Thứ Tư, 20 tháng 12, 2017

ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI THỦ ĐOẠN THÚC ĐẨY “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG NỘI BỘ QUÂN ĐỘI

          Hiện nay, các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ và thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với Quân đội nhân dân Việt Nam. Một trong những âm mưu, thủ đoạn của chúng là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ quân đội. Chúng ta nhận thấy rằng chiến lược “diễn biến hòa bình” và âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là âm mưu, thủ đoạn và cũng là mục tiêu mà chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang tiến hành đối với cách mạng Việt Nam. Chính vì vậy, tăng cường đấu tranh phản bác lại các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch; ngăn chặn đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, đây cũng là nhiệm vụ cấp bách trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Hội Nghị Trung ương 4 Khóa XII đặt ra. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngăn chặn, đẩy lùi tình những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, qua điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”[1].
          Chúng ta cần nhận thức rõ bản chất và nguyên nhân của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thực chất là một quá trình suy thoái từ bên trong nội bộ; một mặt, do tác động khách quan, như: mặt trái của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và do âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch thức đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vào từng con người và từng tổ chức; mặt khác là từ nguyên nhân chủ quan do một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong hai nguyên nhân đó, nguyên nhân về chủ quan là chủ yếu.
Biểu hiện của quá trình thúc đẩy “tự diễn biến” có chủ đích của các thế lực thù địch và quá trình “tự chuyển hóa” diễn ra từng bước, làm cho cán bộ, chiến sĩ suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, xa rời bản chất giai cấp công nhân, giảm sút sức mạnh chiến đấu và làm phai mờ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chệch hướng sang quỹ đạo chính trị của quân đội tư sản- quân đội phản cách mạng, tiến tới vô hiệu hóa lực lượng vũ trang, lực lượng chiến đấu tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          Quá trình “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường diễn ra theo kiểu “mưa dầm thấm lâu” bởi sự tác động tiêu cực do hoạt động tuyên truyền của các thế lực thù địch và diễn biến phức tạp của tình hình trong nước, trên thế giới, đặc biệt là khi tình trạng mất dân chủ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, phân hóa đẳng cấp, giàu- nghèo,…trong nội bộ chưa được kiểm soát và ngăn chặn triệt để, hiệu quả. Đối tượng của nó là mọi tổ chức, cá nhân, nhất là những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền ở các đơn vị chiến lược, trọng yếu và quan trọng; những người bản lĩnh chính trị không vững vàng, những phần tử cơ hội, thiếu rèn luyện, kỷ luật kém, bất mãn.
Bên cạnh sử dụng những phương pháp thông thường (như phát tờ rơi, rải truyền đơn, tổ chức hội thảo, rỉ tai,…), các thế lực thù địch triệt để lợi dụng tiện ích của internet để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chúng tán phát tài liệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam; khoét sâu khó khăn, hạn chế, nhất là ở những vấn đề hệ trọng, nhạy cảm, để thổi phồng thành “khuyết tật” quy thành “bản chất” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chúng ra sức tuyên truyền: “thời bình chỉ có đối tác, không có kẻ thù, không có đối tượng”, “Quân đội chỉ có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, không phải là công cụ để bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ,…”; phủ nhận quan điểm, đường lối, nguyên tắc xây dựng Quân đội và cơ chế lãnh đạo của Đảng với Quân đội. Đặc biệt, nhân các sự kiện trọng đại của Đảng, đất nước, như: đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và những vụ việc “nóng” ở Biển Đông, Biên giớiChúng lại tăng cường chống phá, thậm chí mở chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc, kích động dưới mọi hình thức hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, mất cảnh giác, giảm sút lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng và cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân. Biểu hiện tác động của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một số ít cán bộ, chiến sĩ ở mức độ thấp là hoang mang, dao động, ở mức nghiêm trọng hơn là nói và làm không theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Điều lệnh, điều lệ của Quân đội, quy định của đơn vị.
 Chúng ta biết, mục đích của việc thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là hòng vô hiệu hóa Quân đội, đưa ra quan điểm “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam; phản bác, phủ định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phủ nhận những thành tựu to lớn mà nhân dân đã giành được trong các thời kỳ cách mạng; gây bè phái, chia rẽ cấp trên, cấp dưới, đồng chí, đồng đội làm mất đoàn kết nội bộ; đồng thời chúng kích động tư tưởng bất mãn, bất bình, chống đối, ca ngợi những “anh hùng” đấu tranh cho “dân chủ”, “nhân quyền”. Đây là thủ đoạn hết sức thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch.
 Vì thế, đấu tranh làm thất bại thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, là vấn đề quan trọng, cấp thiết đối với toàn quân, nhất là cấp ủy, chỉ huy các cấp. Để thực hiện có hiệu quả cần triển khai đồng bộ các giải pháp, chú trọng những giải pháp cơ bản sau:
        Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, kiên định với hệ tư tưởng của Đảng, nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, trách nhiệm, quyết tâm đấu tranh cho cán bộ, chiến sĩ.
Đây là giải pháp cơ bản nhằm giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ chiến sĩ trong đơn vị tuyệt đối tin tưởng vào đường lối quan điểm của Đảng, có mục tiêu lý tưởng đúng đắn trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, hoàn thành tốt nhiệm vụ của bản thân và đơn vị. Góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng Quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đáp ứng với yêu cầy của sự nghiệp đổi mới của đất nước, Bảo vệ Đảng, Nhà Nước, nhân dân và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa .
Chính vì vậy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quá trình giáo dục cần chú trọng giáo dục sâu về chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam của các thế lực thù địch. Cùng với đó, phải cung cấp thông tin chính thống, chính xác, kịp thời để định hướng tư tưởng, nhận thức cho bộ đội; đồng thời, làm cho bộ đội nắm, hiểu rõ bản chất phản động, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch và vị trí, tầm quan trọng của cuộc đấu tranh, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Từ đó, nêu cao ý chí, quyết tâm, tinh thần trách nhiệm, luôn nhạy bén trong nhận diện rõ đối tượng, đối tác, đúng, sai, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá các thế lực thù địch.
 Hai là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, quản lý chặt chẽ về tư tưởng chính trị và mối quan hệ của bộ đội, trước hết là cán bộ, đảng viên. 
Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần thực hiện có hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát trong đơn vị cũng như sâu sát trong quá trình nắm bắt tình hình mọi mặt của đơn vị. Để công tác này có hiệu quả, các cấp cần thực hiện tốt phương châm “tích cực, chủ động phòng ngừa, lấy bảo vệ mình là chính, quản lý phải tiến hành thường xuyên, liên tục”, thực hiện tốt nội dung, quy trình, các bước của công tác quản lý tư tưởng, quản lý kỷ luật; nắm chắc tình hình, diễn biến tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của quân nhân; phân tích, đánh giá, kịp thời giải quyết hiệu quả những vấn đề nảy sinh, giữ vững ổn định về tư tưởng, sự thống nhất, đồng thuận cao trong đơn vị.
Đồng thời, duy trì có nền nếp chế độ báo cáo, giao ban, phản ánh ở từng cấp; kết hợp chặt chẽ giữa quản lý tư tưởng với quản lý bộ đội, “xây” đi đôi “chống”, lấy “xây” là chính. Chú trọng việc duy trì nghiêm chế độ học tập, sinh hoạt, công tác, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm kỷ luật, quy định rõ trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ huy; thực hiện có hiệu quả Quy chế Dân chủ ở cơ sở, Ngày chính trị và văn hóa tinh thần, sinh hoạt tư tưởng, tăng cường trao đổi, tọa đàm, đối thoại để nắm chắc tình hình mọi mặt và trực tiếp giải quyết những vướng mắc, nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của bộ đội. Cùng với đó, các cấp cần tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng gian, bảo mật, kiên quyết không để lộ, lọt thông tin ra bên ngoài và chủ động ngăn chặn có hiệu quả những tác động tiêu cực từ bên ngoài vào đơn vị.
             Ba là, xây dựng, phát huy vai trò của lực lượng chuyên trách trong đấu tranh với âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch và trong phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ
 Đây là lực lượng trực tiếp đấu tranh, làm thất bại thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch. Vì vậy, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần quán triệt các quy định, hướng dẫn của trên, chức năng, nhiệm vụ và thực tiễn đơn vị để xây dựng lực lượng chuyên trách theo hướng “tinh, gọn, mạnh”. Nòng cốt của lực lượng này là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, kiến thức toàn diện, chuyên sâu, có năng lực khai thác tư liệu, tài liệu, tổ chức đấu tranh, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Lực lượng này phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy, chỉ huy và đồng thời các thành viên thuộc lực lượng này phải hoạt động theo quy chế, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; tình hình trong nước; ngoài nước; nhiệm vụ Quân đội; đơn vị; âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của thế lực thù địch,… tích cực tham mưu với trên và có biện pháp trực tiếp, trực diện đấu tranh có hiệu quả.
 Đây là một số giải pháp để góp phần đấu tranh với chiến lược “Diễn biến hòa bình” và đấu tranh làm thất bại thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại là lực lượng tuyệt đối trung thành của Đảng, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
An Nhiên




[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG,H, 2016, tr. 201

Thứ Ba, 12 tháng 12, 2017

ĐẤU TRANH, PHÒNG NGỪA VỚI CÁC BIỂU HIỆN
ĐÒI THỰC HIỆN ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP
Khánh Anh
Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ ra những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong đó có biểu hiện “đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”.
Việc chỉ rõ thực chất, tác hại, sự cần thiết phải đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện “đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng” và khẳng định vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một trong những vấn đề cấp thiết nhằm góp phần đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đồng thời, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến’, “tự chuyển hóa” ở nước ta hiện nay.
Thực tiễn cho thấy, trong quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch rất quan tâm đến việc chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực thù địch thường xuyên tuyên truyền, kích động, kêu gọi tán dương, cổ xúy cho quan điểm “đa nguyên, đa đảng”, “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”.
Mục tiêu của những luận điệu hô hào, cổ xúy đòi "đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập" không gì khác là hạ thấp và đi tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, đối với xã hội Việt Nam, bằng những lời lẽ hết sức mị dân. Họ cho rằng chỉ có “thực hiện chế độ “đa nguyên, đa đảng” thì “xã hội Việt Nam mới nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo”; chỉ có "đa nguyên, đa đảng" thì xã hội mới có dân chủ thực sự... Thực chất của luận điểm trên là muốn gây ra những khó khăn trong quá trình phát triển của xã hội Việt Nam, nhất là làm cho chính trị - xã hội không ổn định, kinh tế suy giảm, văn hóa xuống cấp, các mâu thuẫn và xung đột xã hội nảy sinh và ngày càng gia tăng, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
“Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” là luận điểm mang nặng tính chất mị dân, rất dễ gây nên sự ngộ nhận, nhất là đối với những người nhận thức có phần còn hạn chế, từ đó có thể gây nên sự mơ hồ, lẫn lộn, có thể dẫn tới sự dao động về tư tưởng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam, đối với xã hội Việt Nam; gây nên sự phân tâm trong xã hội; làm suy giảm và có thể đi đến mất dần niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực hiện chế độ nhất nguyên chính trị, một Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất lãnh đạo xã hội Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử cách mạng Việt Nam. Đó cũng là sự lựa chọn đúng đắn của chính nhân dân Việt Nam trong quá trình đấu tranh cách mạng đầy khó khăn, gian khổ, hy sinh. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một hiện tượng hoàn toàn hợp quy luật, phản ánh những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đã chín muồi trong quá trình vận động của cách mạng Việt Nam.
Thực tiễn cho thấy, ở Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều đó không phải là do mong muốn chủ quan của Đảng, mà chính là sự giao phó của lịch sử, của cách mạng Việt Nam thông qua quá trình sàng lọc, lựa chọn một cách đúng đắn. Bằng sự thể nghiệm xương máu trong cuộc đấu tranh cách mạng với bao khó khăn, gian khổ, hy sinh của nhiều thế hệ người Việt Nam, mà nhân dân ta đã chọn và thừa nhận: Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo mới đảm bảo cho xã hội Việt Nam phát triển tiến bộ.
Lịch sử cách mạng Việt Nam trong gần 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy: Đảng Cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn xứng đáng với sự lựa chọn, giao phó của lịch sử, sự tin cậy của nhân dân. Đảng đã lãnh đạo nhân dân làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Đảng đã đưa dân tộc ta từ một dân tộc không có độc lập đến một dân tộc độc lập có tên trên bản đồ thế giới; đưa nhân dân ta từ kiếp nô lệ đến dân chủ, tự do, hạnh phúc. Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, phát triển. Chính trị-xã hội của đất nước ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa-xã hội có bước phát triển. Bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định đảm bảo cho xã hội Việt Nam được từng bước phát triển bền vững vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Vấn đề đặt ra đối với chúng ta hiện nay không phải là lựa chọn một đảng hay đa đảng mà là phải thực hiện tốt hơn nữa vai trò, sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo đảm cho xã hội ngày càng phát triển bền vững theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, cần quan tâm làm tốt một số vấn đề sau đây:
Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, nhất là năng lực đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo trên cơ sở trung thành và phát triển Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh nghiệm của các nước phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo. Chăm lo xây dựng đội ngũ đảng viên xứng đáng là người lãnh đạo, là “đầy tớ” trung thành của nhân dân. Tích cực đấu tranh ngăn ngừa, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tiếp tục thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Hai là, Đảng phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hành động và phát triển, nhất là tăng cường cải cách hành chính, giảm phiền hà cho nhân dân. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước vừa có đức, vừa có tài, vừa “hồng”, vừa “chuyên”, nhất là phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp, tác phong công tác, xứng đáng là “công bộc” của dân.
Ba là, Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành từ Trung ương đến các địa phương cần kịp thời ban hành và thực hiện tốt những chủ trương, chính sách “hợp lòng dân” nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng cao, vùng xa, những căn cứ cách mạng trước đây và những gia đình, những người có nhiều công lao đóng góp cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với những chế độ, chính sách phù hợp.
Bốn là, chăm lo xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển nhanh và bền vững, đi đôi với bảo đảm cho nền kinh tế phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, nhất là thu hẹp dần khoảng cách phân hóa giàu nghèo.
Năm là, quan tâm giải quyết tốt những vấn đề xã hội, nhất là những vấn đề bức xúc, nổi cộm, những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, xây dựng và phát huy sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc Việt Nam, cả người Việt Nam ở trong nước và những người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc; tạo nên sự đồng thuận xã hội rộng lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân được thụ hưởng mọi thành quả lao động mà chính mình đã sáng tạo ra.

Sáu là, đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, nhất là trong bộ máy Đảng và Nhà nước, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; làm trong sạch bộ máy, trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm khắc, dứt điểm các vụ việc tham nhũng nghiêm trọng gây hậu quả lớn nhằm củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, BÓP MÉO
VAI TRÒ CỦA CÁC KÊNH THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG CHÍNH THỐNG
CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY
                                         Long Vĩ
  Gần đây trên các trang mạng xã hội có đăng bài “Tại sao Việt Nam không thể kìm hãm Facebook” của Nam Việt. Xuyên suốt bài viết là những lập luận, dẫn chứng nhằm tuyệt đối hoá vai trò của Facebook trong việc cung cấp thông tin nhanh chóng, kịp thời khách quan hơn so với hệ thống thông tin truyền thông chính thống của Đảng và Nhà nước ta. Đây là nhận định hết sức phản động cần phê phán, bác bỏ.
  Thứ nhất, những chứng cứ mà Nam Việt đưa ra là hoàn toàn sai trái, bịa đặt phản ánh rõ sự thiếu cập nhật thông tin theo dõi về các diễn biến của tình hình chính trị - xã hội Việt Nam thời gian qua.
  Nam Việt cho rằng: Việc độc giả Việt Nam nhận được những thông tin chủ yếu từ Facebook, chứ không phải là từ các phương tiện truyền thông chính thống, đã chứng minh sự phát triển của mạng truyền thông xã hội có hơn một nửa số người Online của tổng hơn 90 triệu người dân. Như chúng ta đã biết, trước sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công hiện đại, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã tác động sâu sắc, toàn diện tới các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh mặt tích cực do Facebook đem lại đó là: cung cấp thông tin một cách kịp thời, nhanh chóng góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của con người; mở rộng, lan toả thông tin, kết giao bạn bè, quảng bá sản phẩm, hỗ trợ công tác tuyên truyền nhanh chóng, hiệu quả. Thì, mặt trái của Facebook cũng không thể xem thường đó là: Những thông tin trên Facebook ít được kiểm chứng xác thực, có nhiều thông tin không chính xác, gây hậu quả xấu cho cá nhân và xã hội. Lạm dụng quá mức vào Facebook sẽ dẫn đến đắm chìm trong thế giới ảo, thờ ơ, dửng dưng với mọi người, không muốn và không biết cách giao tiếp, chia sẻ với mọi người xung quanh, thậm chí mất niềm tin nơi cuộc sống đời thực, dẫn đến mặc cảm trong cô đơn, trầm cảm, thu mình lại, làm gia tăng tệ nạn xã hội, những hành vi bạo lực, lừa gạt tiền bạc, tình cảm, tài sản… Hơn nữa, các thế lực thù địch hiện nay đang triệt để lợi dụng Facebook để thực hiện chiến lược “Diễn biến hoà bình” chống phá cách mạng Việt Nam, tung lên Facebook rất nhiều thông tin khác nhau, gây hoang mang, nhiễu loạn thông tin, thật - giả, tốt - xấu, trắng - đen lẫn lộn rất khó phân biệt. Còn mạng thông tin chính thống, ở đó là những người có tri thức, được tuyển chọn một cách kỹ càng, có quá trình trải nghiệm cuộc sống, công việc, rất biết phận biệt đúng – sai, tốt – xấu, nên – chăng,… Vả lại họ được đào tạo là những người công bộc của dân “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm. Việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”. Do đó, chỉ có theo dõi mạng thông tin truyền thông chính thống mới cung cấp, đem lại cho người đọc, người nghe, người xem thông tin chính xác, có độ tin cậy cao. Việc bao biện, thanh minh, cổ suý, tuyệt đối hoá vai trò Facebook và hạ thấp vai trò mạng truyền thông chính thống của Nam Việt là hoàn toàn sai trái, phản động, cần phải hết sức cảnh giác, lên án và bác bỏ.
  Thứ hai, mạng thông tin truyền thông chính thống là địa chỉ tin cậy, phản ánh chính xác, kịp thời về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước.
  Đối với mỗi quốc gia, dân tộc trong quá trình tồn tại, phát triển của mình đều có hệ thống thông tin truyền thông chính thống để phục vụ cho việc tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của quốc gia, dân tộc mình. Đối với Việt Nam chúng ta, hệ thống thông tin truyền thông chính thống đã trở thành công cụ, phương tiện hữu ích, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng của dân tộc; là tiếng nói của nhân dân, cầu nối giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước. Qua hệ thống thông tin truyền thông chính thống đã củng cố, tăng cường lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước, tạo sự đồng thuận xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nỗ lực phấn đấu, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, nhân rộng các điển hình tiên tiến, các gương người tốt, việc tốt; bảo vệ công lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân, các giá trị, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; phê phán, đấu tranh với cái xấu, cái ác, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực trong mọi lĩnh vực; góp phần đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tăng cường sự đoàn kết, ủng hộ quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, cả nước hiện có 857 cơ quan báo chí, trong đó có 199 cơ quan báo chí in (86 báo trung ương, 113 báo địa phương), 658 tạp chí (521 tạp chí T.Ư, 137 tạp chí địa phương), một hãng thông tấn quốc gia; 105 báo, tạp chí điện tử (83 báo, tạp chí điện tử của cơ quan báo chí in và 22 báo, tạp chí điện tử độc lập). Tổng cộng, có 248 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí; 67 đài phát thanh truyền hình (02 đài quốc gia); 183 kênh chương trình phát thanh truyền hình quảng bá (106 kênh truyền hình, 77 kênh phát thanh quảng bá); 75 kênh chương trình truyền hình trả tiền. Do vậy, những trang mạng thông tin không chính thống dù có phát triển như thế nào đi chăng nữa sẽ không bao giờ thay thế được những phương tiện thông tin truyền thông chính thống của Đảng, Nhà nước ta.
Đặc biệt trong điều kiện bùng nổ thôn tin như hiện nay, thông tin càng nhanh nhạy, càng phong phú càng tốt, tuy nhiên thông tin cũng phải trung thực, chính xác, toàn diện và không thổi phồng hoặc bôi đen. Tức là thông tin có sự cân nhắc hiệu quả xã hội, vì lợi ích chung, không vì giật gân, câu khách, không mơ hồ, mất cảnh giác, để lộ bí mật quốc gia…. Trong quá trình đó, vẫn có người cố ý cho rằng, mạng xã hội facebook, zalo, youtube hay báo chí phương Tây là trung thực, tự do và đòi các kênh thông tin tuyên truyền và báo chí cách mạng phải làm như các trang mạng xã hội và báo chí phương Tây. Thực ra các cơ quan thông tin đại chúng lớn trên thế giới đều được các tập đoàn tư bản lớn hoặc chính phủ đỡ đầu và bảo trợ vê tài chính; phần lớn các cơ quan truyền thông đều nằm trong tay tư nhân và chịu sự kiểm duyệt của họ. Sự trung thực và tự do của nó là sự trung thực và tự do có lợi cho các ông chủ tư nhân bỏ tiền nuôi dưỡng nó. Đó chính là sự khác biệt về bản chất giữa các trang mạng xã hội và nền báo chí tư sản với các kênh thông tin, truyền thông của Đảng, Nhà nước ta và báo chí cách mạng.
Do đó, vấn đề giữ vững định hướng chính trị tư tưởng cho báo chí và các kênh thông tin tuyên truyền chính thống – mà ở đây là ĐLDT gắn liền với CNXH – làm cho các kênh thông tin tuyên truyền chính thống và báo chí tự ý thức, tự giác ngộ vì điều đó, không ngừng cổ vũ và bảo đảm cho thông tin tuyên truyền chính thống phát hiện và góp phần đấu tranh làm giữ vững ổn định chính trị - xã hội đất nước càng trở thành nhiệm vụ cấp bách, nặng nề đối với Đảng ta. Về mặt này, các thế lực thù địch và cả những người thiếu thiện ý vẫn thường công kích rằng chúng ta đã chính trị hóa báo chí và truyền thông, rằng Đảng đã nắm lấy báo chí và truyền thông mà không để cho tư nhân làm báo chí và truyền thông, có nghĩa là đã tước bỏ quyền tự do báo chí, thông tin. Sự thật ai cũng biết, trên thế giới dù có nói ra hay không, các thế lực chính trị, các tổ chức, các tập đoàn kinh tế đều sử dụng báo chí và truyền thông như những công cụ phục vụ lợi ích của mình. Dù các chính trị gia, các nhà tư tưởng phương Tây có cổ xúy bao nhiêu cho “tính khách quan”, “tự do”, “dân chủ”,… của báo chí và truyền thông thì trên thực tế không ai không sử dụng báo chí và truyền thông vào mục đích chính trị, coi đây là vũ khí lợi hại, là “phương tiện dẫn vào trái tim, khối óc con người”; “là cây cầu dẫn thẳng vào trận địa”,… Thực tế đó, không cho phép chúng ta mơ hồ hay dao động, mất phương hướng

Tóm lại, những âm mưu, thủ đoạn của Nam Việt sẽ chẳng đánh lừa được ai, bởi đa số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân luôn tin tưởng các phương tiện thông tin truyền thông chính thống của Đảng, Nhà nước. Chỉ có các thế lực thù địch lợi dụng Facebook để tuyên truyền, xuyên tạc, chống Đảng, Nhà nước hạ bệ uy tín, danh dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước mới phủ nhận vai trò của các phương tiện truyền thông của Đảng, Nhà nước ta mà thôi./.

Thứ Tư, 6 tháng 12, 2017

NHẬN DIỆN NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC,
PHẢN ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

Minh Quân

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta với nhiều phương thức, thủ đoạn rất tinh vi, có tổ chức, có sự cấu kết, tiếp tay giữa lực lượng trong nước và ngoài nước. Chúng triệt lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước; vấn đề phức tạp, nhạy cảm được dư luận quan tâm; những sơ hở, hạn chế trong công tác lãnh đạo, quản lý của một số bộ, ngành, địa phương... để viết các tin, bài, thư nặc danh, mạo danh; tạo dựng các videoclip có nội dung xấu độc tán phát trên các phương tiện truyền thông, Internet... Với cái nhìn rất phiến diện, thái độ thù địch, chúng ra sức thổi phồng khuyết điểm, bôi đen xã hội nhằm kích động “cộng đồng mạng” và dư luận xã hội, kêu gọi sự can thiệp của các nước vào công việc nội bộ của Việt Nam, “để mượn gió bẻ măng” thực hiện các âm mưu chính trị đen tối, nổi lên là:
    Trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận: Các thế lực thù địch đã chuyển từ việc công khai nói xấu Đảng, nói xấu chế độ sang công khai đòi ta từ bỏ vai trò lãnh đạo Đảng, từ bỏ chế độ. Chúng đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênnin, nhưng thực chất là đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênnin và đích cuối cùng là phủ nhận cả hai. Chúng cổ súy “con đường thứ 3” đó là: xây dựng “xã hội dân chủ”, nhưng thực chất là xã hội tư bản chủ nghĩa, nhằm thúc đẩy xã hội dân chủ ở Việt Nam; lợi dụng Đảng ta chỉ đạo phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chúng kêu gọi Việt Nam không cần chống “diễn biến hòa bình” nữa, chỉ cần chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vì chúng cho rằng, chiến lược“diễn biến hòa bình” đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, cựu thù của Việt Nam (ý muốn nói là Mỹ) nay đã thành đối tác.
    Lợi dụng các sự kiện chính trị, vấn đề phức tạp, nhạy cảm để chống phá nội bộ ta và mối quan hệ Việt Nam với các nước: Lợi dụng các hoạt động của Trung Quốc trên biển Đông, chúng tuyên truyền trong Đảng ta có “phe thân Mỹ”, “phe thân Trung Quốc” hoặc tung hỏa mù “đi theo Trung Quốc thì còn Đảng, mất đảo”, “theo Mỹ thì còn đảo, mất Đảng”; nhằm gây mất đoàn kết nội bộ, chia rẽ mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, kích động tư tưởng “thoát Trung, thoát cộng, theo Mỹ. Chúng lợi dụng tự do báo chí truyền thông và hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật để vận động, gây sức ép đòi ta thành lập “hội nhà báo độc lập”; “văn đoàn độc lập”; phát động chiến dịch tẩy chay truyền thông chính thống”, thúc đy người dân và các nhà báo “tự do” sử dụng mạng xã hộihình thành “diễn đàn về các vấn đề xã hội”cổ súy số văn nghệ sĩ bất mãn; viết, tán phát các tác phẩm văn học nghệ thuật kích động lối sống đề cao bản năng, thực dụng, vô cảm, lai căng, sùng ngoại... để chống phá ta.
Đẩy mạnh các hoạt động chống phá Quân đội: Chúng tập trung tuyên truyền, xuyên tạc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, tiếp tục đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Xuyên tạc bản chất nền quốc phòng toàn dân, “hướng lái” Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ để bảo vệ chủ quyền biển, đảo; đồng thời tham gia diễn tập quân sự với các nước trên biển Đông, “tập trận” với các nước đồng minh của Mỹ. Triệt để lợi dụng một số ít cán bộ, chiến sĩ vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội; tác phong sinh hoạt chưa chuẩn mực, thiếu gương mẫu trong quan hệ, ứng xử với nhân dân và lực lượng chức năng để đẩy mạnh các hoạt động chống phá bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội....
Như vậy, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta của các thế lực thù địch trong thời gian gần đây là nghiêm trọng. Tuy mục tiêu chống phá của chúng không thay đổi, song phương thức, thủ đoạn chống phá của chúng thay đổi linh hoạt, ngày càng tinh vi, khó nhận diện hơn; tính chất công khai, quyết liệt hơn; cường độ, tần suất chống phá cao và trực diện hơn; phạm vi chống phá ngày càng rộng hơn, đối tượng tác động chủ yếu nhằm vào vấn đề nội bộ, cán bộ cấp cao, lão thành cách mạng, cán bộ, công chức; công an, quân đội; lực lượng, phương tiện chống phá được tăng cường và tổ chức chặt chẽ hơn, có sự liên kết cả trong nước và ngoài nước; môi trường và diễn đàn chống phá chủ yếu là trên Internet, mạng xã hội.
Những luận điệu của chúng nhằm gieo rắc sự hoài nghi, hoang mang dao động cho độc giả, nhất là những người trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm sống và sự từng trải. Từ đó nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng, xã hội của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; phá hoại truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa cách mạng, các chuẩn mực đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa; hình thành tệ sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa của dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ, ham muốn làm giàu, ham muốn quyền lực cực đoan... đã và đang làm băng hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc… thông qua đó để tạo ra sự bất ổn về chính trị xã hội để chúng có môi trường thực hiện những âm mưu đen tối của mình.




Thứ Ba, 5 tháng 12, 2017

THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
KHÔNG THỂ TÁCH RỜI CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Lê Phi
  V.I.Lênin đã từng khẳng định rằng: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”, “chỉ đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”. Học thuyết Mác-Lênin với bản chất cách mạng và khoa học đã trang bị cho giai cấp vô sản, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức vũ khí tư tưởng lý luận sắc bén để đấu tranh xóa bỏ chế độ thống trị của giai cấp tư sản, tiến lên xây dựng một xã hội mới không còn áp bức, bóc lột, bất công.
  Với Việt Nam, luận điểm của Lênin càng tỏ rõ lên giá trị khoa học và chân lý. Trước khi được ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin chiếu rọi tới, cách mạng Việt Nam như trong đêm tối, các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược đều lần lượt thất bại, đất nước chìm trong đêm dài nô lệ. Chỉ đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu được Luận cương của Lênin, xác định đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga và truyền bá chủ nghĩa Mác -Lênin về nước, thì cách mạng Việt Nam mới có lý luận cách mạng dẫn đường.   
  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, học tập và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, kết hợp với những giá trị truyền thống của dân tộc và tinh hóa văn hóa nhân loại cùng với trí tuệ, bản lĩnh của Người đã hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh - một di sản lý luận có ý nghĩa to lớn cho dân tộc Việt Nam. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đề ra đường lối đúng đắn, lãnh đạo khối đại đoàn kết dân tộc giành độc lập dân tộc, tiến hành 2 cuộc trường kỳ kháng chiến thành công, đưa Việt Nam từ một đất nước bị xóa tên trên bản đồ chính trị thế giới đã trở thành một nước độc lập, có chủ quyền; người Việt Nam từ thân phận của nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, chủ thể của một tiến trình quá độ lên CNXH và bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và CNXH.
  Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Đảng cũng chỉ rõ nguồn gốc sâu xa của mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, được chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, chỉ lối. Tổng kết thực tiễn lịch sử hoạt động lãnh đạo của Đảng và thực tiễn phong phú, sinh động của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Điều này tiếp tục khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, toàn diện, sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và khẳng định chỉ trên cơ sở trung thành, vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam thì Đảng mới có khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng và tránh được nguy cơ sai lầm về đường lối.
  Mặc dù vậy, lợi dụng tình hình chính trị thế giới diễn biến phức tạp, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin; rêu rao chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ có giá trị ở cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, thế kỉ XXI không còn phù hợp nữa, rằng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu là minh chứng cho sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác-Lênin. Họ còn vin vào một số khuyết điểm, sai lầm trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, sự tha hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên, chúng bôi xấu chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
  Mặt khác, được sự hậu thuẫn tích cực của các thế lực phản động bên ngoài, các phần tử cơ hội chính trị, chống đối ở trong nước tăng cường viết và phát tán các tài liệu đưa ra những luận điệu, quan điểm, sai trái phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng đã đến lúc phải xét lại cả những nguyên lý cơ bản có tính chất thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, họ tung ra luận điệu tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với học thuyết Mác-Lênin. Họ ngụy biện rằng, bây giờ học thuyết Mác-Lênin đã lỗi thời, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, vì vậy chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành chủ nghĩa Hồ Chí Minh. Đây là một luận điệu rất nguy hiểm vì làm như vậy là cô lập, suy yếu tư tưởng Hồ Chí Minh và thực chất là để phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, tiến tới phủ định chính ngay tư tưởng Hồ Chí Minh.
  Phương thức chống phá của họ hết sức đa dạng, có lúc lợi dụng sự công khai của báo chí, truyền thông, lợi dụng sự tự do tư tưởng; có lúc ngụy trang dưới nhiều hình thức, vỏ bọc tinh vi. Sự tuyên truyền, chống phá của họ hướng đến nhiều giới, nhiều tầng lớp trong xã hội. Nguy hiểm hơn cả là hướng tới tác động vào lớp trẻ, những người tài giỏi, thông minh, đầy nhiệt huyết nhưng thiếu sự trải nghiệm và cảm nhận thấu đáo về cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chúng cố tình lờ đi một thực tế rằng, với bản chất khoa học, cách mạng, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là một học thuyết mở, nó không chấp nhận sự giáo điều bất biến, mà đòi hỏi những người học tập và vận dụng phải luôn sáng tạo, trong quá trình áp dụng vào thực tiễn cụ thể. Chính nhờ thuấm nhuần tinh thần đó, trên cơ sở giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc, đồng thời, nêu cao tinh thần sáng tạo cùng với thời đại, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, và có vị thế uy tín cao trên trường quốc tế. Đó là một thực tế không thể phủ nhận, không thể bôi đen.
Bất cứ đất nước nào, trong quá trình phát triển của mình, tất nhiên sẽ có những hạn chế không thể tránh khỏi, Việt Nam cũng vậy! Tuy nhiên, đen gom tất cả những hạn chế đó ở Việt Nam đổ lỗi cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cách làm hết sức chủ quan, hằn học, phi khoa học và thiếu lương tâm.


































LẠI THÊM MỘT CÁI NHÌN SAI TRÁI
VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Nguyên Mạnh
                                                                           
Vừa rồi, tình cờ tôi đọc được một bài viết với nhan đề “Bàn về điều mà CSVN “gọi là” tư tưởng Hồ Chí Minh sự thực? hay sản phẩm của dối trá, lường gạt, bịp bợm?” của tác giả Nguyễn Lương Tuyền nói về tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam. Là một độc giả quan tâm tới vấn đề này, tôi muốn trao đổi với tác giả một số vấn đề sau:
Tác giả khẳng định rằng, Hồ Chí Minh không phải một nhà tư tưởng. Điều này không có gì mới, là luận điệu của những người thiếu hiểu biết, hay cố tình thiếu hiểu biết vẫn vốn thường rêu rao. Để khẳng định điều này, chúng ta phải xem thế nào là nhà tư tưởng. Quan niệm về nhà tư tưởng ở phương Đông và phương Tây là không giống nhau và cũng không giống với quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin. Theo V.I.Lênin, một người được gọi là nhà tư tưởng khi họ có sự chuẩn bị đầy đủ về mặt lý luận, có khả năng đi trước, dự báo chỉ đường của phong trào quần chúng; có được tầm mắt chính trị rộng lớn để giải quyết thành công mọi vấn đề chiến lược và sách lược của cách mạng; có tài ba tổ chức để sáng lập một chính đảng cách mạng có sức chiến đấu mạnh mẽ; có một nghị lực cách mạng phi thường, vượt qua mọi trở lực, khó khăn để thực hiện tư tưởng của mình. Nếu đem đối chiếu với quan niệm truyền thống, hiểu nhà tư tưởng là những người hay suy tư, luôn trầm mặc tư tưởng, chỉ đề xuất ý tưởng mà không hành động, để lại những tác phẩm và đôi khi nó chẳng có tác động gì lớn đối với cuộc sống, thì quan niệm của V.I.Lênin có khác. Nhà tư tưởng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, phải thống nhất được ý chí và hành động, lý luận và thực tiễn, phải biết sử dụng được các lực lượng vật chất để thực hiện tư tưởng của mình.
Như vậy, dù ông Tuyền có ủng hộ quan điểm truyền thống thì cũng không thể  phủ nhận được quan điểm của V.I.Lênin về nhà tư tưởng, bởi quan điểm của V.I.Lênin bao quát hơn và sâu sắc hơn. Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng, mà ở đó lý luận luôn gắn với thực tiễn, nhận thức thế giới luôn gắn với cải tạo thế giới, không phải thuyết giáo suông!
Trên thực tế, trải qua một quá trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc,  Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam; kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền vớichủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế, văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân”...
Và trong bài viết của mình, khi xét về khái niệm tư tưởng, tác giả cũng thừa nhận những quan điểm trên là của Hồ Chí Minh. Như thế, xin hỏi tác giả Nguyễn Lương Tuyền rằng: Hồ Chí Minh có xứng đáng được xem là một nhà tư tưởng hay không?
Không chỉ vậy, công lao của Hồ Chí Minh đã được dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam và cả thế giới ghi nhận, tôn vinh. Năm 1987, UNESCO ra nghị quyết về tổ chức kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và công nhận Người là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất. Công lao của Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện ở việc Người tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, cùng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước kháng chiến chống thực dân Pháp quay lại xâm lược thành công và kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược; mà bằng trí tuệ thiên tài, sự học hỏi nghiên cứu không mệt mỏi, Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam và thế giới di sản trí tuệ vô cùng quý báu, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua đó, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới hiện nay, rất nhiều nước tôn vinh và đi sâu nghiên cứu di sản của Người.
Trong bài viết của tác giả có đề cập tới nhiều luận điểm cho rằng Hồ Chí Minh chỉ sao chép, nói lại lời của tiền bối đi trước. Tôi chỉ dẫn lại hai nội dung sau. Thứ nhất, cho rằng Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được đọc ngày 2 tháng 9 năm 1945 không phải do Hồ Chí Minh soạn thảo mà do thiếu tá người Mỹ Patti soạn. Trước hết, lí do gì để một thiếu tá Mỹ soạn tuyên ngôn độc lập cho Việt Nam; tiếp theo, theo một tác giả người Mỹ - không phải người của Đảng Cộng sản Việt Nam - William J. Duiker, Patti không có liên quan gì tới tuyên ngôn độc lập của Việt Nam và bản tuyên ngôn đó là do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn tại số nhà 48 phố Hàng Ngang, với sự chứng kiến của rất nhiều người. Vậy có bằng chứng nào, để tác giả chứng tỏ nói rằng, đó không phải do Hồ Chủ tịch soạn ra thì hãy nêu ra để mọi người được tham khảo. Nhưng xin tác giả hãy nêu đúng sự thật, đúng lịch sử!
Ngoài ra, tác giả cho rằng Hồ Chí Minh lãnh đạo hai cuộc kháng chiến của dân tộc chống lại kẻ thù xâm lược là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là cuộc chiến phi nhân đạo, “chỉ có chết chóc tang thương cho người dân, tàn phá đến tận cùng cho quê hương”, là sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Nếu là một người dân Việt Nam phải sống trong cảnh mất nước, bị thực dân Pháp đô hộ hoặc chỉ cần có một chút quan tâm tới lịch sử thì không ai có thể quên được những đau thương tột cùng mà thực dân, đế quốc đã đem tới cho dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam trong thế kỷ XIX, XX. Những mất mát, đau thương ấy cả nhân loại lên án, và ngay chính nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ sau này cũng lên án những cuộc chiến tranh phi nghĩa của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc gây ra ở Việt Nam. Ấy vậy mà, có kẻ tự xưng vì tiến bộ, hòa bình, độc lập cho dân tộc vẫn cho rằng cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân là cuộc chiến phi nghĩa. Phải chăng, theo tác giả, cứ để thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược thống trị, còn nhân dân ta mãi làm nô lệ của chúng mới là chính nghĩa?
Đọc bài viết của tác giả, tôi thấy ông đem đến cho mọi người một cách nhìn nhận hằn học chứ không phải khoa học về Hồ Chí Minh, và có những chỗ là đổi trắng thay đen chứ không phải là một cách nhìn khách quan. Vậy không hiểu tại sao ông lại đem quan điểm phi khoa học, phản đạo đức ấy để đầu độc mọi người. Tôi tự hỏi rằng: có phải Lương tâm của ông đã để rơi xuống chốn Tuyền đài rồi chăng?                           


Thứ Hai, 4 tháng 12, 2017

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỦA QUÂN ĐỘI NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ  ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
  Huy Lê
“Diễn biến hoà bình” là phương thức chống phá chủ nghĩa xã hội của các thế lực thù địch bằng các biện pháp phi vũ trang. Với chiến lược này, chúng đã nhanh chóng xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, để rồi làm cho chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào khủng hoảng, thoái trào.
Đối với Việt Nam, các thế lực thù địch xác định là một trọng điểm chống phá, vì thế họ ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lợi dụng ưu thế về công nghệ thông tin, các phương tiện thông tin hiện đại, chúng thiết lập trên 40 đài phát thanh tiếng nước ngoài, trong đó đặc biệt là đài “Châu Á tự do”, với gần 600 tờ báo và tạp chí, với hơn 50 nhà xuất bản,… nhằm đẩy mạnh tuyên truyền tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây - thực dụng, truỵ lạc, tôn thờ đồng tiền là trên hết, cá nhân ích kỷ, phi đạo đức, phi luân lý, làm băng hoại phẩm chất, đạo đức, lối sống tốt đẹp của xã hội, của nhân dân và quân đội ta. Đặc biêt, họ ra sức lợi dụng vấn đề dân tộc, sắc tộc, tôn giáo và chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” và “tự do tín ngưỡng”, đi sâu khai thác những sơ hở, thiếu sót của Đảng, Nhà nước ta ở các cấp trong việc thực hiện các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng trước đây và đồng bào theo đạo để lừa bịp, chia rẽ, phân hoá, tạo ra mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, gây rối trật tự trị an ở những nơi này. Chúng tìm mọi cách gây biến động về chính trị tư tưởng, kích động chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước, quân đội với công an, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; ra sức tuyên truyền xuyên tạc hòng gây mất đoàn kết, mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước và mục tiêu, con đường chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất, Quân đội ta có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo, góp phần đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để tuyên truyền xuyên tạc nói xấu Đáng, Nhà nước ta.
Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Quân đội ta trong đó đặc biệt là các đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ ở vùng dân tộc thiểu số phải thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương làm tốt việc tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện tốt chủ trương, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lợi dụng khó khăn về đời sống, trình độ dân trí thấp của đồng bào dân tộc thiểu số và những sai sót của các cấp, các ngành trong việc thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta để kích động, chia rẽ các dân tộc nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị. Vì vậy, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải chăm lo xây dựng, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch. Ra sức tuyên truyền, giáo dục các chủ trương, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước cho mọi cán bộ, đảng viên và đồng bào các dân tộc thiểu số. Phổ biến sâu rộng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Phổ biến pháp luật và giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của Nhà nước cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Khơi dậy trong đồng bào dân tộc thiểu số lòng tự hào, tự tôn dân tộc và truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục để đồng bào dân tộc thiểu số hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn chia rẽ gây mất đoàn kết các dân tộc của các thế lực phản động, thù địch, để giúp đồng bào đề cao cảnh giác, không bị chúng lừa gạt, lôi kéo, lợi dụng.
Tham mưu và hỗ trợ việc tiếp tục thực hiện các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình; tang cương các hoạt động văn hóa, thông tin, truyền thông tuyên truyền hướng về cơ sở bản, làng; đề xuất, kiến nghị tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số; tham gia làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, giữ gìn và phát huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc.
Hai là, phối hợp cùng các lực lượng trên địa bàn và địa phương giúp đồng bào dân tộc thiểu số xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội.
Tiếp tục quán triệt, thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) về những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách của công tác dân tộc ở nước ta hiện nay, quân đội ta mà trực tiếp là các đơn vị đóng quân trên địa bàn tham gia cải tạo, xây dựng mới hệ thống đường giao thông vùng dân tộc thiểu số, góp phần cùng địa phương có đường ô tô đến trung tâm xã, các bản làng trong xã có đường đi lại thuận tiện. Tham gia xây dựng hệ thống trạm biến áp và đường xây tải điện đến các xã vùng sâu, vùng xa, hỗ trợ đồng bào thiết bị tải điện để gia đình có điện thắp sáng. Tham gia xây dựng và củng cố hệ thống trạm y tế quân dân y kết hợp, cử quân y khám, chữa bệnh cho đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần giúp các xã vùng sâu, vùng xa có trạm y tế, mọi người được thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Tham gia xây dựng các trung tâm tiếp sóng phát thanh, truyền hình và hỗ trợ đồng bào các phương tiện chuyển tải, phương tiện nghe, nhìn để đồng bào được tiếp cận và hưởng thụ văn hóa, thông tin, truyền thông của đất nước. Tham gia củng cố, nần cấp và xây dựng hệ thống trường phổ thông tiểu học và trung học cơ sở, bán trú, tạo điều kiện trường lớp cho con em dân tộc thiểu số đi học, cử cán bộ, chiến sĩ dạy chữ cho con em họ, để phấn đấu hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở vùng dân tộc theo mục tiêu của Đảng, Nhà nước đề ra đối với những vùng này.
Ba là, tích cực và trực tiếp tham gia giúp đồng bào ổn định cuộc sống, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, xóa đói, giảm nghèo.
Quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Theo đó, trong những năm trước mắt tập trung giúp đỡ đồng bào nghèo, các dân tộc đặc biệt khó khăn giải quyết ngay những vấn đề bức xúc như: tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước sinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụ sinh hoạt tối thiểu. Đồng thời giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở và vấn đề tranh chấp đất đai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là vùng trọng điểm Tây Nguyên, Tây Bắc và vùng đồng bào dân tộc Khơme Nam Bộ… Quân đội ta phải chủ động phối hợp với các lực lượng trên địa bàn và các lực lượng khác, cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương vận động và tổ chức đồng bào định canh, định cư; tổ chức các cụm dân cư mới theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng ở miền núi, biên giới; hướng dẫn giúp đỡ đồng bào trồng trọt, chăn nuôi theo giống mới, công nghệ mới, chuyển đổi cơ cấu cây tròng, vật nuôi, chuyển đổi sản xuất trên cơ sở thế mạnh của từng địa phương xã, bản làng. Đối với những đơn vị đóng quân trên địa bàn có điều kiện, tổ chức làm mẫu, hướng dẫn mô hình sản xuất cho đồng bào học tập; trong quá trình triển khai các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, nhất là dự án khu kinh tế - quốc phòng, phải tạo thêm nhiều việc làm để tăng thêm thu nhập cho cho đồng bào các dân tộc thiểu số để giảm bớt khó khăn, cải thiện phần nào đời sống cho họ.
Bốn là, tích cực tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Làm tốt tham mưu cho cấp ủy đảng và chính quyền địa phương kiện toàn tổ chức, xây dựng quy chế làm việc, quy chế dân chủ, hương ước làng, bản…;giúp đỡ các tổ chức quần chúng Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh hoạt động có hiệu quả với những nội dung, hình thức phong phú, thích hợp; giúp địa phương phát hiện nguồn cán bộ, bồi dưỡng trình độ và phương pháp công tác cho đội ngũ cán bộ ở địa phương; trực tiếp tạo nguồn địa phương vùng dân tộc thiểu số bằng cách tuyển chọn những thanh niên ưu tú người dân tộc thiểu số vào đơn vị tham gia nghĩa vụ quân sự, tích cực bồi dưỡng, rèn luyện họ trở thành đảng viên, đoàn viên ưu tú để  khi họ hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương sẽ tham gia vào cán bộ, cấp ủy địa phương xã, làng bản vùng dân tộc thiểu số.  Thực tế trong nhiều năm qua, rất nhiều địa phương đã và đang phối hợp với các đơn vị quân đội làm tốt công tác tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số cho địa phương.
Vận động đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là thanh niên, phụ nữ tham gia các tổ chức quần chúng cách mạng như: Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ,…ở địa phương; thông qua hoạt động của các tổ chức này mà phát hiện, bồi dưỡng tạo nguồn cán bộ tại chỗ. Đồng thời, thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc thiểu số. Trong đó, kết hợp tốt đào tạo chính quy với bồi dưỡng tại chức, giữa đào tạo tại trường với bồi dưỡng cán bộ thông qua các lớp tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ. Thực hiện đồng bộ đối tượng đào tạo, bồi dưỡng người dân tộc thiểu số đối với cả cán bộ đảng, chính quyền và cán bộ các đoàn thể trong hệ thống chính trị, cán bộ cho các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, y tế, giáo dục, văn hóa nghệ thuật…
Các đơn vị quân đội công tác và đóng quân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ luôn chấp hành nghiêm chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta; tôn trọng phong tục, tập quán của đồng bào; trong mọi hoàn cảnh, khi tiếp xúc với đồng bào dân tộc thiểu số phải thực hiện nghiêm 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật của quân đội. Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, gắn bó mật thiết với đồng bào dân tộc thiểu số, giúp đỡ đồng bào về mọi mặt, thực hiện “đi dân nhớ, ở dân thương” như Bác Hồ thường căn dặn bộ đội ta./.


Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...