Thứ Hai, 20 tháng 8, 2018


ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC LÀ CHIẾN LƯỢC NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ CÁCH MẠNG
Khánh Anh
Thời gian gần đây trên trang Dân làm báo, bút danh Phạm Đình Trọng có bài viết “Không thể có hòa giải khi cái ác còn ngự trị”, trong đó có đoạn “…, người đứng đầu hội Nhà Văn của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh tiếng mời gọi các nhà văn người Việt ở nước ngoài về nước mở hội hòa giải, hòa hợp dân tộc vào dịp giỗ Vua Hùng và 43 năm ngày thống nhất đất nước”…, với mục đích “góp phần làm giàu các giá trị truyền thống của dân tộc, xứng đáng để chúng ta vượt qua mọi xa cách và trở ngại, cùng ngồi lại với nhau trong tình đồng nghiệp” (trích nội dung thư mời của Hội nhà văn Việt Nam). Nếu chỉ như vậy thì không phải bàn luận gì thêm. Nhưng vì mục đích chia rẽ đoàn kết, hòa hợp dân tộc bằng sự kích động hận thù dân tộc mà Phạm Đình Trọng đã cố tình xuyên tạc, phủ nhận mục đích nhân văn, nhân đạo của Hội nhà văn Việt Nam tổ chức cuộc gặp mặt này với những cáo buộc rằng: “làm giàu các giá trị truyền thống của dân tộc chỉ là cách nói văn vẻ, hoa mỹ và sáo rỗng, cách nói né tránh, lừa mị, giấu ý đồ thực vốn là thuộc tính của những người cộng sản”. Thật thô thiển khi Phạm Đình Trọng còn viết: “Nếu gặp để làm lành, gặp để hòa giải và phục thiện thì dù là cuộc gặp của cái ác với nạn nhân của cái ác cũng đáng gặp và cần gặp. Nhưng có phải gặp để làm lành, để hòa giải, để cái ác phục thiện?”. Đây là dã tâm gieo rắc hận thù của Phạm Đình Trọng.
Vì sao? Chúng ta đều biết, kể từ khi có Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lòng yêu nước và sự nhân ái của nhân dân luôn được coi trọng như nền tảng tinh thần cho sự đoàn kết, hòa hợp dân tộc. Minh chứng là, ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trong khi phải lo đối phó với thù trong, giặc ngoài, trước những lo lắng của đồng bào cả nước, nhất là đồng bào Nam Bộ khi biết tin Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ cùng đoàn đại biểu Nhà nước Việt Nam sang Pháp để mở cuộc đàm phán chính thức, nên trong thư gửi đồng bào Nam Bộ (01/06/1946) Người viết: “đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang”. Nội dung bức thư đã thể hiện rõ tư tưởng đoàn kết, hòa hợp dân tộc, nhất là lòng nhân ái, khoan hồng đại độ của Người trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Tư tưởng đó tiếp tục được Đảng, Nhà nước Việt Nam vận dụng thực hiện trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đặc biệt khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng, Nam Bắc thống nhất một nhà. Bước vào thời kỳ đổi mới, bám sát tình hình và nhu cầu thực tiễn, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã kịp thời xác định nhiều chủ trương, chính sách về đoàn kết, hòa hợp dân tộc. Hội nghị Trung ương 7 khóa IX đã ban hành Nghị quyết 23-NQ/TW vào ngày 12/03/2003 về “phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; Nghị quyết 24-NQ/TW về“công tác dân tộc”; đặc biệt Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về“công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”,khẳng định: Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước. Đây là quan điểm định hướng chiến lược làm cơ sở thống nhất về nhận thức, tư tưởng, tổ chức, chính sách để thực hiện đoàn kết, hòa hợp dân tộc. Cho đến nay, những định hướng đó đang từng bước được hiện thực hóa.
Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định sự nhất quán các quan điểm, chủ trương của Đảng về đoàn kết, hòa hợp dân tộc, trong đó xác định: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh làm điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; truyền thống nhân nghĩa, khoan dung đề cao tinh thần dân tộc, để tập hợp mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội”. Tại Đại hội XII, Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước…”.
Dẫn ra những quan điểm chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đoàn kết, hòa hợp dân tộc để thấy rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm xây dựng, củng cố, tăng cường đại đoàn kết dân tộc. Vì vậy, Phạm Đình Trọng cho rằng: “Đảng cộng sản cầm quyền chưa hòa giải được với người dân trong nước đang đóng thuế nuôi nấng Đảng làm sao Đảng cộng sản có thể hòa giải được với người dân phải bỏ nước ra đi chạy trốn cái ác cộng sản”. Đây là sự cố tình xuyên tạc sự thật về chính sách đoàn kết, hòa hợp dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm mục đích kích động hận thù dân tộc, cần phải được vạch trần và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ./.


ĐẤU TRANH CHỐNG XUYÊN TẠC,
HẠ BỆ THẦN TƯỢNG HỒ CHÍ MINH
Khánh Anh
Không phải đến bây giờ, mà đã từ lâu, các thế lực thù địch đã luôn xuyên tạc, bôi nhọ cả về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh; cho rằng, Hồ Chí Minh có tiểu sử không rõ ràng, đạo đức thấp kém, không phải là nhà tư tưởng, nếu có thì đó là tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cực đoan, không mang bản chất, thậm chí đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin, chỉ lý thuyết, giáo điều, v.v. Và rằng, Hồ Chí Minh không có di sản nào, thay vào đó là những “di họa”. Chúng xuyên tạc, chống phá những di sản trực tiếp mà Hồ Chí Minh để lại, từ tư tưởng - sự nghiệp giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa, cho đến những giá trị và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người.
Có thể khẳng định, chúng không từ âm mưu, thủ đoạn nào để hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh. Vì vậy, đề ra giải pháp đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của chúng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết, là trách nhiệm chính trị, đòi hỏi cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong tình hình mới
Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đây là vấn đề cơ bản, quyết định đến chất lượng bảo vệ, đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Theo đó, cần tập trung làm rõ Hồ Chí Minh từ một người yêu nước, cách mạng chân chính, trải qua hoạt động thực tiễn đã tiếp thu và tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào yêu nước, phong trào công nhân Việt Nam; là người tổ chức thành lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Người, Đảng đã giương cao ngọn cờ ĐLDT và CNXH, lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩ đại. Điều đó chứng minh rằng, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào phong trào cách mạng Việt Nam, tạo nền tảng để kiến tạo thời đại mới của dân tộc Việt Nam - thời đại Hồ Chí Minh.
Ngày nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, đòi hỏi phải tiếp tục làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thấm sâu, trở thành nền tảng chính trị - tinh thần chủ đạo của xã hội. Vì thế, cần có hình thức tuyên truyền, giáo dục phù hợp. Quá trình thực hiện, phải kiên trì, liên tục, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, thiết chế văn hóa từ Trung ương đến địa phương, cơ sở; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, tuyên truyền thường xuyên với giáo dục theo chủ đề, chuyên đề, mô hình, cách làm cụ thể, thiết thực, phù hợp với từng đối tượng. Lấy việc nêu gương của đội ngũ cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp thông qua những hành động cụ thể, hằng ngày để thu hút nhân dân cùng tham gia. Đẩy mạnh xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực hành dân chủ, bảo đảm dân sinh, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, tạo sức đề kháng vững chắc trong nhân dân. Bên cạnh đó, phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục về âm mưu, nội dung, phương thức, thủ đoạn chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch; chủ động trang bị cho nhân dân cách phòng, chống. Đổi mới, đa dạng hình thức tuyên truyền đối ngoại để người Việt Nam ở nước ngoài và nhân dân thế giới nhận thức rõ về sự vĩ đại của Hồ Chí Minh, thông qua việc đào tạo ngành Việt Nam học ở trong và ngoài nước; qua các công trình, đài tưởng niệm, đường phố, trường học, di tích,… về Hồ Chí Minh ở Việt Nam và thế giới để các tổ chức quốc tế, nhân dân thế giới hiểu biết nhiều hơn về Việt Nam và Hồ Chí Minh.
Hai là, nâng cao chất lượng nghiên cứu, phát triển tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, v.v. Vì thế, tiếp tục nghiên cứu, xây dựng nguồn lực thông tin, lý luận đầy đủ, chắc chắn, đúng đắn về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là vấn đề nền tảng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, Nhà nước. Thực hiện tốt vấn đề này, không chỉ giúp chúng ta có được những thông tin đúng đắn về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, mà còn loại bỏ các thông tin sai trái, phản động. Nếu không làm tốt nhiệm vụ này sẽ trực tiếp, hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng cuộc đấu tranh nói trên; thậm chí, trở thành cái cớ để luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh có dịp “bung nở”. Vì thế, cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển một cách toàn diện, đồng bộ về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng và trong xã hội.
Ba là, không ngừng bổ sung, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu xây dựng Đảng, đất nước trong tình hình mới. Cùng với nghiên cứu làm rõ tính cách mạng, khoa học của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cần bổ sung, phát triển, làm cho tư tưởng của Người có sức sống mạnh mẽ trong hiện thực, trở thành động lực thúc đẩy đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước và mỗi người dân Việt Nam. Đảng ta đã vận dụng chủ nghủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đề ra đường lối, phương pháp lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cho nên, sức sống của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nằm trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam. Xây dựng Đảng ta “đạo đức và văn minh”, mỗi cán bộ, đảng viên “vừa hồng, vừa chuyên”, thực sự là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; đủ khả năng đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, tổ chức lãnh đạo Nhà nước và xã hội đạt được mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là đã bổ sung, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì thế, các cấp cần đẩy mạnh thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII) về xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; làm tốt công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh có sức sống mãnh liệt trong đời sống xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quá trình đó, cần nghiên cứu làm rõ mô hình, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; giá trị đích thực của các nguyên lý, luận điểm mà C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh đã khái quát; bổ sung, làm phong phú thêm những vấn đề mà đương thời các ông chưa có điều kiện phát triển, v.v. Qua đó, cung cấp luận cứ khoa học cho cuộc đấu tranh, phê phán những quan điểm, tư tưởng xuyên tạc về Hồ Chí Minh.
Bốn là, cung cấp kịp thời, quản lý hiệu quả nguồn thông tin. Các cấp cần chủ động cung cấp đầy đủ, kịp thời những thông tin chính thống cho nhân dân, kiên quyết không để bị động, đi sau, góp phần triệt tiêu mọi sự xuyên tạc, bóp méo thông tin. Cơ quan tuyên giáo, thông tin, truyền thông và cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần quản lý, kiểm soát chặt chẽ mọi thông tin, đảm bảo mọi thông tin về Hồ Chí Minh đến với nhân dân đều chính xác. Đồng thời, đẩy mạnh định hướng dư luận, phổ biến pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước; siết chặt quản lý, nhất là ở khâu biên tập nội dung, in ấn xuất bản. Thực hiện tốt Quy chế người phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí. Đặc biệt, trong công tác quản lý cán bộ, đảng viên, phải thực hiện nghiêm túc các quy định, nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, nhất là trong kỷ luật phát ngôn, quản lý tài liệu.
Đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh là tình cảm thiêng liêng, trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, góp phần tạo sức mạnh tổng hợp của xã hội, sự đồng lòng trong nhân dân, đảm bảo cho cuộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người sẽ giành thắng lợi.

Thứ Sáu, 17 tháng 8, 2018


PHẢI CHĂNG CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HOÀN CẢNH VIỆT NAM?
                                                        
Trọng Cao
Trong những năm qua, xuất hiện quan điểm xuyên tạc cho rằng: “việc du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là nguyên nhân của mọi tai hoạ, đưa đất nước vào vòng tăm tối, trì trệ”.
Rõ ràng, quan điểm trên đây là hoàn toàn sai lầm về mặt khoa học, phản động về mặt chính trị của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Chúng ta, nhất là mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ quan điểm sai trái trên.
Thực tiễn đã chứng minh: Đảng Cộng sản Việt Nam hơn ba phần tư thế kỷ qua cũng như hiện nay luôn phấn đấu hy sinh để cốt làm sao cho đất nước được hoàn toàn độc lập, nhân dân được ấm no, dân tộc vươn lên sánh vai với bạn bè năm châu. Chính nhờ được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ với tinh hoa truyền thống dân tộc và nhân loại mà Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩ đại, làm cho đất nưóc ngày càng phát triển, lập nên nhiều kỳ tích vang dội trong thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI. Đó là thực tế. Đó cũng là lý do giải thích vì sao Đảng ta kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin.
Khi bước vào thời kỳ đổi mới, trong nghiên cứu ở nưóc ta có ý kiến e ngại rằng, nếu nói lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nến tảng tư tưởng thì có sợ hạn chế việc phát triển lý luận của Đảng Cộng sản hay không? Hay chỉ cần coi đó là kim chỉ nam cho hành động là đủ vì điều này phù hợp với ý của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin.
Để hiểu đúng vấn đề này, chỉ có một cách tốt nhất là trở về với cách hiểu, cách giải thích, cách vận dụng, cách phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin ở Hồ Chí Minh. Người đã nêu một số ý tổng quát:
- Nắm chủ nghĩa Mác - Lênin là nắm lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin không cần phải nhớ nhiều sách, thuộc nhiều câu chữ của chủ nghĩa Mác Lênin, mà phải dùng lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết, vận dụng những vấn đề của cách mạng nước ta và thời đại đang đặt ra.
Lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin là lập trường cách mạng triệt để; quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin là quan điểm khoa học, xuất phát từ thực tiễn, phát hiện quy luật và làm theo quy luật; phương pháp cách mạng của Mác - Lênin là phương pháp biện chứng. Đây cũng là lập trường, quan điểm và phương pháp của tư tưởng Hồ Chí Minh mà chúng ta cần phải nắm vững.
Về quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong những năm đổi mới, chúng ta đã tiến thêm một bước là đặt vấn đề phải phân biệt:
- Những luận điểm nào của Mác - Lênin trước kia đúng bây giờ vẫn đúng và lâu dài về sau tiếp tục vẫn đúng.
- Những luận điểm nào trước kia đúng, nhưng điều kiện lịch sử hiện nay thay đổi, không còn phù hợp, cần phải bổ sung, phát triển hoặc thay đổi.
- Những luận điểm, mà Mác - Lênin đã phát hiện thấy sai và đã sửa.
- Những luận điểm nào của Mác - Lênin mà chúng ta đã hiểu không đầy đủ, hoặc hiểu sai do bản thân chúng ta nghiên cứu không thấu đáo hoặc hiểu theo cách hiểu không đúng của người khác, đảng khác.
Đây là những vấn đề lớn, không thể làm được tất cả ngay một lúc, mà phải dày công nghiên cứu mới dần dần làm sáng tỏ được. Cũng phải trải qua thực tiễn đổi mới ở nước ta cùng với thực tiễn cách mạng các nước và những biến đổi của thế giới mới có thể đi đến những kết luận đúng đắn.


KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH PHÊ PHÁN BÁC BỎ CÁC QUAN ĐlỂM
PHỦ NHẬN TÍNH KHOA HỌC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
Trọng Cao
Thời gian qua, những người bài bác chủ nghĩa Mác - Lênin tiếp tục tung ra các quan điểm cố chứng minh rằng: C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin không phải là các nhà khoa học. Họ cố tình xuyên tạc rằng, “chủ nghĩa Mác chỉ là một thứ ý thức hệ hư ảo”, “một thứ nói dối có ý thức”, “những vở kịch trá hình”, “chứa đầy tính chất huyễn tưởng”; còn V.I.Lênin thì làm tăng sự huyễn tưởng ấy của C.Mác “lên hơn một lần”; rằng “Mác và Lênin là những nhà xã hội duy tâm, siêu hình và không tưởng”, chủ nghĩa Mác - Lênin là “ảo tưỏng”, “giả tưởng”!...
Bất chấp những luận điệu xuyên tạc nói trên, thực tiễn đã chứng minh chủ nghĩa Mác - Lênin là một khoa học, hơn nữa là một khoa học biện chứng, hiện đại, khoa học về những quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội, về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bóc lột, về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin chính là ở sự chân xác về khoa học, ở tính toàn diện, tính hệ thống, tính biện chứng của nó nhằm mục đích giải phóng người lao động, giải phóng xã hội khỏi mọi ách áp bức bóc lột, mọi sự tha hoá, thực hiện một xã hội công bằng, nhân đạo.
Với linh hồn sống là phép biện chứng duy vật, với hòn đá tảng kinh tế là học thuyết giá trị thặng dư, với những phát kiến vĩ đại về chủ nghĩa duy vật lịch sử mà nội dung cơ bản là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, vai trò lịch sử của giai cấp công nhân,... chủ nghĩa Mác - Lênin cho đến nay vẫn là đỉnh cao của trí tuệ loài người, là khoa học chính xác và hoàn bị, chưa có gì thay thế được. Cho dù có phải bổ sung, phát triển hoàn thiện thêm (đây là điều tất yếu) thì những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện ngày nay vẫn đúng. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân và nhân dân lao động bị áp bức trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng mình. Cho dù có những kẻ cố tình bóp méo, xuyên tạc thì chủ nghĩa Mác - Lêmn vẫn có sức sống dẻo dai và giá trị bền vững, xanh tươi của nó.
Việc chủ nghĩa Mác - Lênin bị tấn công, bị xuyên tạc không có gì là khó hiểu cả. Từ năm 1913, V.I.Lênin đã nói về chủ nghĩa Mác rằng: Trong toàn thế giới văn minh, học thuyết của Mác đã gây ra cừu địch mạnh nhất và lòng căm thù toàn thế giới khoa học tư sản... Không thể trông mong có một thái độ nào khác thế được, vì trong một xã hội xây dựng trên đấu tranh giai cấp thì không thể có một khoa học xã hội “vô tư”... Mong đợi một khoa học vô tư trong một xã hội xây dựng trên chế độ nô lệ làm thuê là một sự ngây thơ khờ khạo.
Việc các thế lực thù địch bài bác chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ càng chứng tỏ tính đúng đắn, tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, điều mà các nhà tư tưởng chống cộng rất lo sợ. Và cứ mỗi lần phải đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng đối lập thì chủ nghĩa Mác - Lênin lại một lần nữa tỏ rõ sức sống mãnh liệt của mình. Chủ nghĩa Mác - Lênin chẳng những phải đấu tranh chống lại những quan điểm tư tưởng tư sản phản động mà còn phải đương đầu với những khuynh hướng sai lầm trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, như: “chủ nghĩa xã hội Vương quốc Phổ” của phái Latxan ở Đức, chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản của phái Pruđông ở Pháp và ở Bỉ; chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh của các thủ lĩnh công đoàn Anh; chủ nghĩa phiêu lưu “tả” khuynh của những người cộng sản Đức; chủ nghĩa vô chính phủ của phái Bacunin ở Nga; chủ nghĩa dân tộc tư sản trên các vấn đề chiến tranh và thuộc địa...; và ngày nay, là đủ các thứ “trào lưu”, như chúng ta đã biết.
Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn đang có sức hấp dẫn, chinh phục hàng tỷ con người trên hành tinh này bởi tính khoa học, tính cách mạng và tính nhân đạo sâu sắc của nó. Những luận điệu xuyên tạc nói trên hoàn toàn sai lầm về mặt khoa học, phản động về mặt chính trị của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị.

Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2018


BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
                                                                   An Nhiên
Hồ Chí Minh -  Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, Người con ưu tú nhất của dân tộc, linh hồn của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, lãnh tụ vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những đóng góp của Người cho dân tộc, cho nhân dân Việt Nam là vô cùng to lớn và vĩ đại. Cũng chính vì thế các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc, bôi nhọ đời tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng cho rằng, muốn xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam thì phải tiến công quyết liệt vào tư tưởng Hồ Chí Minh, làm sụp đổ tận gốc niềm tin của nhân dân đối với Hồ Chí Minh, với Đảng Cộng sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trong quy luật phát triển của xã hội và cách mạng đã chứng minh, mọi hoạt động thực tiễn có tính chất cách mạng lớn, mọi quá trình cách mạng có tính chất thực tiễn, Phong trào muốn tiến triển nhanh chóng và mau giành thắng lợi trọn vẹn thì đều phải có tư tưởng, lý luận tiên phong soi sáng, dẫn dắt. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đây là một bước phát triển mới về tư duy lý luận của Đảng ta. Đến Đại hội IX (năm 2001), Đảng ta đưa ra khái niệm: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”.
Định nghĩa trên là một bước tiến mới trong tư duy, nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển trong cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và nhân loại tiến bộ trên thế giới. Tư tưởng chính trị là sợi chỉ đỏ xuyên suốt và bao trùm trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh chính là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân tộc và giai cấp gắn chặt với nhau. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là luận thuyết khoa học, mà đã trở thành hiện thực trong cuộc sống, được hiện thực hóa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội góp phần làm nên nhân cách Hồ Chí Minh, được biểu hiện ở phẩm chất chính trị, đạo đức, phương pháp, phong cách của Người. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có ý nghĩa dân tộc, lịch sử mà còn có ý nghĩa quốc tế và thời đại, không chỉ tồn tại và tác động trong thế giới ngày nay mà còn trường tồn cho cả mai sau.
Tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ không bao giờ có thể bị đánh đổ, bởi vì những thành quả của cuộc cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lãnh đạo đã trở thành một “pho sử vàng” quý giá nhất, trong sáng nhất và đáng tự hào nhất của dân tộc ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ không bao giờ có thể mất bởi vì còn đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đó là sự kết tinh văn hóa của dân tộc, là sự hội tụ tinh túy văn hóa của cả phương Đông và phương Tây. Hơn nữa, đó còn là một dự báo về một nền “văn hóa tương lai” của nhân loại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho Đảng và nhân dân Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Con đường đó càng chông gai, gian khổ thì càng cần ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, chỉ lối, càng phải bảo vệ để ngọn đèn không bao giờ bị tắt trước các thế lực thù địch chống phá. Để bảo vệ và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần thực hiện tốt một số nội dung sau:
Một là, luôn kiên định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta.
Sức sống của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện trong toàn bộ tiến trình vận động, phát triển của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trở thành “linh hồn bất tử” của cán bộ, đảng viên trong những cuộc kháng chiến gian khổ nhưng vô cùng vẻ vang trước đây. Kiên định không có nghĩa ôm khư khư cái cũ, không sáng tạo, đổi mới, vận dụng máy móc, giản đơn. Vận dụng và phát triển sáng tạo chính là cách bảo vệ tốt nhất tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hai là, tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ sức sống và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại hiện nay.
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không phải khô cứng, giáo điều và chủ nghĩa xã hội không phải là khuôn mẫu có sẵn, mà luôn sinh động, sáng tạo trong đời sống hiện thực. Mặc dù hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên xô và Đông Âu bị sụp đổ, nhưng đó là sự sụp đổ của một mô hình chứ không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội khoa học, của tư tưởng lý luận cách mạng. Sự sụp đổ đó, cùng với sự thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế hiện nay cần được nghiên cứu, tổng kết, đúc rút lý luận, làm sảng tỏ những vấn đề mới hiện nay, để bổ sung, phát triển, làm phong phú chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới. Thông qua đó, tiếp tục khẳng định: Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn là một học thuyết khoa học nhất, cách mạng nhất, chắc chắn nhất, vạch ra xu thế phát triển tất yếu của thời đại.
Ba là, Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
 coi đó là công việc thường xuyên của mọi tổ chức, mọi cán bộ, đảng viên và mọi người, gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đó là cách tốt nhất để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh.
Bốn là, luôn đứng vững trên lập trường chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh kiên quyết với những quan điểm sai trái, thù địch chống phá cách mạng nước ta.
Kiên định với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chủ trương lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết trung ương 4 khóa XII về xây dựng chỉnh đốn Đảng, củng cố niềm tin cho nhân dân và ngăn chặn với các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Bên cạnh đó, cần nhận thức sâu sắc về chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch để có biện pháp đấu tranh, ngăn chặn những quan điểm sai trái thù địch phủ nhận giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay.



GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY PHẨM CHẤT "BỘ ĐỘI CỤ HỒ"
                                                                                   An Nhiên
Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là một hệ thống các chuẩn mực, giá trị nhân cách của quân nhân cách mạng được hình thành và phát triển trong suốt hơn 74 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hình ảnh anh “Bộ đội Cụ Hồ” trong chiến tranh trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay luôn in đậm trong lòng nhân dân, làm cho mối quan hệ quân dân luôn luôn gắn bó, tạo nên sức mạnh to lớn để Quân đội nhân dân Việt Nam chiến thắng mọi kẻ thù.
          Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, do những tác động nhiều mặt của tình hình thế giới, trong nước; tác động tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế thị trường; từ sự quản lý không chặt chẽ của các cơ quan, đơn vị và sự thiếu rèn luyện của một số cán bộ, chiến sĩ... đã xuất hiện những lời nói, cử chỉ, hành động không đúng. Nhiều trường hợp quân nhân vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước ở mức độ nghiêm trọng, đăc biệt nghiêm trọng hoặc tham gia vào các tệ nạn xã hội như: ma túy, lô đề, cờ bạc, vay nợ không có khả năng chi trả... làm ảnh hưởng đến bản chất, truyền thống của Quân đội; đến phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Đây cũng chính là một nội dung mà kẻ thù tập trung chống phá, nhằm làm phai mờ hình ảnh tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân, chia rẽ mối đoàn kết quân dân. Để góp  phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam thực sự vững mạnh chúng ta cần đặc biệt quan tâm việc giữ gìn và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.
Trước hết, cần tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng. Tập trung, nâng cao sức mạnh của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, khơi dậy niềm vinh dự, tự hào, xây dựng ý chí quyết tâm, tinh thần trách nhiệm, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải có động cơ trong sáng, bản lĩnh vững vàng, trách nhiệm cao; đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh; trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; thực hành dân chủ, kỷ luật tự giác, nghiêm minh; đoàn kết nội bộ, đoàn kết gắn bó với nhân dân. Các cấp tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện nội dung xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” bằng những nội dung, biện pháp cụ thể, thiết thực.   
 Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được hình thành và hoàn thiện thông qua hoạt động thực tiễn. Vì vậy, cần tổ chức cho bộ đội tích cực tham gia các nhiệm vụ: huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; tăng cường các biện pháp quản lý, duy trì nền nếp, chế độ ở từng cơ quan, đơn vị; quản lý chặt chẽ quân số, nhất là trong các giờ nghỉ, ngày nghỉ; quản lý chắc các mối quan hệ xã hội của quân nhân; quan tâm sâu sát, nắm và quản lý tốt tình hình tư tưởng bộ đội, chú trọng các đối tượng cá biệt trong cơ quan, đơn vị mình; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, tạo sân chơi bổ ích để thu hút bộ đội tham gia. Đồng thời, đẩy mạnh công tác dân vận và thông qua hoạt động thực tiễn để đổi mới nội dung, hình thức cho phù hợp với từng địa bàn. 
 Để việc phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” đạt yêu cầu đề ra, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì phải đề cao trách nhiệm, tích cực, tự giác phấn đấu, rèn luyện theo các tiêu chí đã xác định; phải thật sự gắn mình với đơn vị, sâu sát, gần gũi quần chúng, cấp dưới, công tâm trong xử lý các công việc; giải quyết hài hoà các mối quan hệ; giữ vững sự đoàn kết, thống nhất; quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ.
Coi trọng công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, làm cho bộ đội hiểu rõ sự nguy hiểm của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; phản bác các quan điểm sai trái, phê phán và đấu tranh loại trừ lối sống thiếu lành mạnh, ngại phấn đấu, rèn luyện trong đơn vị.
Bên cạnh đó, mỗi quân nhân phải là người tuyên truyền, giáo dục thuyết phục nhân dân bằng chính lời nói và việc làm của mình, phải ra sức giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân. Bộ đội đi đến đâu đều phải được nhân dân yêu mến, tin tưởng, thực hiện đúng khẩu hiệu “đi dân nhớ, ở dân thương”; trong quan hệ với nhân dân, không được đụng đến “cái kim, sợi chỉ” của dân, càng không được làm điều gì phương hại đến lợi ích của nhân dân, trực tiếp là nhân dân địa phương nơi đóng quân.
Mỗi cán bộ, chiến sĩ không những phải tích cực tuyên truyền, hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân thực hiện các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng mà còn phải tham gia tích cực và có hiệu quả trong các nhiệm vụ xây dựng cơ sở chính trị - xã hội ở các địa bàn, nhất là đối với các phân đội đóng quân ở các địa bàn trọng yếu, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; tham gia giúp dân xóa đói, giảm nghèo; phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn và phòng chống các tệ nạn xã hội...
Trong thực hiện bất cứ nhiệm vụ nào, ở đâu, cán bộ, chiến sĩ chúng ta đều phải ra sức phát huy truyền thống tốt đẹp “vì nhân dân quên mình”, thật sự là người chiến sĩ của quân đội cách mạng, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, xứng đáng với phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân./.


Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2018


QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG BINH, LIỆT SĨ VÀ NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
Chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta. Đây là một vấn đề chính trị - xã hội của quốc gia, dân tộc. Trong những năm qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta luôn quan tâm và dành những tình cảm, trách nhiệm để chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công bằng những chính sách cụ thể, thiết thực và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Điều đó thể hiện đạo lý và truyền thống “uống nước, nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc Việt Nam.
Hơn bảy mươi năm qua, thấm nhuần sâu sắc đạo lý và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thực hiện lời dạy ân cần của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận chúng ta là phải biết ơn, phải yêu thương và giúp đỡ họ”(1), Đảng, Nhà nước, nhân dân và lực lượng vũ trang ta luôn luôn trân trọng, ghi nhớ công ơn và làm được nhiều việc tốt để tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái, quý trọng đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với nước. Những việc làm đó không những có ý nghĩa về mặt đạo lý mà còn có tác động thiết thực tạo động lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 
Ngày 16-02-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 20/SL Về chế độ hưu bổng thương tật đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng. Đây là Sắc lệnh đầu tiên về chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công; một sự kiện quan trọng trong chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta nhằm tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự hy sinh, cống hiến của các thương binh, liệt sĩ và người có công với nước. Thấm nhuần sâu sắc và thực hiện lời dạy bảo ân cần của Người, Đảng, Nhà nước, nhân dân và lực lượng vũ trang ta luôn luôn trân trọng, ghi nhớ công ơn và làm nhiều việc tốt “đền ơn đáp nghĩa” đối với những người có công với cách mạng. Trong thư gửi Ban tổ chức ngày thương binh, liệt sĩ 27-7-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Thương binh là những người đã hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đó đã ốm yếu. Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn và giúp đỡ những người anh dũng ấy”(2). Trong Di chúc trước lúc đi xa Bác Hồ đã căn dặn: Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi một người để họ có thể dần dần tự lực cánh sinh. Người nhắc nhở: “Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng, xã) cần xây dựng vườn hoa và bia tưởng niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta. Người cũng chu đáo, quan tâm đối với cha mẹ, vợ con của thương binh và liệt sĩ (người có công với nước) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”(3). Những lời dạy bảo của Bác đang được Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang nhân dân ta phấn đấu thực hiện ngày càng tốt hơn và chu đáo hơn. Tại Đại hội lần thứ VI, Đảng ta chỉ rõ phải: “thực hiện tốt chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình cán bộ, chiến sĩ chiến đấu ngoài mặt trận, gia đình có công với cách mạng...”(4). Đại hội VII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Quan tâm chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng, coi đó vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm của toàn dân; sớm ban hành chế độ toàn dân đóng góp vào quỹ đền ơn, trả nghĩa để chăm lo đời sống thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng”(5). Đến Đại hội VIII, Đảng ta chỉ rõ: “Tổ chức tốt việc thi hành Pháp lệnh về người có công, bảo đảm cho những người có công với đất nước và cách mạng có đời sống vật chất và tinh thần ít nhất bằng mức sống trung bình của nhân dân nơi cư trú; bồi dưỡng và tạo điều kiện cho con em những người có công với cách mạng tiếp nối sự nghiệp của cha anh. Mở rộng phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ...”(6). Tại Đại hội IX, Đảng khẳng định: “Chăm lo tốt hơn đối với các gia đình chính sách và những người có công với cách mạng, bảo đảm tất cả các gia đình chính sách đều có cuộc sống bằng hoặc khá hơn mức sống trung bình so với người dân địa phương trên cơ sở kết hợp 3 nguồn lực: Nhà nước, cộng đồng và cá nhân các đối tượng chính sách tự vươn lên”(7). 
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Huy động mọi nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của những người và gia đình có công. Giải quyết dứt điểm các tồn đọng về chính sách người có công, đặc biệt là người tham gia hoạt động bí mật, lực lượng vũ trang, thanh niên xung phong các thời kỳ cách mạng và kháng chiến...”(8). Đến Đại hội XII, Đảng ta yêu cầu: “Thực hiện tốt chính sách chăm sóc người có công; giải quyết tốt lao động, việc làm và thu nhập của người lao động; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội; coi trọng chăm sóc sức khỏe nhân dân(9). Đồng thời tiếp tục: “Huy động tốt nhất nguồn lực lao động để phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước”(10); “Tiếp tục hoàn thiện chính sách xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Mở rộng đối tượng và nâng cao hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội đến mọi người dân; tạo điều kiện để trợ giúp có hiệu quả cho tầng lớp yếu thế, dễ tổn thương hoặc những người gặp rủi ro trong cuộc sống. Phát triển và thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm xã hội,... ”(11). 
Thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, ngày 18-6-2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Sửa đổi, bổ sung chính sách ưu đãi người có công lần thứ ba; ngày 15-11-2007, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 25/2007/TT-BLĐTBXH, hướng dẫn bổ sung việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng. Tiếp đó, để đánh giá toàn diện, đầy đủ việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có công, ngày 27-10-2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 23/CT-TTg về việc tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Đồng thời, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã xây dựng chương trình phối hợp, triển khai rà soát đối với 7 đối tượng, bao gồm: liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, người có công giúp đỡ cách mạng và cựu thanh niên xung phong. Trên cơ sở rà soát sẽ kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền tiếp tục hoàn thiện việc triển khai thực hiện chính sách đối với người có công. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã phối hợp với các bộ, ngành đề xuất với Đảng, Nhà nước tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chính sách đối với người có công với cách mạng, ban hành nhiều chủ trương, chính sách mới, phù hợp, như sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Tuyên dương Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”; Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng; Chỉ thị của Bộ Chính trị, các văn bản, quy định của Chính phủ về tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; các chủ trương, chính sách lớn đối với người tham gia kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. 
Thực hiện chủ trương của Đảng, các địa phương, đơn vị trong cả nước khắc phục những khó khăn, bất cập, khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh việc tìm kiếm và quy tập mộ liệt sĩ; thúc đẩy phong trào đền ơn đáp nghĩa, đồng thời thực hiện Chỉ thị số 02/CT-TTg, ngày 25-01-2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng; Chỉ thị số 368-CT/QUTW, ngày 12-6-2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội giai đoạn 2016 - 2020; tăng cường bám sát cơ sở để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những vấn đề cần giải quyết trong thực hiện chính sách. 
Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” trong những năm qua phát triển mạnh mẽ cả bề rộng lẫn chiều sâu. Cả nước đã đóng góp xây dựng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”. Việc xã hội hóa công tác “Đền ơn đáp nghĩa” mang lại những kết quả to lớn, thực sự huy động được sức mạnh của toàn xã hội tự nguyện tham gia phong trào, gánh vác trách nhiệm cùng Nhà nước chăm lo đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng. Ngành chính sách của các bộ, các tỉnh, thành phố đã chủ động chỉ đạo, tham mưu, hướng dẫn thực hiện việc xác nhận và quản lý chi trả chế độ theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Theo đó, từ năm 2010 đến nay, đã lập hồ sơ, đề nghị xác nhận gần 600 liệt sĩ; cấp giấy chứng nhận thương binh cho gần 5.000 trường hợp, hơn 1.300 bệnh binh, bảo đảm chặt chẽ, chính xác; kịp thời khắc phục, chấn chỉnh những sai sót, tiêu cực trong tổ chức thực hiện; tham gia xác lập hồ sơ, đề nghị và tổ chức chu đáo việc phong tặng, truy tặng đối với gần 73.000 bà mẹ Việt Nam anh hùng,... Cùng với đó, công tác tìm kiếm, cất bốc, quy tập hài cốt liệt sĩ được các đơn vị, địa phương hết sức chú trọng; công tác thông tin, tuyên truyền được quan tâm đẩy mạnh; tổ chức và bảo đảm được thực hiện tốt hơn, công tác đối ngoại, hợp tác về lĩnh vực này được xúc tiến và mở rộng. Từ khi thực hiện Đề án tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đến nay (Đề án 1237 - năm 2013), các đơn vị, địa phương trong cả nước đã tìm kiếm, cất bốc, quy tập được gần 9.200 hài cốt (trong nước gần 4.500, ở Lào gần 1.500, Cam-pu-chia hơn 3.100). Việc chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng được cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Quân đội lãnh đạo, chỉ đạo tích cực và triển khai toàn diện, đồng bộ với nhiều nội dung, hình thức phong phú, phù hợp với thực tế của đơn vị, địa phương và nguyện vọng của đối tượng chính sách. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu, huy động được nhiều nguồn lực, mang lại hiệu quả thiết thực, thu hút mọi tầng lớp nhân dân tham gia. Từ năm 2010 đến nay, Quân đội tham gia đóng góp hơn 443 tỷ đồng vào Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”; nhận phụng dưỡng 1.776 bà mẹ Việt Nam anh hùng; tuyển dụng tạo việc làm cho 321 trường hợp là vợ, con liệt sĩ và thương binh, bệnh binh nặng; xây dựng, sửa chữa hơn 7.200 nhà tình nghĩa, hơn 7.660 căn nhà chính sách xã hội; tặng hơn 5.000 sổ tiết kiệm, với số tiền trên 7,3 tỷ đồng cho các đối tượng chính sách; hỗ trợ phương tiện ô-tô, trang thiết bị cho các trung tâm điều dưỡng thương binh, bệnh binh với số tiền gần 70 tỷ đồng. Ngoài ra, các đơn vị còn đóng góp vật liệu, ngày công xây dựng, tu sửa các công trình tình nghĩa ở các địa phương nơi đóng quân; tổ chức khám, chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho hơn 900.000 lượt người có công và nhân dân; đỡ đầu, tổ chức kết nghĩa với các đoàn an, điều dưỡng thương binh, bệnh binh...
Ngoài những kết quả đã đạt được, chính sách hậu phương đối với người có công với nước còn một số hạn chế cần tiếp tục giải quyết. Nhiều trường hợp người tham gia cách mạng bị chết, bị thương hoặc mất tin chưa được các cơ quan có trách nhiệm kết luận, hàng vạn người mẹ, người vợ liệt sĩ vẫn mong đợi thông tin chính thức về phần mộ của người thân... Chế độ trợ cấp ưu đãi nói chung còn thấp; một số nội dung ưu đãi đã được quy định trong Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhưng còn thiếu những văn bản hướng dẫn thực hiện. Những sai sót, nhầm lẫn, tiêu cực trong thực hiện chính sách, chế độ xảy ra ở một số nơi đã gây không ít phiền hà cho người hưởng chính sách, gây dư luận không tốt trong xã hội. 
Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước ta về chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng cần thực hiện tốt mấy giải pháp cơ bản sau:
Trước hết, quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về thực hiện chính sách thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng. Các bộ, ban, ngành từ Trung ương đến các địa phương cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về thực hiện chủ trương, chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng; đồng thời chủ động xác định kế hoạch, giải pháp thực hiện phù hợp với đặc điểm của từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Trong quá trình thực hiện, các đơn vị, địa phương cần gắn công tác này với nhiệm vụ chính trị được giao; chú ý kết hợp chặt chẽ với công tác dân vận, xây dựng cơ sở chính trị - xã hội địa phương vững mạnh. 
Hai là, tiếp tục đẩy mạnh phong trào toàn dân thực hiện tốt chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công bằng các chương trình cụ thể; toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện tốt việc chăm sóc người có công với trách nhiệm và lòng biết ơn sâu sắc. Sự đóng góp của cộng đồng là nguồn lực, là sức mạnh để đạt mục tiêu của Đảng đề ra và cũng là nguồn bổ sung phong phú cùng Nhà nước chăm sóc tốt hơn, chu đáo hơn đời sống người có công. Đồng thời, các cấp cần thường xuyên làm tốt việc sơ kết, tổng kết, biểu dương, khen thưởng, nhân rộng điển hình tiên tiến, làm tốt phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa” và các đối tượng chính sách có nhiều cố gắng trong sản xuất, học tập và công tác. Bổ sung những nội dung xây dựng chính sách ngày càng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ba là, tập trung giải quyết có hiệu quả những tồn đọng về xác nhận thương binh, liệt sĩ, người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin; tu bổ, nâng cấp mộ, nghĩa trang liệt sĩ và các công trình ghi công liệt sĩ. Đây là công việc lớn, phức tạp và khó khăn. Vì vậy, cùng với sự cố gắng của Nhà nước, phải có sự chung tay của các ngành, các cấp và của toàn dân. Trước hết, từng ngành, từng địa phương cần nêu cao tinh thần trách nhiệm của mình, tuyên truyền sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; triển khai kế hoạch cụ thể, rà soát, xem xét, kết luận từng trường hợp theo đúng quy định, tránh để nhầm, sót những người thực sự có cống hiến mà không được hưởng chính sách. Đồng thời, coi trọng công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách; kiên quyết xử lý những hành vi gian dối, vi phạm pháp luật về người có công.
Bốn là, tổ chức thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách ưu đãi của Nhà nước; bảo đảm các khoản phụ cấp, trợ cấp được trao “tận tay, đúng kỳ, đúng số” cho các đối tượng. Theo đó, các cấp cần tiếp tục nghiên cứu, tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn, những bất hợp lý trong công tác chính sách; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi để người có công được thụ hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước. Trước mắt, tập trung triển khai thực hiện tốt Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg, ngày 9-11-2011, của Thủ tướng Chính phủ “Về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia, giúp bạn Lào sau ngày 30-4-1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc” đúng tiến độ, đúng, đủ đối tượng.
Hậu quả chiến tranh trên khắp đất nước ta còn rất nặng nề. Kỷ niệm Ngày thương binh, liệt sĩ 27-7 hằng năm là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nêu cao truyền thống của dân tộc ta: “Đền ơn đáp nghĩa”, tiếp tục và đẩy mạnh hơn nữa đến công tác chăm sóc, ưu đãi thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng ngày càng phát triển mạnh mẽ, mang lại những hiệu quả thiết thực, làm cho các đồng chí, đồng bào yêu quý đó yên ổn về vật chất, vui vẻ về tinh thần như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn. Các cấp ủy đảng, chính quyền có trách nhiệm đi sát cuộc sống thực tế của nhân dân, lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công, loại bỏ những điều không phù hợp, kịp thời bổ sung những điểm mới cần thiết nhằm giảm bớt khó khăn cho những người đã nêu cao tinh thần anh dũng vì nước, vì dân, cống hiến tài năng, hy sinh xương máu cho Tổ quốc./.
--------------------------------------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 372
(2), (3) Chủ tịch Hồ Chí Minh với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2002, tr. 1.425 - 1.426
(4) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 47, tr. 558
(5) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 51, tr.102
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 115
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 301
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội 2011, tr. 229 - 230
(9), (10), (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 31, 136, 137
(10), (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 136, 137
Trần Đơn
Thượng tướng, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
http://hcma.vn/Home/Dien-dan-chinh-tri/6036/Quan-diem-cua-Dang-va-tu-tuong-Ho-Chi-Minh-ve-chinh-sach-thuong-binh-liet-si-va-nguoi-co-cong-voi-cach-mang

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...