Thứ Tư, 17 tháng 10, 2018

NHỮNG NGỘ NHẬN ĐỐI VỚI CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC


NHỮNG NGỘ NHẬN ĐỐI VỚI CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Thời gian qua, trên mạng internet xuất hiện một số bài viết, quan điểm chưa đúng về kinh tế nhà nước (KTNN), doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và cổ phần hóa DNNN (CPHDNNN) ) ở Việt Nam, đặc biệt nổi lên trong đó là hai ngộ nhận, cho rằng CPHDNNN làm giảm sút vai trò của khu vực kinh tế nhà nước và CPHDNNN làm mất công cụ định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường... Bài viết dưới đây đề cập và góp phần hóa giải những ngộ nhận đó.
1. Những kết quả bước đầu trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Theo Bộ Tài chính, giai đoạn 2011-2015, cả nước đã cổ phần hóa (CPH) gần 500 DNNN, đạt trên 92% kế hoạch; thoái vốn nhà nước tại DN thu về trên 21 nghìn tỷ đồng, đạt gần 1,4 lần giá trị đầu tư.
Năm 2016, Việt Nam cổ phần hóa được 52 DNNN. Năm 2017, có 45 DNNN được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án CPH. Tổng giá trị thực tế doanh nghiệp là 213.747 tỷ đồng, gấp 6 lần tổng giá trị thực tế các doanh nghiệp đã CPH trong năm 2016. Giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp là 88.390 tỷ đồng, gấp 3,5 lần giá trị thực tế phần vốn Nhà nước của các doanh nghiệp đã cổ phần hóa năm 2016. Tổng vốn điều lệ theo phương án cổ phần hóa được phê duyệt là 93.888 tỷ đồng, trong đó Nhà nước nắm giữ 42.007 tỷ đồng, chiếm 44,7% tổng vốn điều lệ; bán cho nhà đầu tư chiến lược 36.346 tỷ đồng, chiếm 38,7% tổng vốn điều lệ; bán cho người lao động 354 tỷ đồng, chiếm 0,37% tổng vốn điều lệ; bán cho tổ chức công đoàn 20 tỷ đồng, chiếm 0,02% tổng vốn điều lệ; số lượng cổ phần bán đấu giá công khai là 15.159 tỷ đồng, chiếm 16,14% tổng vốn điều lệ.
Về thoái vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp giai đoạn 2011-2015, bán cổ phần vốn nhà nước không cần nắm giữ tại các doanh nghiệp đạt 16.387/32.000 tỷ đồng, tương đương 52%. Tính đến tháng 12-2016, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước mới thoái được 42% số vốn phải thoái. Sau khi sắp xếp, cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sang công ty TNHH một thành viên, vẫn có tới 80% vị trí lãnh đạo DNNN, ban giám đốc, kế toán trưởng hầu như không thay đổi.
Năm 2017 có 10 đơn vị thực hiện thoái vốn theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có 8 đơn vị thuộc kế hoạch thoái vốn năm 2017 và 2 đơn vị thuộc kế hoạch thoái vốn năm 2018.
Năm 2018, hoạt động CPH được tăng tốc và đạt kết quả tốt hơn, với dự kiến 64 DNNN sẽ được CPH, tương ứng hơn 50% số DNNN cần CPH của cả giai đoạn 2017- 2020. Trong đó, hàng loạt “ông lớn” được đưa ra chào bán, như Habeco, thoái tiếp một phần tại Vinamilk, một số đơn vị thành viên Tập đoàn Dầu khí, Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn, PVoil, Tập đoàn Cao su... Trong đó, riêng các công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn, Pvoil, PV Power đã có quy mô vốn lên tới hơn 100 nghìn tỷ đồng, còn Tập đoàn Cao su quy mô vốn lên tới 150 nghìn tỷ đồng; Lọc hóa dầu Bình Sơn (vốn điều lệ 31.044 tỷ đồng), Đầu tư và Phát triển công nghiệp Becamex (vốn điều lệ 9.878 tỷ đồng), Sông Đà (vốn điều lệ 4.438 tỷ đồng), Lương thực miền Nam (vốn điều lệ 4.980 tỷ đồng), Thương mại Hà Nội (vốn điều lệ 2.155 tỷ đồng)...
Nhìn chung, quá trình CPHDNNN thời gian qua đã trực tiếp làm thay đổi bộ mặt khu vực này theo hướng: giảm mạnh số lượng DNNN; thu gọn phạm vi hoạt động, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh, những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư. Hoạt động theo cơ chế thị trường, lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh bình đẳng, công khai, minh bạch với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo quy định của pháp luật. Từng bước có sự tách bạch nhiệm vụ của DNNN sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông thường và nhiệm vụ của DNNN sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ công ích. Hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh của một số DNNN được nâng lên. Quản lý nhà nước đối với DNNN được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường. DNNN tiếp tục là một lực lượng quan trọng của KTNN (tổng giá trị vốn và tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp hiện vào khoảng 5,4 triệu tỷ đồng) góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội...
Theo tinh thần Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg ngày 28-12-2016 của Thủ tướng Chính phủ (thay thế Quyết định số 37/2014/QĐ-TTg ngày 18-6-2014 của Thủ tướng Chính phủ), đến hết năm 2020, tất cả DNNN hiện có sẽ tiếp tục thực hiện sắp xếp, CPH theo tiêu chí phân loại danh mục và tỷ lệ vốn nhà nước cụ thể cho từng DN.
Đồng thời, tập trung xử lý dứt điểm các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, các dự án, công trình đầu tư của DNNN kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài, trọng tâm là 12 dự án thua lỗ, kém hiệu quả của ngành công thương; phấn đấu đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về quản trị DN; nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh của DNNN; hoàn thiện mô hình quản lý, giám sát DNNN và vốn, tài sản của Nhà nước đầu tư tại DN. Năm 2018, thành lập một cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với DNNN và cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại DN.
Đối với các DN không đủ điều kiện để thực hiện cổ phần hóa thì xem xét áp dụng các hình thức sắp xếp khác như bán, khoán, cho thuê, giải thể, áp dụng biện pháp phá sản theo quy định của pháp luật đối với DNNN lâm vào tình trạng phá sản mà không có phương án tái cơ cấu khả thi. Đối với các DNNN đang được giao quản lý, khai thác các công trình, dự án kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư có ý nghĩa quan trọng về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, khi cổ phần hóa, Nhà nước tiến hành kiểm soát theo nguyên tắc: Nhà nước thống nhất sở hữu các công trình hạ tầng quan trọng; DN cổ phần hóa, nhà đầu tư nhận quyền khai thác chỉ được quyền quản lý, vận hành, khai thác các công trình, dự án kết cấu hạ tầng; việc lựa chọn nhà đầu tư, DN phải thực hiện theo Luật Đấu thầu, công khai, minh bạch; bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ.
Gắn cổ phần hóa với niêm yết, đăng ký giao dịch tập trung trên thị trường chứng khoán. Các DN cổ phần hóa phải niêm yết trong thời hạn một năm kể từ ngày phát hành cổ phiếu lần đầu. Các DN cổ phần hóa chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện niêm yết cổ phiếu theo quy định của pháp luật thì phải đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch cho chứng khoán chưa niêm yết (hệ thống giao dịch UPCoM). Xử lý nghiêm đối với các DN cố tình không thực hiện niêm yết, đăng ký giao dịch cổ phiếu trên thị trường chứng khoán theo quy định.
Tiền thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước được quản lý tập trung và chỉ sử dụng cho mục đích chi đầu tư phát triển, không sử dụng chi thường xuyên.
Kiên quyết xử lý dứt điểm các DNNN, các dự án đầu tư chậm tiến độ, hoạt động thua lỗ, kém hiệu quả theo cơ chế thị trường, thực hiện cơ cấu lại và chuyển nhượng dự án cho nhà đầu tư thuộc thành phần kinh tế khác. Làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật những vi phạm của các tổ chức, cá nhân liên quan để xảy ra tình trạng DNNN, dự án đầu tư thua lỗ, thất thoát, lãng phí lớn. Hoàn thiện tổ chức để thực hiện chức năng Nhà nước là chủ sở hữu đối với DNNN, cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại DN.
Trên tinh thần đó, có thể dự báo trong giai đoạn tới, quá trình CPH và sắp xếp, đổi mới các DNNN sẽ đúng hướng, hiệu quả và tích cực hơn.
2. Ngộ nhận cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước làm giảm sức mạnh và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước?
Theo Điều 1 Luật DNNN năm 2003: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”.
Sau khi Luật Doanh nghiệp được ban hành năm 2005, thì DNNN được hiểu là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ (Khoản 22, Điều 4, Luật Doanh nghiệp năm 2005).
Theo Nghị định 99/2012/NĐ-CP về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với DNNNthì “DNNN là doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, bao gồm doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; và doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên”.
Đến Luật Doanhnghiệp năm 2014, “DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”.
Như vậy (từ năm 2016 đến nay), nội hàm DNNN đã được thu hẹp, chỉ còn bao gồm các DN mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Tuy nhiên, đến nay, khu vực KTNN vẫn bao gồm các DNNN và phần vốn, tài sản của Nhà nước tại các DN, các quỹ và tài sản quốc gia khác, v,v.., nên về cơ bản, tổng tài sản của khu vực KTNN khá ổn định, trừ phần giảm sút (nhỏ) do CPHDNNN và thoái vốn nhà nước khỏi DN thuộc khu vực kinh doanh, nhưng chúng được bù đắp lại bởi sự tăng trưởng của chính các DNNN và tăng nguồn thu NSNN (một hợp phần của KTNN) do giải phóng các nguồn lực và động lực tăng trưởng từ CPHDNNN và cải thiện môi trường đầu tư xã hội...
Có thể thấy, việc đánh đồng tên gọi, nội hàm giữa KTNN với DNNN không chỉ là sự nhầm lẫn về hình thức, tên gọi, cơ cấu nội hàm kỹ thuật, mà còn kéo theo sự ngộ nhận lớn hơn là đánh đồng vai trò chủ đạo của toàn thể (KTNN) với vai trò then chốt linh hoạt của bộ phận (DNNN), tức hiểu sai chủ trương, chính sách vĩ mô Nhà nước về CPHDNNN và quản lý kinh tế trong bối cảnh hội nhập. Nói cách khác, cả về lý luận và thực tế, sẽ là ngộ nhận khi đồng nhất vai trò chủ đạo của KTNN với mặc nhiên coi DNNN cũng có vai trò này.
Trên thực tế, dù CPHDNNN tăng tốc, sức mạnh khu vực KTNN không hề giảm, thậm chí còn tăng lên, do: Thứ nhất, KTNN bao gồm cả phần vốn nhà nước tại các DNNN (100% vốn), và cả tài sản tại các DN khác (theo BTC, dù số lượng DNNN giảm mạnh, song đến nay tổng cộng, chỉ khoảng 10-15% vốn và tài sản DNNN được CPH hoặc thoái vốn); Thứ hai, KTNN sẽ tăng quy mô do các DNNN tiếp tục phát triển sau CPH và sắp xếp, đổi mới quản lý; Thứ ba, KTNN tăng trưởng nhờ CPH làm tăng đầu tư và hiệu quả hoạt động của cả DNNN hậu CPH, lẫn toàn bộ nền kinh tế nói chung, dẫn đến tăng nguồn thu NSNN, mà NSNN cũng là một phần của KTNN.
Theo tính toán của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW (Bộ KH&ĐT), các DNNN đang nắm giữ lượng lớn tài sản và nguồn lực quốc gia; nếu nguồn lực từ khu vực này được giải phóng và sử dụng có hiệu quả sẽ có đóng góp lớn cho nền kinh tế. Chẳng hạn, hiệu quả sử dụng tài sản Nhà nuớc chỉ cần tăng thêm 1% thì cả nước sẽ thu về thêm 3-4 tỷ USD và sẽ đóng góp thêm 1,5% cho tăng truởng GDP; tạo động lực tăng trưởng mạnh và bền vững hơn cho kinh tế vĩ mô. Vì thế, CPH và tái cơ cấu DNNN một cách hiệu quả và thực chất đang và sẽ tiếp tục là một trong những ưu tiên, mối quan tâm hàng đầu tạo động lực tăng trưởng và nâng cao sức mạnh của chính khu vực KTNN, cũng như nền kinh tế vĩ mô.
Cần thấy rằng, vai trò chủ đạo của KTNN cũng có sự điều chỉnh linh hoạt, thích hợp với cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế sâu, rộng của Việt Nam. Trước đổi mới, ở Việt Nam chỉ có thành phần KTNN là chủ yếu nên DNNN cũng đồng thời giữ vai trò chủ đạo trong khu vực doanh nghiệp xã hội. Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần và quá trình hội nhập, khu vực các DNNN sẽ ngày càng giảm tỷ trọng, do đó giảm dần vai trò chủ đạo theo nghĩa truyền thống và biến đổi theo huớng then chốt (trong một số lĩnh vực, tập trung vào những lĩnh vực mà nhà nước cần độc quyền hay tư nhân không thể, không muốn đảm nhiệm).
Nghị định 99/2012/NĐ-CP khẳng định, Chính phủ thống nhất quản lý và thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với DNNN và vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp. Nhà nước chỉ đầu tư vốn, tài sản vào doanh nghiệp hoạt động trong những ngành, lĩnh vực, khâu then chốt, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội và quốc phòng, an ninh, làm nòng cốt để KTNN thực hiện được vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Nói cách khác, DNNN ngày càng thu hẹp sự chủ đạo từ phạm vi toàn bộ nền kinh tế chỉ còn vào một số lĩnh vực, ngành kinh tế chủ chốt. Đồng thời, vai trò chủ đạo của khu vực KTNN trong thời gian tới cũng cần được nhấn mạnh vào các nội dung và mục tiêu: nắm giữ các tài sản, tổ chức các hoạt động độc quyền thuộc lĩnh vực bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; chủ động giữ vững các cân đối cơ cấu lớn, liên ngành, cấp quốc gia và ở địa phương, địa bàn cần thiết; chủ động và trực tiếp đảm nhận đầu tư vào những dự án, địa bàn không hấp dẫn hoặc cần thiết để định hướng, mở rộng đầu tư phát triển từ các nguồn  vốn ngoài ngân sách nhà nước.
Đặc biệt, sự chủ đạo của KTNN không có nghĩa là DNNN hưởng mọi ưu đãi vô điều kiện, gây bất bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, mà cần sự bình đẳng giữa DNNN với các DN khác đã được xác định trong nhiều luật định khác hiện hành (nhất là Luật Doanh nghiệp, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư công).
3. Ngộ nhận cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước làm mất công cụ định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam?
Cần khẳng định CPHDNNN không làm mất đi công cụ định hướng XHCN của nền KTTT ở Việt Nam do xuất phát từ mục tiêu của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế nói chung, sự phát triển nhận thức về bản chất mô hình KTTT định hướng XHCN, cũng như các công cụ thực hiện vai trò điều tiết của nhà nước đối với nền KTTT ở nước ta nói riêng trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Báo cáo do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trình bày tại Đại hội XII, quan điểm của Đảng ta là: Thống nhất nhận thức nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường; Đồng thời, bảo đảm định hướng xẫ hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội...
Tính hiện đại và hội nhập quốc tế thể hiện ở sự kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại, kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn hơn 30 năm đổi mới; có hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới; vai trò, chức năng của Nhà nước và thị trường được xác định và thực hiện phù hợp với thông lệ, nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế phổ biến.
Định hướng XHCN thể hiện ở sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, lấy con người làm trung tâm, vì con người và do con người; phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Nền kinh tế có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. DNNN giữ vị trí then chốt và là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh cùng phát triển theo pháp luật. Khuyến khích làm giàu hợp pháp. Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và qua hệ thống an sinh, phúc lợi xã hội.
Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và bảo vệ tài nguyên, môi trường; phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội. Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.
Nhận thức đầy đủ, tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan (và quy trình) của KTTT, thông lệ quốc tế, cam kết hội nhập. Bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước trong từng giai đoạn. Thực hiện nhất quán một chế độ pháp lý kinh doanh cho các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu, thành phần kinh tế. Bảo đảm quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh của các chủ thể kinh tế đã được Hiến pháp quy định; xoá bỏ các rào cản đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính. Hoàn thiện các quy định liên quan để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động khởi nghiệp. Hoàn thiện thể chế về cạnh tranh; tăng cường tính minh bạch về độc quyền nhà nước (chống độc quyền tư nhân). Xóa bỏ các cơ chế can thiệp hành chính trực tiếp, bao cấp của Nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
Quản lý DNNN đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp; thực sự hoạt động theo cơ chế thị trường. Tách bạch, phân định rõ chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước với chức năng quản lý nhà nước đối với mọi loại hình doanh nghiệp, chức năng quản trị kinh doanh của DNNN; nâng cao hiệu quả DNNN trên nền tảng công nghệ hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị theo chuẩn mực quốc tế, nhằm huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp để DNNN giữ vững vị trí then chốt và là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.
Mục tiêu đến năm 2030: hầu hết các DNNN có cơ cấu sở hữu hỗn hợp, chủ yếu là doanh nghiệp cổ phần.  Trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất hiện đại tương đương với các nước trong khu vực; đáp ứng đầy đủ chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp; hình thành đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, có trình độ cao, phẩm chất đạo đức tốt. Củng cố, phát triển một số tập đoàn kinh tế nhà nước có quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế trong một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư; giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước xuống mức đủ để thay đổi quản trị một cách thực chất và thu hút nhà đầu tư có năng lực thực sự; tối đa hóa giá trị bán vốn nhà nước theo cơ chế thị trường.
Cơ cấu lại DNNN trên cơ sở nhiệm vụ được giao, ngành, nghề kinh doanh chính, khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh; triệt để tiết kiệm chi phí; nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, uy tín và thương hiệu trên thị trường. DNNN tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị, xã hội do Nhà nước giao thực hiện theo cơ chế Nhà nước đặt hàng, lựa chọn cạnh tranh, công khai và xác định rõ giá thành, chi phí thực hiện, trách nhiệm và quyền lợi của Nhà nước, DNNN để bảo đảm không làm giảm hiệu quả kinh doanh của DNNN. Xóa bỏ các cơ chế can thiệp hành chính trực tiếp, bao cấp dành cho DNNN, đối xử bất bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, nhất là trong tiếp cận các nguồn lực nhà nước, tín dụng, đất đai, tài nguyên, cơ hội đầu tư, kinh doanh, tài chính, thuế,...
Phát huy vai trò mở đường, dẫn dắt của DNNN trong việc hình thành và mở rộng các chuỗi sản xuất, cung ứng và chuỗi giá trị trong nước, khu vực và thế giới. Hạn chế tình trạng sản xuất, kinh doanh khép kín, cục bộ, không minh bạch trong DNNN, đặc biệt là trong các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; xây dựng và áp dụng khung quản trị doanh nghiệp phù hợp với chuẩn mực quốc tế tại các DNNN, nhất là đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; củng cố, phát triển một số tập đoàn kinh tế nhà nước đa sở hữu với quy mô lớn, hoạt động có hiệu quả, có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế ở một số ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế trên cơ sở hoàn thiện mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước theo thông lệ quốc tế; xác định rõ quy mô và phạm vi hoạt động phù hợp với năng lực quản trị, điều hành; kiên quyết đấu tranh và thiết lập các hệ thống quản trị, kiểm soát nội bộ có hiệu quả trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, xung đột lợi ích; tình trạng cán bộ lãnh đạo, quản lý của DNNN móc ngoặc với cán bộ, công chức nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân để hình thành “nhóm lợi ích”, “sân sau”, lạm dụng chức vụ, quyền hạn thao túng hoạt động của DNNN, trục lợi cá nhân, tham nhũng, lãng phí, gây tổn hại cho Nhà nước và doanh nghiệp.
Hoàn thiện tổ chức để thực hiện chức năng Nhà nước là chủ sở hữu đối với DNNN, cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; Nhà nước thực hiện đầy đủ trách nhiệm của chủ sở hữu đối với DNNN cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; thực sự đóng vai trò là nhà đầu tư, chủ sở hữu, bình đẳng về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm với các nhà đầu tư khác trong doanh nghiệp. Bảo đảm quyền tự chủ trong hoạt động của DNNN theo nguyên tắc thị trường. 
Khác với các hoạt động kinh tế khác, hoạt động kinh tế của Nhà nước và do đó của DNNN, luôn có 2 mục tiêu với 2 tính chất khác nhau, đó là mục tiêu kinh doanh thông thường như các DN khác, và mục tiêu công ích đặc trưng riêng có của mình. Vì vậy, cần xác định rõ theo các hệ tiêu chí đồng bộ và khoa học về tính chất kinh doanh và tính chất công ích của DNNN; từ đó làm rõ cơ chế quản lý phù hợp, đáp ứng mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường, cũng như các lợi ích quốc gia và địa phương, ngành, cụ thể và dài hạn; khắc phục sự nhập nhằng giữa nguồn vốn hoạt động vì lợi nhuận với nguồn vốn hoạt động phi lợi nhuận, cũng như giữa trách nhiệm xã hội của  các tập đoàn KTNN đối với ổn định kinh tế vĩ mô với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, dễ  dẫn đến đầu tư của tập đoàn vừa  bị phân tán, vừa dễ bị lạm dụng, kém hiệu quả. Đây cũng là điểm nút để giảm thiểu sự nhập nhằng, mù mờ hoặc lạm dụng trong hạch toán và đánh giá các hoạt động công ích và hoạt động kinh doanh của các DN trong thực tiễn cả quản lý nhà nước, cũng như sự hoạt động tự chủ của DNNN, khiến các DNNN không hoạt động hiệu quả như mong muốn và tiềm năng, nhất là đối với các DNNN thuộc lĩnh vực độc quyền cao.
Như vậy, có thể nói, CPHDNNN dù có xu hướng làm giảm thiểu, thu hẹp, nhưng không phải là làm suy yếu và dần xóa bỏ các DNNN nói riêng,  khu vực KTNN nói chung, mà là làm cho chúng ngày càng hoạt động tốt hơn, hiệu quả hơn, định hướng, dẫn dắt và đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển kinh tế quốc gia theo nguyên tắc quản lý kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Khi đó, là định hướng XHCN của nền kinh tế ngày càng hiện thực hóa và vai trò định hướng của khu vực KTNN, trong đó có DNNN, lại càng phát huy theo cách thức mới, phù hợp, đậm nét và hiệu quả hơn.
Nói cách khác, CPHDNNN không làm mất đi công cụ đắc lực định hướng XHCN cho nền KTTT, mà còn là góp phần thúc đẩy và hiện thực hóa cơ chế mới trong quan hệ Nhà nước với thị trường trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Theo đó, quan hệ của DNNN với các DN khác, giữa khu vực KTNN với các khu vực kinh tế khác không phải là quan hệ xung khắc, loại trừ và kiềm chế nhau, mà là mối quan hệ tương hỗ, cùng vận động và bổ sung cho nhau trong một chỉnh thể và đều hướng tới mục tiêu chung là xây dựng một nền kinh tế Việt Nam phát triển và bền vững, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.
Cần nhấn mạnh rằng, nếu như tính KTTT của nền kinh tế Việt Nam được thống nhất khẳng định là nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật và tuân thủ đúng quy trình của KTTT, thì tính định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước lại được thể hiện ở mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”và được bảo đảm bởi sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Sự kết hợp hiệu quả giữa tính KTTT và tính định hướng XHCN cũng chính là đáp ứng xu hướng mới mang tầm vóc thời đại, đòi hỏi có sự kết hợp tất yếu của bàn tay thị trường với bàn tay nhà nước trong một mô hình quản lý xã hội mới đang dần định hình trên thế giới, nhất là từ sau những cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội liên tiếp xảy ra trong những thập niên cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI trên quy mô toàn thế giới và trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng hơn. Sự kết hợp bàn tay thị trường với bàn tay nhà nước là việc lựa chọn và kết hợp để tạo hiệu ứng tổng hợp tích cực những điểm tốt của mỗi cách thức quản lý kinh tế, đồng thời góp phần giảm thiểu những tác động mặt trái của chúng, tạo động lực mạnh mẽ, kiểm soát chặt chẽ các rủi ro và nâng cao hiệu quả, chất lượng tăng trưởng, hài hòa các mục tiêu và củng cố định hướng, phát triển bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường.
________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2018           
TS Nguyễn Minh Phong
Ban Tuyên truyền lý luận, Báo Nhân Dân
ThS Nguyễn Trần Minh Trí
Viện Kinh tế & Chính trị thế giới, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/dien-dan/item/2663-nhung-ngo-nhan-doi-voi-co-phan-hoa-doanh-nghiep-nha-nuoc.html

PHÊ PHÁN SỰ PHÊ PHÁN THIẾU TÍNH KHOA HỌC ĐỐI VỚI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH


PHÊ PHÁN SỰ PHÊ PHÁN THIẾU TÍNH KHOA HỌC ĐỐI VỚI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Bài viết tập trung phê phán quan điểm cho rằng: chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, cùng lắm là đầu thế kỷ XX, ở các nước Tây Âu, chứ không thích hợp với các nước phương Đông lạc hậu như Việt Nam; Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là “một sai lầm của lịch sử”,“đã kìm hãm sự phát triển của đất nước”; “Người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu”; đồng thời chỉ ra đây là là một sự bôi nhọ, vu khống trắng trợn, phi văn hóa, thiếu tính khoa học của những người phê phán chủ nghĩa Mác - Lênin.
1. Trước hết ta hãy phân tích luận điểm này: chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, cùng lắm là đầu thế kỷ XX. Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Ngày 30-4-1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nước đi lên CNXH. Năm 1986, cả nước tiến hành công cuộc đổi mới và cho đến nay đã thu được những thắng lợi quan trọng có ý nghĩa lịch sử. Những thành công vang dội ở thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI này gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng mà nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo lôgíc, chỉ cần chỉ ra một cái không đúng thì toàn bộ luận điểm này là không đúng, tức sai lầm.
Với câu hỏi: bước sang thế kỷ XXI, trong thời đại văn minh tin học, kinh tế tri thức, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, chủ nghĩa Mác - Lênin có tỏ ra lỗi thời, có bị lịch sử vượt qua hay không? Những người phê phán này không hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống mở, nó luôn phải được bổ sung phát triển bởi thực tiễn cuộc sống. Trong bài Về một số đặc điểm trong sự phát triển lịch sử của chủ nghĩa Mác,V.I.Lênin đã viết: Chủ nghĩa Mác không phải là một giáo điều chết cứng, một học thuyết nào đó đã hoàn thành hẳn, có sẵn đâu vào đấy, bất di bất dịch, mà là một kim chỉ nam sinh động cho hành động, chính vì thế nó không thể không phản ánh sự biến đổi mạnh mẽ của điều kiện sinh hoạt xã hội(1). Trong bài Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin cho rằng, chủ nghĩa Mác không có gì là giống “chủ nghĩa bè phái” hiểu theo nghĩa một học thuyết bo bo chỉ biết có mình và cứng nhắc, nảy sinh ở ngoài con đường phát triển vĩ đại của văn minh thế giới. Trái lại, thiên tài của Mác là ở chỗ đã giải đáp được những vấn đề mà nhân loại tiên tiến đã đặt ra. Học thuyết của ông ra đời là sự kế thừa thẳng và trực tiếp học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội.
Phép biện chứng khẳng định cái gì có sinh tất có diệt. Trong quan niệm tích cực về cái hiện đang tồn tại, phép biện chứng đồng thời cũng bao hàm cả quan niệm về sự phủ định cái hiện đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của nó; vì mỗi hình thái đã hình thành đều được phép biện chứng xét ở trong sự vận động, tức là xét cả mặt nhất thời của hình thái đó; vì phép biện chứng không khuất phục trước một cái gì cả, và về thực chất thì nó có tính chất phê phán và cách mạng. Trong thời đại văn minh tin học, kinh tế tri thức, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, vẫn còn đó hiện tượng ô nhiễm môi trường, nguy cơ mất cân bằng sinh thái, do vậy rất cần tuân thủ chỉ dẫn của Ph.Ăngghen về vấn đề này, “trong giới tự nhiên, không có cái gì xảy ra một cách đơn độc cả; hiện tượng này tác động đến hiện tượng khác và ngược lại; bởi vậy chúng ta không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên. Bởi vì cứ mỗi lần chúng ta đạt được một thắng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta”; “chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên”. 
Với quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với các nước Tây Âu, không thích hợp với các nước phương Đông lạc hậu như Việt Nam hoặc Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là “một sai lầm của lịch sử”, “đã kìm hãm sự phát triển của đất nước”.
Thế nào là “phù hợp”? Thế nào là “không thích hợp”? Một tư tưởng khoa học, đúng đắn, tiến bộ, mang ý nghĩa chân lý không thể nói phù hợp hay không thích hợp được. Riêng điều này đã mang hàm ý chủ quan, không trung thực, không phản ánh đúng thực tế của lịch sử. Đành rằng chủ nghĩa Mác ra đời ở phương Tây; nhưng những thành tựu của phương Tây, đặc biệt là khoa học công nghệ, tư tưởng nhân văn, ...phải chăng các nước phương Đông trong đó có Việt Nam không nên tiếp nhận? Phải chăng “không phải là sản phẩm của thực tiễn Việt Nam” thì “không thích hợp”; do đó việc du nhập những thành tựu này vào Việt Nam là “một sai lầm của lịch sử”, “đã kìm hãm sự phát triển của đất nước”? Nói thế chẳng hóa ra việc tiếp thu những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cũng là “một sai lầm của lịch sử”, “đã kìm hãm sự phát triển của đất nước”? Nếu không đặt cách mạng giải phóng dân tộc vào trong quỹ đạo của cách mạng vô sản như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm, nếu không có chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì liệu khi đó chúng ta có giải phóng được đất nước hay không? Lịch sử đã chứng minh tất cả các cuộc kháng Pháp trước đó đều bị thất bại. Sự thật đanh thép này những người phê phán không thể bác bỏ được.
Tất nhiên, chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời đã được gần 200 năm. Chúng ta cần xem trong chủ nghĩa Mác - Lênin, cái gì vẫn còn đúng và vẫn còn có giá trị lâu dài; cái gì trước kia chúng ta hiểu không đúng nay phải điều chỉnh lại cho đúng; cái gì ngay từ thời các nhà kinh điển đã thừa nhận là không đúng; cái gì đã bị thực tiễn vượt qua, đặc biệt là thực tiễn ở Việt Nam mà chúng ta cần bổ sung, phát triển.
Những “nhà phê phán” còn viết sách, báo, sản xuất băng hình nhằm xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các thế lực thù địch đã đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ cho rằng, Hồ Chí Minh chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không lựa chọn con đường XHCN. Thậm chí chúng còn phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh khi cho rằng, Hồ Chí Minh chỉ là người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu. Từ đó họ phát động chiến dịch bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh, bôi nhọ danh nhân mà họ gọi là chiến dịch “hạ bệ thần tượng”. Gần đây chúng tung lên luận điệu “No Ho” phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc công lao, sự nghiệp vĩ đại của Người. Thâm độc hơn, chúng tung ra luận điệu tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với học thuyết Mác - Lênin. Chúng ngụy biện rằng, bây giờ học thuyết Mác - Lênin đã lỗi thời, chỉ dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao chủ nghĩa Hồ Chí Minh. “Chủ nghĩa Hồ Chí Minh” cũng ám chỉ chủ nghĩa dân tộc. Đây là một luận điệu nguy hiểm, vì như vậy sẽ làm suy yếu tư tưởng Hồ Chí Minh và thực chất là để phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tiến tới phủ định chính ngay tư tưởng Hồ Chí Minh.
Có một sự thật không thể chối cãi được, Hồ Chí Minh là người đầu tiên tiếp thu, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời cũng là người đầu tiên vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin lên tầm cao mới trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, từ đó đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Những phân tích sau đây chứng minh luận điểm cho rằng “Hồ Chí Minh chỉ là người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu”, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với học thuyết Mác - Lênin, là một sự bôi nhọ, vu khống trắng trợn, phi văn hóa, thiếu tính khoa học của những người phê phán.
Khi phân tích xã hội phương Đông, đặc biệt là Việt Nam, Hồ Chí Minh phát hiện ra rằng, ở Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của lịch sử; vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây. Từ những nhận xét đó, Người đi đến kết luận: “Xã hội Ấn Độ - China - và tôi có thể nói: Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời Trung cổ, cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây”(2). Đây là những kết luận khoa học được rút ra từ việc nghiên cứu cẩn thận, lâu dài của Hồ Chí Minh. Từ phân tích về mặt giai cấp, xã hội ở các nước phương Đông và Việt Nam, Hồ Chí Minh mặc dù có thể chưa đọc được những tác phẩm của C.Mác về phương Đông nhưng đã đi gần đến tư tưởng của C.Mác, nhất là quan niệm về “phương thức sản xuất châu Á” với đặc trưng là tính tự trị, độc lập, biệt lập của công xã; cái đặc trưng này, theo Người, dẫn đến sự thiếu tin cậy lẫn nhau, đó là nguyên nhân gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông. “Họ hoàn toàn không biết đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau(3).
Đi sâu nghiên cứu phương Đông, Hồ Chí Minh đã đặt ra một vấn đề hết sức chính xác: “Mác cho ta biết rằng sự tiến triển của các xã hội trải qua ba giai đoạn: Chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản; và trong mỗi giai đoạn ấy, đấu tranh giai cấp có khác nhau. Chúng ta phải coi chừng! Các dân tộc Viễn Đông có trải qua hai giai đoạn đầu không?”(4). Ở phương Đông, do ảnh hưởng của cái gọi là phương thức sản xuất châu Á kéo dài dai dẳng từ sau khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã cho đến tận những năm đầu của thế kỷ XIX, nên xã hội phương Đông và Việt Nam không thật điển hình như phương Tây. Từ thực tiễn đó, Hồ Chí Minh nhận xét: tùy hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau, ta không giống Liên Xô, ta có thể đi theo con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh viết: không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không có được. Người đề xuất: “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”(5). Tại sao lại như vậy? Theo Người, “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà lịch sử châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”(6). Ở đây, Hồ Chí Minh đã phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện cụ thể của các nước phương Đông và đặc biệt là ở Việt Nam chứ không phải là xét lại chủ nghĩa Mác. Với những tư tưởng này, phải chăng Hồ Chí Minh chỉ là người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có tư tưởng cao siêu nào như những nhà phê phán rêu rao?
Trong Lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất cuốn Tư bản, Phê phán khoa kinh tế chính trị, tập thứ nhất, quyển I, C.Mác  viết: “Trong tất cả các lĩnh vực khác thì cũng giống như các nước khác ở lục địa Tây Âu, chúng ta (tức nước Đức) đau khổ không những vì sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà còn đau khổ vì nó phát triển chưa đầy đủ. Ngoài những tai họa của thời hiện nay ra, chúng ta còn phải chịu đựng cả một loạt những tai họa kế thừa do chỗ các phương thức sản xuất cổ xưa, lỗi thời vẫn tiếp tục sống dai dẳng với những quan hệ chính trị và xã hội trái mùa do chúng đẻ ra. Chúng ta đau khổ không những vì những người đang sống, mà còn vì những người đã chết nữa. Le mort saisit le vif! (người chết nắm lấy người sống!)”(7).
Trước kia, những nước tiền tư bản tiến lên CNXH thường quá nhấn mạnh vào mặt, khía cạnh thứ nhất, tức chúng ta đau khổ vì chủ nghĩa tư bản; mà ít để ý tới mặt, khía cạnh thứ hai, tức đau khổ vì thiếu nó; tức thiếu tất cả những cái mà CNTB đã tích lũy được trong vòng ba trăm năm như khoa học công nghệ, ý thức pháp luật, mặt bằng dân trí, quản lý kinh tế,... Những nước XHCN ở phương Đông do xuất phát điểm chưa trải qua giai đoạn phát triển TBCN, nên về mặt kinh tế cũng nằm trong tình trạng như vậy; và do đó hiện nay, những nước này không chỉ thấm thía vế thứ hai mà C.Mác đã nói, tức đau khổ vì nó phát triển chưa đầy đủ, đau khổ vì thiếu nó, mà còn thấm thía cả việc những tai họa do việc kế thừa các phương thức sản xuất cổ xưa, lỗi thời vẫn tiếp tục sống dai dẳng với những quan hệ chính trị và xã hội trái mùa do chúng đẻ ra. Điều này đối với Việt Nam hiện nay thì lại càng rõ.
Trong tác phẩm Đệ tam quốc tế và địa vị của nó trong lịch sử(viết vào tháng 4-1919), V.I.Lênin viết: “Tôi thường có dịp nhắc tới điều đó rằng: so với các nước tiên tiến, thì đối với nước Nga, bắt đầu cuộc đại cách mạng vô sản là một điều có dễ dàng hơn, nhưng tiếp tục cuộc cách mạng đó và đưa nó đến thắng lợi cuối cùng, ý nghĩa là một tổ chức toàn vẹn một xã hội xã hội chủ nghĩa, lại là một điều khó khăn hơn”(8).
V.I.Lênin đã chỉ ra các lý do khiến nước Nga so với những nước tư bản tiên tiến thì bắt đầu cuộc đại cách mạng vô sản là một điều có dễ dàng hơn, trong đó cái quan trọng là tình trạng lạc hậu về kinh tế của nước Nga so với các nước phương Tây. Nhưng điều đặc biệt quan trọng, mà C.Mác, Ph.Ăngghen cuối đời đã phát hiện ra là nước Nga vẫn còn rơi rớt những tàn dư của công xã nông thôn, tức vẫn còn ảnh hưởng của phương thức sản xuất châu Á.
V.I.Lênin viết: “Đương nhiên, kiểm điểm như thế chưa phải là đã đầy đủ... Muốn tiếp tục sự nghiệp kiến thiết xã hội chủ nghĩa và hoàn thành tốt sự nghiệp ấy, thì còn có nhiều việc phải làm. Ở các nước tiến hóa hơn, nơi mà giai cấp vô sản có nhiều thế lực và ảnh hưởng hơn, thìnhững nước Cộng hòa Xôviết ở đó có tất cả mọi cơ hội để vượt nước Nga, khi họ bước vào con đường chuyên chính vô sản”(9). Như vậy, theo V.I.Lênin, việc tiếp tục cuộc cách mạng đó và đưa nó đến thắng lợi cuối cùng, đối với nước Nga lại là một điều khó khăn hơn, và những nước tiên tiến này nếu tiến lên CNXH thì sẽ vượt nước Nga.
Nghiên cứu tình hình cụ thể các nước phương Đông, Hồ Chí Minh cho rằng, với “những lí do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á, dễ dàng hơn là ở châu Âu”(10). Phát hiện mang tính chất dự đoán thiên tài nhưng có cơ sở này của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1921 đến nay vẫn tỏ ra có sức sống, đứng vững và được thực tế chứng minh. Điều này càng chứng minh thêm cho sự bôi nhọ trắng trợn, phi văn hóa, thiếu tính khoa học, một sự vu khống trắng trợn của những người phê phán.
Điểm khác biệt giữa châu Á và châu Âu, giữa phương Đông và phương Tây là ở chỗ: ảnh hưởng của cái gọi là “phương thức sản xuất châu Á” kéo dài, dai dẳng, tạo nên một điểm đặc trưng riêng biệt của phương Đông là việc không có sở hữu tư nhân về ruộng đất trong một thời gian khá dài - cái mà C.Mác cho là “cơ sở” của tất cả các hiện tượng ở phương Đông, còn Ăngghen cho là “chiếc chìa khóa” để hiểu toàn bộ phương Đông. Trong Kính thư có ghi: đất đai dưới trời đâu chẳng là của vua, người trên đất đai ấy ai chẳng là thần dân của vua (Phổ thiên chi hạ mạc phi vương thổ; xuất hải chi tân mạc phi vương thần). GS Trần Đình Hượu sau này cho rằng, cùng với chế độ “lãnh hữu” (chứ không phải “sở hữu” về ruộng đất), các nước phương Đông dễ tiến lên CNXH hơn CNTB.
Nhưng, dễ tiến lên chủ nghĩa xã hội và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, đó là hai việc khác nhau. Cái thứ nhất chỉ là một tiền đề, điều kiện thuận lợi, còn cái thứ hai mới là đích. Từ đó, Hồ Chí Minh cho rằng: thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ, thắng bần cùng, nghèo nàn, lạc hậu còn khó hơn nhiều; cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng vĩ đại, vẻ vang nhất, nhưng là cuộc cách mạng gay go nhất, phức tạp, khó khăn nhất, là cuộc chiến khổng lồ chống lại những gì cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi.
Trên mạng xã hội gần đây, người ta thấyluận điệu “Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa, ngay cả Bộ Chính trị”. Thật là hồ đồ. Nhận thức rõ âm mưu và hoạt động “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng chính trị, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đẩy mạnh cuộc đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong các văn kiện Đại hội thời kỳ đổi mới, Đảng nhiều lần nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình”, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng. Đại hội XII của Đảng đặt ra yêu cầu “tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”(11).
Để thực hiện chủ trương đó, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác tư tưởng, lý luận; chẳng hạn như Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới; Nghị quyết Trung ương 5 khóa X Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới; Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 34-CT/TW “Về tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa”. Tuy nhiên, công tác tư tưởng, lý luận nói chung, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị nói riêng nhằm chống những quan điểm sai trái, thù địch, chống âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch như Đại hội XII của Đảng đã nhận định còn nhiều hạn chế, bất cập. “Chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận chưa cao. Chậm khắc phục có hiệu quả những hạn chế của công tác tư tưởng như thiếu sắc bén, chưa thuyết phục. Đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn bị động, hiệu quả chưa cao”(12).
________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2018           
(1) V.I.Lênin: Toàn tập, t.20, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.99. ­
(2), (3), (4), (5), (6), (10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.509, tr.284, 510, 510, 509-510, 47.
(7) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.19-20.
(8), (9) V.I.Lênin: Toàn tập, t.38, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, Hà Nội 2000,, tr. 367-368, 479.
(11), (12) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.201, 192-198.

GS, TS Nguyễn Hùng Hậu
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/dien-dan/item/2665-phe-phan-su-phe-phan-thieu-tinh-khoa-hoc-doi-voi-chu-nghia-mac-lenin-tu-tuong-ho-chi-minh.html
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH XÂY DỰNG VĂN HÓA TRONG KINH TẾ HIỆN NAY

Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, rằng “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi văn hóa là sức mạnh nội sinh của dân tộc, là động lực để phát triển kinh tế. Vì thế, đầu tư cho văn hóa, gia tăng “hàm lượng văn hóa” trong hoạt động kinh tế cũng như mọi lĩnh vực của cuộc sống là một trong các cách thức để Việt Nam đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như Đảng đã đề ra.
1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế
Khi xem xét mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế, chúng ta đã có sẵn “bàn chỉ nam”là những quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề này. Trong quá trình tiến hành sự nghiệp cứu nước, cứu dân - một sự nghiệp mang tính văn hóa sâu sắc, Hồ Chí Minh không ngừng suy tư về văn hóa. Người cho rằng, cả bốn lĩnh vựckinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội đều quan trọng ngang nhau nên nhất thiết không được xem nhẹ một mặt nào; sự yếu kém, tụt hậu của một lĩnh vực nào đó đều tác động tiêu cực đến sự phát triển của các lĩnh vực khác.
Riêng về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế thì Hồ Chí Minh chỉ rõ: Kinh tế thuộc về hạ tầng cơ sở, văn hóa thuộc thượng tầng kiến trúc nên kinh tế phải đi trước một bước, tạo điều kiện cho văn hóa phát triển. Người viết: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa. Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ ta có câu: có thực mới vực được đạo; vì thế kinh tế phải đi trước”(1). Kinh tế phải đi trước vì con người cần phải ăn, uống, ở, mặc trước khi làm khoa học và sáng tạo nghệ thuật. Sự nghèo nàn về vật chất có thể dẫn đến sự nghèo nàn về tinh thần, mức độ thấp kém của trình độ dân trí.
Mặt khác, với tư duy biện chứng, Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế, không cho rằng văn hóa đóng vai trò thụ động và kinh tế phải phát triển xong rồi mới phát triển văn hóa. Ngược lại, Người luôn khẳng định tính chủ động và vị trí đặc biệt của văn hóa, rằng “văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”(2), phải phục vụ nhiệm vụ chính trị và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế. Khẳng định vai trò lực đẩy của văn hóa đối với kinh tế, Hồ Chí Minh đã viết: “Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp cho chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ”(3). Văn hóa không thể “đứng ngoài” kinh tế nhưng mức độ “ở trong” kinh tế của văn hóa không phải lúc nào và ở đâu cũng như nhau dù rằng hàm lượng văn hóa trong kinh tế cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xã hội sẽ hiện thực và bền vững bấy nhiêu. Sự có mặt của yếu tố văn hóa trong kinh tế còn làm cho kinh tế có tính văn hóa.
Thực tế cho thấy, kinh tế dù đóng vai trò “tiên phong” nhưng không phải lúc nào kinh tế cũng chi phối được văn hóa, không phải lúc nào sự phát triển kinh tế cũng tỷ lệ thuận với sự phát triển của văn hóa. Bằng chứng là trong những năm chiến tranh ác liệt, đời sống kinh tế rất khó khăn nhưng con người vẫn sống đẹp, đẹp đến mức sẵn sàng xả thân mình vì nền độc lập của dân tộc và đối xử với nhau “trọn tình, vẹn nghĩa”. Vậy mà khi kinh tế có sự khởi sắc nhất định nhờ quá trình Đổi mớithìtrong đời sống xã hội lại không thiếu các biểu hiện về sự tụt dốc văn hóa như bùng phát các tệ nạn xã hội và sự phai nhạt tình người. Điều đó cho thấy, các thành tố của văn hóa như tâm lý, đạo đức, niềm tin... không phải lúc nào cũng “ăn nhập”, “đi đôi” với sự phát triển kinh tế. Trong trường hợp đó, văn hóa sẽ kìm hãm, làm lệch kinh tế. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, văn hóa và kinh tế vừa là “nhân”, vừa là “quả” của nhau nên chỉ khi văn hóa và kinh tế hòa quyện, thẩm thấu trong nhau thì kinh tế mới có sự phát triển bền vững và văn hóa mới phát huy được hết sức mạnh tiềm tàng của nó. 
Như vậy, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa ở 2 góc độ: đó là mối quan hệ biện chứng giữa 2 lĩnh vực thiết yếu của đời sống xã hội và là sự xâm nhập, hiện hữu của văn hóa ở trong kinh tế, làm cho hoạt động kinh tế luôn mang tính văn hóa.
2. Sự hiện diện của yếu tố văn hóa trong kinh tế ở nước ta hiện nay
Xem xét thực trạng quan hệ giữa văn hóa và kinh tế ở nước ta hiện nay phải được tiến hành trên 2 phương diện: một là, xem xét mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa với tư cách là hai lĩnh vực thiết yếu, có tính độc lập tương đối trong đời sống xã hội; hai là, xem xét “hàm lượng”văn hóa trong kinh tế, mức độ “ở trong kinh tế”của văn hóa.
Ở phương diện thứ nhất, Đảng ta đánh giá là “văn hóa chưa tương xứng với kinh tế”(4). Để khắc phục hiện tượng đó, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI nhấn mạnh yêu cầu “văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”.
Ở phương diện thứ hai, để đánh giá mức độ hiện hữu của yếu tố văn hóa trong kinh tế, chúng ta phải trả lời một loạt các câu hỏi: Yếu tố văn hóa trong kinh tế đang hiện diện ở các dạng thức nào? Sự phát triển kinh tế trong thời kỳ Đổi mới có song hành với sự gia tăng hàm lượng văn hóa trong kinh tế hay không? Sự tồn tại của các yếu tố văn hóa trong kinh tế có nhất loạt như nhau? Câu trả lời như sau:
- Về các dạng thức biểu hiện của văn hóa trong kinh tế ở nước ta hiện nay
Hiện nay, người ta đang nói đến sức mạnh cứngsức mạnh mềm của văn hóa trong sự phát triển kinh tế. Sức mạnh cứng của văn hóa hiển thị bằng sự ra đời của ngành công nghiệp văn hóa. Trước đây, người ta thường cho rằng văn hóa thuộc thượng tầng kiến trúc và chỉ tác động đến kinh tế một cách gián tiếp thông qua hoạt động của con người. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường, việc ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu khoa học - công nghệ vào việc sản xuất đại trà các sản phẩm văn hóa đã dẫn đến sự ra đời của một ngành công nghiệp mới trong nền kinh tế quốc dân - ngành công nghiệp văn hóa. Trong những năm Đổi mới, ở Việt Nam đang dần hình thành thị trường văn hóa và ngành công nghiệp văn hóa khi đã xuất hiện các hãng phim tư nhân, các công ty giải trí, các công ty tổ chức sự kiện, các gallery, các công ty lữ hành, các công ty thiết kế, thời trang, nghệ thuật biểu diễn... Từ đây, nhiều sản phẩm văn hóa đã trở thành hàng hóa với mục tiêu lợi nhuận chứ không chỉ nhằm mục đích truyền bá tư tưởng hay nâng cao dân trí như trước. Với sự ra đời của ngành công nghiệp văn hóa, văn hóa đã trở thành sức mạnh vật chất của nền kinh tế Việt Nam.
Tiếp đó, nói đến văn hóa là nói đến đời sống tinh thần nên sức mạnh mềm của văn hóa chính là tri thức, khả năng tư duy - sáng tạo, đạo đức, lý tưởng, cách ứng xử của mỗi con người và tất cả các yếu tố đó sẽ tác động đến kinh tế thông qua hoạt động của con người. Trong giai đoạn hiện nay, yếu tố văn hóa trong kinh tế được kết tinh thành một số dạng thức đặc biệt của văn hóa như văn hóa kinh doanh - văn hóa doanh nghiệp - đạo đức doanh nhân, văn hóa tiêu dùng, văn hóa quản lý kinh tế, văn hóa hợp tác kinh tế thế giới mà đáng nói nhất chính làvăn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp. 
Trong thời kỳ Đổi mới, xu hướng dân chủ hóa trong kinh tế đã dẫn đến sự khôi phục, phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân. Văn hóa doanh nghiệp dần được hình thành với những tiêu chí nổi bật như lối kinh doanh trung thực, ngay thẳng, sự cạnh tranh lành mạnh, sự cố gắng nâng cao giá trị sản phẩm, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, ý thức bảo vệ môi trường, nâng cao đạo đức doanh nhân, sự gia tăng hợp tác kinh tế trên quy mô quốc tế... với mục tiêu cuối cùng là làm cho cái lợi gắn chặt với cái đúng, cái đẹp; lợi ích của doanh nhân gắn kết với lợi ích của cộng đồng xã hội. Xây dựng triết lý kinh doanh lành mạnh để mọi người đồng lòng thực hiện là điều căn cốt nhất trong văn hóa doanh nghiệp và điều này đang được nhiều doanh nghiệp hết sức quan tâm. Trong thời gian qua, các danh hiệu “Sao đỏ”, “Sao vàng đất Việt”, giải thưởng Bạch Thái Bưởi và danh hiệu doanh nhân đất Việt thế kỷ XXI đã ra đời để thể hiện sự ghi nhận và tôn vinh của xã hội đối với các doanh nghiệp, doanh nhân điển hình về việc họ đã kinh doanh một cách có văn hóa.
- Về “hàm lượng”văn hóa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Sau 30 năm Đổi mới, ở nước ta đã và đang hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những thành tựu không ai có thể phủ nhận. Tuy nhiên, không phải cứ kinh tế phát triển thì văn hóa sẽ khởi sắc. Xem xét nhiều khía cạnh của đời sống kinh tế ở nước ta, chúng ta nhận thấy ở nước ta yếu tố văn hóa còn mờ nhạt so với mức độ tăng trưởng kinh tế, thậm chí kinh tế có tăng trưởng nhưng đạo đức - thành tố quan trọng nhất của văn hóa lại có những biểu hiện xuống cấp. 
Có thể nhận diện một số biểu hiện của nó là: 
+ Trong lĩnh vực sản xuất - kinh doanh: Tâm lý làm giàu bằng mọi giá đã dẫn đến những cách kinh doanh phản văn hóa, đi ngược lại pháp luật như buôn lậu, sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng hoặc độc hại đối với con người, kinh doanh không giấy phép, bóc lột quá sức người lao động, khai thác bừa bãi tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân. Số lượng các doanh nghiệp thực hiện lối kinh doanh có văn hóa còn ít. Sự phổ biến về lối làm ăn chộp giật, bất chấp đạo lý là biểu hiện của sự suy đồi về văn hóa trong kinh tế.
Trong các tập đoàn kinh tế nhà nước, sự suy giảm của yếu tố văn hóa cũng hiển hiện rất rõ khi nhiều tập đoàn không phát huy được vai trò tiên phong, tiềm lực to lớn của mình mà sa vào thua lỗ triền miên do sự thiếu trách nhiệm trong quản lý kinh tế, do sự tham nhũng ở quy mô lớn, do chiến lược đầu tư sai lầm khi “lấn sân”sang các lĩnh vực khác không phải là lợi thế của mình. Thống kê cho thấy, chỉ riêng trong ngành công thương, hiện có 12 dự án với tổng đầu tư là 63.610 tỷ đồng đang thua lỗ, phải “đắp chiếu”vì càng vận hành càng lỗ. Tất cả đã dẫn đến sự thất thoát nguồn lực khổng lồ của đất nước. Trong văn hóa, đạo đức và tinh thần trách nhiệm là nội dung quan trọng nhất thì điều này đang rất thiếu vắng ở các đơn vị kinh tế nhà nước.
+ Trong quản lý kinh tế thì trình độ và đạo đức của những người làm công tác quản lý đang ở mức báo động khi nhiều người trong số họ lại là những kẻ tham nhũng, cố ý làm trái hoặc tiếp tay cho việc làm trái. Sự tiêu cực bộc lộ rõ nhất trong các lĩnh vực nhạy cảm của nền kinh tế quốc dân như quản lý đất đai, ngân hàng, đầu tư xây dựng. Đó còn là sự nhũng lạm của các cán bộ quản lýcác cấp và điều này làm các doanh nghiệp tốn kém một lượng tiền không nhỏ vào việc “bôi trơn”, “làm luật”(thực chất là chống luật, lách luật). Ở lĩnh vực quản lý thị trường, sự yếu kém về năng lực quản lý lại dẫn đến hiện tượng hoặc phó mặc cho thị trường tự phát hoặc cái gì không quản lý được thì cấm; sự yếu kém về đạo đức lại dẫn đến việc thất thoát thuế, “cưa đôi thuế”, thuế chồng thuế. Sự thừa quyền lực mà thiếu đạo đức và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế chính là biểu hiện rõ nét của việc suy giảm hàm lượng văn hóa trong kinh tế ở nước ta hiện nay. 
+ Trong lĩnh vực tiêu dùng thì sự yếu kém về văn hóa thể hiện ở sự hoang phí, phô trương, chạy theo ham muốn của “xã hội tiêu dùng”, tâm lý sùng ngoại quá mức, chạy theo thị hiếu tầm thường, a dua theo phong trào và thiếu thông thái khi lựa chọn các sản phẩm tiêu dùng của một bộ phận không nhỏ dân chúng. Đó là còn chưa nói đến thị hiếu thấp kém, ấu trĩ của một số người mắc bệnh “thừa tiền nhưng thiếu văn hóa”. Hồ Chí Minh hết sức sâu sắc khi cho rằng “phương thức sử dụng” các công cụ sinh hoạt hàng ngày cũng chính là văn hóa. Cái ăn, cái mặc, phương tiện giao thông là văn minh vật chất nhưng ăn mặc thế nào, đi lại ra sao lại là văn hóa. Vì thế, cách thức tiêu dùng chưa hợp lý, khôn ngoan cũng thể hiện sự thiếu hụt của hàm lượng văn hóa trong đời sống kinh tế ở nước ta.
+ Trong hợp tác quốc tế về kinh tế: Do sự non yếu trong kinh nghiệm cũng như sự kém am hiểu luật pháp quốc tế, các doanh nghiệp của ta khi tham gia thị thường quốc tế thường bị thua thiệt. Vô tình, nhiều doanh nghiệp trở thành kẻ đi vay nặng lãi, dần dần mất hết cả vốn đối ứng và bị doanh nghiệp nước ngoài thâu tóm. Đó còn chưa nói đến sự tham nhũng, lợi ích nhóm, vị kỷ và sự kém hiểu biết của một số người đứng đầu doanh nghiệp đã biến Việt Nam trở thành nơi tiêu thụ hàng hóa ế thừa, hàng quá hạn sử dụng và nơi tiếp nhận những công nghệ lạc hậu. Sự lo ngại Việt Nam trở thành “bãi rác của thế giới”không phải là không có cơ sở.
Nhìn chung, sự thiếu hụt hàm lượng đạo đức trong kinh tế vào lúc kinh tế vẫn tạm thời tăng trưởng đã làm nhiều người cho rằng chúng ta đang thừa văn minh vật chất mà thiếu văn hóa. Điều này lý giải vì sao mô hình tăng trưởng kinh tế của nước ta trong nhiều năm qua chủ yếu là theo chiều rộng, tức là dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên và vốn đầu tư lớn chứ chưa phải là đầu tư theo chiều sâu, do phát huy nguồn lực con người - một sản phẩm đặc biệt của văn hóa. 
- Về sự hiện hữu không đồng đều của các thành tố văn hóa trong kinh tế
Trong văn hóa có 2 thành tố chủ đạo là tri thức khoa học và đạo đức nhưng sự tham gia của chúng vào sự phát triển kinh tế hiện không nhất loạt như nhau. Trong nền kinh tế thị trường, khoa học - công nghệ, đặc biệt là khoa học ứng dụng đã phát triển khá nhanh để phục vụ cho sản xuất và đây là một nhân tố dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế. Trong khi đó, đạo đức, lối sống lại giảm sút và đó chính là nguyên nhân của việc tăng trưởng thiếu bền vững. Thực tế cho thấy, nếu thiếu “vốn đạo đức”thì tiền vốn vay của nước ngoài và của việc huy động trong dân cũng sẽ bị thất thoát, mọi thành tựu của khoa học - công nghệ sẽ không được phát huy, mọi quy chế vận hành của nền kinh tế cũng bị làm méo mó. Nếu sự thiếu hụt này cứ duy trì thì sớm muộn đất nước sẽ rơi vào sự suy thoái toàn diện. Thực tế đã kiểm nghiệm chân lý mà Hồ Chí Minh đã đúc kết, rằng đạo đức là tiền đề để vươn tới tri thức, thực sự có đức thì cái tài sẽ đến. Vì thế, nâng cao nhân tố đạo đức trong mỗi con người với tư cách là chủ thể của hoạt động kinh tế đang là điều hết sức cấp bách của nền kinh tế Việt Nam.
3. Một số giải pháp nâng cao hàm lượng văn hóa trong kinh tế ở nước ta hiện nay
Ngày nay, trong thời đại của kinh tế tri thức, yếu tố chính mang lại sự tăng trưởng kinh tế là trí tuệ, tri thức, năng lực sáng tạo và đạo đức, ý thức trách nhiệm của người làm kinh tế, mà tất cả những năng lực này đều nằm trong các yếu tố cấu thành văn hóa. Vì thế, Hội nghị Trung ương 9 khóa XI đã xác định phải “thường xuyên quan tâm xây dựng văn hóa trong kinh tế”, làm cho các yếu tố cấu thành văn hóa thấm sâu vào tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế, làm cho mọi hoạt động kinh tế đều dựa trên động lực văn hóa và hướng tới mục tiêu văn hóa. Muốn vậy thì các chủ thể hoạt động kinh tế phải chú trọng một số giải pháp sau đây:
-Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN theo hướng gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa và thay đổi phương thức quản lý văn hóa của nhà nước.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là tổng thể các bộ quy tắc, luật lệ và hệ thống các thực thể, các tổ chức kinh tế nhằm điều chỉnh hoạt động kinh tế trên thị trường với mục đích phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là vấn đề mới, phức tạp và để đạt mục đích đó thì Nhà nước phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp nhưng nhất thiết phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế theo hướng bảo đảm sự công bằng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển. Việc hoàn thiện thể chế phải theo hướng gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước phát triển, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường. Phải có cơ chế và nhất là các chế tài để ngăn chặn sự nhũng lạm, gây khó dễ của các cán bộ quản lý đối với các doanh nghiệp, phải tránh hiện tượng “trên rải thảm, dưới rải đinh”.
Để nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân và qua đó dần dần làm cho văn hóa ngày càng thấm sâu vào hoạt động kinh tế, nhà nước cũng phải thay đổi cách quản lý lĩnh vực văn hóa. Từ chỗ quản lý trực tiếp các đơn vị văn hóa và hoạt động văn hóa như trước đây, giờ nhà nước phải kiểm soát và điều chỉnh ở tầm vĩ mô bằng việc đề ra hệ thống luật pháp, pháp quy và sau đó giám sát việc thực hiện. Với các hoạt động văn hóa công ích như thư viện, bảo tàng và các loại hình nghệ thuật bậc cao như văn học, nhạc giao hưởng, vũ ba lê... - những loại hình văn hóa khó thu được lợi nhuận trong cơ chế thị trường thì nhà nước phải bảo vệ và nâng đỡ. Với một số lĩnh vực văn hóa liên quan đến hệ tư tưởng và chủ quyền văn hóa quốc gia như báo chí, xuất bản, đài phát thanh, đài truyền hình thì chủ yếu vẫn phải do nhà nước điều hành. Dân chủ, kỷ cương, minh bạch là những tiêu chí trong văn hóa quản lý mà Nhà nước phải hướng tới. 
- Tiếp tục xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức doanh nhân với triết lý kinh doanh văn minh, lành mạnh. 
Văn hóa doanh nghiệp là những giá trị của doanh nghiệp được các thành viên trong cộng đồng doanh nghiệp chấp nhận mà điểm mấu chốt chính là đạo đức kinh doanh.Văn hóa doanh nhân là biểu hiện nhân cách của doanh nhân trong sản xuất kinh doanh mà điểm nổi trội là sự ý thức của họ về trách nhiệm đối với cộng đồng, đất nước. Hai thành tố trên đã hiện hữu trong đời sống văn hóa ở nước ta nhưng vẫn cần tiếp tục đẩy mạnh và củng cố để những nét đẹp đó trở thành nền tảng của mọi doanh nghiệp, lẽ sống của mọi doanh nhân. Một điều cần lưu ý là kinh doanh trong thời kỳ hội nhập cao độ, các doanh nhân Việt Nam phải nâng cao sự hiểu biết và kỹ năng giao tiếp trong môi trường xuyên văn hóa, đa văn hóa để có sự ứng xử phù hợp. Thực tế cho thấy, nhiều khi chỉ vì sự thiếu hiểu biết về văn hóa của các đối tác mà các doanh nghiệp Việt Nam mất đi những cơ hội quý báu.
- Tiếp tục đẩy mạnh ngành công nghiệp văn hóa ở nước ta.
Trong những năm Đổi mới, thị trường văn hóa nghệ thuật đang từng bước được hình thành và ngành công nghiệp văn hóa đã ra đời ở Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành công nghiệp mới này còn gặp nhiều khó khăn như cơ chế quản lý chưa đồng bộ, quy mô hoạt động của các doanh nghiệp văn hóa còn nhỏ. Ngày nay, phát triển công nghiệp văn hóa là xu thế của thế giới hiện đại và cũng là biện pháp để tối ưu hóa cơ cấu nền công nghiệp nước nhà, nâng cao văn hóa quốc dân, quảng bá văn hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế. Muốn vậy, Nhà nước phải có sự quan tâm và ưu tiên đặc biệt cho ngành công nghiệp văn hóa và phải hoàn thiện hơn nữa luật về quyền sở hữu trí tuệ để bảo vệ giá trị của các sản phẩm văn hóa và khuyến khích sự sáng tạo của các nhà sản xuất văn hóa.
- Nâng cao văn hóa tiêu dùng của nhân dân.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều khó khăn, sự cạnh tranh thị phần đang diễn ra gay gắt giữa các doanh nghiệp trong nước và thế giới, cần phát động phong trào “người Việt dùng hàng Việt” để tiếp sức, động viên các doanh nghiệp Việt Nam. Mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội phải trở thành người tiêu dùng thông thái, có ý thức tiết kiệm để tái đầu tư cho sản xuất.
- Tiến hành cải cách mạnh mẽ nền giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao tố chất “người” trong mỗi chủ thể hoạt động kinh tế.
Sự ra đời của kinh tế tri thức đã chuyển nền văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ. Tuy nhiên, tri thức con người không tự nhiên có được mà phải là sản phẩm của hoạt động giáo dục, đào tạo. Trong những năm qua, nền giáo dục Việt Nam đã nhiều lần cải cách nhưng chất lượng đào tạo nhìn chung vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của hoạt động kinh tế hiện đại khi tính độc lập, sáng tạo trong tư duy và kỹ năng thực hành của học sinh, sinh viên còn yếu, sự ý thức về bổn phận và trách nhiệm công dân của họ chưa cao. Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (năm 2013) đã ban hành nghị quyết số 29 về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo với mục đích nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Nhiệm vụ đã đặt ra và phải được thực hiện với quyết tâm cao độ và sự thận trọng cần thiết. 
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nhờ nội lực văn hóa mà dân tộc ta đã làm nên nhiều kỳ tích và ngày nay, cái bẫy thu nhập trung bình vốn rất khó vượt sẽ chỉ bị khuất phục bởi sức mạnh của văn hóa. Với sức mạnh cứng đang đầy triển vọng là ngành công nghiệp văn hóa, với sức mạnh mềm là tri thức, đạo đức, nhân văn, tính thẩm mỹ..., văn hóa sẽ thúc đẩy sản xuất và ngăn chặn những hiện tượng phản văn hóa trong đời sống kinh tế đất nước. Văn hóa mang trong mình cả sức mạnh thúc đẩy cái đẹp lẫn sức mạnh đẩy lùi cái xấu nên gia tăng hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống để đất nước phát triển bền vững là yêu cầu vừa cấp bách, vừa lâu dài của nước ta hiện nay.
________________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luân chính trị số 7 -2018
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.470.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.246.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.458-459.
(4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.169.

PGS, TS Trần Thị Minh Tuyết
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/bai-noi-bat/item/2676-van-dung-tu-tuong-ho-chi-minh-xay-dung-van-hoa-trong-kinh-te-hien-nay.html

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...