Thứ Ba, 19 tháng 6, 2018


NHỮNG NGƯỜI GÂY RỐI Ở POUYUEN KHAI GÌ?

Những người bị bắt vì tụ tập ném đá vào cảnh sát trước Công ty Pouyuen ở quận Bình Tân, TP.HCM chẳng biết gỉ về dự luật Đặc khu nhưng cũng phản đối.
Ngày 18-6, Công quận Bình Tân, TP.HCM cho biết vừa khởi tố, bắt giam Phạm Thị Thu Thủy (44 tuổi, quê Tiền Giang), Lê Trọng Nghĩa (31 tuổi, quê Long An) tội chống người thi công vụ.Bên cạnh đó, công an lấy lời khai đối với Lê Văn Thanh (30 tuổi, quê Tiền Giang) để xử lý với cùng hành vi. Trước đó, Thanh đã đến cơ quan công an đầu thú.
Theo cơ quan điều tra Thủy và Nghĩa đều là công nhân tại Công ty Pouyuen. Ngày 11-6, họ tới chỗ làm thì thấy đông người tụ tập, gây rối ném đá vào lực lượng cảnh sát cơ động đang làm nhiệm vụ tại đây nên tham gia.
Theo bà Thủy, thấy công nhân bỏ việc, nhiều người hô hào tắt điện và nếu không ra biểu tình thì bị đánh.
“Tôi cũng nghe vậy nên chạy ra ngoài. Khi thấy mấy người khác ném đá lực lượng cơ động thì tôi cũng ném. Đáng ra ném một lần nhưng tôi lại ném rất nhiều lần” – bà Thủy khóc và cho biết thêm rằng mình còn mẹ già, con nhỏ ở quê. Giờ bị bắt giam không biết kế sinh nhai sẽ như thế nào.
Thanh tham gia tụ tập, gây rối và dùng que sắt đánh cảnh sát cơ động, ý thức được mình làm là sai người này đã đến công an đầu thú. Ảnh Nguyên Tiến.
Trong khi đó, Nghĩa khai mình không biết đặc khu hay luật đặc khu là gì, nằm ở đâu. “Em chỉ biết đặc khu nằm ở rìa đảo gì đó. Khi thấy mọi người hô hào ném đá phản đối đặc khu nên em cũng tham gia đứng ở hàng rào cầm đá ném vào lực lượng cảnh sát” – Nghĩa. Tại cơ quan điều tra, Nghĩa và bà Thủy đều tỏ thái độ ăn năn hối lỗi.
 “Bây giờ tôi cũng gửi lời cho anh chị em công nhân ngoài đó đừng thiếu hiểu biết nghe theo lời xúi giục tham gia tụ tập gây rối rồi bị bắt, ảnh hưởng đến gia đình và công việc”- Nghĩa nói.
Trong khi đó, Lê Văn Thanh đến cơ quan công an đầu thú. Thanh khai mình là quản lý nhiều công nhân. Ngày 11-6, khi nhiều công nhân ném đá, tụ tập gây rối thì Thanh cũng tham gia.
Người này được xác định dùng ống sắt bẻ thành từng đoạn chia cho các công nhân khác đánh cảnh sát cơ động. “Tôi cũng khuyên những ai đã trót vi phạm, tụ tập gây rối thì hãy đến cơ quan công an đầu thú để được hưởng lượng khoan hồng” – Thanh nói.
Theo công an quận Bình Tân, đến thời điểm hiện tại đã mời làm việc với 105 người, khởi tố 4 người, xử lý vi phạm hành chính 58 người, số còn lại cho cam kết bảo lãnh.
NGUYÊN TIẾN
https://ngheanthoibao.com/nhung-nguoi-gay-roi-o-pouyuen-khai-gi/


TÔN GIÁO LÀ ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI LÀNH
HAY LÀ CÔNG CỤ CỦA KẺ ÁC?
Khi những hậu quả nặng nề từ cuộc biểu tình bạo loạn vừa diễn ra ở Bình Thuận vẫn còn chưa khắc phục xong, người dân cả nước vẫn còn bàng hoàng trước hình ảnh những người “biểu tình ôn hòa” cầm gậy gộc, gạch đá, bom xăng ném vào lực lượng chức năng, đốt phá trụ sở UBND, sở PCCC, tấn công bộ chỉ huy biên phòng…
Thì sáng ngày hôm nay tại Hà Tĩnh và Nghệ An, hàng loạt giáo xứ – dưới sự chỉ đạo của những linh mục như Nguyễn Đình Thục – quản xứ Song Ngọc, xã Quỳnh Ngọc, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An và các linh mục thuộc 14 giáo xứ trong giáo hạt Văn Hạnh đóng trên địa bàn xã Thạch Trung, thành phố Hà Tĩnh đã tổ chức biểu tình để phản đối luật đặc khu và luật an ninh mạng. Hàng nghìn giáo dân, già có, trẻ có, trẻ em cũng có, dưới sự chỉ đạo các linh mục đã tuần hành khắp đường ngang ngõ dọc trong địa bàn giáo phận để phản đối những dự luật mà tôi chắc chắn rằng gần như chưa một ai từng đọc qua một dòng nào.
Qua vụ việc ở Bình Thuận, an ninh đã được thắt chặt trên toàn quốc, có lẽ bởi vậy mà linh mục Nguyễn Đình Thục đã không dám chỉ đạo giáo dân ra chặn đường quốc lộ 1A như thường thấy. Tuy nhiên việc các linh mục huy động hàng nghìn người tuần hành chật cứng các con đường mà không hề thấy bóng dáng của lực lượng chức năng cho thấy dường như những giáo phận này là một tiểu vương quốc bất khả xâm phạm – nơi những linh mục hành xử như một ông vua, luật pháp không có tác dụng và người của chính quyền có thể bị bắt giữ làm con tin bất cứ lúc nào.
Tuy nhiên cần khẳng định rằng, tất cả các hoạt động trên đây của tín đồ công giáo đều do một số chức sắc suy thoái tư tưởng, đạo đức, đội lốt “đức cha” để lừa bịp, dụ dỗ, ép buộc, kích động giáo dân thực hiện những hành vi sai trái gây rối trật tự an ninh, an toàn xã hội, vi phạm pháp luật, ảnh hưởng tới cuộc sống và sự bình yên của người dân xung quanh. Dường như các linh mục cực đoan đang cố tình chia rẽ lương – giáo, phá bỏ sự đoàn kết giữa tín đồ với chính quyền sở tại.
Những hành đông ngông cuồng của giáo dân Song Ngọc dưới sự chỉ đạo của linh mục Nguyễn Đình Thục đã khiến nhân dân xã Quỳnh Ngọc vô cùng bức xúc, đến mức lương dân phải tuyên bố nếu giáo dân còn tiếp tục làm loạn thì lương dân sẽ không buôn bán với giáo dân nữa.
Còn tại giáo xứ Trung Nghĩa, huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh. Linh mục quản xứ Nguyễn Công Bình cùng Hội đồng mục vụ nhiều lần tổ chức cho giáo dân lên trụ sở UBND xã gây rối dưới danh nghĩa “đòi tiền bồi thường từ Formosa” nhưng rồi khi bà con giáo dân nhận được tiền bồi thường thì vị linh mục này ngang nhiên rao giảng trong nhà thờ về dự định xây dựng các hạng mục mới như: nhà đa chức năng, nhà thờ, khuôn viên, khán đài… và ép buộc bà con giáo dân phải nộp lại 1/3 số tiền bồi thường mà họ nhận được. Không dừng lại ở đó, vị chủ chăn này còn thẳng thừng nói với tất cả mọi người: “Ai cãi lời cha, không chịu nộp lại sẽ không được hưởng các quyền lợi, đặc ân từ các công trình của Chúa, cha cũng sẽ không dâng lễ, ban phúc cho các hộ dân này…”.
Những linh mục này thường xuyên tổ chức thánh lễ cầu nguyện “Hoà bình và công lý” nhưng lại kích động giáo dân đi biểu tình, đập phá, bao vây trụ sở chính quyền, cầu nguyện cho những kẻ vi phạm pháp luật. Vậy hoà bình ở đâu? Công lý ở đâu?
Thử hỏi những con người người được tôn vinh là cha tinh thần liệu có xứng đáng với điều đó hay không.
Nhân danh đức Chúa nhưng thực tế những vị chủ chăn ở các giáo xứ trên đây đã lợi dụng thánh lễ, lợi dung đức tin để tuyên truyền lừa bịp, kích động bà con giáo dân chống đối chính quyền.
Chúa chẳng bao giờ răn dạy các con chiên của mình làm điều ác. Đức Jesus luôn thừa nhận vai trò của chính quyền và răn dạy những người con của Chúa phải phân biệt rạch ròi giữa chính trị và tôn giáo. Tập 27, chương X trong Giáo luật “Cách riêng về Giáo hội” ghi: “Không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo hội”. Đáng tiếc là một số linh mục, giáo dân vì lợi ích riêng mà làm trái lời Chúa dạy. Họ hy vọng rằng qua những cuộc biểu tình như thế này, “tiếng vang” mà họ tạo ra qua mạng xã hội và truyền thông nước ngoài sẽ đến tai các tổ chức nhân quyền, tôn giáo quốc tế. Và từ đó phương Tây sẽ có cớ can thiệp, tác động vào Việt Nam. Dường như đối với họ “Tổ quốc” là một khái niệm không hề tồn tại.
Hình ảnh từ cuộc biểu tình vừa diễn ra ở Bình Thuận cho thấy giữa “ôn hòa” và “bạo động” chỉ cách nhau một tích tắc. Trong bối cảnh an ninh phức tạp như hiện nay, chỉ trong một ngày hôm qua, lực lượng chức năng đã bắt giữ hàng chục đối tượng mặc quân phục cải trang làm công an, thu giữ nhiều vũ khí gây sát thương như súng tự chế, dao găm, lưỡi lê; mục đích của những đối tượng này là trà trộn vào đám đông, tấn công những người biểu tình để vu vạ cho lực lượng chức năng – một kịch bản tương tư như cuộc biểu tình Maidan đã phá nát đất nước Ukraina xinh đẹp năm 2014.
Vì vậy bà con giáo dân cần hết sức cảnh giác trước nhưng lời kích động biểu tình. Bởi bản chất đằng sau các hoạt động xuống đường tuần hành, biểu tình thực chất đều xuất phát từ ý đồ của giám mục, linh mục cực đoan câu kết với bọn phản động lưu vong cùng ngoại bang. Họ muốn tập hợp, phô trương lực lượng, càng đông càng tốt, như là bước chuẩn bị, tập dượt cho “cách mạng dân chủ” “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” . Tham gia tuần hành, biểu tình dưới bất kỳ hình thức nào, trước là bước vào nguy hiểm khi có thể bị các đối tượng phản động sát hại để châm ngòi cho bạo động, sau là phải đối mặt với sự trừng phạt của pháp luật, tình huống xấu hơn nữa là gây ra bạo loạn trên khắp cả nước như người dân Ukraina đã làm với đất nước mình năm 2014.
TYLLVTNDVN



CHUYỆN VỀ ĐẶC KHU: ĐÔI LỜI TÂM SỰ

LTS: Tác giả bài này là một Tiến sĩ Kỹ thuật, trường Khoa học và Công nghệ, Đại học Kumamoto, Nhật Bản năm 1999. Anh từng làm quản lý dự án, điều phối viên và Giám đốc quản lý chất lượng, tư vấn kỹ sư địa lý đại diện cho Dia Consultants Co. Ltd để thực hiện nghiên cứu tiền dự án cho dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 tại Việt Nam, và còn làm quản lý nhiều dự án xây dựng khác ở các quốc gia khác nữa.
B iết phận mình là kẻ sống tha hương, ăn nhờ ở đậu xứ người, không gì để kênh kiệu, kiêu hãnh cả, chỉ cố gắng sống bình lặng, lương thiện. Đối với quê hương, nếu không (có cơ hội) đóng góp được gì, thì quyết không xía mõm, chìa tay chống phá, hùa theo bọn phản động.
Đất nước thanh bình, xã hội dần cải thiện ở mọi lãnh vực, trong đó nền kinh tế đang trên đà phát triển khả quan, người dân sống trong an vui. Vậy mà vẫn có những kẻ không muốn đất nước thanh bình, phát triển. Chúng tìm mọi cơ hội, tung ra đủ loại thông tin thất thiệt để kích động người dân trong nước biểu tình, bạo động, với ý đồ gây bạo loạn, đưa xã hội và chính trị rơi vào tình trạng hỗn loạn, nền kinh tế suy sụp, hầu tạo cơ hội cho bọn chúng cướp chính quyền. Những cuộc biểu tình vào ngày 10/6 và 11/6 vừa qua cho thấy bọn phản động, mà chủ động là (những) tổ chức chống cộng ở hải ngoại, tiêu biểu là đám Việt Tân, cộng thêm với một số linh mục bất lương (không phải tất cả) cùng đám con chiên trong nước.
Lần này có vẻ chúng dốc tổng lực để phát động biểu tình ở nhiều nơi trong nước, với chiêu bài là “chính quyền VN bán đất cho Tàu thông qua dự thảo 3 đặc khu kinh tế”. Chúng kỳ vọng sẽ tạo được cuộc cách mạng màu, đưa đất nước rơi vào hỗn loạn và kết quả là một chính quyền mới có sự hỗ trợ, dẫn dắt của ngoại bang sẽ được hình thành, như đã xảy ra tại nhiều nước như Serbia, Gruzia, Ai Cập, Ucraine hoặc Kyrgyztan, vân vân… trong thời gian qua. Ở đây cần nhấn mạnh một điều là trong hầu hết các cuộc “cách mạng màu” trên thế giới, từ Phi Châu, Đông Âu, đến các nước Trung Đông đều có sự tham gia, chỉ đạo từ phía sau của bàn tay lông lá ngoại bang, tiêu biểu là Mỹ và một số nước Âu Châu.
Nhưng chúng đã thất bại, những cuộc biểu tình đã lắng xuống, cuộc sống người dân trở lại bình thường. Về tình hình và hậu quả của những cuộc biểu tình vừa qua thì chúng ta có thể tìm hiểu qua truyền thông, báo chí chính thống trong và ngoài nước. Nói về thiệt hại, có thể kể đến những thiệt hại về kinh tế như một vài cơ sở vật chất của chính quyền đã bị đập hoặc đốt phá, một lượng lớn công nhân của công ty nước ngoài bị cho nghỉ việc, một vài hạng mục nông phẩm bị giới hạn xuất khẩu qua Trung quốc trong một thời gian nhất định, v.v…; Tâm lý hoang mang và bất an của người dân về sự việc vừa qua, cũng như lo ngại trong tương lai có xảy ra sự việc tương tự hay không; Mức độ ổn định trong môi trường kinh doanh tại Việt Nam sẽ bị thế giới đánh giá thấp xuống, sẽ có ảnh hưởng bất lợi cho đầu tư của nước ngoài. Ngoài ra, một số cảnh sát cơ động đã bị thương do bạo động của những kẻ tham gia biểu tình.
Ngược lại, theo người viết, người dân cũng như nhà nước đã gặt hái được một số thành quả như: 1) Qua sự kiện này, nhà nước hiểu rõ hơn về lòng dân, về sự cần thiết của “lắng nghe, đối thoại” trực tiếp với người dân nhiều hơn nữa để ý của dân được phản ảnh tối đa vào các chính sách trước khi mang ra áp dụng; 2) Nhiều người dân đã hiểu rõ được sự nguy hại khi nghe theo lời xuyên tạc của những  kẻ phá hoại, phản quốc, dụ dỗ tham gia chống phá chính quyền, để họ không còn bị lôi kéo thêm nữa; 3) Là cơ hội để thế giới và người dân nhìn rõ về những hành vi manh động của bọn phản động, cũng như cách hành xử nhẹ nhàng, khoan nhượng của chính quyền, nhưng lại sẽ nghiêm khắc, nghiêm minh xử phạt những kẻ đã phạm pháp, theo qui định của luật pháp Việt Nam;  4) Có lẽ qua sự kiện này, nhà nước đã nắm bắt được một số thông tin quan trọng liên quan đến tổ chức phản động chủ động, những cơ quan, tổ chức hỗ trợ, và đặc biệt quan trọng hơn hết là có bàn tay lông lá ngoại bang, ngoại giáo nào nhúng tay vào hay không?.
Người viết kỳ vọng rằng, sau những bài học kinh nghiệm quí báu vừa qua, nhà nước sẽ có những sách lược an dân hiệu quả và dài lâu, đồng thời chứng tỏ cho người dân thấy khả năng và sự quyết tâm sẵn sàng đập vỡ mọi âm mưu chống phá đất nước của những tổ chức vong nô, phản quốc.
Hy vọng đạo luật Đặc Khu Kinh Tế sẽ được thông qua ở thời điểm thích hợp, thuận lòng dân và sau khi nghiên cứu cặn kẽ trong mọi lãnh vực kinh tế, ngoại giao, quốc phòng, v.v…, trong đó bao gồm những biện pháp đối phó thích nghi cho những trường hợp xấu nhất có thể xảy ra trong tương lai dài lâu. Theo người viết, đạo luật này không chỉ nhắm đến hiệu quả kinh tế-Trên thế giới, đã có khoảng 4500 đặc khu (còn gọi là khu kinh tế tự do) tại khoảng 140 quốc gia đang áp dụng theo nhiều mô hình khác nhau (theo Dân Trí-http://dantri.com.vn/kinh-doanh/dac-khu-kinh-te-nhung-mo-hinh-thanh-cong-tren-the-gioi-20171007121058707.htm), trong đó, tại Á Châu có Nam Hàn, Bắc Hàn, Đài Loan, Trung quốc, Ấn Độ, Phi Luật Tân, Singapore, Mã Lai, v.v… -, mà còn là một chiến lược chính trị, quốc phòng quan trọng cho Việt Nam. Khi những đặc khu này trở thành khu thương mãi quốc tế/đa quốc gia, và có hải cảng thì việc chuyên chở vật tư và con người ra vào cảng khiến những nơi này trở thành trạm thông thương hàng hải có tính quốc tế, sẽ là những căn cứ ngăn cản hành vi xâm lấn của Trung quốc trên biển đông, đồng thời cũng là trạm kiểm tra Biển Đông, dọc duyên hải từ bắc vào nam.
Mong rằng luật an ninh mạng đã thông qua quốc hội, sẽ là vũ khí hiệu quả để bảo vệ người sử dụng mạng lương thiện và ngăn chận sự chống phá trên mạng của những kẻ thù địch trong và ngoài nước. Luật An Ninh Mạng (ANM) đã được 138 nước trên thế giới áp dụng, trong đó phải kể đến Hoa Kỳ được coi là nước có quản lý an ninh mạng rất tinh vi và triệt để khó có nước nào theo kịp. Một số cá nhân, đoàn thể dân sự hoặc giáo phái đã lên tiếng phản đối luật ANM. Họ đưa ra nhiều luận điệu, thông tin xuyên tạc sai sự thật của luật để lừa đảo dư luận, nhưng chắc chắn chúng lại sẽ thất bại vì người dân ngày càng không tin vào những luận điệu xuyên tạc của chúng nữa.
“Độc Lập và toàn vẹn lãnh thổ” là gia tài quí báu thiêng liêng của dân tộc. Bằng mọi cách, mọi giá, toàn dân Việt Nam, trong và ngoài nước, phải đoàn kết để tự bảo vệ gia sản này.
Những phần tử phản động, vong nô, với sự hỗ trợ của bàn tay lông lá ngoại bang ẩn núp phía sau, sẽ tiếp tục tìm mọi cơ hội để chống phá đất nước. Chúng sẽ tiến hành nhiều thủ đoạn nhằm gây bất an trong xã hội, chúng lại sẽ kêu gọi người dân biểu tình gây bạo loạn dưới chiêu bài nào khác, tạo cuộc “cách mạng màu” để lật đổ chính quyền.
Trước mối đe dọa này, không chỉ nhà nước, mà toàn thể người dân cần phải ý thức rõ ràng về sự nguy hiểm của những phần tử phản động này, hầu ngăn chận, đập tan từ trứng nước của cuộc cách mạng hoa hồng, hoa mai, hoặc hoa sen, v.v…của chúng. Không cho chúng có cơ hội tham gia chính quyền vì như thế chúng sẽ rước ngoại bang vào chi phối chính trị của đất nước. Nền Độc Lập sẽ bị đánh mất. Tuyệt đối không tạo cơ hội cho các thế lực ngoạ bang, Tàu, Mỹ, Pháp, cũng như Ca Tô Vatican, Tin Lành, v.v… vào thao túng, lèo lái chính trị của đất nước Việt Nam.http://sachhiem.net/images/sqdot.gif
TP Thanh Tâm (Sách hiếm.net)



TƯ DUY NÔ LỆ, PHỤ THUỘC VÀ CẦU NGOẠI BANG TRONG CUỘC TUẦN HÀNH CỦA GIÁO XỨ VĂN HẠNH THUỘC GIÁO PHẬN VINH

Chúng tôi đã nhiều lần đưa tin về việc ngày 17/6/2018, các linh mục hạt Văn Hạnh, Hà Tĩnh thuộc Giáo phận Vinh đã kích động giáo dân toàn giáo hạt tụ tập, tuần hành xung quanh nhà thờ để phản đối dự thảo luật đặc khu kinh tế và luật an ninh mạng.
Có nhiều nội dung, nhiều vấn đề cần mổ xẻ, phân tích trong vụ việc này như lợi dụng người già, trẻ em, đức tin… để phục vụ mưu đồ chính trị. Ở bài viết này, chúng tôi đề cập một khía cạnh khác thông qua những gì quan sát được qua hình ảnh, video clip đăng tải trên mạng xã hội. Đó là tư duy nô lệ, phụ thuộc, cầu ngoại bang trong cuộc tuần hành của giáo xứ Văn Hạnh thuộc Giáo phận Vinh.
Là công dân Việt Nam, chắc chắn ai cũng biết dân tộc ta trải qua nhiều thời kỳ lịch sử đánh giặc ngoại xâm oai hùng mới có được tự do, độc lập. Mỗi lần dân tộc ta mất độc lập, chủ quyền là do ngoại bang xâm lược, đánh chiếm. Và trong những lần ngoại bang xâm lược đó có không ít lần xuất phát từ lời kêu gọi từ bên trong mà dân gian có câu nói nổi tiếng là “rước voi về giày mả tổ”. Trong suốt quá trình lịch sử từ trung đại, cận đại cho đến hiện đại điều đó đều đúng với dân tộc Việt Nam. Việc điểm tên những lần cầu ngoại bang không quá khó, các bạn tự tìm hiểu được.
Chúng ta có được độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ như ngày nay đã trả giá biết bao nhiêu xương máu của các thế hệ cha anh.
Những người này muốn quốc tế cứu giúp cái gì đây? Cứu cái gì khi đất nước đang hoà bình, đang ổn định, đang độc lập, đang phát triển? Tạo cớ để đưa quân vào can thiệp quân sự, lật đổ chính quyền như một số nước trên thế giới thời gian vừa qua chăng? Những người này đại diện cho ai mà đòi kêu gọi nước ngoài “cứu Việt Nam”? Chắc chắn không phải đại diện cho nhân dân Việt Nam. “Quốc tế” đây là ai? Chắc các bạn cũng tự hiểu hướng họ đang nhắm tới!
Cũng có ý kiến cho rằng có lẽ chưa đến mức như vậy, những băng rôn, khẩu hiệu này là muốn nước ngoài “cứu” bằng cách gửi đô-la thôi! Chứ chưa đến mức họ mong muốn “cứu” dân tộc này bằng những “quả dân chủ” B52, tomahawk… như nước ngoài đã “tặng” các nước và đã “tặng” ngay cho dân tộc này mà đến nay hệ luỵ của nó vẫn còn dai dẳng!
Dù với bất kỳ lý do gì thì nhân dân Việt Nam đều lên án, phẫn nộ với tư tưởng vong nô, tư duy nô lệ, phụ thuộc và cầu ngoại bang như chỉ đạo của các linh mục Giáo hạt Văn Hạnh thuộc Giáo phận Vinh.
Huyền Trang (TTCPĐ)



Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2018


QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN, BÁO CHÍ, TIẾP CẬN THÔNG TIN
VỚI NGHĨA VỤ CÔNG DÂN
Khung pháp luật của Nhà nước Việt Nam về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin của công dân là cơ bản đầy đủ, đồng bộ, hoàn toàn tương thích với luật quốc tế về quyền con người. Trong đó, quy định rõ quyền, nghĩa vụ và việc hạn chế quyền này của công dân trong trường hợp cụ thể, nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
1. Mối quan hệ giữa quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin với nghĩa vụ công dân. Trong tất cả các văn kiện pháp luật của quốc tế và Việt Nam, khái niệm “quyền” luôn bao gồm: quyền và nghĩa vụ. Trong đó, tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản được ghi nhận trong bản Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (1948) và được thể chế trong “Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị” (1966) đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người hưởng thụ quyền tự do ngôn luận, báo chí. Theo đó, người dân có quyền tự do ngôn luận, quyền được sử dụng các phương tiện báo chí, thông tin, mạng internet, các trang mạng xã hội không trái với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, người sử dụng quyền này có nghĩa vụ phải tuân thủ quy định của pháp luật và chấp nhận những hạn chế quyền. Việc thực hiện những quyền này phải kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt và việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội.
Ở Việt Nam, “quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”1 đã được quy định trong Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) và được cụ thể hóa trong nhiều đạo luật, nghị định, như: Luật Báo chí (2016), Luật Tiếp cận thông tin (2016), Nghị định 72/2013/NĐ-CP, ngày 15-07-2013 của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng,… và thực thi nghiêm túc, tạo không khí dân chủ trong xã hội2. Điều đó khẳng định và thể chế hóa quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền sáng tạo tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí, v.v. Quyền tiếp cận thông tin của công dân được quy định rộng rãi hơn; đó không chỉ là một quyền thụ động do cơ quan nhà nước công khai thông tin theo nhận thức của mình, mà còn là quyền chủ động, được đòi hỏi các cơ quan, tổ chức nhà nước đáp ứng. Trên không gian mạng, Nhà nước ta đã có những quy định về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin. Theo đó, công dân có quyền được sử dụng các dịch vụ trên internet, trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật và có nghĩa vụ tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin; phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng xã hội, v.v.
Tuy nhiên, cũng như các quyền khác của con người, việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin phải do pháp luật quy định và trong khuôn khổ pháp luật; quy định rõ mối quan hệ giữa quyềnvới nghĩa vụ công dân; “không được xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”3. Vì thế, việc hạn chế các quyền này “theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”4 là một tất yếu. Những hành vi đăng, phát thông tin xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân,... đều bị pháp luật xử lý. Đi liền với quyền tiếp cận thông tin là những quy định về phân loại những thông tin mà người dân được tiếp cận và những thông tin cơ quan, tổ chức không được phép cung cấp. Như vậy, “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”5; “nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt” hoặc “một số hạn chế nhất định” theo quy định của pháp luật Việt Nam hoàn toàn tương thích, phù hợp với luật quốc tế về quyền con người.
Hiện nay, quyền tự do ngôn luận, báo chí ở Việt Nam không những được bảo đảm tốt mà còn là nhân tố tích cực trong cuộc đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong xã hội. Nhiều vụ tham nhũng lớn được báo chí phanh phui, trước khi cơ quan chức năng phát hiện, như: vụ án Trịnh Xuân Thanh bắt nguồn từ bài báo “Xe tư gắn biển xanh” là một minh chứng. Những năm gần đây, các tổ chức đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc tham gia tích cực việc giám sát, phản biện đối với chính sách của Nhà nước. “Quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới”, tham gia phản biện, giám sát của cá nhân, tổ chức được Đảng, Nhà nước ta tôn trọng, khuyến khích. Tuy nhiên, vấn đề là phản biện ở đâu và động cơ phản biện như thế nào để đảm bảo tính khách quan; tránh hiện tượng “bôi đen” xã hội, bị kẻ xấu lợi dụng gây tổn hại cho người dân, xã hội và đất nước.
2. Kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, báo chí. Những năm gần đây, xuất hiện cái gọi là “đấu tranh bất bạo động”, “bất tuân dân sự”, “hội chứng đám đông” của một số “người bất đồng chính kiến”, v.v. Những hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam của những “người bất đồng chính kiến” được các hãng thông tấn, báo chí phương Tây “tăng âm”, phát tán với các bình luận bao che, cổ súy cho các hành vi phạm tội của họ với luận điệu lặp đi, lặp lại rằng: Việt Nam đang “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận, báo chí, internet”; “vi phạm quyền con người”, v.v. Điều này hoàn toàn phi lý và ngang ngược. Vì, pháp luật Việt Nam không có quy định về cái mà báo chí phương Tây gọi là những “người bất đồng chính kiến”. Do đó, cũng không có quy định pháp luật nào về tội danh đối với “người bất đồng chính kiến”; không có quy định nào về những ý kiến “bất đồng” hay ý kiến khác với Nhà nước là hành vi phạm tội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, một số người lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự chụp cho mình cái mác “người bất đồng chính kiến” để viết, phát tán những nội dung xuyên tạc sự thật, chống phá chế độ xã hội, Nhà nước trên mạng internet, v.v. Điển hình là: Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điển, Trần Hoàng Phúc, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,… và họ đã nhận những bản án thích đáng về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 88, Bộ luật Hình sự (1999). Đó là minh chứng cho cái giá phải trả của việc lợi dụng tự do ngôn luận, báo chí để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam. Trước Tòa, họ biện luận rằng: họ chỉ là những “người bất đồng chính kiến”, đấu tranh hợp pháp, bằng “bất bạo động” và điều này hoàn toàn không vi phạm pháp luật(!) Thực tế chứng minh điều ngược lại. Những người này đã đăng tải nhiều video/clip trên internet, phỉ báng chính quyền, phao tin bịa đặt, xuyên tạc sự thật; lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trong xã hội. Nói cách khác, những “người bất đồng chính kiến” bị pháp luật xử lý là vì hành vi vi phạm pháp luật của chính họ.
Thực tế trên thế giới còn cho thấy, những vụ bạo động lật đổ chế độ thường diễn ra theo chuỗi: bắt đầu bằng đấu tranh “bất bạo động”, “bất tuân dân sự”, phát triển thành gây rối về an ninh trật tự dựa trên “hội chứng đám đông” và cuối cùng là gây bạo loạn lật đổ chính quyền từ cục bộ đến cả nước. Không loại trừ những kẻ cầm đầu kêu gọi lực lượng nước ngoài can thiệp. Đây là “kịch bản kinh điển” của những hoạt động lật đổ chế độ ở một số quốc gia trên thế giới trong những thập niên gần đây.
Ở nước ta, quyền tự do ngôn luận, nhất là quyền sử dụng mạng internet đã và đang bị các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng triệt để để vu cáo, bội nhọ vai trò lãnh đạo cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá chế độ xã hội và Nhà nước ta. Những luận điệu cho rằng: “Chế độ Hà Nội là độc tài toàn trị”, Đảng Cộng sản Việt Nam “chiếm quyền” của dân, “đứng trên pháp luật”,… là một sự vu khống trắng trợn, hoàn toàn sai trái cả về thực tế và lý luận. Cũng như pháp luật của tất cả các quốc gia trên thế giới và pháp luật nói chung, pháp luật về quyền tự do ngôn luận nói riêng luôn luôn có mục tiêu bảo vệ chế độ xã hội. Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị ghi rõ: mọi dân tộc đều có quyền tự quyết; xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa. Quy định này đã mặc nhiên thừa nhận các dân tộc có quyền tự quyết lựa chọn chế độ chính trị; quyền và nghĩa vụ công dân đều do pháp luật của mỗi quốc gia quy định. Hơn nữa, pháp luật luôn mang tính chính trị, lịch sử và đặc thù về văn hóa. Ở nước ta, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Hiến định tại Điều 4, Hiến pháp (2013) và được Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân ta, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ghi nhận. Đảng ta không chỉ là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội mà còn có chức năng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Về thể chế chính trị của nước ta, Điều 2, Hiến pháp (2013), quy định: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”6. Những thông tin, luận điệu cổ súy “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, lấy mô hình “tam quyền phận lập” phương Tây làm đối chứng để bác bỏ thể chế của Nhà nước ta không chỉ là một thủ đoạn bôi nhọ chế độ ta, mà còn ấu trĩ trong nhận thức về sự đa dạng các mô hình xã hội trên thế giới hiện nay.
Như vậy, cả về lý luận, pháp lý và thực tế cho thấy: pháp luật Việt Nam đã tương thích với luật quốc tế về quyền con người; tôn trọng và bảo đảm quyền con người nói chung, quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin nói riêng. Quyền và nghĩa vụ công dân trong thực hiện quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin không chỉ thống nhất, mà còn là điều kiện, tiền đề cho nhau. Công dân muốn được hưởng đầy đủ các quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin thì phải có nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ xã hội, Nhà nước, các quyền và lợi ích của người khác. Ngược lại, các quyền này có thể bị hạn chế hoặc tước bỏ nếu có hành vi vi phạm pháp luật.
TS. CAO ĐỨC THÁI
________________
1 - Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb CTQG, H. 2014, tr. 18.
2 - Tính đến tháng 6-2017, cả nước có 982 cơ quan báo, tạp chí được cấp phép hoạt động; trong đó: 193 báo in, 639 tạp chí, 150 báo điện tử. Số lượng người truy cập internet ước khoảng 64 triệu; Việt Nam đứng thứ 16 trong 20 quốc gia có số lượng người truy cập internet nhiều nhất châu Á.
3 - Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb CTQG, H. 2014, tr. 15.
4, 5, 6 - Sđd, tr. 14, 15, 8-9.
http://tapchiqptd.vn/vi/lam-that-bai-chien-luoc-dbhb/quyen-tu-do-ngon-luan-bao-chi-tiep-can-thong-tin-voi-nghia-vu-cong-dan/11875.html

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2018


TỪ CHÍNH PHỦ KIẾN THIẾT HỒ CHÍ MINH
 ĐẾN CHÍNH PHỦ KIẾN TẠO HIỆN NAY
 Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập trung xây dựng Chính phủ kiến thiết quốc gia với các kế sách diệt giặc đói, giặc dốt, thiết lập cơ quan lập pháp, thực hiện tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết...; xây dựng chính phủ đoàn kết và quy tụ nhân tài, nỗ lực làm việc, một lòng vì nước vì dân, gương mẫu, nói đi đôi với làm; kỷ luật, kỷ cương nghiêm minh; phát huy đầy đủ trí tuệ, sức mạnh, trách nhiệm của nhân dân. Những quan điểm của Người đã đặt nền móng vững chắc cho việc xây dựng Chính phủ kiến tạo hiện nay.
1. Chính phủ kiến thiết Hồ Chí Minh
Trước Cách mạng Tháng Tám (1945), nước ta thuộc chế độ quân chủ chuyên chế mấy nghìn năm và dưới nền thống trị của hai đế quốc chủ nghĩa là Pháp và Nhật. Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, Hồ Chí Minh đã lập nên một chính thể Dân chủ Cộng hòa và bắt tay ngay vào xây dựng đất nước với các kế sách diệt giặc đói, diệt giặc dốt, giáo dục đạo đức, thiết lập cơ quan lập pháp, thực hiện tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết. Như vậy, Chính phủ Hồ Chí Minh là Chính phủ kiến thiết nhất, kiến tạo nhất trong lịch sử của dân tộc. Tất nhiên, đó là kiến tạo, kiến thiết trong hoàn cảnh kháng chiến - kiến quốc, chống thực dân, đế quốc xâm lược và bước đầu quá độ lên CNXH trên phạm vi nửa nước. Thành quả lớn nhất của sự kiến tạo mà Chính phủ Hồ Chí Minh đem lại đó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa dân tộc tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Tinh thần của kiến tạo, kiến thiết đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn tả một cách mộc mạc: “Non hai tháng trước đây, trước cuộc khởi nghĩa 19-8-1945, nói tới hai chữ Chính phủ người ta nghĩ ngay tới một bọn đầu đảng cướp nguy hiểm, xảo quyệt. Trái lại, ai ai đối với Chính phủ nhân dân hiện nay cũng đều có một cảm tình thân mật xen lẫn với một tôn kính sâu xa: Chính phủ đối với ta như người “anh cả” trong gia đình, một đồng chí phụ trách trong một địa phương, một người đứng mũi chịu sào ta có thể vững lòng trông cậy và gửi số mệnh”(1). Phân biệt rõ trước và sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh chỉ rõ: trước là những hội đồng kỳ mục cũ thối nát, phạm vào công lý, tự do của dân chúng... Nay, tức là sau Cách mạng Tháng Tám, “bao nhiêu những cái xấu xa, thối nát, bất công, áp bức của chế độ cũ, của các hội đồng kỳ mục trước sẽ không thể tồn tại trong các Ủy ban nhân dân bây giờ. Ủy ban nhân dân là Ủy ban có nhiệm vụ thực hiện tự do dân chủ cho dân chúng. Nó phải hành động đúng tinh thần tự do dân chủ đó”(2). Tinh thần tự do dân chủ mà Hồ Chí Minh nói đến và Chính phủ do Người đứng đầu thực hiện, chính là một trong những biểu hiện sáng giá nhất của một Chính phủ kiến tạo trong buổi bình minh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Hồ Chí Minh khẳng định “Không phải Chính phủ xuất tiền ra làm. Chính phủ làm một phần; chỉ giúp kế hoạch cổ động, giúp ý kiến. Chính phủ làm một phần, để làm kiểu mẫu cho dân. Một phần đồng bào địa phương tự làm lấy”(3). Kiến thiết, kiến tạo là Chính phủ không phải “vừa đá bóng vừa thổi còi”, không làm thay nhân dân, không làm thay tư nhân; ngược lại phải dựa vào nhân dân, phát huy đầy đủ trí tuệ, sức mạnh, trách nhiệm của nhân dân. Người nói: “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân... Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(4). Chính phủ Hồ Chí Minh là một Chính phủ hoàn toàn chủ động trong việc thiết kế chiến lược phát triển đất nước với đường lối “kiến quốc” trên tất cả các mặt; chủ động đối phó với những diễn biến hết sức phức tạp, bất lợi khi thù trong, giặc ngoài quyết liệt phá hoại thành quả của cách mạng. Hồ Chí Minh là người mở đường, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho giới công thương và các giới khác. Từ năm 1946, Người đã tuyên bố “Quyền tư hữu tài sản của công dân được bảo đảm và Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của những người lao động riêng lẻ”. Điều đặc biệt nhất là ngay từ kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I (10-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến Chính phủ liêm khiết, Chính phủ kiến thiết quốc gia, xây dựng một nước Việt Nam mới, Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái, Chính phủ chú trọng thực tế, nỗ lực làm việc, biết làm việc, có gan góc, một lòng vì nước, vì dân. Về bản thân, Hồ Chí Minh gương mẫu hứa trước Quốc hội “không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài”. Người đào tạo, bồi dưỡng một đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức luôn gương mẫu, nói đi đôi với làm, nói ít làm nhiều. Người xây dựng nền chính trị “đoàn kết và thanh khiết”, kỷ luật, kỷ cương nghiêm minh, tự giác. Chính phủ Hồ Chí Minh, từ Chủ tịch nước đến các Phó Chủ tịch và Nội các toàn tâm, toàn ý phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Quan điểm của Hồ Chí Minh là “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”; để giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.
Hồ Chí Minh duy nhất một lần tuyên bố trước Quốc hội về một Chính phủ liêm khiết, kiến thiết, đoàn kết, thực tế, nỗ lực làm việc, một lòng vì nước, vì dân, nhưng trong một phần tư thế kỷ (1945-1969), Chính phủ đó đã làm nên những kỳ tích, những điều tưởng chừng “không thể”. Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, cùng với những thành tựu vĩ đại khác mãi mãi được ghi vào lịch sử như một trong những giai đoạn chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc. Những trang sử chói lọi của cách mạng Việt Nam dưới sự tổ chức dẫn dắt của Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mãi mãi gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người khai sinh nền Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, người vun trồng khối đại đoàn kết dân tộc và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng.
Với những nội dung nêu trên, chúng ta hiểu và khẳng định Chính phủ Hồ Chí Minh là một Chính phủ kiến tạo, đặt nền móng vững chắc cho việc xây dựng Chính phủ kiến tạo các giai đoạn sau.
2. Chính phủ kiến tạo hiện nay
Hiện nay, còn có nhiều cách hiểu khác nhau về nội hàm Chính phủ kiến tạo. Có ý kiến hỏi: “Chính phủ kiến tạo là tuyên ngôn hành động hay mô hình của Chính phủ”? Chính phủ kiến tạo khác gì với Chính phủ điều hành từ trước đến nay? Kiến tạo khác gì kiến thiết? “Kiến tạo” và “kiến thiết” có mối quan hệ thế nào? Chính phủ kiến tạo hay kiến tạo Chính phủ? Chính phủ kiến tạo là Chính phủ hành động, Chính phủ phục vụ, Chính phủ liêm chính hay là thiết kế, xây dựng một Chính phủ có bốn nội dung: Kiến tạo - Hành động - Phục vụ - Liêm chính?...
Rõ ràng là chúng ta chưa định hình được một khung lý thuyết sáng tỏ và mạch lạc về Chính phủ kiến tạo. Gần đây, trả lời chất vấn trực tiếp tại kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XIV (18-11-2017), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc lần đầu tiên nêu định nghĩa về “Chính phủ kiến tạo”. Theo ông, Chính phủ kiến tạo phải là: (1) Một chính phủ chủ động thiết kế ra một hệ thống pháp luật tốt, những chính sách tốt, thể chế tốt để nuôi dưỡng nền kinh tế phát triển, chứ không phải bị động đối phó với những diễn biến trên thực tế. (2) Nhà nước không làm thay thị trường, những khu vực nào thị trường có thể làm được, doanh nghiệp tư nhân có thể làm được thì nhà nước không can thiệp mà tạo điều kiện cho doanh nghiệp làm; Nhà nước đầu tư vào những khu vực doanh nghiệp tư nhân không thể đầu tư. (3) Chính phủ kiến thiết một môi trường kinh doanh thuận lợi. (4) Nói đi đôi với làm; kỷ luật, kỷ cương nghiêm minh; phải thay ngay cán bộ không đáp ứng yêu cầu công việc. Xây dựng chính quyền điện tử, thương mại điện tử, tòa án điện tử...
“Chính phủ” theo tiếng Hy Lạp là “cầm lái”. Công việc của chính phủ là cầm lái. Điều này, ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói tới khi Người khẳng định “nếu không có chính phủ thì không ai dẫn đường”. Chính phủ “dẫn đường” của chính phủ không hoàn toàn giống nhau. Nhưng cơ bản của nội dung “dẫn đường”, “cầm lái” có nghĩa là chính phủ ban hành cơ chế, chính sách và xây dựng bộ máy nhân lực; tạo ra một phương thức quản lý thích hợp để kiến tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho các hoạt động, các tầng lớp nhân dân phát huy mọi tiềm năng phát triển. Điều quan trọng nhất không phải ở tuyên ngôn mà là hành động.
Chính phủ kiến tạo hiện nay là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và tư duy, nhận thức của các nhiệm kỳ trước về tinh thần của một chính phủ kiến tạo. Trong nhiệm kỳ 2011-2015, người đứng đầu Chính phủ cũng đã khẳng định: “phải chuyển mạnh từ nhà nước điều hành nền kinh tế sang nhà nước kiến tạo phát triển”. Hiểu một cách khác, qua hơn 30 năm đổi mới, rõ ràng là chúng ta đang vận hành một Chính phủ kiến tạo phát triển.
Điều cần thiết nhất hiện nay là phải xác định được mục đích và nguồn lực của chính phủ kiến tạo. Mục đích của chính phủ kiến tạo phải vì dân và do dân. Chính phủ vì dân nghĩa là việc gì lợi cho dân, dù nhỏ mấy cũng phải hết sức làm; việc gì hại cho dân, dù nhỏ mấy cũng phải tránh. Chính phủ do dân là phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.
Tình hình thế giới và trong nước hiện nay có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới to lớn, phức tạp hơn đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi Đảng, Chính phủ và nhân dân ta phải quyết tâm, nỗ lực phấn đấu mạnh mẽ hơn nữa. Tất cả những nhận thức với các chiều cạnh khác nhau nêu trên, chúng ta hiểu chính phủ kiến tạo hiện nay là một chính phủ đang tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách để phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Muốn vậy, phải chú trọng chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở nâng cao năng suất lao động, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chủ động hội nhập quốc tế.
Phát triển chiều sâu trong mô hình tăng trưởng hiện nay phải chú trọng cả vốn đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước. Trong khi sử dụng hiệu quả các nguồn lực bên ngoài, phải phát huy vai trò quyết định của nội lực, trong đó chú trọng vai trò của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp FDI và khu vực sản xuất nông nghiệp.
Để kiến tạo phát triển, phải đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại đồng bộ, tổng thể nền kinh tế và các ngành, các lĩnh vực. Trọng tâm là đầu tư công, cơ cấu lại thị trường tài chính, trọng tâm là các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính; cơ cấu lại ngân sách nhà nước; giải quyết nợ xấu, bảo đảm an toàn nợ công, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới.
Chính phủ kiến tạo, như trên đã nói, cuối cùng là mục đích hoạt động của Chính phủ. Đại hội XII xác định phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nước công nghiệp theo hướng hiện đại phải đạt các tiêu chí phát triển về kinh tế, xã hội và môi trường. Đó là những vấn đề mà chính phủ kiến tạo phải quan tâm.
Kiến tạo là để phát triển, vì phát triển và phải phát triển nhanh, bền vững. Vì vậy, trên cơ sở thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phải thể chế hóa đầy đủ quyền sở hữu tài sản; sở hữu trí tuệ; huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, tài sản công. Đặc biệt, hoàn thiện thể chế phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Không phân biệt hình thức sở hữu, thành phần kinh tế trong việc kinh doanh của các doanh nghiệp. Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật. Bảo đảm quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh của các chủ thể kinh tế đã được Hiến pháp quy định; xóa bỏ các rào cản đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động khởi nghiệp. Hoàn thiện thể chế về cạnh tranh; đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường, quản trị doanh nghiệp phải đáp ứng các chuẩn mực quốc tế, hoạt động theo cơ chế thị trường. Các đơn vị sự nghiệp công lập phải được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về phạm vi hoạt động, về tổ chức bộ máy, biên chế, nhân sự và tài chính. Chính phủ phải có cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các hợp tác xã tiếp cận nguồn vốn, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ phát triển thị trường. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo thuận lợi phát triển khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài.
Chúng ta quan niệm nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Vì vậy, Chính phủ có trách nhiệm xây dựng và thực hiện thể chế phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường; gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo đảm phát triển bền vững, tiến bộ và công bằng xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo đảm môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.
Một chính phủ kiến tạo phải là sự hoạt động đồng bộ của cả hệ thống từ chính phủ Trung ương đến chính quyền địa phương. Không thể “trên nóng dưới lạnh” như người đứng đầu Chính phủ đã chỉ ra. Chính phủ và chính quyền địa phương phải có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết, không thể “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Nhiều địa phương cấp tỉnh, thành phố, quận, huyện, phường, xã hiện nay đang có những vấn đề ở các mức độ và tính chất khác nhau, như bộ máy chưa trơn tru, đồng bộ, khoa học. Đó chưa thể gọi là một chính phủ kiến tạo.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ rõ: chính phủ kiến tạo thì phải được lòng dân, lấy lòng dân làm thước đo. Có những cái đúng pháp luật, thậm chí đúng thực tế, nhưng không được lòng dân, không được dân đồng tình, ủng hộ thì cần phải xem lại. Chỉ đạo của Thủ tướng thể hiện sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh khi xây dựng chính phủ kiến tạo trong tình hình, bối cảnh hiện nay. Hồ Chí Minh dạy: “Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc, đều vì lợi ích của quần chúng, vì cần cho quần chúng. Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại. Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên mà đặt ra. Nếu cần làm thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc. Đằng này, cán bộ ta chỉ biết khư khư giữ nếp cũ. Cái không hợp cũng không dám sửa bỏ. Cái cần thiết cũng không dám đặt mới. Đó là thói không phụ trách“quá hữu, gặp sao hay vậy”(5). Tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với một Chính phủ kiến tạo trong bối cảnh đổi mới và hội nhập hiện nay, nhất là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Cốt tủy của một chính phủ kiến tạo là cán bộ và công tác cán bộ. Bởi vì mọi việc đều do người làm ra, từ nhỏ đến to, từ xưa đến nay đều như vậy cả. Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Vấn đề cán bộ quyết định mọi việc. Cơ chế, bộ máy tốt mà con người không có đạo đức, cố tình xuyên tạc, phá hoại thì không cơ chế, bộ máy nào phát huy nổi hiệu lực, thậm chí gây hậu quả khôn lường. Vì vậy, cùng với việc nâng cao năng lực, hiệu quả xây dựng và thực hiện thể chế, đường lối, chủ trương của Đảng thì điều trọng yếu bậc nhất vừa trước mắt, vừa lâu dài là xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực trí tuệ, bản lĩnh và phương pháp, phong cách công tác theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Một đội ngũ cán bộ phải hết lòng, hết sức, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, dám chịu trách nhiệm trước nhân dân, không tham quyền cố vị, tránh xa vòng danh lợi. Nếu không vậy thì những nghị quyết và những chỉ thị, tuyên ngôn về chính phủ kiến tạo sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng(6) như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo.
Không thể chấp nhận một bộ máy hành chính từ Trung ương (Chính phủ) đến địa phương (chính quyền địa phương) mà từ việc nhỏ đến việc lớn, phải có ý kiến của Thủ tướng thì mới giải quyết. Chính phủ kiến tạo, hành động, phục vụ, liêm chính không có đất cho loại cán bộ không có năng lực giải quyết công việc, thiếu tính chuyên nghiệp trong nhiệm vụ, chức trách được giao, nói không đi đôi với làm, thiếu tinh thần trách nhiệm.
Muốn có cán bộ tốt, không phải chỉ làm “đúng quy trình”, vì trong mỗi bước quy trình thì điều quan trọng nhất là chất lượng. Phải kiểm soát được chất lượng các khâu của quy trình, nếu không, “đúng quy trình” chỉ là cái vỏ che chắn. Vì vậy, phải làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh “để cho dân chúng phê bình cán bộ, dựa theo ý kiến họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư, thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng”(7).
Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII “Về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, tháng 6-2017 đề cập đến việc nâng cao năng lực xây dựng và thực hiện thể chế của Nhà nước với ý nghĩa là một mắt khâu quan trọng của Chính phủ kiến tạo. Một trong những nhiệm vụ cần tập trung thực hiện từ nay đến năm 2020 là “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nền kinh tế và năng lực kiến tạo sự phát triển của Nhà nước, đặc biệt là năng lực, hiệu quả thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách của Nhà nước”(8).
Việc Nhà nước xây dựng và thực hiện thể chế được nêu trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII có thể coi là những nội dung căn cốt của chính phủ kiến tạo hiện nay mà chúng ta đang ra sức thực hiện.
_________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2017
(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.21, 22.
(3), (5), (6), (7) Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.81, 286, 290, 336.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.232.
(8) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2017, tr.54.

PGS, TS Bùi Đình Phong
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nguyen-cuu-ly-luan/item/2506-tu-chinh-phu-kien-thiet-ho-chi-minh-den-chinh-phu-kien-tao-hien-nay.html


CẦN LÊN ÁN VÀ XỬ LÝ NGHIÊM NHỮNG KẺ
KÍCH ĐỘNG GÂY RỐI CHỐNG PHÁ CHÍNH QUYỀN
                                                                Trần Trí Nam
Lấy cớ phản đối dự thảo Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt, các phần tử phản động đã câu kết với một số đối tượng bất hảo, kích động, xúi giục, lôi kéo nhiều người dân (đa số là thanh, thiếu niên) tham gia gây rối, hủy hoại tài sản công, phá rối an ninh trật tự, gây hậu quả nghiêm trọng tại TP Phan Thiết và huyện Tuy Phong (Bình Thuận),… Và ý định tát nước theo mưa cũng được các phần tử cơ hội chính trị cổ súy gây ra đình công của công nhân Tp Hồ Chí Minh, gây rối ở Đồng Nai và một số địa phương khác. Đây rõ ràng là thủ đoạn vô cùng nham hiểm nhằm phá hoại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở Việt Nam.
Những diễn biến của tình hình mấy ngày qua là những điều chưa từng xảy ra khi Việt Nam giành được độc lập, thống nhất Tổ quốc đến nay. Hiện lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng như các địa phương xảy ra bạo loạn đang tích cực chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra và xử lý nghiêm, nhất là những kẻ cầm đầu, chủ mưu. Rõ ràng, những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các đối tượng gây án cần phải được lên án và khẩn trương điều tra để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật Việt Nam. Bởi lẽ, hành vi lợi dụng lòng yêu nước của lớp trẻ và những người nhẹ dạ cả tin để chống phá chính quyền gây hậu quả nghiêm trọng đã vi phạm vào quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015. Mặt khác, hành vi đó còn làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế, xã hội, tâm lý, tình cảm của nhân dân trên từng địa bàn. Và qua nắm thông tin của cơ quan báo chí, tất cả bà con đều lên án và mong mỏi cần nghiêm trị hành vi này.
Mong rằng các bậc cha mẹ và mọi người dân cần giáo dục, nhắc nhở con cháu mình, và luôn đề cao cảnh giác không nghe theo những lời xúi giục, kích động trên mạng xã hội của những phần tử xấu, bọn phản động; không để lòng yêu nước của mình bị lợi dụng để trở thành nạn nhân trớ trêu, con rối do những kẻ xấu xúi giục./.




Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...