Nam thấy nóng bỏng những cảnh báo sinh tử nhãn tiền về tầm nhìn chiến lược, về thời cơ chiến lược, về lợi ích chiến lược của cách mạng Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam! 
Nước Việt Nam độc lập! Non sông gấm vóc Việt Nam thống nhất toàn vẹn từ Mục Nam Quan cực Bắc, Mũi Cà Mau cuối đất phương Nam tới Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam hiên ngang trong sóng gió Biển Đông! Đất nước Việt Nam ta mà tiền nhân để lại dọc ba miền Bắc - Trung - Nam liền một dải đẹp đẽ và thiêng liêng vô giá. Nhân dân Việt Nam dù ở vùng xuôi, miền ngược hay đang ở khắp bốn bể năm châu... đều là đồng bào con Lạc, cháu Hồng, kể từ thuở các Vua Hùng mở nước, trải đã mấy nghìn năm! 
Dân tộc Việt Nam đã và đang mang trong mình niềm kiêu hãnh đó nhịp bước cùng nhân loại. Và, trong lòng dân tộc, Đảng ta - “đứa con nòi” của nhân dân, người lãnh đạo cách mạng Việt Nam, người đày tớ thật trung thành của nhân dân lao động nước nhà, người chiến sĩ rất mực tin cậy và thủy chung, người bạn rất mực nhân ái và chan hòa của đồng chí và bầu bạn quốc tế khắp năm châu, và Nhà nước của nhân dân chúng ta sống trong lòng dân tộc, tiếp tục trưởng thành gánh vác trọng trách đất nước, đã không phụ lòng tin cậy, sự ủy thác của nhân dân. Toàn thể cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam anh em dù ở trong nước hay ở nước ngoài đã sống, dựng xây và bảo vệ đất nước toàn vẹn có quyền kiêu hãnh về Tổ quốc Việt Nam! Và đất nước Việt Nam qua mấy ngàn năm dồn tụ, kết tinh nhuệ khí linh thiêng “chúng chí thành thành”, tiếp tục thành công trong gần 32 năm đổi mới, kiêu hãnh về vị thế mới, tầm vóc mới của quốc gia, sánh vai cùng các nước trên trường quốc tế; tô thắm thêm sức mạnh mấy ngàn năm và nâng tầm uy tín Việt Nam, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, xứng danh là Tổ quốc của con Lạc cháu Hồng! 
Trong đại đồng dân tộc Việt Nam thống nhất ấy, quyết không dung thứ những ai tự tách mình ra, thậm chí đi ngược lại cộng đồng, chỉ vì lợi ích cá nhân, dòng họ, phe nhóm mình mà trở nên mờ mắt, sai lầm. Trong hơn bốn triệu đảng viên của Đảng, không dung thứ những ai chưa xứng đáng là “đứa con nòi” của dân tộc Việt Nam ta, chưa “tận tụy suốt đời phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh trìu mến nâng niu và mong mỏi. Muôn dân và Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đau đáu, vì lẽ đó. Thực tế nhãn tiền cho thấy, không phải những gì khác, mà chính những điều đó trực tiếp đang làm xói mòn niềm tin của Nhân dân với Đảng - “đứa con nòi” của mình, làm tổn thương mối quan hệ máu thịt giữa Đảng - Nhà nước với Nhân dân. Tất cả các tệ nạn đó tích tụ đến một mức nào đó sẽ làm cho Đảng suy thoái, Nhà nước biến chất... và, rốt cuộc chỉ có kẻ thù của lương tri và Việt Nam là đắc lợi! Nền độc lập tự do của đất nước bị đe dọa bởi chính thứ hiểm họa “ngay từ trong tường vách” ấy!
Người xưa nói: Không biết xấu hổ thì không thành người được! Ấy là liêm sỉ ở đời! Không trừ một ai, dù là người đứng đầu bộ máy hay người công dân bình thường luôn phải tự vấn mình về nghĩa vụ công dân, luôn phải biết tự hổ thẹn với lương tâm về đạo lý làm người! Không trừ một cấp nào, dù là cao nhất, nếu đạo lý, lương tâm không đủ thức tỉnh, răn đe thì pháp lý, đạo luật phải được toàn dụng. Không một thời thịnh trị nào và không một nơi đâu trong lịch sử nước Việt Nam (và trên thế giới) không hành động như thế cả. Ngày xưa, cổ nhân nói: Ý dân là ý trời, ai lấy được lòng dân là người đó lấy được thiên hạ. Trần Hưng Đạo nói: “Khoan thư sức dân ấy là kế sâu rễ bền gốc, là thượng sách giữ nước”. Nguyễn Trãi từng viết: “Phúc chu thủy tín dân do thủy” (Làm lật thuyền mới biết sức dân mạnh như nước). Chưa khi nào như bây giờ, khi chúng ta chủ động, tích cực bước ra thế giới, dân tộc đồng tâm chuẩn bị thực lực mạnh mẽ đủ sức vượt qua mọi chướng ngại trên con đường độc lập và phồn vinh, thì mối quan hệ máu thịt, sinh tử giữa Đảng với Nhân dân lại đòi hỏi phải được chăm lo ở một tầm cao mới, với chất lượng mới như bây giờ! “Gốc có vững, cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền Nhân dân”. Đạo lý và pháp lý phải là đứa con sinh đôi trên hành trình này! Ai vi phạm thì khuyên răn, và cố tình chưa thức tỉnh, thì cần thiết phải nghiêm trị. Việt Nam không sợ bất cứ một thế lực ngoại xâm nào, dù là hung bạo nhất. Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam chỉ sợ khi Nhân dân mất niềm tin vào chính mình! Ở những lúc cam go nhất, càng cho thấy, 94 triệu đồng bào nhất tề, dưới ngọn cờ của Đảng - “đứa con nòi” của Nhân dân và Nhà nước của Nhân dân cùng toàn thể Nhân dân Việt Nam kết thành một khối vững chắc, vượt qua mọi trở ngại, đã và đang giữ gìn và phát triển tất cả những gì mà giang san do các bậc tiền nhân trao gửi giữ gìn bằng mọi giá suốt 73 năm qua!
Chúng ta làm trái đi là vong ân với lịch sử, là hổ thẹn với ông cha; là tự tước bỏ Quốc bảo Lòng Dân giữ và dựng nước hiện nay, là chuốc lấy họa sát thân, cũng chính là vô hình chà đạp lên gấm vóc giang san nước Việt mấy ngàn năm được dựng xây và bảo vệ bằng máu và mô hôi của triệu triệu đồng bào.
Dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam, lịch sử đang mở đường Việt Nam tiếp tục tiến lên cùng nhân loại, trong tầm nhìn 2030
Trong hành trình cùng dân tộc, dù còn không ít thiếu sót cấp bách phải sữa chữa, dù có những điều chưa thật là vui, nhưng ở chính những thời khắc cam go nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam - “đứa con nòi” của dân tộc ta, luôn ghi nhớ lời và rèn luyện theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và trưởng thành lên nhờ sự chở che của nhân dân, vững vàng hơn nhờ tấm lòng khoan hậu, yêu thương của đồng bào ta; và đã không phụ sự tin cậy và ủy thác của nhân dân, phấn đấu không ngừng, luôn xứng đáng là “là đạo đức, là văn minh, là thống nhất, độc lập, là hòa bình ấm no”!
Suốt hơn 88 năm qua, Đảng nguyện lòng sướng khổ, buồn vui trong lòng đại gia đình 54 dân tộc anh em, dựa hẳn vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn mình, xứng đáng là “đứa con nòi” mà da thịt, máu xương của Đảng được chung đúc từ thịt da, xương máu đồng bào, nguyện phấn đấu và hy sinh vì toàn vẹn lãnh thổ, vì sự trường tồn và phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam, vì hạnh phúc của nhân dân; mãi xứng đáng là Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Và, gần 73 năm qua, Nhà nước Việt Nam nỗ lực không ngừng và thực sự là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, từng công chức, nhân viên nhà nước, ai nấy tự hiểu rằng, nếu tách mình ra khỏi điều thiêng liêng ấy là tự đào thải mình khỏi hơn 94 triệu đồng bào nước Việt! Ai “nhân danh lòng yêu nước” để đánh bóng mình hay “a dua lòng yêu nước” nhằm trục lợi, làm nhục quốc thể, làm hổ thẹn đồng bào, người đó không có chỗ trong lòng dân tộc, trong lòng Nhân dân! 
Trước vận hội mới của dân tộc, đáp lại tấm lòng Nhân dân, trong lòng giang sơn Tổ quốc linh thiêng, trước biển lớn thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam dẫn dắt dân tộc nhịp bước suốt 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới. Đáp lại yêu cầu tha thiết của đồng bào, Đảng chúng ta đang nỗ lực tự chỉnh đốn, tự đổi mới mình, phấn đấu cùng toàn dân tộc, tất cả vì sự lớn mạnh của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Đảng cầu thị tự phê bình và phê bình một cách nghiêm khắc, thành tâm và sâu sắc. Tháng 9 năm nay, tròn 49 năm, Đảng ta, Nhà nước và toàn thể Nhân dân Việt Nam thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với linh hồn đó, trước mắt, thực hiện thật tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; làm thật tốt việc bảo vệ vô điều kiện sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, giữa Đảng với Nhà nước, giữa Đảng - Nhà nước với Nhân dân như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”; là kiên quyết đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, chống quan liêu, tham nhũng và các thói tệ khác trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; rèn giũa mình ngang tầm nhiệm vụ của người đứng mũi chịu sào trước lịch sử, do Nhân dân Việt Nam tin cậy và giao phó! Đảng phải xứng đáng là một Đảng cách mạng - Đoàn kết thống nhất - Cầu thị tiến bộ. Không một ai có thể cản nổi Con tàu Đổi mới, vì chủ nghĩa xã hội Việt Nam, đang tiến lên phía trước: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ai không thành tâm sửa mình, sẽ lỡ chuyến tàu!
Tựa lưng vào sức mạnh lịch sử mấy ngàn năm, trên nền tảng Quốc bảo lòng dân, Việt Nam quyết bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng, gìn giữ nền độc lập và hòa bình vô giá và nâng niu vô điều kiện khát vọng thiêng liêng “tắt muôn đời chiến tranh” của muôn bậc tiền nhân và cũng là của chung nhân loại! Vì, đó là Quốc hồn Việt Nam! Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tròn 64 năm trước vẫn đang nóng bỏng: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Và, đó cũng chính là lẽ sinh tử của 94 triệu đồng bào nước Việt! Vì, “Đau đớn chi bằng mất tự do”?!
Việt Nam đã và đang cùng nhân loại làm như vậy! Gần 73 năm nay, dưới ngọn cờ của Đảng, Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam lớn lên từ giang san xã tắc mấy ngàn năm của tiền nhân để lại, trưởng thành từ chiếc nôi truyền thống mấy ngàn năm văn hiến Việt Nam và hơn 88 năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiền phong của dân tộc, “đứa con nòi của nhân dân lao động nước nhà” cùng 94 triệu đồng bào, đã đưa Tổ quốc Việt Nam từ máu lửa, nô lệ, xiềng gông “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, xây dựng lại giang sơn “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, như khao khát của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không thể không hành xử tất yếu như thế một cách kiên quyết và không gì cản được!
Nhớ lại, năm 1930 - 1931, khi ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ mới đầy một năm tuổi dân tộc, đã cùng nhân dân làm một cuộc duyệt binh lịch sử Xô-viết Nghệ - Tĩnh, báo hiệu Tổ quốc nhất định cập bến độc lập, tới ngày tự do! Mười lăm năm sau đó, ở Mùa thu Ất Dậu năm 1945, bằng một cuộc Cách mạng Tháng Tám, Đảng cùng dân tộc phá bỏ chế độ phong kiến ngàn năm và bẻ gãy xích xiềng ngót một trăm năm nô lệ thực dân Pháp, để nền độc lập dân tộc hồi sinh và bảo vệ bằng mọi giá một nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và nền độc lập tự do non trẻ thiêng liêng và vô giá!
Nhớ lại tròn sáu mươi năm trước, ngày 7-5-1954, dưới ngọn cờ của Đảng, Quân đội ta, toàn thể dân tộc Việt Nam ta làm nên một Điện Biên lừng lẫy, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ và gian khổ! Và, nhớ lại, ngày 30-4-1975, Đảng ở tuổi 45, với sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, Việt Nam tiến hành một cuộc Tổng tiến công Mùa Xuân quét sạch đế quốc Mỹ xâm lăng và bè lũ ngụy quyền của chúng, thu giang sơn về một mối, thống nhất nước nhà! Gần 74 năm trước, ngày 22-12-1944, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà hy sinh, dưới ngọn cờ của Đảng, Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng toàn dân tộc giữ yên xã tắc, bảo vệ giang san, tôn vinh nền độc lập tự do bất khả xâm phạm của dân tộc trước mọi họa xâm lăng! 
Tròn 40 năm trước, máu đào con dân nước Việt Nam lại đổ nơi phên dậu phía Tây Nam và 39 năm trước, mây đen vần vũ quần đảo nơi biên cương phía Bắc, dưới ngọn cờ của Đảng, hồn thiêng sông núi hun đúc chính khí dân tộc “chúng chí thành thành”, Việt Nam quét sạch bùn nhơ phía Tây Nam bờ cõi, bảo vệ vững chắc biên giới, giữ vẹn lãnh thổ lịch sử, đã san định hai mặt biên thùy Tổ quốc. Rằng, “Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”!
Và, hôm nay, công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ dù chỉ gần 32 năm, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, đã xác tín sức mạnh vô địch của tinh thần 94 triệu đồng bào đưa dân tộc Việt Nam vững vàng tiếp tục tiến lên phía trước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc! Sức mạnh lòng dân vô địch! Gần một thế kỷ qua, Lòng Dân- “chúng chí thành thành”, dưới ngọn cờ của Đảng, đã trở thành Quốc bảo tiếp tục dựng nước, gìn giữ vẹn toàn sơn hà xã tắc, trong thời đại mới! 
“Không có gì quý hơn độc lập tự do”, Việt Nam “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”! Khi 94 triệu đồng bào Việt Nam một bụng, dưới sự chỉ dẫn của tư tưởng ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những người đồng chí từ Cu-ba nửa kia bán cầu với tinh thần “Vì Việt Nam, Cu-ba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình” tới đất nước Lào và Cam-pu-chia từng “hạt gạo chia ba, sống chết bên nhau” trên bán đảo Đông Dương anh em và gần 200 quốc gia bạn bè khắp năm châu đã và đang đoàn kết cùng Việt Nam, với bản lĩnh của Đảng và sức mạnh của Nhà nước Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, nhất định giang san Việt Nam xã hội chủ nghĩa toàn vẹn mãi mãi vững bền, dân tộc Việt Nam tiếp tục góp phần cùng nhân loại tiến bộ xây dựng và phát triển một thế giới hòa bình, văn minh và không ngừng tiến bộ trong thế kỷ XXI!./.
Nhị Lê
TS, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản
http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Binh-luan/2018/52766/Vi-nen-doc-lap-dan-toc-vo-gia-vi-chu-nghia-xa.aspx


20 NĂM THAM GIA APEC: TỪ TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC ĐẾN NHỮNG DẤU ẤN VIỆT NAM


20 NĂM THAM GIA APEC:
TỪ TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC ĐẾN NHỮNG DẤU ẤN VIỆT NAM


Cách đây đúng 20 năm, ngày 14 tháng 11 năm 1998, tại thủ đô Kua-la Lăm-pơ, Ma-lai-xi-a, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC). Giây phút lịch sử này đánh dấu bước triển khai mạnh mẽ chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta, tạo động lực cho tiến trình đổi mới và hội nhập của đất nước trong hai thập kỷ qua. Kỷ niệm 20 năm đồng hành cùng APEC, chúng ta nhìn lại chặng đường đã qua với những dấu ấn đáng tự hào, từ đó nỗ lực đóng góp hơn nữa cùng vun đắp tương lai chung về một cộng đồng châu Á – Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, năng động, sáng tạo, gắn kết và thịnh vượng. 
APEC – Tầm nhìn chiến lược của hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam 
Thành tựu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của nước ta trong 20 năm qua đã khẳng định chủ trương tham gia APEC là hoàn toàn đúng đắn và đúng thời điểm, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Tiếp theo việc trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995, tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) năm 1996, việc tham gia APEC năm 1998 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và là tiền đề để nâng hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta lên tầm toàn cầu với việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007. Tham gia APEC cũng thể hiện quyết tâm của chúng ta đóng góp tích cực thúc đẩy xu thế hòa bình, ổn định, hợp tác, tự do hóa thương mại và đầu tư trong khu vực.
Là cơ chế hợp tác kinh tế hàng đầu tại châu Á – Thái Bình Dương, nơi hội tụ các trung tâm kinh tế, thương mại và công nghệ lớn toàn cầu, chiếm 39% dân số, đóng góp 59% GDP, hơn 49% thương mại của thế giới, APEC đã mang lại nhiều lợi ích về chiến lược, kinh tế, thương mại và đầu tư, góp phần thúc đẩy phát triển toàn diện của đất nước.  
Trước hết, APEC là diễn đàn quy tụ 14 trên 28 đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và là các đối tác kinh tế, thương mại quan trọng hàng đầu của nước ta, chiếm 75% kim ngạch xuất nhập khẩu, 78% tổng vốn đầu tư trực tiếp và 79% lượng khách du lịch quốc tế của Việt Nam. 14 trong 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà ta đã, đang đàm phán và ký kết là với 17 trên 20 thành viên APEC. Những con số này minh chứng rõ nét tầm quan trọng của APEC đối với phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước. 
Thứ hai, tham gia APEC góp phần quan trọng nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Là thành viên APEC, Việt Nam có vai trò, tiếng nói ngang hàng với nhiều trung tâm kinh tế hàng đầu thế giới trong việc xây dựng, định hình các luật lệ, quy tắc về kinh tế, thương mại khu vực. Điều này có ý nghĩa quan trọng để chúng ta đẩy mạnh triển khai chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và nâng tầm đối ngoại đa phương. 
Thứ ba, Diễn đàn APEC là kênh quan trọng để chúng ta thúc đẩy quan hệ song phương, góp phần tạo đan xen lợi ích dài hạn và đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, củng cố môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước. Nổi bật là với vai trò chủ nhà năm APEC 2006, chúng ta đã thúc đẩy thực chất quan hệ song phương với nhiều đối tác chủ chốt, đặc biệt là qua các chuyến thăm của các nhà Lãnh đạo Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nga, Nhật Bản, Chi-lê trong dịp Hội nghị Cấp cao APEC 2006. Thành công của các chuyến thăm song phương mang tính lịch sử và hàng chục cuộc hội đàm, tiếp xúc song phương dịp Tuần lễ Cấp cao APEC 2017 tiếp tục đặt nền móng nâng tầm quan hệ song phương của ta với nhiều đối tác trong khu vực. 
Thứ tư, tham gia APEC và thực hiện các cam kết về mở cửa thương mại, đầu tư, thuận lợi hóa kinh doanh góp phần tạo động lực thúc đẩy cải cách trong nước, từng bước hoàn thiện thể chế chính sách, quy định phù hợp với các cam kết quốc tế. Tham gia sân chơi APEC tạo tiền đề để Việt Nam tham gia vào những sân chơi rộng lớn và có mức độ cam kết hơn như WTO, các FTA, trong đó có những FTA thế hệ mới, tiêu chuẩn cao. Việc thực hiện các cam kết quốc tế cũng là đòn bẩy để hiện thực hóa quyết tâm xây dựng Chính phủ liêm khiết, kiến tạo, hành động phục vụ người dân và doanh nghiệp. 
Thứ năm, là thành viên APEC, Việt Nam được hưởng những hỗ trợ nâng cao năng lực hội nhập quốc tế. Một trong ba trụ cột chính của APEC là hợp tác kinh tế kỹ thuật (ECOTECH), hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển nâng cao năng lực cải cách kinh tế và hội nhập khu vực, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển. Việc triển khai các cam kết, đồng bộ hóa chính sách, cùng các dự án hỗ trợ của APEC đã góp phần nâng cao năng lực hội nhập quốc tế cho các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, tăng cường kiến thức và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập. Các chương trình hợp tác về tăng cường trao đổi sinh viên, thúc đẩy du lịch, giao lưu nhân dân,... thực sự đem lại nhiều cơ hội lớn đối với người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. 
Cuối cùng và cũng là điều khác biệt của hợp tác APEC so với nhiều cơ chế khác chính là APEC mang đến những tiềm năng và cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Đối thoại giữa các nhà Lãnh đạo APEC với Hội đồng tư vấn doanh nghiệp APEC (ABAC) và Hội nghị thượng đỉnh doanh nghiệp APEC hàng năm là dịp quan trọng để cộng đồng doanh nghiệp đề xuất khuyến nghị lên các nhà Lãnh đạo, chủ động tham gia đóng góp xây dựng chính sách liên kết kinh tế khu vực, đồng thời tạo khuôn khổ để doanh nghiệp Việt Nam kết nối với các tập đoàn hàng đầu thế giới. APEC cũng hỗ trợ các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong tiếp cận thị trường, hưởng môi trường đầu tư, kinh doanh và điều kiện đi lại thuận lợi, tìm kiếm các nhà đầu tư chiến lược, tiếp cận công nghệ và trình độ quản lý tiên tiến. 
Hai thập kỷ tham gia APEC và những dấu ấn Việt Nam 
Nhìn lại chặng đường 20 năm qua, chúng ta có thể tự hào về những đóng góp tích cực, chủ động của Việt Nam đối với Diễn đàn APEC, góp phần thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác, liên kết kinh tế khu vực, duy trì vai trò của APEC là cơ chế liên kết kinh tế hàng đầu tại châu Á – Thái Bình Dương.
Nổi bật nhất phải kể đến việc Việt Nam là một trong số không nhiều thành viên đã hai lần đảm nhiệm thành công vai trò chủ nhà APEC, vào các năm 2006 và 2017. 
Với vai trò chủ trì của Việt Nam, tại Tuần lễ Cấp cao tháng 11/2006 tại thủ đô Hà Nội, lần đầu tiên các nhà Lãnh đạo APEC đã xác định triển vọng hướng tới hình thành Khu vực Thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương (FTAAP).  Đây là quyết sách quan trọng, đặt nền móng cho tầm nhìn chiến lược về liên kết kinh tế toàn khu vực. Cùng với đó, Chương trình Hành động Hà Nội nhằm thực hiện các Mục tiêu Bô-go, Gói biện pháp tổng thể cải cách APEC, các cam kết hợp tác về an ninh con người, phát triển nguồn nhân lực, cải cách cơ cấu, hỗ trợ các thành viên đang phát triển nâng cao năng lực hội nhập... cũng được đánh giá là những giải pháp kịp thời, hữu hiệu cho những vấn đề APEC phải đối mặt tại thời điểm đó. Kết quả của Năm APEC 2006 với tinh thần "Hướng tới một cộng đồng năng động vì sự phát triển bền vững và thịnh vượng” đã góp phần tạo thêm xung lực đẩy mạnh hợp tác APEC theo hướng hiệu quả và năng động hơn. 
Sau 11 năm, chúng ta tiếp tục được các thành viên tín nhiệm lựa chọn đăng cai APEC lần thứ hai. Trọng trách này đặt chúng ta trước nhiều thách thức, nhất là trong bối cảnh năm 2017 được đánh giá là một trong những thời điểm khó khăn nhất đối với Diễn đàn, với sự nổi lên mạnh mẽ của chủ nghĩa bảo hộ, dân túy, chống toàn cầu hóa cũng như các thách thức về biến đổi khí hậu, bất bình đẳng xã hội, già hóa dân số…Trong bối cảnh khó khăn như vậy, với bản lĩnh và trí tuệ, với quyết tâm và sự đồng lòng, chúng ta đã tổ chức thành công xuất sắc Năm APEC 2017 với gần 250 sự kiện, đỉnh cao là Tuần lễ Cấp cao APEC lần thứ 25 tại thành phố biển Đà Nẵng năng động và hiện đại. 
Với chủ đề “Tạo động lực mới, cùng vun đắp tương lai chung”, chúng ta đã chủ trì, phối hợp với các thành viên thúc đẩy nhiều nội dung hợp tác lớn, khơi dậy những động lực mới cho tăng trưởng bền vững, sáng tạo và bao trùm, đẩy mạnh tự do hóa thương mại, đầu tư và kết nối khu vực, củng cố vai trò lãnh đạo của APEC trong quản trị kinh tế thương mại toàn cầu và ứng phó với các thách thức chung. Tuyên bố Hội nghị Cấp cao APEC 25 và Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao – Kinh tế cùng các văn kiện kèm theo đã góp phần giữ vững đà hợp tác, liên kết, duy trì giá trị cốt lõi APEC về thúc đẩy thương mại và đầu tư tự do và mở và ủng hộ hệ thống thương mại đa phương. Vai trò và đóng góp của Việt Nam được đặc biệt đề cao khi chúng ta chủ trì khởi xướng thảo luận về xây dựng Tầm nhìn mới cho Diễn đàn APEC sau năm 2020. 
Bên cạnh đó, dấu ấn Việt Nam còn thể hiện qua thành công của Đối thoại lần đầu tiên giữa Lãnh đạo APEC với ASEAN và việc chúng ta đóng góp tích cực thúc đẩy hình thành Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) trong dịp Tuần lễ Cấp cao Đà Nẵng.
Thành công và sức hút Việt Nam cũng được thể hiện qua những kỷ lục về sự tham gia và đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp trong dịp Tuần lễ Cấp cao, nổi bật là Hội nghị Thượng đỉnh doanh nghiệp APEC, với sự tham dự của hơn 2.100 doanh nghiệp hàng đầu thế giới và khu vực, và Hội nghị Thượng đỉnh kinh doanh Việt Nam lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam. 
Có thể nói, thành công và những dấu ấn của hai lần đăng cai APEC khẳng định đóng góp chủ động, tích cực và hết sức trách nhiệm của Việt Nam trong tham gia định hình liên kết kinh tế khu vực, duy trì vai trò của châu Á – Thái Bình Dương là động lực của liên kết và tăng trưởng kinh tế toàn cầu.
Hai là, Việt Nam là một trong những thành viên tích cực nhất trong đề xuất các sáng kiến và dự án, với hơn 100 dự án trên nhiều lĩnh vực. Nhiều sáng kiến do nước ta đề xuất được đánh giá thiết thực, đáp ứng quan tâm chung, nhất là về phát triển bao trùm, phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số, tạo thuận lợi thương mại điện tử qua biên giới, MSMEs xanh, bền vững và sáng tạo, an ninh lương thực và biến đổi khí hậu, phát triển nông thôn và đô thị…
Ba là, chúng ta đã có nhiều đóng góp trong công tác điều hành hoạt động của APEC thông qua đảm nhiệm vị trí Giám đốc điều hành Ban Thư ký APEC (năm 2005 - 2006), Chủ tịch/Phó Chủ tịch nhiều Ủy ban và nhiều Nhóm công tác chủ chốt như Ủy ban thương mại và đầu tư, Ủy ban quản lý ngân sách, các Nhóm công tác về doanh nghiệp vừa và nhỏ, y tế, đối phó với tình trạng khẩn cấp...  Riêng trong giai đoạn 2016 – 2018, ta đã đảm nhiệm vai trò Chủ tịch, Phó Chủ tịch 18 Ủy ban, Nhóm công tác của APEC và ABAC, được các thành viên đánh giá cao.
Bốn là, vai trò của doanh nghiệp Việt Nam đối với hợp tác APEC ngày càng được đề cao. Doanh nghiệp của chúng ta đã tham gia và đóng góp tích cực, đề xuất nhiều khuyến nghị lên các nhà Lãnh đạo và các Bộ trưởng APEC. Đặc biệt, trong Năm APEC 2017, doanh nghiệp Việt Nam đã đóng góp trí tuệ, công sức và trực tiếp tham gia nhiều hoạt động, khẳng định sự trưởng thành, năng lực hội nhập, vai trò và trách nhiệm đối với hợp tác APEC cũng như liên kết kinh tế khu vực.
APEC – Diễn đàn trọng điểm triển khai chủ trương đẩy mạnh và  nâng tầm đối ngoại đa phương 
Trong một thế giới siêu kết nối, châu Á – Thái Bình Dương tiếp tục là một trung tâm phát triển năng động hàng đầu thế giới, có vị trí địa kinh tế và địa chính trị chiến lược quan trọng, là động lực của tăng trưởng và liên kết kinh tế toàn cầu, một trung tâm chính trị trọng yếu của thế giới. Là cơ chế liên kết kinh tế quan trọng hàng đầu tại châu Á – Thái Bình Dương, APEC tiếp tục tiên phong thúc đẩy thương mại, đầu tư, kết nối, phát huy mạnh mẽ vai trò lãnh đạo trong quản trị kinh tế toàn cầu, thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững đến 2030 và ứng phó với các thách thức chung. Bước sang thập kỷ phát triển thứ tư, trước những chuyển biến nhanh chóng và sâu sắc của cục diện thế giới và khu vực, dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, APEC đang chuyển mình căn bản, ngày càng mở rộng nội hàm hợp tác theo hướng thiết thực hơn, vì lợi ích của người dân và doanh nghiệp. 
Sau hơn 30 năm Đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển chiến lược với vị thế và tầm vóc mới, tiếp tục đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế sâu rộng và nâng tầm đối ngoại đa phương. Châu Á – Thái Bình Dương và APEC tiếp tục là một trong những trọng điểm trong triển khai chủ trương đối ngoại của nước ta trong thời kỳ mới.
Với hành trang là 20 năm tham gia APEC, chúng ta sẽ tiếp tục nâng tầm đóng góp của Việt Nam tại Diễn đàn. Chúng ta sẽ cùng các thành viên đẩy mạnh triển khai các cam kết và chiến lược dài hạn về hoàn thành các Mục tiêu Bô-go vào năm 2020, các chiến lược tăng trưởng, kết nối tổng thể,... đồng thời thúc đẩy hiện thực hóa các kết quả của Tuần lễ Cấp cao APEC 2017. Trên cương vị Phó Chủ tịch Nhóm Tầm nhìn APEC, chúng ta sẽ đóng góp tích cực triển khai ý tưởng do chính chúng ta khởi xướng trong năm 2017 – xây dựng những tầm nhìn mới cho Diễn đàn trong giai đoạn phát triển sau năm 2020. 
Triển khai chủ trương của Đại hội Đảng lần thứ 12 về chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đóng góp định hình các thể chế đa phương và Chỉ thị của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương, Việt Nam sẽ tiếp tục đồng hành cùng APEC trên chặng đường phát triển sắp tới, chung tay xây dựng tầm nhìn chiến lược về cộng đồng châu Á – Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, năng động, sáng tạo, gắn kết và thịnh vượng./.
 Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị,
Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
http://dangcongsan.vn/thoi-su/-20-nam-tham-gia-apec-tu-tam-nhin-chien-luoc-den-nhung-dau-an-viet-nam-504943.html

“CHẤT KEO” GẮN KẾT KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC


“CHẤT KEO” GẮN KẾT KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

Những ngày này, tại khắp các khu phố, xóm, ấp… của cả nước đang diễn ra Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư. Ngày hội không chỉ là dịp để mỗi người Việt Nam dù bất cứ ở hoàn cảnh nào, nghề nghiệp gì đều nhận thấy mình là con Lạc, cháu Hồng, mà còn là “chất keo” gắn kết, nhân lên sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Từ rất nhiều năm nay, cứ vào dịp kỷ niệm Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam (18/11), Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc lại được tổ chức sôi nổi, rộng khắp ở khu dân cư trên mọi miền Tổ quốc.
Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc là dịp để cán bộ, nhân dân trong các khu dân cư ôn lại lịch sử, truyền thống vẻ vang của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, nay là MTTQ Việt Nam; khẳng định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế hiện nay…
Đáng chú ý, qua Ngày hội đã góp phần tuyên truyền cho nhân dân ở khu dân cư những mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn. Đồng thời, đánh giá kết quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, phát động đăng ký xây dựng các danh hiệu gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa và đề ra phương hướng, nhiệm vụ để thực hiện các cuộc vận động, các phong trào và thực hiện các quy định tại địa phương.
Cũng tại Ngày hội, các khu dân cư tiến hành biểu dương, khen thưởng những tập thể, gia đình và cá nhân tiêu biểu trong thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động tại khu dân cư được thực hiện trong năm qua. Tùy theo điều kiện, một số khu dân cư còn tổ chức “Bữa cơm đoàn kết” tạo không khí đoàn kết, ấm cúng. Đây là những công việc tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra bầu không khí vui tươi của Ngày hội.
Từ đó, đã tạo thêm động lực để cổ vũ, động viên cho cá nhân và tập thể trong việc thực hiện các phong trào và quy định tại khu dân cư. Đây là hoạt động thiết thực khơi dậy truyền thống yêu nước, nâng cao vai trò của MTTQ Việt Nam trong thời kỳ mới; tăng cường, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chung sức, đồng lòng đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị...
Niềm phấn khởi, tin tưởng, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc càng được nhân lên, khi các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã về dự, chung vui, tặng quà và phát biểu ý kiến với cán bộ, nhân dân các xã, phường, khu dân cư… ở các địa phương trong ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc. Cụ thể, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã về dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại xã Dur Kmăl, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk và khu dân cư số 6, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng về dự Ngày hội với người dân Đồng Ẻn, xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang; Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Trần Thanh Mẫn đã về dự Ngày hội với nhân dân Khu dân cư ấp Phú Ân, xã Phước Mỹ, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An; Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam đã tham dự Ngày hội với nhân dân Khu dân cư 9, xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ;…
Phát biểu tại những nơi về dự, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, MTTQ Việt Nam… đều khẳng định việc tổ chức Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc là một việc làm hết sức có ý nghĩa. Đây là dịp để cho các cấp ủy Đảng, chính quyền thấy rõ hơn trách nhiệm trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, các cấp Mặt trận và các tổ chức đoàn thể phát huy hơn nữa vai trò của mình trong việc tập hợp, thu hút hội viên cũng như tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia thực hiện tốt hơn các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước và tổ chức các hoạt động thiết thực góp phần xây dựng cộng đồng dân cư ngày càng đoàn kết, vững mạnh, đồng thời chia sẻ với các hộ gia đình còn khó khăn…Thông qua đó, nhiều nét đẹp trong văn hóa, đạo đức, truyền thống tốt đẹp được khơi dậy và giữ gìn, tình làng nghĩa xóm được thắt chặt, tệ nạn xã hội được đẩy lùi, nếp sống văn hóa, văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội được thực hiện tốt hơn…
Ngày hội còn là cầu nối để lãnh đạo Đảng, chính quyền, MTTQ các cấp trực tiếp gặp gỡ lắng nghe, đối thoại, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân; để mọi người hướng về người nghèo, chung tay ủng hộ Quỹ "Vì người nghèo”, thăm hỏi, động viên, tặng quà, trao nhà đại đoàn kết tặng người nghèo, gia đình có công với cách mạng…tạo động lực giúp họ vươn lên thoát nghèo bền vững, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Tuy nhiên, cùng với những kết quả nêu trên thì chúng ta cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, ở một số nơi, việc tổ chức Ngày hội còn được triển khai hình thức, chủ yếu là phần phát biểu, báo cáo và tuyên dương, khen thưởng mà chưa thật sự tạo được không khí vui tươi, lan tỏa cho người dân. Ngoài phần lễ đơn điệu với các nghi thức như quy định, nhân dân ít tham gia đóng góp ý kiến; phần hội cũng chỉ sơ sài với vài tiết mục văn nghệ đơn giản, chưa tạo được không khí phấn khởi trong cộng đồng dân cư.
Bên cạnh đó, một số hoạt động quan trọng hướng tới Ngày hội được nhân dân quan tâm, mong muốn nhưng chưa được tổ chức hoặc tổ chức nhưng chưa thấu đáo, mang tính hình thức, hiệu quả thấp. Đáng chú ý là việc tổ chức các diễn đàn lắng nghe ý kiến nhân dân, đối thoại giữa nhân dân với lãnh đạo cấp ủy, chính quyền và hệ thống chính trị cơ sở chưa được thực hiện nghiêm túc…
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước là góp phần quan trọng tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc… 
Do đó, để củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết trong nhân dân, yếu tố quan trọng là phải tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, lấy người dân làm trung tâm; là "cầu nối" giữa Đảng với dân, bảo đảm “ý Đảng” luôn hợp với “lòng dân”.
Muốn thế việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở cộng đồng cần được dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Cùng với phát huy vai trò làm chủ của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hội trong sạch, vững mạnh… cần nâng cao hiệu quả thực chất hoạt động giám sát, phản biện xã hội của MTTQ, các tổ chức chính trị-xã hội, tăng cường tạo sự đồng thuận xã hội.
Trong đó, đáng chú ý là việc huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong thực hiện thành công các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động tiêu biểu như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” nay là “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, hoạt động vì người nghèo và công tác cứu trợ, cứu nạn...
Có như vậy, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được nhân lên và phát huy trong thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
Thu Hà
http://dangcongsan.vn/xay-dung-dang/-chat-keo-gan-ket-khoi-dai-doan-ket-toan-dan-toc-504930.html

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN CON ĐƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN TỘC TA


KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN CON ĐƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN TỘC TA

Lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ 20 cho thấy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không chỉ là một thành tựu vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, mà còn mở ra một thời đại mới cho dân tộc ta-thời đại độc lập dân tộc gắn liền với chế độ xã hội do nhân dân làm chủ.
Chế độ xã hội và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam) đã kế thừa truyền thống lịch sử của dân tộc, đồng thời còn kế thừa, phát triển những tư tưởng tiến bộ của cách mạng dân chủ tư sản. Đó là tư tưởng độc lập dân tộc trong “Tuyên ngôn độc lập” của Hoa Kỳ năm 1776 và “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp năm 1789. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển những tư tưởng tiến bộ đó thành tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với xây dựng chế độ xã hội dân chủ, cộng hòa theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong bản "Tuyên ngôn Độc lập" năm 1945.
Đi theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã giành được nhiều thành tựu có ý nghĩa thời đại. Đó là thắng lợi của kháng chiến chống thực dân, đế quốc bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước; vượt qua cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống của chủ nghĩa xã hội (CNXH) những năm 1985-1991, tiến hành công cuộc đổi mới (từ năm 1986) thắng lợi.
Thế nhưng, lợi dụng internet, mạng xã hội, có kẻ đã tung ra thông tin thất thiệt, xuyên tạc, bôi nhọ CNXH và chế độ xã hội XHCN nói chung, chế độ xã hội và Nhà nước ta nói riêng. Trên BBC gần đây có kẻ viết rằng: “Gần như ở nơi nào mà CNXH đã được thử nghiệm, chúng cũng gây ra đau khổ, tham nhũng và mục nát”. Có người cho rằng trên thế giới, học thuyết Mác-Lênin đã lỗi thời; rằng “Việt Nam nên bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin” vì lý luận đó “đã cản trở con đường tiến lên văn minh hiện đại trong hòa bình của Việt Nam”. Có người thì “kiến nghị” Đảng nên bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, chuyển sang “tư tưởng dân tộc, dân chủ”. 
Vậy quan điểm cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam cần từ bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, từ bỏ con đường XHCN sai lầm ở đâu? Vì sao Việt Nam khẳng định: Con đường phát triển của dân tộc ta chỉ có thể là con đường XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo?
1- Kinh nghiệm lịch sử thế kỷ 20 đã chỉ ra rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin là lý luận cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước và phát triển đất nước-hội nhập quốc tế duy nhất đúng đắn của nhân dân Việt Nam.
Còn nhớ trong thế kỷ 19 và 20, lực lượng chính trị cực hữu ở các quốc gia phát triển đương thời, trong đó có Pháp, Nhật Bản và Hoa Kỳ đã đến Việt Nam dưới khẩu hiệu “khai hóa”, nhưng thực chất đó là những cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo. Khi đánh bại lực lượng phong kiến Việt Nam, thực dân Pháp áp đặt chế độ thuộc địa, đồng thời duy trì chế độ phong kiến, đẳng cấp, bóc lột nhân dân Việt Nam đến tận xương tận tủy.
Nạn đói khủng khiếp năm 1945 là một ví dụ. Chỉ tính từ tỉnh Quảng Trị trở ra Bắc Bộ (với “đỉnh điểm” là tỉnh Thái Bình) nạn đói đã làm chết hơn 2 triệu người, chiếm gần 10% dân số Việt Nam khi đó. Theo con số ghi chép từ công trình nghiên cứu “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam-những chứng tích lịch sử” của GS Văn Tạo và GS Furuta Moto (Nhật Bản): “Nhiều làng xã chết từ 50% đến 80% dân số, nhiều gia đình, dòng họ chết không còn ai. Làng Sơn Thọ, xã Thái Thượng, huyện Thái Ninh (nay là huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình) có hơn 1.000 người thì chết đói mất 956 người”[1].
Nối tiếp cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã tiến hành một cuộc chiến tranh mang tính hủy diệt đối với dân tộc Việt Nam; đồng thời sử dụng chủ nghĩa thực dân mới: Xây dựng chính quyền tay sai nhằm thống trị và chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam. Còn nhớ ở miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai của chúng đã gây ra bao nhiêu vụ thảm sát. Không kể chế độ khắc nghiệt, tù nhân phải ăn gạo mục, cá ươn, muối hạt, nước mắm có dòi… nhiều tù nhân cốt cán phải nằm xà lim, chuồng cọp, thường xuyên bị tra tấn dã man… 
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các dân tộc trên thế giới, bao gồm cả nhân dân tiến bộ Pháp, Mỹ… đánh bại chủ nghĩa thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế hơn 30 năm qua (từ năm 1986 đến nay) do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đem lại những thành tựu có ý nghĩa thời đại. Từ một nước nghèo, trải qua hơn 30 năm chiến tranh, bị cấm vận, cho đến nay, Việt Nam đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình, trở thành đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, bình đẳng với nhiều nước lớn, trong đó có Nga, Trung Quốc (đối tác chiến lược toàn diện) và Hoa Kỳ (đối tác toàn diện).
Trong suốt chiều dài lịch sử, từ thập niên 30 của thế kỷ 20 đến nay chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Tư tưởng xuyên suốt và nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam là đi theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, gắn liền độc lập dân tộc với chế độ xã hội do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh của Đảng năm 1930 xác định: Tiến hành “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[2].
Cương lĩnh năm 2011, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.
Đại hội lần thứ XII (năm 2016) của Đảng đã xác định mục tiêu của dân tộc Việt Nam là: Xây dựng một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện… có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.
2- Để tiến đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, con đường duy nhất của dân tộc Việt Nam chỉ có thể là con đường XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Tính tất yếu của con đường XHCN của dân tộc Việt Nam trước hết bắt nguồn từ lịch sử, từ sự lựa chọn của nhân dân. Ngày nay, trên thế giới có nhiều mô hình xã hội với nhiều chế độ xã hội khác nhau. Mỗi quốc gia, dân tộc lựa chọn mô hình nào đó đều dựa trên những điều kiện lịch sử của dân tộc mình, đồng thời tùy theo thể chế xã hội và do đảng chính trị cầm quyền lãnh đạo thực hiện. Không ít nhà nước trên thế giới ngày nay là nhà nước “cộng hòa”, “cộng hòa dân chủ nhân dân"; “cộng hòa nhân dân”; “cộng hòa-tổng thống"; "cộng hòa đại nghị"; nhà nước tôn giáo (Vatican). Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và luật pháp các quốc gia đều tôn trọng sự lựa chọn chế độ xã hội và nhà nước của các dân tộc.
Một số người lợi dụng internet, mạng xã hội tán phát quan điểm xuyên tạc, phủ nhận xã hội XHCN nói chung, phủ nhận con đường XHCN của dân tộc Việt Nam là vô căn cứ. Họ chỉ dựa vào tên gọi, hoặc tư tưởng chính trị theo quan điểm giáo điều hoặc những mặt tiêu cực nào đó của xã hội để đánh giá nước này là “văn minh”, nước kia là “lạc hậu”. Đó chỉ là những thủ đoạn chính trị cổ hủ, vô căn cứ.
Tư tưởng về cách mạng xã hội tiến đến chủ nghĩa cộng sản, trong đó “sự tự do phát triển của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển của tất cả mọi người” (Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản) do Mác và Ăngghen sáng tạo trước khi có cách mạng XHCN. Lênin và Đảng Cộng sản Nga (sau đó là Đảng Cộng sản Liên Xô) đã vận dụng, phát triển lý luận đó, lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Mười đưa đến sự ra đời nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới, đồng thời mở ra hệ thống XHCN, phá thế độc quyền của tư bản chủ nghĩa (TBCN) thế giới. Cho dù thế giới ngày nay đã có những thay đổi lớn lao nhưng không thể phủ nhận được những sự kiện lịch sử mang tính thời đại này.
Ở Việt Nam, đi theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết này phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển của cách mạng. Cuộc Cách mạng Tháng Tám không phải là một cuộc cách mạng vô sản như ở nước Nga (năm 1917), mà là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc theo Chủ nghĩa Lênin, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói. Nhà nước mới, sau cách mạng cũng không phải theo mô hình nhà nước Xô-viết, mà là nhà nước “dân chủ, cộng hòa” do nhân dân làm chủ, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hướng tới xã hội XHCN.
Chế độ xã hội ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay đã trải qua hai mô hình xã hội với những thể chế và chính sách khác nhau. Mô hình trước đổi mới (1976-1986) là “Chế độ làm chủ tập thể XHCN”[3]. Về chính trị, đó là chế độ xã hội dựa trên nhà nước, thực sự của dân, do dân, vì dân… dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Về kinh tế, đó là chủ trương “xóa bỏ chế độ sở hữu TBCN… xác lập chế độ sở hữu XHCN dưới hai hình thức: Sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể” bằng những phương pháp và bước đi thích hợp.
Mô hình xã hội XHCN trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay) là sự phát triển sáng tạo chế độ xã hội XHCN, đồng thời khắc phục những sai lầm nhận thức về CNXH. Mô hình đó, về chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Về kinh tế, đó là kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Về quan hệ quốc tế, Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách rộng mở, không phân biệt chế độ xã hội, hệ tư tưởng.
Cần phải khẳng định, Việt Nam đi theo con đường XHCN là phù hợp với xu thế phát triển của thời đại ngày nay. Chế độ dân chủ XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN của dân tộc Việt Nam ngày nay là sự kế thừa và phát triển lịch sử dân tộc. Về mặt lý luận, chế độ Việt Nam nằm trong hình thái quá độ từ CNTB lên CNXH, mở đầu từ sự ra đời của Nhà nước Xô-viết. Sự ra đời của hệ thống XHCN và phong trào cách mạng giải phóng dân tộc (từ thập niên 1960) đã xác nhận tính chất đúng đắn của lý luận đó. Còn nhớ, sau Chiến tranh thế giới thứ hai cho đến những năm 70 của thế kỷ 20, hàng trăm quốc gia, dân tộc, nơi các đảng chính trị theo chủ nghĩa yêu nước, Chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó có nhiều đảng cộng sản đã lãnh đạo nhân dân lao động đứng lên lật đổ chế độ thuộc địa, giành được độc lập dân tộc, trong đó có nhân dân Việt Nam. Do nhiều nhân tố, trong đó có tác động của hệ thống XHCN, ở các nước TBCN đã hình thành phong trào đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ, tạo ra sự biến đổi những cơ chế, chính sách ít nhiều dung hòa lợi ích giữa giới chủ với người lao động. Điển hình cho phong trào này là kết quả đạt được giữa giới chủ với các tổ chức công đoàn ở các nước Bắc Âu, do các đảng dân chủ XHCN (còn gọi là các đảng xã hội dân chủ) lãnh đạo.
Thể chế Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hiện nay khác với thể chế “Nhà nước chuyên chính vô sản” (trong thời kỳ trước đổi mới), đó là Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Hiến pháp năm 2013 thể hiện toàn diện những bước phát triển về tư tưởng chính trị và pháp lý của Nhà nước Việt Nam.
Về chế độ xã hội, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”. (Điều 2).
Về vai trò và nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Điều 4 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Về quan hệ quốc tế, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam ngày nay là rộng mở, không phân biệt chế độ xã hội, hệ tư tưởng, dựa trên các nguyên tắc-đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết; tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi. Tóm lại, đó là đường lối đối ngoại: “Độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa…; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế… giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” (Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng).
Hiến pháp năm 2013, lần đầu tiên đã dành cả một chương để quy định về quyền con người trên tất cả các nhóm quyền, từ quyền dân sự, chính trị đến các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa. Những quy định này hoàn toàn tương thích với các công ước quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc.
Đảng và Nhà nước Việt Nam không phủ nhận những mặt tiêu cực đang tồn tại trong xã hội. Đó là tình trạng phân hóa giàu nghèo, tình trạng suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, “lợi ích nhóm”. Điều này được Đảng Cộng sản Việt Nam công khai hóa, đồng thời đang triển khai cuộc đấu tranh chống tham nhũng một cách có bài bản và quyết liệt. Các nghị quyết Đại hội XI, XII, nhất là Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII cho thấy rõ quyết tâm của toàn Đảng và toàn dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh này như thế nào. Trong những năm gần đây, không ít cán bộ có chức, có quyền ở cả cấp cao, lực lượng vũ trang đã bị xử lý kỷ luật Đảng và xử lý hình sự.
Tại Hội nghị Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, chiều 27-4-2018 ở Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng là cuộc đấu tranh “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” và “làm đến cùng”[4]. Gần đây, ngày 1-8-2018, trong buổi làm việc với Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng còn lưu ý: Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, suy thoái, lãng phí, phòng, chống tiêu cực, chúng ta thường nói nhiều đến công tác cán bộ… “nhưng điều cốt yếu là gì? Đó là sự kiên định đi lên CNXH, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
Lịch sử thế kỷ 20 cho thấy: Không có lực lượng chính trị nào ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có Cương lĩnh xác định mục tiêu là giành độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân; không có lực lượng chính trị nào có lý luận cách mạng khoa học sáng tạo, có đường lối, chính sách phù hợp với xu thế của thời đại; có hệ thống tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện và sẵn sàng hy sinh như Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi vậy có thể nói, sự phát triển của dân tộc Việt Nam chỉ có thể là đi theo con đường XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
---------------------------------
[1] - Nạn đói năm Ất Dậu, 1944-1945 - Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
[2] - Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.1.
[3] - Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo Chính trị, Đại hội IV, NXB ST, 1977, HN, tr. 53,52.
[4] - “Tổng Bí thư khẳng định: Không có vùng cấm, không có ngoại lệ trong chống tham nhũng”.Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, 27-4-2018 19:58 GMT+7
PHAN THANH
http://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/khong-the-xuyen-tac-phu-nhan-con-duong-xa-hoi-chu-nghia-cua-dan-toc-ta-552550


Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...