Thứ Hai, 12 tháng 11, 2018

XỬ LÝ TRÍ THỨC - ĐẢNG VIÊN SAI PHẠM KHÔNG PHẢI LÀ KỲ THỊ CẢ ĐỘI NGŨ


XỬ LÝ TRÍ THỨC - ĐẢNG VIÊN SAI PHẠM
KHÔNG PHẢI LÀ KỲ THỊ CẢ ĐỘI NGŨ

Sau khi báo chí, công luận gần đây thông tin về việc xử lý những sai phạm của ông Chu Hảo theo kết luận của Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương, dư luận cán bộ, đảng viên và nhân dân bày tỏ sự đồng tình. Tuy nhiên, trên mạng xã hội và đài, báo nước ngoài lại xuất hiện một số ý kiến cố tình làm sai lệch sự việc với dụng ý nói xấu Đảng, Nhà nước Việt Nam; cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang kỳ thị, “gạt ra bên lề”, “đánh” những trí thức “chân chính”…
Những lời thương vay khóc mướn
Trang BBC tiếng Việt thời gian gần đây có một số bài viết với thông tin cho rằng ông Chu Hảo là “trí thức chân chính”, bị kỷ luật Đảng thì sẽ “trở về với nhân dân”, đóng góp cho sự phát triển đất nước tốt hơn “với tư cách là người tự do”. Trang này lượm lặt thông tin về một số nhân vật bất mãn để “thổi” lên thành sự kiện: “Rộ trào lưu bỏ Đảng sau vụ TS Chu Hảo bị đề nghị kỷ luật”.
Trên trang cá nhân, một số nhân vật tự cho mình là những nhà dân chủ, cấp tiến thay vì nhìn thẳng vào sự thật lại lấp liếm, đổi trắng thay đen, biến những việc làm vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Đảng của ông Chu Hảo thành những công lao, như: Đã dũng cảm cho in những cuốn sách có giá trị, thúc đẩy tự do, dân chủ; bỏ nhiều công sức cho việc chấn hưng dân trí... Họ nêu, kỷ luật ông Chu Hảo “với những lý do đầy tính chất vu khống là “đánh vào những người trí thức yêu nước, có tài và có tâm”, sẽ dẫn đến tình trạng “sĩ phu ngoảnh mặt”. Đài Á Châu tự do vẫn với giọng điệu cực đoan vốn có còn dựng chuyện: “Kỷ luật Giáo sư Chu Hảo là tuyên chiến chống giới trí thức Việt Nam”.
Một số người với cái nhìn cảm tính, phiến diện vội quy kết cho rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam hành xử thô bạo với đội ngũ trí thức. Họ cố tình gạt bỏ, không đếm xỉa đến những sai phạm về pháp luật và kỷ luật Đảng của ông Chu Hảo mà quay sang đả phá Đảng, Nhà nước, cho rằng đây là một “nỗi đau”, một sự “lạc hậu”…
Pháp luật Nhà nước, kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh, công bằng
Với một số sai phạm được nêu trong thông báo của UBKT Trung ương cho thấy ông Chu Hảo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Đảng. Ở đây hoàn toàn không có chuyện “kỷ luật ông Chu Hảo với những lý do đầy tính chất vu khống” hay Đảng Cộng sản Việt Nam  “đánh vào người trí thức yêu nước, có tài và có tâm” như những ý kiến phiến diện từng rêu rao.
Từ tháng 11-2011, Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Quy định số 47-QĐ/TW thay thế Quy định số 115-QĐ/TW vẫn có những nội dung hết sức chặt chẽ về vấn đề trên. Theo đó, đảng viên không được: 1-Nói, làm trái hoặc không thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng; làm những việc mà pháp luật không cho phép. 2-Cung cấp, để lộ, làm mất hoặc viết bài, đăng những thông tin, tài liệu bí mật của Đảng và Nhà nước hoặc những việc chưa được phép công bố; tàng trữ, tuyên truyền, tán phát hoặc xúi giục người khác tuyên truyền, tán phát thông tin, tài liệu dưới mọi hình thức để truyền bá những quan điểm trái với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước... 6-Tổ chức, tham gia các hội trái quy định của pháp luật; biểu tình, tập trung đông người gây mất an ninh, trật tự.
Thế nhưng, trong suốt nhiều năm qua, ông Chu Hảo đã nhiều lần vi phạm các điều nêu trên. Theo UBKT Trung ương, trong việc nói, viết và làm theo Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước, ông Chu Hảo đã có những vi phạm được đánh giá là rất nghiêm trọng. Trong đó, có việc tham gia ký vào các thư kiến nghị, thư ngỏ và có nhiều bài viết trên báo chí trong và ngoài nước, mạng xã hội, như: “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992” nêu lên 7 kiến nghị tập trung vào 3 vấn đề cốt lõi: (1) Đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp; (2) Yêu cầu đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; (3) Đòi phi chính trị đối với lực lượng vũ trang; “Thư ngỏ gửi Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản”, nội dung thư ngỏ cho rằng Đảng đã dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội cùng với bộ máy cầm quyền quan liêu, tha hóa đã đưa đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện... “Thư kiến nghị về Luật An ninh mạng” trong đó kiến nghị bãi bỏ hoàn toàn một số điều của luật, tự ý đưa tên một vị tướng công an (không được sự đồng ý của vị tướng này) vào danh sách những người đứng tên thư kiến nghị, đưa lên mạng xã hội gây xôn xao dư luận, ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình chính trị, tư tưởng của nhân dân. Ông Chu Hảo còn có nhiều bài viết trên mạng xã hội với nội dung sai trái, cùng nhiều bài trả lời phỏng vấn các đài, báo nước ngoài (BBC, RFA, RFI) có các nội dung sai trái. Ông Chu Hảo cũng là người sáng lập, tham gia các hội, nhóm, diễn đàn, câu lạc bộ và các tổ chức có các hoạt động truyền bá tư tưởng, quan điểm sai trái; là một trong những thành viên đầu tiên của cái gọi là “Nhóm kiến nghị 72”, thành viên tích cực của “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Nhóm kiến nghị 61”, “Nhóm tinh thần khai minh”...
Đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương đã mời ông Chu Hảo đến làm việc, trao đổi, phân tích, làm rõ và yêu cầu chấm dứt vi phạm từ năm 2016 nhưng ông không chuyển biến và tiếp tục tái phạm. Trả lời phỏng vấn đài BBC tháng 9-2017, ông Chu Hảo nêu rõ quan điểm muốn thay đổi thể chế, ủng hộ cái gọi là xã hội dân sự: “Bên cạnh nhà nước, doanh nghiệp, thì xã hội dân sự có thể là chìa khóa dẫn đến những áp lực để thay đổi thể chế”.
Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ ra 9 biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Nếu đối chiếu vào những thông tin, việc làm nêu trên, ông Chu Hảo vi phạm nhiều biểu hiện, như: 1-Phản bác, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện "đa nguyên, đa đảng". 2-Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), Nhà nước pháp quyền XHCN; đòi thực hiện thể chế "tam quyền phân lập", phát triển "xã hội dân sự". Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. 3-Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước...
Tại Điều 7, Quy định số 102/QĐ-TW của Bộ Chính trị ban hành cuối năm 2017 cũng chỉ ra nhiều vi phạm về quan điểm chính trị và chính trị nội bộ mà đối chiếu theo đó, ông Chu Hảo đã có rất nhiều sai phạm. Các quy định tại Khoản 3, Điều 7, Quy định số 102/QĐ-TW nêu rõ sẽ xử lý bằng hình thức khai trừ khỏi Đảng với đảng viên: a) Cố ý nói, viết có nội dung xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc sự thật, phủ nhận vai trò lãnh đạo và thành quả cách mạng của Đảng và dân tộc. b) Phản bác, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ, nền dân chủ XHCN, nhà nước pháp quyền XHCN, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; đòi thực hiện thể chế "tam quyền phân lập", "xã hội dân sự", "đa nguyên, đa đảng".
Như vậy, việc kết luận những vi phạm của ông Chu Hảo là rõ ràng, đúng theo quy định của kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước, hoàn toàn không có chuyện kỳ thị, “đánh” trí thức.
Theo thông tin từ Cổng thông tin điện tử UBKT Trung ương, nguyên nhân cơ bản, chủ quan và lớn nhất dẫn đến sai phạm là do bản thân ông Chu Hảo thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không giữ vai trò tiền phong, gương mẫu của người cách mạng chân chính. Đứng trước nhiều vấn đề bức xúc của đời sống xã hội, ông Chu Hảo đã lựa chọn phương pháp sai lầm trong tư duy, hành động và kết cục là vi phạm như hiện nay. Trong thời gian công tác, lúc đương chức, ông không góp ý với Đảng trên cương vị công tác của mình trong phạm vi tổ chức, nhưng khi nghỉ hưu lại có những hành động sai trái. Khi bị kiểm điểm, nhắc nhở, ông khôn khéo thừa nhận sai lầm, khuyết điểm của mình ở mức độ nhất định nhằm tránh bị kỷ luật và giữ vững vai trò “hợp pháp” để rồi vẫn giữ quan điểm, lập trường riêng, không chấp hành yêu cầu của các cơ quan chức năng và sau đó lại tiếp tục có vi phạm.
Sai phạm trên còn do sự thiếu kiên quyết xử lý vi phạm của tổ chức đảng, chính quyền để xảy ra vi phạm kéo dài. Việc kiểm điểm, nhắc nhở đối với ông Chu Hảo diễn ra nhiều lần nhưng có phần nể nang, né tránh; không được tổ chức đảng thực hiện bằng văn bản; không giám sát hay yêu cầu báo cáo kết quả sửa chữa khuyết điểm và cũng không có biện pháp quản lý chặt chẽ hoạt động của đảng viên có vấn đề về “tư tưởng chính trị”. Vi phạm của ông Chu Hảo ngày càng nghiêm trọng. Qua sự việc vi phạm của ông Chu Hảo, vấn đề đặt ra đối với tổ chức đảng là phải làm tốt hơn công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên, để đảng viên thường xuyên được rèn luyện, giữ vững lập trường, quan điểm. Mặt khác, sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội là môi trường “dung dưỡng” cho các quan điểm, hành vi sai trái của ông Chu Hảo. Các quan điểm sai trái đó được các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội về chính trị lôi kéo, cổ vũ, tiếp sức, các hội, nhóm, diễn đàn…
Để thanh lọc bộ máy và giữ nghiêm kỷ luật Đảng
Ngay tại Điều 1, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy định về tiêu chuẩn đảng viên, có tiêu chí đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, các nghị quyết của Ðảng và pháp luật của Nhà nước. Tại Điều 2 về nhiệm vụ đảng viên chỉ rõ đảng viên phải: Tuyệt đối trung thành với mục đích lý tưởng cách mạng của Ðảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị của Ðảng, pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Ðảng.
Với những người như ông Chu Hảo, về thực chất đã từ bỏ lý tưởng, từ bỏ hàng ngũ, không còn xứng đáng với tiêu chuẩn, danh hiệu đảng viên cộng sản. Lẽ ra, với những sai phạm trên, ông Chu Hảo đã bị xử lý từ lâu, nhưng Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn trên tinh thần tôn trọng đội ngũ trí thức, cân nhắc, thận trọng, xem xét toàn diện khi xử lý những vụ việc liên quan tới những trí thức có ảnh hưởng nhất định trong đời sống xã hội, từng là cán bộ lãnh đạo cấp cao. Dư luận cho rằng, thời gian gần đây, có một số hiện tượng cán bộ, đảng viên có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" phức tạp, công khai phủ nhận, tuyên truyền trái đường lối, quan điểm của Đảng… nhưng chưa bị xử lý làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng. Vì vậy, đã đến lúc phải xử lý nghiêm một số sự việc để làm gương, tránh tình trạng “nhờn luật”, “nhờn kỷ luật của Đảng”. Những sai phạm của ông Chu Hảo có cả sai phạm về mặt pháp luật thì phải được xử lý đúng pháp luật, không dừng ở việc chỉ xem xét kỷ luật Đảng. Xử lý một vài trường hợp trí thức vi phạm không phải là tuyên chiến hay kỳ thị đội ngũ trí thức mà chính là làm trong sạch đội ngũ trí thức.
Kỷ luật của Đảng Cộng sản Việt Nam là tự giác và nghiêm minh, đồng thời cũng bình đẳng trong Đảng, không phân biệt đảng viên đương chức hay nghỉ hưu, đảng viên là lao động bình thường hay là lãnh đạo, nguyên lãnh đạo. Ai vi phạm đều được kiểm điểm, làm rõ và xử lý nghiêm minh, bảo đảm sự trong sạch đội ngũ. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cho rằng, nếu kỷ luật của Đảng lỏng lẻo thì những kẻ cơ hội, những phần tử phản động dễ dàng chui vào hàng ngũ để phá hoại Đảng.
Những biểu hiện sai phạm của ông Chu Hảo cũng để lại bài học đắt giá đối với mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn rèn luyện, tu dưỡng suốt đời như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn. Thật đáng tiếc khi ông Chu Hảo sinh ra và trưởng thành trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, có cha từng là cán bộ cao cấp của ngành công an và ngành văn hóa. Bản thân ông những năm chiến tranh đã được Nhà nước ưu đãi, cho đi du học, làm việc ở Liên Xô suốt nhiều năm và kinh qua nhiều vị trí công tác quan trọng, từng là Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ. Lẽ ra, với tri thức và kinh nghiệm sâu sắc của mình, ông có thể chọn cho mình con đường, cách thức phù hợp hơn, đúng đắn hơn để phát huy vai trò người trí thức chân chính, cống hiến nhiều hơn, thiết thực hơn cho đất nước, thay cho những việc làm lợi bất cập hại, đi ngược với chính mục tiêu, lý tưởng của Đảng, với lời thề của người đảng viên cộng sản mà chính ông từng tuyên thệ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời cũng từng căn dặn: Để xây dựng nước nhà, chúng ta cần càng ngày càng nhiều trí thức tốt… Đảng và Chính phủ phải giúp bằng cách giáo dục, để trí thức có lập trường vững vàng, quan điểm đúng đắn, tư tưởng sáng suốt, tác phong dân chủ. Nói tóm lại: Giúp đỡ các bạn trí thức chính tâm và thân dân. Tinh thần ấy cũng đã thấm sâu trong mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với đội ngũ trí thức. Vì vậy, cùng với quan tâm, tạo điều kiện mọi mặt thì việc tăng cường quản lý, chấn chỉnh và xử lý nghiêm túc những hiện tượng sai phạm là cần thiết và bình thường. Trí thức dù là tầng lớp tinh hoa, nhạy cảm với thời cuộc nhưng không thể đứng trên, không thể đi ngược con đường của Tổ quốc và nhân dân, không thể làm trái pháp luật, càng không thể đi ngược, làm trái đường lối, quan điểm của Đảng khi trí thức ấy đứng trong hàng ngũ của Đảng. Việc xử lý một vài hiện tượng cá nhân sai phạm là sự thanh lọc cần thiết để Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch hơn, luôn giữ vững vai trò tiên phong, bản chất giai cấp công nhân và mục tiêu lý tưởng nhất quán; đó cũng là sự thanh lọc cần thiết đối với đội ngũ trí thức cách mạng, chân chính, giúp cho đội ngũ trí thức ngày càng hoàn thiện hơn, đóng góp hiệu quả hơn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
HÀ THÀNH
http://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/thanh-tuu-nhan-quyen-viet-nam/xu-ly-tri-thuc-dang-vien-sai-pham-khong-phai-la-ky-thi-ca-doi-ngu-554231

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2018

CHẤN CHỈNH NHỮNG SAI PHẠM, LỆCH LẠC TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN


CHẤN CHỈNH NHỮNG SAI PHẠM, LỆCH LẠC
 TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN
Sách là sản phẩm văn hóa đặc biệt. Bất cứ một sai phạm nào, nhất là sai phạm về chính trị tư tưởng và lệch lạc về văn hóa, đạo đức sẽ “tiêm nhiễm” và để lại những “di chứng” tai hại trong đời sống tinh thần công chúng. Đây cũng là một biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không thể xem thường.

Nhiều cuốn sách có nội dung lệch lạc tư tưởng chính trị, sai sót về lịch sử
Đứng trước sự cạnh tranh gay gắt của các phương tiện truyền thông đại chúng và sự “lên ngôi” của văn hóa nghe nhìn, hoạt động xuất bản, phát hành sách những năm qua gặp không ít khó khăn. Nhưng nhìn chung, việc duy trì xuất bản số lượng sách giữ được ổn định, nhiều đầu sách có sự phát triển mới về chất lượng. Công tác thẩm định, biên tập các đầu sách xuất bản được quản lý chặt chẽ hơn. Việc in ấn, trình bày sách ngày càng hiện đại, bắt mắt và sự phong phú về nội dung của các loại sách góp phần thu hút bạn đọc quan tâm hơn đến văn hóa đọc.
Tuy nhiên, một trong những biểu hiện nổi cộm trong hoạt động xuất bản những năm gần đây là khuynh hướng thương mại hóa, chạy theo lợi nhuận thuần túy không bị ngăn chặn, đẩy lùi, mà tiếp tục có những biểu hiện mới phức tạp, tinh vi hơn. Việc buông lỏng quản lý để các đối tác liên kết thao túng trong các khâu xuất bản dẫn tới hệ lụy là cho ra đời nhiều cuốn sách có nội dung vô bổ, thậm chí lệch lạc, độc hại vì đã “hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng, xuyên tạc lịch sử; sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng” như Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ ra. Đây là những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không thể xem thường.
Thời gian qua, có những cuốn sách ngay sau khi phát hành bị bạn đọc phản ứng gay gắt bởi cách viết dễ dãi, tự nhiên chủ nghĩa, miêu tả tỉ mỉ các hành vi tình dục rất phản cảm. Đáng báo động hơn, những cuốn sách có nội dung sai phạm về chính trị tư tưởng, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, xuyên tạc chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta; nhìn nhận cuộc sống hiện thực xã hội dưới con mắt u ám, quy chụp, thiếu tính xây dựng; đề cập đến các nhân vật, sự kiện nhạy cảm trong lịch sử chưa đúng mực, thấu đáo, công tâm. Bên cạnh đó, một số tác phẩm viết về lịch sử nhưng không phải để làm đúng hơn về lịch sử, mà mang dụng ý “xét lại lịch sử” và có cả những cuốn sách mượn cớ viết về chiến tranh giải phóng dân tộc để “giải thiêng lịch sử” với sự ngộ nhận, mơ hồ, thậm chí mang ý đồ chính trị xấu.
Khoảng chục năm trở lại đây, cơ quan quản lý Nhà nước đã phải thu hồi, dừng phát hành hàng chục cuốn sách chứa nội dung tư tưởng có thể tiêm nhiễm “độc hại” vào tâm hồn công chúng, như cuốn sách dịch “Chuyện ở nông trại” có nhiều luận điểm sai trái, phản động về chế độ XHCN; cuốn sách dịch “Đường nô lệ” có nội dung phê phán nặng nề chế độ XHCN; cuốn sách “Tranh luận để đồng thuận” có những luận điểm đi ngược lại chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế-xã hội; cuốn “Việt Nam, thay đổi để hạnh phúc” có nhiều nội dung sai lầm, ấu trĩ về nhận thức chính trị; cuốn “Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc” có nội dung xuyên tạc lịch sử về chủ quyền Biển Đông của Việt Nam; cuốn sách “Miếng ngon Hà Nội” có nội dung bị sửa chữa một cách lệch lạc với động cơ chính trị xấu; cuốn sách “Tôn giáo và văn hóa-Lý thuyết cơ bản và giải pháp định hướng khai thác các giá trị văn hóa tôn giáo phục vụ phát triển xã hội Việt Nam hiện nay” có sai phạm nghiêm trọng về nội dung chính trị, tư tưởng…
Nếu am hiểu lịch sử, có nhãn quan chính trị đúng đắn, phông văn hóa sâu rộng, có lẽ một số “tác giả” thời hiện đại không thể viết những chi tiết lịch sử sai lệch, như: “Pháp xâm lược Việt Nam năm 1868” (trong khi mốc lịch sử này là 1858); “Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1953” (trong khi mốc lịch sử này là 1954); “Ngày toàn quốc kháng chiến là ngày 23-11-1946” (trong khi sự kiện lịch sử này chính xác là ngày 19-12-1946). Không chỉ vậy, người ta đã tùy tiện “sáng tạo” ra huyền thoại “Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thần Lửa, Thánh Gióng” là “tứ bất tử” của văn hóa truyền thống Việt Nam (!). Trong khi từ lâu các nhà nghiên cứu và nhân dân ta bao đời nay coi “tứ bất tử” là Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Mẫu Liễu Hạnh. Đấy là những sai sót trong các cuốn sách “Danh nhân và thời đại”, “Huyền thoại với lời ru”, “Đại Quang Việt sử tập 1” do một nhà xuất bản (NXB) ở phía Nam liên kết với một đối tác doanh nghiệp sách xuất bản, phát hành. 
Cần tăng cường quản lý chặt chẽ các khâu xuất bản
Là một trong những lĩnh vực quan trọng của văn hóa, tư tưởng, hoạt động xuất bản nói chung, việc xuất bản sách nói riêng, có vai trò to lớn góp phần xây dựng nhân sinh quan cách mạng, niềm tin khoa học, đạo đức và lối sống tốt đẹp cho cán bộ, đảng viên và đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần cho nhân dân. Vì vậy, bất cứ kẽ hở nào trong công tác quản lý xuất bản cũng như để lọt những cuốn sách có nội dung, tư tưởng thiếu lành mạnh, độc hại ra thị trường đều có thể dẫn đến những hệ lụy tai hại. 
Theo nhận định của Vụ Báo chí-Xuất bản (Ban Tuyên giáo Trung ương), những năm gần đây, các sai phạm trong hoạt động xuất bản có xu hướng gia tăng, mỗi năm phát hiện khoảng 10% sai phạm về nội dung xuất bản. Nói một cách cụ thể hơn, cứ 10 cuốn sách ra đời thì có một cuốn sách có “vấn đề” về nội dung. Tỷ lệ này rất đáng suy ngẫm. Vì nếu một cuốn sách có sai phạm, đặc biệt là sai phạm về chính trị tư tưởng, về lịch sử, văn hóa dân tộc, thì sau khi phát hành, một sai phạm có thể dẫn đến vô vàn hệ lụy khi bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ tiếp nhận, thẩm thấu thông tin, nội dung sai phạm đó. Đơn cử, nếu không ngăn chặn, thu hồi kịp thời một số cuốn sách có thông tin sai lệch về dấu mốc, sự kiện lịch sử và nội dung văn hóa truyền thống dân tộc, thì rất có thể hàng vạn, thậm chí hàng triệu thanh thiếu niên nước ta sẽ không có nhận thức đúng về các sự kiện lịch sử Pháp xâm lược Việt Nam, Chiến thắng Điện Biên Phủ, Ngày Toàn quốc kháng chiến; hoặc có thêm hoài nghi về “tứ bất tử” của văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam.
Sách là sản phẩm văn hóa đặc biệt. Bất cứ sai phạm nào, nhất là sai phạm về chính trị tư tưởng và lệch lạc về văn hóa, đạo đức đều có thể “tiêm nhiễm” và để lại những “di chứng” tai hại trong đời sống tinh thần công chúng và làm vẩn đục môi trường văn hóa đọc. Do vậy, các NXB và những người làm công tác xuất bản phải nhận thức sâu sắc hơn nữa vị trí, vai trò, tầm quan trọng của lĩnh vực xuất bản, để tự mình nêu cao ý thức chính trị, trách nhiệm xã hội trong việc cho ra đời những cuốn sách có giá trị phục vụ công chúng. Trong đó, cần quán triệt sâu sắc và nắm vững Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 25-8-2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Về nâng cao chất lượng toàn diện của hoạt động xuất bản” và thực hiện nghiêm túc Luật Xuất bản năm 2012. Đây vừa là những định hướng quan trọng, vừa là những quy định cụ thể để các NXB và những người làm công tác xuất bản đi đúng quỹ đạo, phát huy vai trò, trách nhiệm của mình góp phần xây dựng thị trường xuất bản Việt Nam thật sự lành mạnh, phong phú, mang lại đời sống tinh thần tốt đẹp cho nhân dân.
Để không cho những cuốn sách có nội dung vô bổ, lệch lạc xuất hiện, trôi nổi trên thị trường, cần phải đề cao trách nhiệm của cơ quan chức năng trong việc cấp phép, thẩm định, quản lý, kiểm tra, giám sát các hoạt động, các khâu liên quan đến xuất bản sách. Kịp thời phát hiện, kiên quyết thu hồi, nghiêm khắc xử lý, xử phạt các hành vi vi phạm, như: Xuất bản mà không đăng ký, không có quyết định xuất bản hoặc không có giấy phép xuất bản; tự ý thay đổi, làm sai lệch nội dung bản thảo đã được ký duyệt hoặc bản thảo tài liệu không kinh doanh có dấu của cơ quan cấp giấy phép xuất bản. Đồng thời, chủ động thu hồi, không cho tái bản, phát hành những cuốn sách có nội dung nhạy cảm về chính trị mà chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép; các cuốn sách có nội dung kích động bạo lực, truyền bá tư tưởng phản động, lối sống dâm ô, đồi trụy, hành vi tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục; các cuốn sách chứa đựng nội dung xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, xúc phạm dân tộc, danh nhân, anh hùng dân tộc…
Một giải pháp không kém phần quan trọng là phải củng cố, nâng cao vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của các NXB trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức các hoạt động xuất bản theo khuôn khổ pháp luật. Đội ngũ đảng viên-biên tập viên các NXB cần phải thể hiện rõ vai trò là những người “gác cổng” chặt chẽ, tỉ mỉ, thận trọng và là “bộ lọc” trung thành, thông minh, tinh tế không để lộ, lọt ra thị trường những bài viết, những trang bản thảo, những trang sách có nội dung lệch lạc về tư tưởng chính trị, sai sót về sự kiện, nhân vật lịch sử hay có những nội dung phức tạp, nhạy cảm chưa được các cơ quan có thẩm quyền đánh giá chính xác.
Sách là một trong những người bạn đồng hành tin cậy để góp phần làm phong phú đời sống tâm hồn, nâng cao trí tuệ, mở rộng tầm nhìn, nâng đỡ tinh thần con người hướng đến các giá trị chân-thiện-mỹ. Nhưng đó phải là những cuốn sách thật sự có ý nghĩa, giá trị về nội dung, tư tưởng và nghệ thuật thể hiện. Ngược lại, những cuốn sách có thể gây phương hại đến đời sống tình cảm, tinh thần và niềm tin của con người, thì mỗi bạn đọc cần tỉnh táo, sáng suốt trong việc lựa chọn, tìm đọc sách, phấn đấu trở thành độc giả thông thái để có thể tiếp nhận, làm chủ được những cuốn sách hay, bổ ích.
THIỆN VĂN
http://www.qdnd.vn/phong-chong-tu-dien-bien-tu-chuyen-hoa/chan-chinh-nhung-sai-pham-lech-lac-trong-hoat-dong-xuat-ban-553902

VIỆT NAM KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA


VIỆT NAM KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN ĐỐI VỚI
HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
Việc Trung Quốc đưa vào sử dụng các trạm quan trắc trên các cấu trúc xây dựng, cải tạo trái phép ở quần đảo Trường Sa đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này.
Ngày 08/11/2018, tại Họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, trả lời các câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng về việc vừa qua Trung Quốc đưa vào sử dụng các trạm quan trắc trên một số cấu trúc ở quần đảo Trường Sa, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng khẳng định:
“Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế. Việc Trung Quốc đưa vào sử dụng các trạm quan trắc trên các cấu trúc xây dựng, cải tạo trái phép ở quần đảo Trường Sa đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này. 
Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay hoạt động nói trên, tuân thủ nghiêm “Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc” và Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), không làm phức tạp tình hình, ảnh hưởng tới hòa bình, an ninh, ổn định ở Biển Đông và khu vực cũng như nỗ lực của các nước trong việc đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).”
* Trả lời câu hỏi của phóng viên việc Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết kêu gọi Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận Cuba, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nêu rõ:
“Việt Nam hoan nghênh việc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết kêu gọi dỡ bỏ lệnh cấm vận đối với Cuba. Việt Nam cho rằng việc tiếp tục duy trì lệnh cấm vận đối với Cuba là không phù hợp, cần sớm được dỡ bỏ hoàn toàn, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân Cuba, góp phần quan trọng vào việc phát triển cũng như duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực châu Mỹ.”./.

Mạnh Hùng
http://dangcongsan.vn/thoi-su/viet-nam-khang-dinh-chu-quyen-doi-voi-hai-quan-dao-hoang-sa-va-truong-sa-504331.html

NGHĨ VỀ LỜI KHUYÊN CỦA BÁC HỒ VỚI VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT VIỆT NAM


NGHĨ VỀ LỜI KHUYÊN CỦA BÁC HỒ VỚI VĂN HỌC,
NGHỆ THUẬT VIỆT NAM
Nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong lòng mỗi người chúng ta luôn thầm nghĩ về Bác, không chỉ đối với sự nghiệp cách mạng cao cả, vĩ đại của Người mà còn ở những lời ân cần nhắc nhở, dạy bảo và vai trò to lớn của Người đối với văn học, nghệ thuật nước nhà.
Vừa là lãnh tụ, vừa là một nhà văn hóa lớn nên sự quan tâm và những lời căn dặn của Người về văn học, nghệ thuật lại càng trở nên sống động, tha thiết.
Trong Nhật ký trong tù, Bác Hồ đã viết: “Ngâm thơ ta vốn không ham/ Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây?”. Có lẽ, vốn sinh ra, lớn lên và được nuôi dưỡng trong tiếng ru của mẹ với những câu hò ví dặm, những điệu hát phường vải bay bổng trên dòng sông Lam xứ Nghệ, cùng sự am hiểu chữ nghĩa, thơ ca của cha, lại được tiếp xúc với bao nhiêu chí sĩ yêu nước giỏi văn thơ và đầy khí phách… nên Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất mê thơ, sành thơ và cũng đầy cảm xúc thi ca. Người có những áng văn, những bài thơ sáng tác trước cách mạng. Vì yêu nước, thương dân, Người đã toàn tâm, toàn trí dành cho cách mạng, tạm gác thơ ca. Và khi bị kẻ địch cầm tù, Bác Hồ lại tiếp tục “ngâm thơ”, “làm thơ”, vừa để nâng cao chí khí của mình, vừa đợi đến ngày tự do để tiếp tục hoạt động cách mạng. Nhật ký trong tù đã minh chứng cho tâm hồn thi sĩ của Bác.
Nhưng trước khi làm thơ, vào những năm đầu thế kỷ XX, Hồ Chủ tịch đã là một nhà báo lớn, tờ Người cùng khổ - Le Paria - với nhiều bài viết sắc sảo đầy tính chiến đấu, cùng những vở kịch, tranh minh họa, tranh châm biếm đả kích bọn đế quốc, thực dân, đã khẳng định tên tuổi của Người trong giới báo chí tại Pháp. Đặc biệt, nhiều bức tranh đả kích do Người vẽ, đến nay vẫn còn giá trị và cũng chứng minh tài năng đa dạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau này, cùng với những hoạt động ở Pháp, trong mối quan hệ của Bác với những nhà văn hóa, những nhà văn, họa sĩ, nhà thơ nổi tiếng, Nguyễn Ái Quốc luôn được đánh giá là một người am hiểu tường tận và sâu sắc cả văn hóa Phương Đông lẫn văn hóa Phương Tây.
Ngày 19.12.1946, toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Hồ Chủ tịch lại cùng Trung ương Đảng trở về chiến khu Việt Bắc, lãnh đạo cuộc chiến đấu thần thánh giải phóng dân tộc. Trong trăm công nghìn việc của một vị lãnh tụ tối cao, Hồ Chủ tịch đã đặt những nền móng đầu tiên cho lý luận, thực tiễn một nền văn hóa, văn nghệ cách mạng Việt Nam. Năm 1948, trường Mĩ thuật kháng chiến và các đoàn văn công, kịch nói, ca múa nhạc, chèo, tuồng… cùng các cơ quan văn hóa, văn nghệ ra đời và phát triển một cách đồng bộ, mạnh mẽ, và Bác Hồ là người vạch đường chỉ lối. Nhà điện ảnh Xô Viết nổi tiếng Các-men, người đã làm nên những thước phim tài liệu lịch sử vô giá về cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam, sau này, trong nhiều hồi ức của mình, đã ca ngợi Bác Hồ là người rất am hiểu về điện ảnh. Và trong nhiều cuộc trao đổi, luận bàn với Các-men, Người đã có nhiều ý kiến hết sức sâu sắc, quý giá. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Đinh Đăng Định (Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật) đã kể nhiều kỷ niệm về Bác, trong đó có câu chuyện, khi nghe một nghệ sĩ trẻ kêu ca về phương tiện nghèo nàn, khó khăn, Bác đã hết sức thông cảm, chia sẻ, nhưng rồi Người nói: “từ trong cái khó, mới ló cái khôn”. Cũng chính từ thời kỳ đó, nền nhiếp ảnh Việt Nam bắt đầu làm nên sự nghiệp của mình. Tóm lại, có thể nói, từ sau toàn quốc kháng chiến đến chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7.5.1954), tại trung tâm căn cứ địa cách mạng, Hồ Chủ tịch là người đã lãnh đạo, dẫn dắt, đưa đường, chỉ lối, đặt nền móng cho nền văn hóa, văn nghệ cách mạng Việt Nam.
Năm 1955, hòa bình lập lại hoàn toàn trên Miền Bắc, đất nước ta bước vào giai đoạn mới, hàn gắn vết thương chiến tranh, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, đấu tranh thống nhất nước nhà. Trong không khí náo nức, hồ hởi, say mê của cuộc sống mới, cùng với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, một luồng gió sáng tạo mới trong văn hóa, văn nghệ đã bừng lên. Từ năm 1957, các hội sáng tạo văn học, nghệ thuật, các trường nghệ thuật sân khấu, điện ảnh, múa; các đoàn văn công: tuồng, chèo, cải lương, kịch nói… lần lượt ra đời. Trong nhiều tấm ảnh tư liệu quý giá còn lưu giữ đến nay, hình ảnh Bác Hồ luôn luôn tươi cười xuất hiện cùng anh chị em văn nghệ sĩ, lúc thì Bác ở trụ sở Liên hiệp văn học, nghệ thuật, lúc thì ở các trường nghệ thuật, lúc thì múa hát cùng các cháu thiếu nhi, lúc thì ở đoàn văn công… với những lời dạy quý báu, chân tình, thương yêu sâu sắc, cảm thông với những khó khăn, thử thách trong công việc lao động sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ, và chính Bác Hồ cũng khẳng định một vị trí cao quý, vinh quang của người nghệ sĩ cách mạng Việt Nam: “Văn hóa, văn nghệ cũng là một mặt trận, anh chị em là những chiến sĩ trên mặt trận ấy”.
Cũng trong suốt nửa sau của thế kỷ XX cho đến tận hôm nay, những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa, văn nghệ vẫn còn là những bài học lớn, sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Đối với giới nghệ sĩ sân khấu, có một lời nhắn nhủ này của Bác, nghe có vẻ nôm na, giản dị, chân tình, nhưng không kém phần sâu sắc và đầy tính lý luận, đó là sau khi khen ngợi: “tuồng là tốt đấy, nhưng cần phải cải tiến”, rồi Bác lại thâm thúy nói tiếp: “nhưng chớ gieo vừng ra ngô”. Càng ngẫm nghĩ lời Bác, chúng ta càng thấy thấm thía, càng thấy sâu sắc và từ thực tiễn hoạt động sáng tạo nghệ thuật, quả thật, nhiều lúc chúng ta đã “gieo vừng ra ngô” mà không hề hay biết. Có một thời kỳ cải tiến, cách tân dẫn đến phá chèo, mà có người nói vui là chẹo, chéo, chẽo chứ không còn là chèo nữa. Người ta biến chèo thành kịch có bài hát mới, vừa chắp vá, vừa nhộn nhạo, vừa ta vừa tây. Người ta đưa cả ca khúc “sến” với dàn trống tây, kèn tây, ghi-ta tây vào chèo, lấy cớ là ăn khách để bỏ đi hàng loạt các làn điệu, lời ca của chèo cổ, cũng như bỏ đi bộ gõ, đàn nguyệt, đàn đáy, nhị, sáo, đàn bầu… trong sáng tác âm nhạc. Nhưng rất may, sau một thời gian không lâu, chính những người nghệ sĩ cũng đã nhận ra và tự điều chỉnh những quan niệm sáng tạo về những loại hình nghệ thuật đã có từ ngàn xưa của ông cha. Rõ ràng, đến nay, sự cách tân của chèo - tiếp thu những tinh hoa của truyền thống cùng những tìm tòi hiện đại, tiên tiến - đã mang lại những hiệu quả mới, những dấu ấn mới, những chất liệu mới, mặc dù chặng đường sáng tạo nghệ thuật còn rất nhiều khó khăn, thử thách. Cũng như chèo, nghệ thuật cải lương và ca múa nhạc cũng qua những thời kỳ “gieo vừng ra ngô” như thế. Có thời, người ta không diễn cải lương mà chỉ cần ca, ca thật hay, không chỉ đổ 6 câu vọng cổ, mà là bắn hàng trăm chữ liên hồi, liên tục. Rồi hóa trang, phục trang cứ như tích Tàu, La Mã - xanh xanh, đỏ đỏ lòe loẹt, kim sa, kim tuyến vô tội vạ. Trong ca nhạc thì không còn là hát nữa, mà là hú hí điên cuồng, trang phục hở hang, khêu ngợi, nhảy nhót tán loạn, xập xí, xập ngầu, vừa pha cả Úc, Phi, Mĩ, Á, Âu…, ánh sáng lập lòe, khói bay mù mịt… Nhưng rất may, vẫn còn những người có tâm trong giới văn hóa, văn nghệ, cũng như báo chí, công luận lên tiếng kịp thời, đúng lúc mà một trật tự kỷ cương về văn hóa, văn nghệ đã dần được thiết lập - vừng trở lại đúng là vừng, chứ không phải là ngô nữa. Bài học “chớ gieo vừng ra ngô” của Bác Hồ lại càng thấm thía, sâu sắc hơn bao giờ hết.
Viết về Bác Hồ, về sự nghiệp, đạo đức, tư tưởng, công lao của Người đối với văn học, nghệ thuật, đối với cách mạng Việt Nam, đã có nhiều công trình cả trong nước và trên thế giới, của các nhà khoa học, văn hóa, văn nghệ sĩ… mà trong đó, không ít người đã dành cả cuộc đời để nghiên cứu về Người. Bởi thế, những dòng viết trên đây chỉ là góp thêm vài suy nghĩ, tâm sự của một người nghệ sĩ đã 50 năm nặng lòng với văn học, nghệ thuật để tưởng nhớ công ơn của Bác Hồ đối với văn học, nghệ thuật nước nhà./.
 Lê Huy Quang

(Theo: Tạp chí Lý luận phê bình văn học, nghệ thuật)



GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THEO TINH THẦN CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI


GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THEO TINH THẦN CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI
Cách đây 101 năm (ngày 7/11/1917), thế giới chứng kiến một sự kiện trọng đại, đó là thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, mở ra một trang sử mới hào hùng với sự ra đời của Nhà nước Xô Viết chuyên chính vô sản đầu tiên trong lịch sử loài người, đưa chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực.
Lần đầu tiên trên thế giới, chính quyền đã từ trong tay thiểu số người bóc lột chuyển sang tay đa số người lao động bị bóc lột vươn lên làm chủ. Cách mạng tháng Mười thủ tiêu mọi hình thức bóc lột giai cấp và áp bức dân tộc, mở đường thắng lợi cho độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.
Cách mạng tháng Mười Nga đã mở ra một bước ngoặt căn bản trong lịch sử loài người, từ thế giới tư bản chủ nghĩa sang thế giới xã hội chủ nghĩa, mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đánh giá: "Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế"(1).
Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga đã có tác động to lớn đến việc quyết định con đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở ra một chương mới trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Xét về mặt lý luận và cả thực tiễn, Cách mạng Tháng Mười Nga đã có ảnh hưởng to lớn đối với con đường giải phóng dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trong suốt thế kỷ XX và trong điều kiện hiện nay.
Đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước cách mạng Việt Nam đều bị thất bại vì không có đường lối cứu nước đúng đắn. Giữa lúc đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, sau gần 10 năm bôn ba tìm con đường cứu nước đã tiếp thu được ánh sáng của Cách mạng tháng Mười khi Người được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin (1920), tác phẩm lý luận bàn về vấn đề cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong thời đại cách mạng vô sản. Người đã tìm thấy con đường duy nhất đúng đắn để cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp. Đó là con đường cách mạng vô sản, giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; cách mạng giải phóng dân tộc từng bước gắn với phong trào cách mạng thế giới… Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác còn đường cách mạng vô sản”(2). Đó là con đường gắn mục tiêu độc lập dân tộc với mục tiêu chủ nghĩa xã hội, gắn cách mạng Việt Nam với xu thế thời đại. Với niềm tin đó, Người đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước ta, sáng lập và rèn luyện Đảng ta, lãnh đạo nhân dân ta giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Toàn dân ta luôn một lòng đi theo Đảng. Vì vậy, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của lịch sử Việt Nam, của toàn dân tộc Việt Nam.
Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), Đảng đã khẳng định đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, coi đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam. Trong suốt gần 90 năm qua, Đảng và nhân dân ta luôn kiên trì và thực hiện mục tiêu này. Nhờ vậy mà cách mạng nước ta đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là kết quả tổng hợp của các phong trào cách mạng liên tục diễn ra trong 15 năm sau ngày thành lập Đảng, từ cao trào Xôviết Nghệ - Tĩnh, cuộc vận động dân chủ 1936 - 1939 đến cao trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945. Cách mạng Tháng Tám đã xoá bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở nước ta, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới hơn 30 năm qua, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"; củng cố vững chắc hơn độc lập dân tộc, từng bước đưa nước ta lên chủ nghĩa xã hội đã ngày càng khẳng định đường lối đúng đắn mà Đảng ta đã lựa chọn.
Trung thành với mục tiêu và con đường mà lãnh tụ Hồ Chí Minh đã lựa chọn, Đảng ta chủ động vận dụng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể với những nhiệm vụ và phương pháp cụ thể. Cương lĩnh chính trị tháng 10/1930 của Đảng nêu rõ: “Tiến hành cách mạng dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên CNXH, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa”. Chính cương Đảng Lao động Việt Nam được thông qua tại Đại hội II của Đảng tháng 02/1951 cũng nêu: “Cách mạng Việt Nam hiện nay là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến tới CNXH”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (năm 1991) kết luận: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH. Đó là bài học xuyên suốt cách mạng nước ta”(3). Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) một lần nữa khẳng định: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.
Qua các kỳ Đại hội Đảng, bài học lớn, được đặt ở vị trí hàng đầu là bài học phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội XII của Đảng đã phân tích bối cảnh, tình hình trong nước và quốc tế, từ đó chỉ rõ: “Tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới to lớn, phức tạp hơn đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải quyết tâm, nỗ lực phấn đấu mạnh mẽ hơn”(4).
Đánh giá thành tựu và hạn chế 30 năm đổi mới và 5 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) Đại hội XII khẳng định, nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. “Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”(5).
Khẳng định những giá trị và kết quả này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: "Công cuộc đổi mới hơn 30 năm qua của đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đó là kết quả của quá trình đổi mới có nguyên tắc, năng động trên cơ sở kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời, cũng là cơ sở để mỗi người Việt Nam nhận thức sâu sắc hơn tầm vóc lịch sử, ý nghĩa và giá trị hiện thực của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đối với cách mạng Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Thành tựu mà chúng ta đạt được minh chứng cho sức sống của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam"(6).
Trong giai đoạn hiện nay, cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội diễn ra rất phức tạp. Chủ nghĩa xã hội đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Nhận thức sâu sắc những nguyên nhân và bài học sau các sự kiện chính trị xảy ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII cũng đã nhận định rõ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, trong đó chỉ rõ: Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.... Từ đó đề ra mục tiêu và giải pháp nhằm thực hiện tốt công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn. Nghị quyết nêu rõ, "Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh"; Tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhất là những mô hình mới, kinh nghiệm hay; khuyến khích phát triển tư duy lý luận phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng".
Nghị quyết cũng yêu cầu, chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc...
Hơn 100 năm đã trôi qua, nhìn lại chiến thắng vĩ đại và chói lọi của Cách mạng Tháng Mười Nga giúp chúng ta càng nhận thức rõ hơn những giá trị và đóng góp to lớn mà cuộc cách mạng này đã mang lại cho nhân loại, càng nhận thức sâu sắc hơn những bài học xương máu từ sự đổ vỡ của chủ nghĩa xã hội hiện thực mô hình Xô-viết và càng kiên định hơn con đường đổi mới vì độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước phía trước còn nhiều khó khăn, thử thách, song với lý tưởng cao đẹp và những bài học thực tiễn sâu sắc của Cách mạng Tháng Mười Nga tiếp tục soi rọi, toả sáng, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiếp tục đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu để phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
________________________
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.387.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.12, tr.30.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb Sự thật, H.1991, tr.4.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H.2016, tr.75.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H.2016, tr.66.
(6) Phát biểu kỷ niệm 100 năm Cách mạng tháng Mười Nga
Hoa Hiền
http://dangcongsan.vn/xay-dung-dang/guong-cao-ngon-co-doc-lap-dan-toc-va-cnxh-theo-tinh-than-cach-mang-thang-muoi-504058.html

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...